Nhập môn du lịch (NXB Đại học quốc gia 2022) | Trần Đức Thanh Nhập môn du lịch (NXB Đại học quốc gia 2022) | Trần Đức Thanh Nhập môn du lịch (NXB Đại học quốc gia 2022) | Trần Đức Thanh Nhập môn du lịch (NXB Đại học quốc gia 2022) | Trần Đức Thanh Nhập môn du lịch (NXB Đại học quốc gia 2022) | Trần Đức Thanh
Trang 19 7 86 0 43 52 6 53 0
2022 | PDF | 449 Page buihuuhanh@gmail.com
Trang 2INTRODUCTION TO TOURISM
Trang 3Mục lục 3
TRẦN ĐỨC THANH, PHẠM HỒNG LONG, VŨ HƯƠNG LAN (Đồng chủ biên)
TRẦN THÚY ANH, NGUYỄN QUANG VINH, TÔ QUANG LONG, NGUYỄN THU THỦY, TRỊNH LÊ ANH, NGUYỄN NGỌC DUNG, ĐINH NHẬT LÊ, BÙI NHẬT QUỲNH, TRẦN THỊ YẾN ANH,
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG, ĐỖ HẢI YẾN, ĐẶNG THỊ PHƯƠNG ANH
NHẬP MÔN DU LỊCH INTRODUCTION TO TOURISM
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 9
DANH MỤC HỘP 9
DANH MỤC HÌNH 10
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 12
LỜI GIỚI THIỆU 13
LỜI NÓI ĐẦU 15
DẪN NHẬP 17
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Một số khái niệm 20
1.1.1 Tham quan 20
1.1.2 Du lịch 21
1.1.3 Tài nguyên du lịch 24
1.1.4 Điểm tài nguyên/điểm tham quan và điểm đến du lịch/điểm du lịch 32
1.2 Quá trình hình thành và phát triển du lịch 33
1.2.1 Trên thế giới 33
1.2.2 Lịch sử phát triển du lịch ở Việt Nam 49
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch 63
1.3.1 Các yếu tố bên ngoài 64
1.3.2 Cầu du lịch, yếu tố bên ngoài đặc biệt 83
1.3.3 Các nguồn lực phát triển du lịch 89
1.4 Tính thời vụ trong du lịch 99
1.4.1 Khái niệm 99
Trang 56 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
1.4.2 Đặc điểm 101
1.4.3 Nguyên nhân gây nên tính thời vụ 102
1.4.4 Ảnh hưởng của tính thời vụ 106
1.4.5 Các giải pháp khắc phục tính thời vụ 108
Chương 2 CÁC HỢP PHẦN CỦA DU LỊCH 2.1 Khách du lịch 113
2.1.1 Các định nghĩa 113
2.1.3 Các chỉ số liên quan đến thống kê khách du lịch 115
2.1.4 Nhu cầu và động cơ du lịch 117
2.1.5 Phân loại khách du lịch 125
2.1.6 Khách du lịch có trách nhiệm 131
2.2 Các nhà cung ứng du lịch 133
2.2.1 Nhà cung ứng dịch vụ vận chuyển 134
2.2.2 Nhà cung ứng dịch vụ ăn uống và lưu trú 139
2.2.4 Nhà cung ứng dịch vụ lữ hành và hướng dẫn du lịch 161
2.2.5 Nhà tổ chức sự kiện 170
2.2.6 Lao động trong ngành du lịch 175
2.3 Cộng đồng địa phương 193
2.3.1 Khái niệm 193
2.3.2 Thái độ của cộng đồng đối với khách du lịch -chỉ số bực mình Doxey 196
2.3.3 Mức độ tham gia của cộng đồng 198
2.3.4 Vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch 204
2.4 Các cơ quan tổ chức du lịch 206
2.4.1 Một số tổ chức quốc tế và khu vực 207
2.4.2 Các tổ chức du lịch ở Việt Nam 217
Trang 6Chương 3
TÁC ĐỘNG CỦA DU LỊCH
3.1 Tác động của du lịch đến văn hoá 232
3.1.1 Tác động tích cực của du lịch đến văn hoá 232
3.1.2 Tác động tiêu cực của du lịch đến văn hoá 235
3.2 Tác động của du lịch đến xã hội 236
3.2.1 Tác động tích cực của du lịch đến xã hội 236
3.2.2 Tác động tiêu cực của du lịch đến xã hội 242
3.3 Tác động của du lịch đến kinh tế 245
3.3.1 Tác động tích cực của du lịch đến kinh tế 245
3.3.2 Tác động tiêu cực của du lịch đến kinh tế 252
3.4 Tác động của du lịch đến môi trường tự nhiên 254
3.4.1 Tác động tích cực của du lịch đến môi trường tự nhiên 254
3.4.2 Tác động tiêu cực của du lịch đến môi trường tự nhiên 257
3.5 Tác động của du lịch đến đào tạo và nghiên cứu 260
3.5.1 Tác động của du lịch đến giáo dục đào tạo 260
3.5.2 Tác động của du lịch đến nghiên cứu 264
3.6 Phát triển du lịch bền vững 266
3.6.1 Khái niệm phát triển du lịch bền vững 268
3.6.2 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững 270
3.6.3 Các tiêu chí toàn cầu phát triển du lịch bền vững 271
3.6.4 Du lịch trong Chương trình nghị sự hướng đến năm 2030 279
3.6.5 Các tiếp cận phát triển du lịch bền vững 283
Chương 4 LOẠI HÌNH VÀ SẢN PHẨM DU LỊCH 4.1 Loại hình du lịch 312
4.1.1 Khái niệm 312
4.1.2 Phân loại 313
Trang 78 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
4.3 Sản phẩm du lịch 356
4.3.1 Khái niệm 356
4.3.2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch 359
4.2.3 Đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch 366
Chương 5 TƯƠNG LAI VÀ TRIỂN VỌNG CỦA DU LỊCH 5.1 Hiện tượng du lịch trong tương lai 369
5.1.1 Số lượng khách du lịch gia tăng 369
5.1.2 Xu hướng du lịch nội địa và kỳ nghỉ tại chỗ 373
5.1.3 Xu hướng du lịch với điện thoại thông minh 374
5.1.4 Xu hướng du lịch trải nghiệm, du lịch khám phá 377
5.1.5 Xu hướng du lịch thể thao, du lịch nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe 378
5.1.6 Xu hướng gần thiên nhiên hơn, tiện nghi hơn 380
5.1.7 Xu hướng du lịch một mình (solo travel) và du lịch không chạm 382
5.1.8 Xu hướng tiêu dùng du lịch gói sản phẩm thiết kế sẵn (combo) và du lịch trái mùa vụ 383
5.1.9 Xu hướng đặt dịch vụ muộn 384
5.1.10 Ý thức về du lịch có trách nhiệm đang trở thành hành động 384
5.2 Tương lai và triển vọng ngành kinh tế du lịch 386
5.2.1 Xu hướng thị trường 388
5.2.2 Sản phẩm du lịch trải nghiệm sẽ ngày càng đa dạng và chiếm ưu thế 392
5.2.3 Chuyển đổi số và hướng đến du lịch thông minh 394
5.2.4 Hộ chiếu vắc-xin 397
5.2.5 Trách nhiệm xã hội là danh tiếng 401
5.3 Đào tạo và nghiên cứu du lịch trong tương lai 402
5.3.1 Đào tạo du lịch 402
5.3.2 Các xu hướng nghiên cứu du lịch 412
TÀI LIỆU THAM KHẢO 419
VỀ CÁC TÁC GIẢ 443
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam
giai đoạn 1960-1990 55
Bảng 1.2 Lượng khách du lịch và tổng thu từ du lịch của Việt Nam giai đoạn 1990-2010 58
Bảng 1.3 Lượng khách du lịch và tổng thu từ du lịch của Việt Nam giai đoạn 2010-2019 61
Bảng 2.1 Số lượng khách sạn ở Việt Nam giai đoạn 2014-2018 148
Bảng 5.1 Khách du lịch trên thế giới giai đoạn 1950-2019 371
Bảng 5.2 Những thuận lợi và thách thức của hộ chiếu vắc-xin 398
Bảng 5.3 Mười trường đại học hàng đầu thế giới theo bảng xếp hạng QS các trường đại học theo ngành năm 2021 405
Bảng 5.4 Cấu trúc dữ liệu theo chủ đề của JTR và TM 417
DANH MỤC HỘP Hộp 1.1 Nhiều khách Việt huỷ tour đi Ai Cập sau vụ đánh bom 68
Hộp 1.2 Hà Nội - Thành phố vì hòa bình, điểm đến hấp dẫn 69
Hộp 3.1 Những điều khách Tây sợ bị lừa khi đến Việt Nam 243
Hộp 3.2 Khi ao làng trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng 250
Trang 910 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ các yếu tố tác động đến hoạt động du lịch 63
Hình 1.2 Cơ cấu dân số theo chủng tộc trên thế giới 66
Hình 1.3 Tỷ lệ các hình thức cấp visa cho khách du lịch trên thế giới giai đoạn 1980-2018 71
Hình 1.4 Cơ cấu dân số thế giới năm 2020 phân theo các thế hệ 79
Hình 1.5 Tăng trưởng của ngành du lịch thế giới năm 2020-2021 82
Hình 1.6 Sơ đồ xương cá các nguồn lực phát triển du lịch 90
Hình 1.7 Lượng khách quốc tế trên thế giới theo tháng giai đoạn 2015 - 2019 102
Hình 2.1 Sơ đồ định nghĩa khách du lịch 115
Hình 2.2 Số lượng khách, số lượt khách và ngày khách 116
Hình 2.3 Mối quan hệ giữa nhu cầu, mong muốn và động cơ 117
Hình 2.4 Bậc thang nhu cầu Maslow 118
Hình 2.5 Sơ đồ các dạng tâm lý khách du lịch theo mô hình của Plog S (1973) 129
Hình 2.6 Kênh phân phối chủ yếu các chương trình du lịch của doanh nghiệp lữ hành 163
Hình 2.7 Các kênh phân phối sản phẩm của công ty lữ hành ngày nay theo Paraskevi và cs (2015) 164
Hình 2.8 Bảy bước kế hoạch tổ chức sự kiện 175
Hình 2.9 Thái độ của cộng đồng đối với khách du lịch phỏng theo chỉ số bực mình của Doxey 1975 197
Hình 2.10 Mô hình Pretty (1995) về sự tham gia của cộng đồng 199
Hình 2.11 Mô hình Tosun (1999) về sự tham gia của cộng đồng trong quá trình phát triển du lịch 202
Hình 3.1 Cơ cấu lao động của ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống trong khu vực kinh tế quốc dân Việt Nam năm 2019 242
Trang 10Hình 3.1 Cơ cấu lao động của ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống
trong khu vực kinh tế quốc dân Việt Nam năm 2019 242 Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng của du lịch
và nền kinh tế thế giới giai đoạn 2011-2019 246 Hình 3.3 Tỷ lệ đóng góp của du lịch vào GDP các nước
trên thế giới 248 Hình 3.4 Định nghĩa phát triển du lịch bền vững 269 Hình 3.5 Các mục tiêu của du lịch bền vững đến năm 2030 279 Hình 3.6 Sơ đồ phân biệt hoạt động du lịch văn hóa
và sinh thái tại các vùng thiên nhiên nhân sinh 279 Hình 4.1 Các loại hình du lịch phân theo lãnh thổ hoạt động 336 Hình 4.2 Số dân sống ở khu vực thành thị và nông thôn
giai đoạn 1960-2020 340 Hình 4.3 Chuỗi cung ứng sản phẩm du lịch 357 Hình 4.4 Bản chất của sản phẩm du lịch là kết quả
của sự hợp tác với khách du lịch 364 Hình 5.1 Số lượng khách du lịch đến các khu vực trên
thế giới năm 2019 372 Hình 5.2 Số lượng người dùng điện thoại thông minh
trên thế giới 375 Hình 5.3 Sử dụng điện thoại thông minh cho du lịch
và những ảnh hưởng tới trải nghiệm du lịch 376 Hình 5.4 Thu nhập từ khách du lịch toàn cầu
giai đoạn 1950-2019 387 Hình 5.5 Mười quốc gia có thu nhập từ du lịch
cao nhất thế giới năm 2019 387 Hình 5.6 Tổng thu của ngành Du lịch Việt Nam
giai đoạn 2008-2019 388 Hình 5.7 Cơ cấu các thế hệ dân số năm 2020 391 Hình 5.8 Sơ đồ tiến trình giá trị kinh tế
của Pine và Gilmorre 1998 393 Hình 5.9 Sơ đồ liên kết đào tạo du lịch 412
Trang 1112 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEANTA ASEAN Tourism Association - Hiệp hội Du lịch ASEAN
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
FDI Foreign Direct Invesment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTS Faculty of Tourism Studies - Khoa Du lịch học
GDP Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
KBTTN Khu Bảo tồn Thiên nhiên
PATA Pacific Asia Travel Association
Hiệp hội Du lịch Châu Á-Thái Bình Dương
TV Television - Máy thu hình
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Văn hoá Khoa học Giáo dục thuộc Liên hợp quốc UNWTO United Nations World Tourism Organization
Tổ chức Du lịch Thế giới thuộc Liên hợp quốc USSH University of Social Sciences and Humanities
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn VNU Vietnam National University, Hanoi - Đại học Quốc gia Hà Nội
WTTC World Tourism and Travel Council
Ủy ban Du lịch và Lữ hành Thế giới
Trang 12LỜI GIỚI THIỆU
Sau hơn 60 năm hình thành và phát triển, Du lịch Việt Nam đang từng bước khẳng định là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, được Đảng và Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện để phát triển Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đặt mục tiêu tạo ra khoảng 8,5 triệu việc làm, trong đó có khoảng 3 triệu việc làm trực tiếp, tăng trưởng bình quân 8 - 9%/năm Theo đó, Du lịch Việt Nam mỗi năm cần bổ sung thêm ít nhất 100.000 lao động để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành Do vậy, công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng Hiện nay, cả nước có khoảng 200 cơ sở đào tạo du lịch, trong
đó có hơn 100 trường đại học, cao đẳng với nhiều chương trình, giáo trình đào tạo liên quan đến các chuyên ngành du lịch khác nhau
Cuốn Giáo trình Nhập môn Du lịch do PGS.TS Trần Đức Thanh
và nhóm các nhà khoa học của Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội biên soạn là tài liệu hết sức thiết thực, có ý nghĩa đối với công tác đào tạo du lịch ở nước ta hiện nay Giáo trình được biên soạn nhằm cung cấp những kiến thức nền tảng, những khái niệm, quan điểm và nội dung chung nhất,
cơ bản nhất, tạo tiền đề để người học đi sâu học tập, nghiên cứu các nội dung tiếp theo Giáo trình có nội dung bao quát về du lịch như một hiện tượng xã hội, một ngành kinh tế và một lĩnh vực đào tạo nghiên cứu trong số các ngành khoa học xã hội ở Việt Nam Giáo trình được thiết kế theo hướng mở, các nội dung được phân tích chi tiết, rõ ràng,
dễ hiểu nhằm khuyến khích người học khai phóng tư duy, tranh biện sáng tạo
Trang 1314 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
Cuốn giáo trình này được biên soạn không chỉ nhằm phục vụ yêu cầu giảng dạy tại Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội mà còn là tài liệu hết sức hữu ích cho các cơ sở đào tạo về du lịch ở nhiều cấp học, là tài liệu tham khảo có giá trị đối với những người mong muốn tìm hiểu về hoạt động của ngành Du lịch
Tổng cục Du lịch đánh giá cao tâm huyết của PGS.TS Trần Đức Thanh cùng các nhà khoa học đã biên soạn cuốn giáo trình này Hi vọng cuốn Giáo trình sẽ nhận được sự chào đón tích cực của các cơ sở đào tạo du lịch tại Việt Nam, cũng như nhận được sự quan tâm của các cá nhân, cơ quan, tổ chức muốn tìm hiểu, nâng cao nhận thức về
du lịch
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Hà Nội ngày 9 tháng 7 năm 2021
Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch,
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
TS Nguyễn Trùng Khánh
Trang 14LỜI NÓI ĐẦU
Ngày 16/01/2017, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết 08/NQ-TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó nhấn mạnh “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
cả về quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp và lao động nghề du lịch” Hiện nay trong cả nước có trên 200 cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành Du lịch, trong đó có gần 100 cơ sở có chuyên ngành liên quan đến du lịch ở bậc đại học Hầu hết các chương trình này đều có môn Nhập môn du lịch hay Tổng quan du lịch
Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập năm 1995 là một trong các cơ sở đào tạo du lịch bậc Đại học đầu tiên của cả nước Sau gần 30 năm phát triển, Khoa đã có đội ngũ giảng viên chuyên ngành du lịch
có trình độ chuyên môn vững vàng Bên cạnh các công bố khoa học trên các tạp chí có uy tín trong và ngoài nước, tại các hội thảo trong nước và quốc tế, Khoa Du lịch học đã cho xuất bản một số giáo trình được nhiều cơ sở đào tạo trong cả nước dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên
Được sự động viên và giúp đỡ của Nhà trường và Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, các giảng viên trong Khoa đã cùng nhau biên soạn một số giáo trình phục vụ giảng dạy “Nhập môn du lịch” là giáo trình đầu tiên trong loạt các giáo trình sẽ ra mắt trong những năm tới Do Nhập môn du lịch là môn học chuyên ngành đầu tiên và rất quan trọng đối với sinh viên đại học du lịch nên giáo trình này đã tập hợp rất nhiều giảng viên tham gia cùng biên soạn Hi vọng cuốn giáo trình sẽ không chỉ bổ ích đối với các sinh viên năm thứ nhất ngành Du lịch mà còn là tài liệu có ích cho sinh viên các năm sau, cho học viên cao học, nghiên cứu sinh và các giảng viên du lịch
Xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban Chủ nhiệm Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
Trang 1516 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
văn Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tập thể tác giả hoàn thành giáo trình này
Các tác giả bày tỏ sự biết ơn chân thành đối với TS Nguyễn Trùng Khánh, Tổng cục Trưởng Tổng cục Du lịch đã động viên các tác giả trong việc biên soạn giáo trình này
Xin gửi đến các nhà khoa học TS Nguyễn Văn Lưu, nguyên hàm
Vụ trưởng Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; TS Vũ Nam, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường, Tổng cục Du lịch; PGS.TS Nguyễn Thị Nguyên Hồng, Trưởng khoa Khách sạn Du lịch, Trường Đại học Thương mại đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu khi nhận xét giáo trình này
Các tác giả cũng cảm ơn Ban Biên tập - Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội đã biên tập rất cẩn thận cho lần xuất bản này
Với việc xuất bản giáo trình này, tập thể tác giả bày tỏ sự tri ân của mình đối với tất cả các thế hệ sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh đã đang và sẽ học chuyên ngành Du lịch tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Quốc tế Sài Gòn và các cơ sở đào tạo du lịch khác trong cả nước
Trong quá trình biên soạn, mặc dù các tác giả đã rất cố gắng, song giáo trình không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Các tác giả hi vọng nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc, đặc biệt là các giáo viên và sinh viên khi sử dụng giáo trình này Mọi ý kiến xin gửi
về tranducthanh@siu.edu.vn
Thay mặt các tác giả
Trần Đức Thanh
Trang 16DẪN NHẬP
1 Mục tiêu
Mục tiêu của giáo trình là cung cấp cho người học những khái niệm, quan điểm và nội dung chung nhất, cơ bản nhất cần có phục vụ cho việc học tập nghiên cứu về du lịch Giáo trình nhằm vào đối tượng
là sinh viên năm đầu vào ngành Du lịch, tạo tiền đề để người học đi sâu học tập, nghiên cứu các nội dung tiếp theo
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của môn học này là những khái niệm cơ bản của du lịch, quá trình hình thành, phát triển du lịch, đặc điểm của hoạt động du lịch, các bên liên quan đến hoạt động du lịch và mối tương tác của các bên với du lịch
3 Vị trí môn học
Nhập môn du lịch là học phần cơ sở ngành đầu tiên ở bậc Đại học đối với sinh viên các chuyên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản trị Du lịch, Quản trị Khách sạn, Nhà hàng, Văn hoá Du lịch, Địa lý Du lịch, Hướng dẫn Du lịch v.v
4 Kết cấu và nội dung
Toàn bộ nội dung giáo trình có cấu trúc 5 chương, gồm những vấn đề chung, các hợp phần của du lịch, tác động của du lịch, loại hình và sản phẩm du lịch, tương lai triển vọng của du lịch
Chương 1 Những vấn đề chung trước hết đề cập đến một số khái
niệm như tham quan, điểm tham quan, du lịch, điểm du lịch, tài nguyên du lịch; sau đó trình bày quá trình hình thành và phát triển du lịch, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch, tính thời vụ du lịch Khách du lịch, các nhà cung ứng du lịch, cộng đồng địa phương,
cơ quan quản lý và các tổ chức du lịch được trình bày trong chương 2
Trang 1718 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
Các hợp phần du lịch Trong chuyến du lịch, khách du lịch nhận được
sự phục vụ của nhà cung ứng dịch vụ vận chuyển, nhà cung ứng dịch
vụ lưu trú và ăn uống, nhà cung ứng dịch vụ lữ hành và hướng dẫn, các nhà tổ chức sự kiện Bên cạnh yêu cầu chung về lao động trong ngành Du lịch, mỗi ngành nghề trên đều có yêu cầu riêng Tất cả các nội dung này sẽ được trình bày trong phần 2 của chương này
Chương 3 Tác động của du lịch sẽ phân tích những tác động đến
văn hoá, kinh tế, xã hội, môi trường tự nhiên cũng như đến hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học Nhìn chung du lịch có rất nhiều tác động tích cực đến các mặt của đời sống con người, song không phải là
nó không có các tác động tiêu cực Mục đích của chương này là làm rõ các tác động đó để có những biện pháp phù hợp nhằm phát triển du lịch một cách bền vững
Chương 4 Loại hình và sản phẩm du lịch giúp người đọc phân
biệt một cách rõ ràng sự khác nhau giữa loại hình và sản phẩm du lịch, sau đó là trình bày một số loại hình du lịch phổ biến đồng thời cũng giới thiệu một số loại hình và sản phẩm du lịch mới xuất hiện trong thời gian gần đây
Chương 5 Tương lai và triển vọng của du lịch cung cấp cho
người học một số xu hướng phát triển du lịch trong tương lai
5 Phương pháp nghiên cứu môn học
Sinh viên cần bám sát đề cương, dựa vào chuẩn đầu ra của môn học để tập trung nghiên cứu nhằm đáp ứng những yêu cầu của từng chương Bên cạnh giáo trình này, sinh viên nên tham khảo thêm các giáo trình tương tự để nắm vững vấn đề Trong quá trình học tập, sinh viên cần liên hệ với tình hình thực tế, bổ sung, cập nhật thông tin liên quan Sinh viên cần tiếp cận nội dung bài học theo tư duy phản biện, khai phóng, tích cực tham gia vào các hoạt động tranh biện, luyện tập trình bày ý tưởng theo cách diễn đạt của mình trên nguyên tắc ngắn gọn, súc tích, đủ ý
Trang 18Chương I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Sau khi học xong chương này, sinh viên có khả năng:
- Phân tích, đánh giá một số khái niệm cơ bản như tham quan,
du lịch, tài nguyên du lịch được các học giả đưa ra
- Lý giải được các bước thăng trầm của du lịch qua các thời kỳ
- Giải thích được vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch
- Nhận diện, phân tích được các yếu tố tạo nên tính thời vụ của hoạt động du lịch
Tài liệu đọc thêm
Goeldner, C & Ritchie B., 2012 (các trang 4-7; 29-47; 71-92)
Lê Anh Tuấn, Nguyễn Thị Mai Anh và cs, 2015 (các trang 27; 63-84; 108-128)
19-Lickorish Leonard J., Jenkins Carson L.,2007 (các trang 1-2; 10-31)
Luật Du lịch 2017
Ngô Thị Diệu An, Nguyễn Thị Oanh Kiều, 2014 (các trang 4; 16-23; 112-124)
Trang 191-20 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa và cs, 2017 (các trang 39-43) Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, 2008 (các trang 5-17; 31-38; 74-117)
Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa, 2017 (chương3)
Trần Thị Mai và cs, 2008 (các trang 6-8; 13-14; 28-100)
Birjakov, 2000 (Các chương 1, 2 và 7)
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Tham quan
Tò mò là một trong những đặc tính của các loài động vật, đặc biệt
là con người, loài động vật cao cấp bậc nhất Tuy nhiên khi trình độ dân trí của con người được nâng cao, nội hàm tiêu cực của khái niệm
tò mò sẽ không còn nữa và đặc tính đó được phát triển trở thành tính ham hiểu biết1 Sự tò mò, ham hiểu biết là một trong những yếu tố kích thích và phát triển não bộ Con người ham hiểu biết về mọi thứ,
họ luôn tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh Điều này đem lại nền tảng cho sự phát triển của nhân loại Không thể phủ nhận một điều rằng sự tò mò, ham hiểu biết chính là yếu tố giúp con người có được cuộc sống như ngày hôm nay Có thể nói, hoạt động tham quan xuất hiện cũng thể hiện đặc tính này của con người
Từ “tham quan” trong tiếng Việt được các từ điển dịch sang tiếng Anh là “excursion” Từ điển Merriam-Webster giải thích thuật ngữ này với hai nghĩa là “a usually brief pleasure trip” (một chuyến đi chơi ngắn” và “a trip at special reduced rates” (một chuyến đi có độ dài
1 Trong tiếng Anh từ inquisitive có hai nghĩa là tò mò (giống curious) và ham hiểu biết, ham học hỏi (xem Hornby A.S 2000) Trong tiếng Pháp từ curieux cũng có cả hai nghĩa
là ham hiểu biết và tò mò thóc mách (xem Lê Khả Kế, và cs 1981) Trong tiếng Hán từ tò
mò và ham hiểu biết đều dịch là 好奇 Trong khi đó trong tiếng Nga có hai từ riêng biệt
để chỉ tò mò (любопытный) và ham hiểu biết (любознательный) (Xem К М Аликанов,
và cs 1979)
Trang 20ngắn) Trong từ điển tiếng Anh hiện tại dành cho người học ở trình độ cao, Hornby A.S (2000) cũng đưa ra nội hàm chuyến đi ngắn trong khái niệm tham quan, song còn đưa thêm nội hàm được tổ chức cho một nhóm người: “a short journey made for pleasure, especially one
that has been organized for a group of people” UNWTO không nêu khái niệm tham quan, nhưng đưa ra khái niệm khách trong ngày (a same-day visitor) hay là khách tham quan, và được giải thích là khách không nghỉ lại qua đêm (tại điểm du lịch), (UNWTO, 2008, mục
2.13) Có lẽ trong tiếng Anh, thuật ngữ excursion không hẳn đồng nghĩa với từ tham quan trong tiếng Việt, nên các định nghĩa nêu trên
không làm người đọc tài liệu tiếng Việt cảm thấy thỏa mãn Trong
cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên năm 1994, khái niệm
tham quan được hiểu là đi “xem thấy tận mắt để hiểu biết hoặc học tập kinh nghiệm” Trang mạng Soha đưa ra khái niệm “tham quan” cũng khá giống với định nghĩa của Hoàng Phê “đi xem tận nơi, tận mắt để
mở rộng hiểu biết hoặc để học tập kinh nghiệm”2
Như vậy tham quan được hiểu là hoạt động của con người đến một nơi nào đó để nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh Rõ ràng rằng, nội hàm cơ bản của khái niệm tham quan phải là di chuyển, thứ hai là nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh và phải diễn ra tại chỗ, nơi có thế giới khách quan mà con người muốn hay cần tìm hiểu
Tại đó, con người nghe, nhìn, cảm nhận bằng các giác quan về những điều mới lạ nhằm đáp ứng tính tò mò, ham hiểu biết của mình Để hỗ trợ trí nhớ, người ta có thể ghi chép, phác họa, ghi âm, chụp ảnh, quay phim… để lưu lại những thông tin mà họ quan tâm
1.1.2 Du lịch
Một trong những hoạt động hầu như diễn ra hàng ngày của con người là tạm thời rời khỏi nơi ở của mình để đi kiếm ăn hay tìm nơi ở mới Sự ham hiểu biết cuốn hút con người đi xa dần nơi sinh sống
2 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/Tham_quan
Trang 2122 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
thường nhật của mình Không ít người vì mải mê khám phá, tìm hiểu xung quanh nên không đủ thời gian quay về chỗ ở của mình Có thể nói hiện tượng du lịch theo nghĩa đơn giản nhất của nó đã xuất hiện từ
xa xưa như vậy Khái niệm du lịch lúc đó có thể chưa hình thành, song
về bản chất, “du lịch” đã hình thành như một hiện tượng xã hội
Trong một công trình nghiên cứu của mình, David Bruce (2010) cho rằng từ “du lịch” (tourism) lần đầu tiên được Wordsworth W đưa
ra vào năm 1800 ở bài “Người anh em”, đăng trong Những bài thơ của Wordsworth W, một cuốn sách hướng dẫn dành cho các nhà mạo
hiểm khám phá huyện Hồ (Lake District)
Theo Goeldner, Charles R và J.R Brent Ritchie (2012), việc sáng tạo ra tiền của người Sumer3 và sự phát triển thương mại bắt đầu vào khoảng năm 4.000 TCN đã đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên
du lịch mà các ông gọi là “hiện đại” Người Sumer không chỉ là người đầu tiên sáng tạo ra tiền và sử dụng nó trong giao dịch kinh doanh, họ cũng là người đầu tiên tạo ra chữ viết và bánh xe Người ta đã trả tiền hay trao đổi hàng hóa cho dịch vụ vận chuyển và lưu trú, ăn uống trong chuyến đi xa (trang 29) Dưới góc độ này, có thể cho rằng, du lịch từ một hiện tượng xã hội đơn thuần đã bắt đầu mang tính kinh tế Những giao dịch này đã góp phần bổ sung nội hàm kinh tế cho thuật ngữ du lịch Song có thể nói, nghĩa thứ hai của thuật ngữ du lịch chính thức được xuất hiện sau khi Thomas Cook lập ra hãng Lữ hành đầu tiên trên thế giới vào năm 1842, một năm sau khi tổ chức thành công chuyến đi đầu tiên cho 570 người (xem mục 1.2.1.3) Năm 2018, theo WTTC4, du lịch đóng góp trên 50% vào GDP các quốc gia và vùng
3 Sumer là nền văn minh được biết đến sớm nhất ở vùng lịch sử miền nam Mesopotamia (miền nam Iraq ngày nay), trong thời kỳ đồ đồng sớm và là một trong những nền văn minh đầu tiên trên thế giới cùng với Ai Cập cổ đại Sống dọc theo các thung lũng của Tigris và Euphrates, nông dân Sumer đã trồng rất nhiều ngũ cốc và các loại cây trồng khác, thặng dư cho phép họ định cư ở một nơi
4 https://knoema.com/WTTC2019/world-travel-and-tourism-council-data?country
=1001250&measure=1000080&variable=1000100&utm_source=datafinder&utm_medi um=excel&utm_campaign=sourcelink&frequency=A&lastUpdated=1560437535880
Trang 22lãnh thổ như Macau, Seychelles, Maldives, St Kitts & Nevis, Grenada Cũng theo số liệu của WTTC, vào năm này, du lịch Việt Nam đóng góp 9,2% vào GDP
Theo các học giả Ấn Độ (Jyoti Bhoj và các cộng sự, 2016), Guyer Feuler là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về du lịch vào năm 1905 Cho đến nay trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch
và hầu như chưa có sự thống nhất về định nghĩa này Tuỳ theo tiếp cận nghiên cứu, mỗi cá nhân, mỗi tổ chức có những định nghĩa du lịch của riêng mình
Charles R Goeldner và J R Brent Ritchie (2012) cho biết tại Hội nghị Quốc tế về Thống kê Du lịch và Lữ hành 1991, UNWTO đã cập nhật, bổ sung định nghĩa do một số nhà khoa học quốc tế đề xuất Trên cơ sở đó, định nghĩa này sau đó đã được UNWTO chính thức công nhận và khuyến cáo sử dụng Theo đó “du lịch bao gồm các hoạt động của những người đi đến và ở lại những nơi bên ngoài môi trường thông thường của họ không quá một năm liên tục để giải trí, kinh doanh và các mục đích khác” (trang 5)
Năm 2014, UNWTO đã một lần nữa cập nhật định nghĩa về du lịch như là “một hiện tượng xã hội, văn hóa và kinh tế kéo theo sự di chuyển của con người đến các quốc gia hoặc địa điểm bên ngoài môi trường thông thường của họ vì mục đích cá nhân, kinh doanh hoặc nghề nghiệp”
Một cách khái quát hơn, thuật ngữ “du lịch” đã được Việt Nam
luật định như sau “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến
đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không
quá 1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” (Khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch 2017)
Ngoài hiện tượng xã hội và hoạt động kinh tế như phân tích ở trên, hoạt động nghiên cứu và đào tạo cũng là “hoạt động liên quan
Trang 2324 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
đến chuyến đi” Trong những năm gần đây, việc đào tạo và nghiên cứu du lịch đã trở thành một xu hướng được nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu quan tâm Như vậy, bên cạnh cách hiểu du lịch như một
hiện tượng xã hội (đi du lịch) và một ngành kinh tế (làm du lịch), thuật
ngữ “du lịch” đã có thêm một nghĩa mới, đó là một ngành đào tạo,
một lĩnh vực nghiên cứu (học du lịch, nghiên cứu du lịch) Nhiều cơ
sở đào tạo trên thế giới và trong nước đã mở các chương trình đào tạo liên quan đến du lịch từ trung cấp, dạy nghề đến đại học và sau đại học Tương tự như vậy, những đề tài nghiên cứu về du lịch ngày càng phong phú Trên thế giới có hàng trăm tạp chí có uy tín, có chỉ số trích dẫn cao là tạp chí về du lịch Để phân biệt thuật ngữ du lịch như một lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu với thuật ngữ du lịch như một hiện tượng xã hội và kinh tế, một số nhà khoa học Pháp, đứng đầu là GS Jean Michel Hoerner (2002) đã đề xuất một thuật ngữ mới trong tiếng
Pháp là tourismologie với nghĩa là du lịch học 5 Mặc dù vậy, theo thói quen, người ta vẫn sử dụng thuật ngữ “du lịch: tourism” với nghĩa như
du lịch học (tourismology) Thuật ngữ tourism xuất hiện trong nhiều giáo trình tiếng nước ngoài với nghĩa là du lịch học, tiêu biểu là các giáo trình nhập môn du lịch (An introduction to tourism)6
Như vậy có thể coi du lịch là hoạt động (xã hội, kinh tế, đào tạo
và nghiên cứu) liên quan đến sự di chuyển và lưu trú tạm thời của con người vào thời gian rảnh rỗi ở ngoài nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
gia Hà Nội phát hành năm 1999 Tuy nhiên, giáo trình Nhập môn du lịch này được xây
dựng theo hướng tiếp cận hoàn toàn mới
Trang 24vật chất, thông tin và tri thức cũng như các mối quan hệ, được khai thác phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người Đó là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình, những sản phẩm do bàn tay khối óc của con người làm nên, những khả năng của loài người được sử dụng phục vụ cho sự phát triển kinh tế
và xã hội của cộng đồng
Xét về khả năng tái tạo, phục hồi, tài nguyên được chia thành hai loại Đó là tài nguyên hữu hạn và tài nguyên vô hạn Căn cứ vào sự biến đổi của tài nguyên sau khi sử dụng có thể chia tài nguyên hữu hạn thành tài nguyên có thể tái tạo được và tài nguyên không thể tái tạo được Loại thứ nhất là loại sau khi sử dụng chúng mất đi giá trị ban đầu của mình, không có cách nào, hoặc nếu có thì phải chi phí gấp nhiều lần giá trị thu được từ việc sử dụng chúng, hoặc phải mất thời gian rất dài (hàng triệu năm) mới có khả năng tạo lại giá trị ban đầu Loại thứ hai là loại tài nguyên sau khi sử dụng, chúng hầu như không mất đi giá trị ban đầu Tuy nhiên tính bền vững của loại thứ hai này phụ thuộc rất nhiều vào cách mà con người khai thác nó Một số tài nguyên thuộc loại có thể tái tạo được, nhưng nếu khai thác bất hợp lý
có thể làm chúng cạn kiệt dần, trở thành không thể tái tạo, không thể phục hồi được Gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng, việc xây dựng các máy điện sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió được gọi là hướng khai thác năng lượng tái tạo, thực chất chúng thuộc loại tài nguyên vô hạn theo cách tiếp cận ở trên
Về mặt hiện hữu, có thể phân biệt tài nguyên hữu hình và vô hình Một tài nguyên hữu hình là loại tài nguyên thể hiện ở dạng vật thể, có hình khối, ngược lại là tài nguyên vô hình
Cũng như đối với khái niệm du lịch, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về thuật ngữ tài nguyên du lịch Theo một số nhà khoa học, tiêu biểu là Pirojnik I.I., nhà địa lý du lịch nổi tiếng người Belarus, Liên Xô “tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên
và văn hoá-lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực và tinh thần của con người, khả
Trang 2526 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
năng lao động và sức khoẻ của họ” (trang 57) Theo khoản 4, điều 3 của Luật Du lịch hiện hành (2017), “tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa” Các định nghĩa này chưa chỉ ra nội hàm
cơ bản của khái niệm “tài nguyên du lịch” Nội hàm như “tổng thể tự nhiên” có tính khái quát hơn “cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên”,
vì hai nội hàm này không đồng đẳng7 Nội hàm “tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực và tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ” không hẳn chỉ liên quan đến hoạt động du lịch Nội hàm “làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu
du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch” chưa thực sự thuyết phục vì cơ sở quan trọng nhất “để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch” chính là thể chế, chính sách và hơn nữa nội dung này là vai trò chứ không thể coi
là nội hàm của khái niệm tài nguyên du lịch
Về vấn đề này, có thể thấy khái niệm của Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình (2000) đưa ra là khá phù hợp Theo hai tác giả này,
“tất cả các nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch được ngành Du lịch tận dụng và từ đó sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích
xã hội thì đều gọi là tài nguyên du lịch” (trang 127) Năm 1992, Viện Nghiên cứu Khoa học Địa lý Quốc gia Trung Quốc định nghĩa tài nguyên du lịch là “tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành Du lịch, có thể sản sinh
ra hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường” (dẫn theo Ngô Tất Hổ, 2000:41) Hall C.M (2007) cho rằng “tài nguyên du lịch là thành tố của môi trường (tự nhiên và xã hội) hoặc nó hấp dẫn khách du lịch hoặc nó cung cấp nền tảng cần thiết cho trải nghiệm du lịch” (trang 34) Cùng chung quan điểm này có Trần Đức Thanh và cộng sự (2014 :51),
7 Cảnh quan thiên nhiên là khái niệm con của khái niệm yếu tố tự nhiên, nói cách khác
“cảnh quan thiên nhiên” là một trong các “yếu tố tự nhiên”
Trang 26Trần Đức Thanh (2017:49), Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa (2017:72) Theo đó “tài nguyên du lịch là những thành tạo tự nhiên, những tính chất của thiên nhiên, các công trình, sản phẩm do bàn tay hay trí tuệ của con người làm nên, cùng các giá trị (thẩm mỹ, lịch sử, văn hoá, tâm linh, giải trí, kinh tế ) của chúng, có sức hấp dẫn với
khách du lịch và/hoặc được khai thác đáp ứng cầu du lịch” Gần đây,
Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hoà và cs (2017) cũng cho rằng “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, lịch sử-văn hoá cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn khách du lịch” (trang 70)
Trên thực tế, không phải bất cứ dạng, kiểu địa hình, không phải bất cứ kiểu khí hậu nào cũng đều có khả năng thu hút khách du lịch, hay nói cách khác không phải tất cả chúng đều là tài nguyên du lịch
Có những yếu tố địa hình, thuỷ văn, khí hậu là những điều kiện bất lợi, cản trở việc thu hút khách Ví dụ nếu Đà Lạt có khí hậu tương tự như ở Vũng Tàu hay ngược lại thì liệu Đà Lạt và Vũng Tàu có tên trên bản đồ du lịch nước ta như hiện nay hay không? Theo cách hiểu này khó có thể nói được di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám, lễ hội Kate, chợ nổi Cái Răng, cảnh quan biển (seascape) Vịnh Hạ Long trở thành tài nguyên du lịch của Hà Nội, Ninh Thuận, Cần Thơ, Quảng Ninh từ bao giờ Điều gì làm cho nước khoáng Mỹ An, nước khoáng U Va, bùn khoáng Tháp Bà trở thành tài nguyên du lịch? Nếu nước khoáng này chỉ được đóng chai để bán rộng rãi trên thị trường trong và ngoài nước thì nó có thể được coi là tài nguyên du lịch không?
Từ những vấn đề trên có thể thấy được rằng khái niệm “tài nguyên trong du lịch” có nét khác biệt so với khái niệm tài nguyên trong các lĩnh vực khác Rừng được coi là tài nguyên vì con người có thể khai thác được các nguồn lợi từ rừng như chất đốt, vật liệu xây dựng, nguồn dược liệu, thực phẩm Song rừng được coi là tài nguyên
du lịch vì một lý do hoàn toàn khác Những dãy núi đá vôi ở Ninh Bình được coi là tài nguyên du lịch không phải vì những núi này có thể cung cấp một nguồn đá vôi có chất lượng để làm clinker Người ta đến với rừng vì sự trong lành của môi trường, vì muốn hiểu biết thêm
Trang 2728 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
về thế giới tự nhiên, vì muốn thử sức mình Những ruộng bậc thang vào mùa gặt ở Mù Căng Chải, Y Tý, Sa Pa, những hòn đảo đa dạng trên vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, vịnh Lan Hạ tạo thành hình ảnh rất thơ mộng về một vùng sơn thủy hữu tình, làm say lòng biết bao khách du lịch Khách du lịch ngỡ ngàng và bị cuốn hút bởi bức tranh toàn cảnh 360 độ về chiến dịch 56 ngày đêm trên bức tường rộng hơn
3000 mét vuông trong Bảo tàng Chiến thắng Lịch sử Điện Biên Phủ Tại sao khách du lịch đắm mình trước các bức tranh nổi tiếng ở Viện Bảo tàng Ermitage, Louvre hay ở Bảo tàng Mĩ thuật? Điều gì làm cho khách du lịch ngẩn ngơ khi đứng trước các công trình kiến trúc lớn hoặc hiện đại như tháp Eiffel, nhà hát Opera Sydney, khách sạn Burj
Al Arab, tòa nhà Bitexco? Khách du lịch đến tham quan nhà thờ Phát Diệm vì muốn thấy một kiểu kiến trúc nhà thờ đặc biệt là chính hay chỉ thoả mãn nhu cầu tôn giáo hay tâm linh?
Như vậy tài nguyên du lịch là yếu tố tự nhiên, sản phẩm do con người tạo ra cùng các giá trị của chúng, có sức hấp dẫn khách du lịch
Các yếu tố tự nhiên, các sản phẩm do con người tạo ra là thế giới khách quan, chúng có các giá trị khác nhau Có thể là giá trị thẩm mĩ, giá trị lịch sử, giá trị văn hoá, giá trị tâm linh, giá trị giải trí, giá trị kinh tế, giá trị khoa học, giá trị sức khỏe Không phải mọi yếu tố tự nhiên, không phải mọi sản phẩm do con người tạo ra đều có thể coi là tài nguyên du lịch Sự tồn tại dưới dạng vật thể hay phi vật thể của thành tạo thiên nhiên hoặc của các sản phẩm do con người tạo ra chỉ
có một ý nghĩa nhất định để chúng được coi là tài nguyên du lịch Nói cách khác, không phải yếu tố tự nhiên, sản phẩm do con người tạo ra
là tài nguyên du lịch mà chính các giá trị giá trị thẩm mỹ, lịch sử, văn hoá, tâm linh, giải trí, kinh tế của chúng, có sức hấp dẫn với khách
du lịch đã làm cho chúng trở thành tài nguyên du lịch Nội hàm căn bản của tài nguyên du lịch chính là có sức hấp dẫnkhách du lịch Một ngôi nhà, một cây cầu, một kiểu địa hình, một kiểu khí hậu chỉ trở thành tài nguyên du lịch khi nó có một đặc điểm, một tính chất nào đó hấp dẫn khách du lịch Theo cách tiếp cận này, khi trình bày về tài
Trang 28nguyên du lịch chỉ nên nhấn mạnh đến những giá trị du lịch (tức là có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể khai thác đáp ứng cầu du lịch) mà không cần quan tâm nhiều đến các giá trị khác của nó, ngay cả khi những giá trị đó rất quan trọng8
Xét theo nguồn gốc có thể phân chia thành tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa Nguồn gốc tài nguyên du lịch tự nhiên là thiên nhiên, được hình thành trong quá trình tiến hóa của Trái Đất Tài nguyên du lịch tự nhiên có thể gồm địa hình (cảnh quan) ngoạn mục, khí hậu phù hợp, nước và động thực vật
Tài nguyên du lịch tự nhiên là yếu tố tự nhiên cùng các giá trị của chúng, có sức hấp dẫn với khách du lịch
Yếu tố tự nhiên có thể là thành tạo tự nhiên, tính chất của tự nhiên hay tổng thể tự nhiên Các thành tạo của tự nhiên như địa hình (núi, đồi, đồng bằng), thủy, hải văn (sông suối, hồ, ao, biển), sinh giới (động, thực vật) Các tính chất tự nhiên là những yếu tố tự nhiên phi vật thể như thời tiết, khí hậu, các hiện tượng tự nhiên khác Những yếu tố tự nhiên này có thể tồn tại đơn chiếc (một nhũ đá kỳ ảo, một cây cổ thụ, một loài động thực vật nào đó9) hay cũng có thể kết hợp với nhau để tạo nên cảnh đẹp mà chúng ta thường gọi là thắng cảnh, cảnh quan… “Cảnh quan” là một thuật ngữ có nội hàm khá phức tạp của địa lý học10 Trong thực tế, đặc biệt trong thuyết minh giới thiệu
8 Trong các báo cáo khoa học của sinh viên, học viên cao học, thậm chí của một vài nghiên cứu sinh, trong mục “tài nguyên du lịch” của khu vực nghiên cứu thỉnh thoảng có thể thấy sự mô
tả không khác gì tài liệu nói về điều kiện tự nhiên và kinh tế văn hóa xã hội của khu vực Ví dụ
có thể thấy mô tả cả các loại đất (thổ nhưỡng), các mùa (khí hậu), chế độ thủy văn …
9 Ví dụ Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) ở Hà Tĩnh
10 Theo Nguyễn Cao Huần (2005), “trong khoa học địa lý tồn tại ba quan niệm về cảnh quan tùy theo ý và nội dung người ta muốn diễn đạt gồm: 1-cảnh quan là một khái niệm chung (F.N Minkov, D.L Armand), đồng nghĩa với tổng thể địa lý thuộc các đơn vị khác nhau;2- là khái niệm loại hình (B.B Polunov; N.A Gvozdetxki,…); 3-là khái niệm cá thể (N.A Xoltsev; A.G Ixatrenco, Vũ Tự Lập) Theo Kalexnik X.V., (1973), nhà địa lý lỗi lạc Liên Xô thì “các bộ phận của bề mặt đất, khác nhau về mặt chất lượng với các bộ phận khác, có ranh giới tự nhiên và là những tổng thể hoàn chỉnh, và có quy luật của các đối tượng và hiện tượng, được gọi là tổng thể tự nhiên khu vực (Karasnov, 1895; Muraveiki, 1948) hoặc được gọi một cách ngắn gọn là địa cảnh hay cảnh quan địa lý” (trang 16)
Trang 2930 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
du lịch, kể cả trong tiếng Anh, từ cảnh quan11 thường được dùng không phải với nội hàm khoa học của thuật ngữ này mà ám chỉ phong cảnh12 (Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa 2017:85)
Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm địa hình ngoạn mục, khí hậu phù hợp, tài nguyên nước, giới động thực vật, cảnh quan và các hiện tượng tự nhiên kỳ thú khác
Tài nguyên du lịch tự nhiên có khả năng tự phục hồi nếu được khai thác hợp lý Tuy nhiên tài nguyên du lịch tự nhiên thường nằm xa khu dân cư nên còn giữ được nhiều nét hoang sơ, hấp dẫn khách du lịch Việc khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên nên không phải lúc nào cũng thuận lợi
Văn hoá là cơ sở hình thành một trong những nguồn lực quan trọng của du lịch, đó là tài nguyên du lịch văn hoá Năm 2002,
UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin Người ta phân biệt sản phẩm văn hoá
vật thể (tangible) và sản phẩm văn hoá phi vật thể (intangible) Sản phẩm văn hoá vật thể là những sản phẩm hữu hình do con người tạo ra như những công trình xây dựng, những sản phẩm thủ công, mỹ nghệ, những món ăn, những vườn cây trái… Ngôn ngữ, phong tục tập quán, những làn điệu dân ca, những câu chuyện, những tác phẩm văn hóa nghệ thuật (truyền thuyết, câu chuyện, điệu nhạc…) là những sản phẩm văn hoá vô hình, phi vật thể Có những sản phẩm văn hoá vừa
có tính hữu hình, vừa có tình vô hình như nghệ thuật ẩm thực, các làn điệu dân vũ, các sản phẩm bí truyền…
11 Landscape
12 Scenery
Trang 30Mỗi cộng đồng đều có phong tục, tập quán, có những di sản văn hoá nhất định như di tích lịch sử văn hoá, kiểu kiến trúc, kho tàng văn hoá truyền thống
Tài nguyên du lịch văn hóa là các sản phẩm do con người tạo ra cùng các giá trị của chúng, có sức hấp dẫn với khách du lịch
Tài nguyên du lịch văn hóa thường gồm các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại có giá trị, các sản phẩm thủ công truyền thống, phong tục, tập quán, lễ hội, các loại hình diễn xướng, văn hóa ứng xử, địa danh, danh nhân… Văn hoá cộng đồng góp phần tạo nên các sản phẩm du lịch đặc trưng Các sản phẩm văn hoá được coi là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn
Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người tạo ra rất nhiều sản phẩm văn hóa khác nhau Những sản phẩm hữu hình và những sản phẩm vô hình (hay còn gọi là sản phẩm vật thể và sản phẩm phi vật thể), nếu chúng có sức hấp dẫn khách du lịch, chúng sẽ được coi là tài nguyên du lịch văn hoá Những sản phẩm hữu hình do con người tạo ra như các di tích, các công trình đương đại, các sản phẩm thủ công, mỹ nghệ, các món ăn là tài nguyên du lịch văn hóa vật thể Những sản phẩm vô hình như ngôn ngữ, phong tục tập quán, làn điệu dân ca, điệu nhảy, những câu chuyện, những tác phẩm văn hóa nghệ thuật (truyền thuyết, các giai điệu âm nhạc…) có sức hấp dẫn khách du lịch được coi
là tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể Tuy nhiên, trong thực tế không
có ranh giới rõ rệt giữa hai loại tài nguyên du lịch văn hóa này vì sự hấp dẫn của các sản phẩm do con người tạo ra chủ yếu phụ thuộc vào giá trị
vô hình của chúng Bên cạnh đó, những sản phẩm như ẩm thực, lễ hội, phong tục tập quán, làng nghề… thể hiện ở cả dạng vật thể và phi vật thể, không tách rời nhau Do vậy tài nguyên du lịch văn hóa thường được liệt kê gồm di tích, công trình đương đại, bảo tàng, làng nghề, ẩm thực, lễ hội, phong tục tập quán, dân ca, dân vũ, địa danh, danh nhân (xem Trần Đức Thanh và Trần Thị Mai Hoa 2017)
Trang 3132 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch văn hóa không có khả năng tự phục hồi Do vậy việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của du lịch rất có ý nghĩa Tài nguyên du lịch văn hóa do con người tạo ra nên thường gắn liền với địa bàn sinh sống của con người, hay nói cách khác, nơi đâu có tài nguyên du lịch văn hóa, nơi đó
đã từng có hoặc hiện có con người sinh sống Chính vì vậy, Đinh Nhật
Lê, Lư Thị Thanh Lê (2019) cho rằng “tài nguyên du lịch văn hóa thể hiện tri thức, sự sáng tạo của con người, mang dấu ấn của văn hóa và lịch sử qua nhiều giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển” (trang 19) Việc khai thác tài nguyên du lịch văn hóa ít phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên nên hầu như có thể khai thác quanh năm
1.1.4 Điểm tài nguyên/điểm tham quan và điểm đến du lịch/điểm du lịch
“Tài nguyên du lịch” là một khái niệm học thuật, có tính trừu tượng cao nên ít được sử dụng khi nói về một địa phương nào đó Có thể nói cảnh quan ngoạn mục, di tích, lễ hội… là tài nguyên du lịch, song không thể nói Công viên Địa chất Toàn cầu, Vịnh Hạ Long, Thác Bản Giốc, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Lễ hội Vía Bà Tây Ninh
là tài nguyên du lịch Đây là các điểm tài nguyên hay điểm tham quan Điểm tham quan hay điểm tài nguyên (tourist attraction) là nơi
mà khách nói chung, khách du lịch nói riêng có thể đến để tìm hiểu về những gì mà nơi đó có Ví dụ Đền Trần, Thành nhà Hồ, Kinh thành Huế, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Dân tộc học, Nhà máy Thủy điện Hòa Bình… Điểm tham quan là nơi có tài nguyên du lịch, hay nói cách khác là nơi có yếu tố hấp dẫn khách du lịch
Khái niệm điểm đến du lịch (tourism destination) được Pearce (1992), M Djurica & N Djurica (2010) định nghĩa như là “một nơi
có các thành phần cơ bản để thu hút và đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch”
UNWTO (2019b) định nghĩa điểm đến du lịch là “một không gian tự nhiên có hoặc không có ranh giới hành chính hoặc/và ranh giới
Trang 32khác, trong đó khách du lịch có thể nghỉ qua đêm Nó là một cụm (cùng địa điểm) các sản phẩm và dịch vụ, các hoạt động và trải nghiệm dọc theo chuỗi giá trị du lịch và là một đơn vị cơ bản để phân tích du lịch Một điểm đến bao gồm các bên liên quan khác nhau và có thể kết nối với nhau để tạo thành các điểm đến lớn hơn Nó cũng là phi vật thể với hình ảnh và bản sắc của nó để tạo ra khả năng cạnh tranh trên thị trường” (trang 14)
Luật Du lịch 2017 không quy định về điểm đến du lịch, nhưng có quy định về điểm du lịch tại khoản 7 Điều 3 : “điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư khai thác phục vụ khách du lịch” Điểm du lịch không chỉ là nơi có tài nguyên du lịch (tức là trong đó có các điểm tài nguyên cụ thể), mà còn có các cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt là cơ sở lưu trú để khách có thể lưu lại qua đêm Về mặt không gian, điểm du lịch thường có diện tích lớn hơn điểm tham quan Điểm du lịch có thể có một hay nhiều điểm tham quan khác nhau Theo cách hiểu như thế, Nhà thờ Mằng Lăng, Vườn hoa Đà Lạt, Nhà Công tử Bạc Liêu, Núi Hàm Rồng là điểm tham quan, trong khi
đó Sầm Sơn, Hà Tiên, Phú Quốc là điểm du lịch
Theo tính chất có thể có các điểm du lịch tham quan (Paris, Hội
An, Sapa…), điểm du lịch nghỉ dưỡng (Maldives, Inter Continental Sun Peninsula Đà Nẵng), điểm du lịch vui chơi giải trí (Hawaii, Genting, Sentosa, Cocobay Đà Nẵng…)
1.2 Quá trình hình thành và phát triển du lịch
1.2.1 Trên thế giới
Cũng như đối với bất kỳ một lĩnh vực khoa học nào, sẽ là không đầy đủ nếu nghiên cứu du lịch mà không biết đến lịch sử phát triển của nó Mục đích của việc nghiên cứu lịch sử của du lịch là để phát hiện ra quy luật phát triển, trên cơ sở đó đề xuất các định hướng khoa học nhằm phát huy tối đa các điều kiện thuận lợi, giảm thiểu, hạn chế
Trang 3334 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
đến mức thấp nhất các điều kiện bất lợi góp phần thúc đẩy du lịch phát triển một cách bền vững
Lịch sử du lịch cho thấy sự thăng trầm của du lịch có mối quan hệ rất mật thiết với các điều kiện chung như tình hình an ninh chính trị,
an toàn xã hội, điều kiện kinh tế, chính sách phát triển Tuy du lịch không phải là một nhu cầu thiết yếu, song lại là một nhu cầu ngày càng phổ biến trên thế giới Những bằng chứng trong lịch sử cho thấy, nhu cầu du lịch của con người phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tài chính, vào thời gian rỗi và trình độ dân trí Lịch sử hình thành phát triển du lịch cũng chỉ ra rằng những nơi có tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, có các điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, có nguồn nhân lực chất lượng cao là những điểm đến du lịch nổi tiếng
Du lịch trước hết là một hiện tượng xã hội, lịch sử phát triển du lịch gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người, do vậy lịch sử phát triển du lịch có thể tóm tắt trong ba giai đoạn là cổ đại, trung đại
Trang 34Cách đây khoảng 120.000 - 70.000 năm, một số nhóm người này đã rời châu Phi sang châu Á và đến khoảng năm 40.000 TCN họ đã di cư đến khắp Australia, châu Á và châu Âu
Hiệp hội Địa lý Hoa Kỳ mô tả những chuyến di cư (“du lịch”) đầu tiên của loài người trong “Tập bản đồ hành trình của con
người” cho thấy một cuộc di cư khỏi châu Phi (Out Of Africa)
qua Bán đảo Ả Rập khoảng 60 nghìn năm trước đưa người hiện đại tới lục địa Á-Âu, một số đã định cư tại vùng duyên hải quanh Ấn
Độ Dương, một số khác di cư về phía bắc tới các dãy núi vùng Trung
Á (National Geographic Society, 2011)
Tim Lambert (2020) phỏng đoán rằng, lừa và ngựa đã được thuần hóa từ năm 4.000 đến năm 3.000 TCN, sau đó khoảng giữa năm 3.000
và năm 2.000 TCN lạc đà mới được thuần hóa Việc thuần hóa được lừa, ngựa, lạc đà có tầm quan trọng đối với việc di chuyển của con người Họ đã đi được xa hơn, dài ngày hơn, đỡ mỏi mệt hơn vì các vật nuôi này đã giúp con người không phải đi bộ, mang vác các vật dụng,
đồ ăn thức uống Cũng theo Tim Lambert (2020), người Đầu Đen (Sumer)13 đã sáng tạo ra bánh xe đầu tiên của loài người Bánh xe trở thành bộ phận vô cùng quan trọng đối với những sáng chế tiếp theo của con người trong lĩnh vực vận chuyển: xe kéo Loài người đã có thêm một hình thức di chuyển nhẹ nhàng và thoải mái hơn, đó là di chuyển trên những chiếc xe kéo
Các nhà thần học, hiền triết, nhà thơ, nhà văn cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch Du ký, một hình thức ghi chép để chia sẻ những hiểu biết, trải nghiệm, suy nghĩ về các chuyến đi, cũng có ý nghĩa to lớn trong phát triển du lịch Nhờ những tài liệu này mà người đời sau có thêm động lực và tự tin cho các hành trình của mình Theo nghiên cứu của Thompson (2011), nhà sử học Lionel Casson cho rằng Wenamon, một mục sư người Ai Cập là người “có bản tường thuật chi
13 Xem lại chú thích ở trên
Trang 3536 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
tiết sớm nhất về một chuyến đi đã từng tồn tại” (Dẫn theo Nguyễn Hữu Lễ, 2018:41) Đó là chuyến đi từ Thebes đến Labanon để mua lại ngôi đền bằng gỗ tuyết tùng vào năm 1130 TCN Chuyến hồi hương đầy gian nan của Ulysses14 trong tác phẩm Odyssey được Homer mô
tả vào khoảng năm 700 TCN có thể được coi là một tác phẩm thuộc thể loại du kí thành công bậc nhất của mọi thời đại
Việc “du lịch” (theo nghĩa sơ khai ban đầu của từ này) về những vùng miền xa xôi gặp trở ngại lớn là “lữ khách” phải mang theo một lượng lớn hàng hóa, thức ăn để sử dụng trong chuyến đi Những vật dụng được mang theo để đổi lấy thức ăn, đồ uống trong các chuyến đi
xa, tuy thuận tiện hơn song vẫn khá cồng kềnh, nặng nề và nhiều khi không phù hợp với nhu cầu của người hoán đổi Ý tưởng tìm một vật
có khả năng trao đổi đa năng hơn đã thôi thúc con người sáng tạo ra một vật hoán đổi trung gian, đó là tiền Không biết chắc chắn ai là người đầu tiên nghĩ ra công cụ để trao đổi này, nhưng các nhà sử học tin rằng các vật thể kim loại lần đầu tiên được sử dụng như tiền vào khoảng 5000 năm TCN David Graeber cho rằng, khoảng năm 700 TCN, người Lydia là người đầu tiên ở phương Tây sáng tạo ra tiền15 Theo các tác giả của đề tài “Lịch sử đồng tiền Việt Nam - Quá trình hình thành và phát triển”, đồng tiền đầu tiên của nhà nước Việt Nam
là đồng tiền Thái Bình Hưng Bảo do vua Đinh Tiên Hoàng cho đúc và lưu hành16 Với đồng tiền xu, sau này là tiền giấy17, con người đã được đảm bảo cho các chuyến hành trình xa nhà lâu ngày hơn
14 Ulysses là tên mà người La Mã gọi Odysseus, một anh hùng Hy Lạp
15 David.Graeber:.Debt:.The.First.5000.Years,.Melville.2011.Cf http://www.socialtextjournal org/reviews/2011/10/review-of-david-graebers-debt.php
16 phat-trien-114031.html
https://thoibaonganhang.vn/lich-su-dong-tien-viet-nam-qua-trinh-hinh-thanh-va-17 Ở Mesopotamia cổ đại người ta đã sử dụng draft (một loại giấy tờ bảo đảm cho thóc lúa
dự trữ trong kho) trong thanh toán như tiền Ở Hy Lạp, đơn vị tiền giấy cổ xưa được sử
dụng là drachma (xuất phát từ drama = 1 kg thóc) Ở Nhật Bản thời phong kiến cổ, đồng tiền giấy lấy cơ sở là lúa gạo của 1 năm bằng 1 koku Người Ai Cập cũng đã sử dụng tiền
giấy vào thế kỷ 1 TCN Ở Trung Quốc, tiền giấy được sử dụng từ thế kỷ VII dưới triều đại nhà Đường Khi ấy hệ thống tiền tệ chính của Trung Quốc vẫn là tiền xu tròn lỗ vuông và
Trang 36Đường thủy là một trong những tuyến giao thông được sử dụng lâu đời nhất Có lẽ chính vì vậy mà trong tiếng Hán, chữ du (游) có nghĩa là đi có bộ chấm thủy (氵) Trên mặt nước, loài người sáng chế
ra nhiều phương tiện vận chuyển khác nhau Một trong những phương tiện “hiện đại” nhất thời cổ đại là thuyền buồm Thuyền buồm là một loại thuyền này chạy bằng sức gió nhờ vào một bộ phận gọi là buồm Tim Limbert cho rằng, khoảng năm 3.100 TCN, người Ai Cập đã sáng tạo ra thuyền này Chúng được làm bằng những bó sậy và bằng giấy cói gắn liền với nhau Vật liệu chính của những cánh buồm vuông đơn giản là giấy cói và sau đó là vải lanh Tuy nhiên, khi chưa có bánh lái, buồm chỉ có thể đưa thuyền đi theo chiều gió
Để đảm bảo cho tàu thuyền ngoài khơi ven biển không va phải các dải đá ngầm ven bờ, người xưa đã đốt đuốc chạy dọc bờ biển để cảnh báo Việc này là cội nguồn của sáng kiến xây dựng các hải đăng ven bờ và trên các đảo Theo Elinor Dewire and Dolores Reyes-Pergioudakis (2010), nhà thần học Palamedes ở Nafplio là người đầu tiên sáng tạo ra hải đăng, mặc dù ngọn hải đăng đầu tiên của loài người ở Alexandria là do kiến trúc sư Sostratus ở Cnidus thiết kế và thi công dưới thời vua Ptolemy I, khánh thành khoảng năm 283 TCN dưới thời vua Ptolemy II (vẫn theo Tim Lambert, 2020)
Bên cạnh hải đăng, một công cụ không thể thiếu được trong hàng hải là chiếc la bàn Lowrie, William (2007) nhận định rằng, chiếc la bàn đầu tiên do người Trung Quốc sáng chế vào thời nhà Hán, khoảng
từ năm 200 đến năm 300
Trên đất liền, tuyến “đường ray” đầu tiên là con đường Diolkos được xây dựng vào thế kỷ thứ VI TCN, dài 6,4 km dùng để chuyển
tiền vàng, bạc Xuất phát từ hoạt động của các hiệu cầm đồ, kim hoàn nhận giữ tiền hộ khách hàng, người ta nghĩ ra cách thanh toán bằng những tờ giấy chứng nhận gửi tiền
để dễ vận chuyển và an toàn trong sử dụng Tiền ngày ấy được gọi là "phi tệ" vì nó nhẹ Đến thế kỷ X, tiền giấy Trung Quốc đã được sử dụng rất rộng rãi và đã có một hệ thống thanh toán ngân hàng khá hoàn chỉnh Tiền giấy đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện vào thời nhà Hồ (năm 1396) Mặc dù đây là một bước tiến trong lĩnh vực tài chính ngân hàng thời
đó, song quyết sách chỉ được triển khai trong một thời gian ngắn (Tác giả sưu tầm)
Trang 3738 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
các thuyền qua eo đất Corinth ở Hy Lạp Những con tàu nằm trên các
xe chở do nô lệ hoặc súc vật kéo Nền đường là đá vôi, có hai rãnh song song để bánh xe lăn trong đó một cách dễ dàng Con đường Diolkos này được sử dụng trong hơn 1.300 năm cho đến giữa Thiên niên kỷ thứ nhất Những xe goòng kéo bằng ngựa trên các nền đá đầu tiên xuất hiện ở Hy Lạp, Malta và các vùng thuộc Đế quốc La Mã ít nhất là 2.000 năm trước18
Vào thời kỳ cổ đại, các loại hình du lịch phổ biến là du lịch buôn bán, du lịch tôn giáo, du lịch thể thao, du lịch giải trí và du lịch chữa bệnh
Ngay trong thời kỳ này, mặc dù hoạt động du lịch chủ yếu được nhìn nhận như một hiện tượng xã hội, song trong các chuyến đi đó đã xuất hiện các hoạt động trao đổi, mua bán, nhất là khi các loại tiền tệ ra đời Lúc đầu, việc trao đổi dựa trên nhu cầu của chuyến đi, nhưng về sau, thấy được sự chênh lệch giá cả giữa các vùng miền, một số “khách
du lịch” đã trở thành thương gia hoạt động trên hành trình của mình Vào buổi bình minh của loài người, nhiều tôn giáo đã xuất hiện Tôn giáo nào cũng tin rằng tôn giáo của mình là chính đạo, tôn giáo khác là tà đạo Các tu sĩ thực hiện nhiều chuyến đi về các vùng miền khác nhau để truyền đạo theo sứ mạng của họ Bên cạnh đó, hiện tượng hành hương bột phát của các tín đồ về các miền đất thánh dần dần trở thành những trào lưu phổ biến trong mọi tôn giáo
Năm 776 TCN, một hoạt động thi đấu thể thao được tổ chức ở vùng đất thánh Olympia, Hy Lạp Kể từ đó đến năm 393 TCN, hoạt động thi đấu thể thao này đã thu hút mọi người từ các miền đất khác đến tham dự và cổ vũ Có thể coi đây là loại hình du lịch thể thao đầu tiên của loài người
18 https://vi.wikipedia.org/wiki/V%E1%BA%ADn_t%E1%BA%A3i_%C4%91%C6%B0%E1% BB%9Dng_s%E1%BA%AFt
Trang 38Trong giai đoạn này, loại hình du lịch nghỉ dưỡng thường là đặc quyền của những người thuộc tầng lớp trên của xã hội như vua chúa, quan lại, chủ nô, các nhà buôn Điểm đến của họ là những nơi có các điểm nước khoáng hay các miền có khí hậu ôn hòa, mát mẻ
Do nền y học thời kỳ này còn khá hạn chế, khi bị đau ốm, người
ta đưa người bệnh đến các thày phù thủy để chữa chạy Một trong những điểm “du lịch chữa bệnh” linh thiêng thu hút rất nhiều “khách
du lịch chữa bệnh” thời kỳ cổ đại là đền Asclepius19 tại Epidaurus Người ta tin tưởng rằng, các thầy tu ở thánh địa này, bằng pháp thuật của mình, có khả năng chữa được rất nhiều bệnh tật, kể cả các bệnh nan y (Sharpley, 1999)
1.2.1.2 Thời kỳ trung đại
Sự suy sụp của đế quốc La Mã cổ đại vào khoảng thế kỷ thứ V sau Công nguyên đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của du lịch Trong gần 1.000 năm sau đó, thế giới bước vào thời kỳ đen tối, hệ thống hạ tầng xuống cấp, việc đi lại trở nên khó khăn hơn Mặc dầu vậy, thời kỳ này cũng ghi nhận một số chuyến di chuyển đường dài của cư dân vùng biển Thái Bình Dương Đáng ngạc nhiên hơn cả là chuyến đi của người Polynesia từ quần đảo Marquesa, hay còn có tên
là quần đảo Society20 vượt trên 2.000 hải lý đến Hawai21 vào năm 500 (Charles R Goeldner, J.R Brent Ritchie, 2012:35)
Nối tiếp các giai đoạn trước, du lịch hành hương thời kỳ này vẫn phát triển do tính chất đặc biệt của loại hình này Các quán trọ, quán
ăn, quầy bán đồ tế lễ… dọc theo các con đường hành hương được hình thành không phải vì mục đích kinh tế mà chủ yếu vì mục đích tôn giáo, nhằm hỗ trợ cho khách hành hương Xuất hiện những
19 Con của thần Apollo, tức cháu của thần Zeus theo thần thoại Hy Lạp Asclepius đã học được ở cha mình các pháp thuật chữa bệnh
20 có tọa độ khoảng 16 0 40’VN-151 0 22’KT (tác giả định vị trên google map)
21 có tọa độ khoảng 19 0 39’VN -155 0 30’KT (tác giả định vị trên google map)
Trang 3940 NHẬP MÔN DU LỊCH – INTRODUCTION TO TOURISM
“hướng dẫn viên” chuyên giúp đỡ, chỉ đường cho lữ khách, đặc biệt
là ở những vùng đất thánh
Nếu như trong Đêm trường Trung cổ, hoạt động du lịch bị hạn chế rất nhiều thì bước sang Kỷ nguyên Ánh sáng, du lịch dường như bắt đầu được cởi trói Các chuyến du lịch có lộ trình ngày càng xa hơn, thời gian của các chuyến đi ngày càng lâu hơn trước Nhiều miền đất mới được biết đến Nhu cầu khám phá và chinh phục của con người được khuyến khích, tài trợ bởi các vương quyền Muộn hơn một chút trong thời kỳ này là các chuyến “du học” có tên là “chuyến đi lớn” (Grand tour) Đây là một phong trào đi về các trung tâm văn hóa lớn của thế giới như Roma, Bologna22, Firenze23, Millano24… Nguồn gốc của các chuyến đi lớn này là kết quả của một cuộc cải cách giáo dục trong thời kỳ nữ hoàng Elizabeth25 (Brendon 1991:10) “Chuyến
đi lớn” đã trở thành một phần không thể thiếu trong chương trình học tập của con cái các gia đình thượng lưu Có thể coi những chuyến đi lớn này như là “tiền thân” của loại hình du lịch học tập hay gọi là du học (study tour) ngày nay Sau này, các địa điểm “du học” mở rộng dần đến các trung tâm văn hóa lớn khác trên thế giới như Paris, London, Amsterdam …Thời gian của một chuyến đi như vậy thường kéo dài khoảng 3 năm Một trong những nhiệm vụ quan trọng của chuyến đi là ghi chép những gì thấy được trên đường đi, những kiến thức học được tại nơi đến Phong trào “chuyến đi lớn” kéo dài đến thế
kỷ XVIII và mục đích của nó không còn chỉ bó hẹp ở một chuyến “du học” ban đầu mà đã mở rộng thành các chuyến trải nghiệm thực tế, nghỉ ngơi, thư giãn và “du lịch” như nghĩa của từ này ngày hôm nay Thời gian của chuyến đi cũng rút ngắn hơn, từ vài ba năm xuống còn
Trang 40vài ba tháng, thậm chí vài ba tuần và hầu hết là dưới một năm (Charles
R Goeldner, J.R Brent Ritchie (2012)
Bên cạnh các “chuyến đi lớn” vì mục đích học tập, trải nghiệm, các chuyến viễn du khám phá các vùng đất mới cũng là một đặc trưng của du lịch thời kỳ Trung đại Dưới đây là một số chuyến viễn du nổi tiếng nhất, có ý nghĩa lớn đến sự phát triển du lịch trong giai đoạn này Đó là chuyến đi của Marco Polo, Cristóbal Colón, Vasco da Gamma, Fernão de Magalhães
Chuyến đi của Marco Polo đến Đế quốc Mông Cổ với triệu điều
kỳ lạ
Marco Polo là con của một nhà buôn lớn ở Venezia26 Vào năm
1271, ông theo cha là Niccolò và chú là Maffeo sang Trung Quốc trong một chuyến đi buôn (Edward Peters, Fosco Maraini, 2018) Theo Charles R Goeldner, J.R Brent Ritchie (2012) hành trình sang Trung Quốc của ông đi qua rất nhiều miền đất khác nhau như Ba Tư27, Tây Tạng, Sa mạc Gobi, Miến Điện28, Xiêm29, Java, Sumatra, Ấn Độ, Tích Lan30, Bắc Siberia và những nơi khác Khi đến sông Volga, địa phận phía tây của Đế quốc Mông Cổ, ba người dòng họ Polo đã được gặp lại Đại Khả Hãn31 Hốt Tất Liệt32 Gia đình Polo đã trở thành sứ giả kết nối Hốt Tất Liệt với Đức Giáo hoàng, người từng là bạn thân của gia đình họ Sau này, khi sang đến Trung Hoa, Marco Polo được Đại Khả Hãn tin dùng Ông được giao đi kiểm tra các miền đất của đế chế Những chuyến đi này đã để lại cho Marco Polo nhiều hiểu biết và trải nghiệm Ông đã kể lại những điều mắt thấy tai nghe trong suốt 25
26 Venice, Italy
27 Persia, tên gọi cũ của Iran
28 Burma, tên gọi cũ của Myanmar
29 Siam, tên gọi cũ của Thái Lan
30 Ceylon tức Sri Lanka
31 Hãn là người cầm đầu, tương đương ngai vị vua Đại Hãn hay Đại Khả Hãn có nghĩa là vua của các vị vua
32 Đại Khả Hãn thứ 5 của đế quốc Mông Cổ (1260-1294)