ĐẶT VẤN ĐỀ Nhũ tương là một dạng hệ phân tán phổ biến trong ngành dược phẩm, được sửdụng rộng rãi trong các sản phẩm thuốc dùng ngoài da như kem bôi, gel, sữadưỡng.. Nhũ tương bao gồm ha
TỔNG QUAN
Đại cương
Nhũ tương là một hệ phân tán cơ học vi dị thể được hình thành từ hai chất lỏng không đồng tan, trong đó một chất lỏng là pha phân tán (pha nội, pha không liên tục) được phân tán vào chất lỏng thứ hai là môi trường phân tán (pha ngoại, pha liên tục) dưới dạng các tiểu phân cơ học có kích thước từ 0,1 đến hàng chục micromet
1.1.2 Thành phần của nhũ tương thuốc
Thành phần của tất cả các nhũ tương nói chung và nhũ tương thuốc nói riêng gồm hai pha:
Các nhũ tương có tỉ lệ pha phân tán so với môi trường phân tán rất thấp, chỉ cần phối hợp pha phân tán và môi trường phân tán với lực gây phân tán rất nhỏ cũng có thể tạo nhũ tương Nhưng đối với các nhũ tương thuốc (và các loại nhũ tương khác
- mỹ phẩm, thực phẩm ) trong thực tế, tỉ lệ pha phân tán rất cao, muốn hình thành được nhũ tương và giữ được độ ổn định của chúng trong giới hạn thời gian ấn định, ngoài hai pha của nhũ tương cần phải có thành phần thứ ba, là các chất nhũ hoá - ổn định
Tất cả các nhũ tương là một hệ phân tán được hình thành từ hai pha: pha phân tán và môi trường phân tán Theo qui ước, pha “Dầu” trong nhũ tương bao gồm tất cả các chất lỏng không phân cực và các chất khác ở thể rắn, tan trong các chất lỏng không phân cực Ngược lại, pha “Nước” bao gồm tất cả các chẩt lỏng phân cực và các chất khác ở thể rắn tan được trong các chất lỏng phân cực Như vậy trong thực tế chỉ có hai kiểu nhũ tương:
- Dầu trong Nước (Ký hiệu: D / N): Pha phân tán là Dầu và môi trường phân tán là Nước.
- Nước trong dầu (Ký hiệu: N/D): Pha phân tán là Nước và môi trường phân tán là Dầu
Ngoài ra trong thực hành bào chế người ta hay điều chế các nhũ tương “Kép” trong đó pha phân tán là một nhũ tương D/N hay N/D:
- Nhũ tương kiểu N / D / N : Pha phân tán là nhũ tương N/D và môi trường phân tán là nước
- Nhũ tương kiểu D / N / D : Pha phân tán là nhũ tương kiểu D/N và môi trường phân tán là dầu
Về đặc tính thì nhũ tương N/D là chất không phân cực và nhũ tương D/N là chât phân cực, vì vậy nhũ tương kép thực chất cũng chỉ là một trong hai kiểu nhũ tương D/N hav N/D
Các phương pháp để xác định kiểu nhũ tương:
Bảng 1.1.3 Các phương pháp xác định kiểu nhũ tương
Pha loãng bằng dầu hoặc nước
Trộn lẫn được với nước
Không trộn lẫn được với dầu
Nhuộm màu bằng chất màu tan trong dầu hoặc trong nước
Nhận xét bằng cảm quan và soi dưới kính hiển vi Đo độ dẫn điện Nước là pha liên tục cho dòng điện chạy qua
Dầu là pha liê tục khôgn dẫn điện
1.1.4 Phân loại nhũ tương thuốc
- Nhũ tương thiên nhiên gồm các sản phẩm có sẵn trong thiên nhiên dưới dạng nhũ tương như sữa động vật và các nhũ tương chế từ các loại hạt có dầu và không có tác dụng dược lý.
- Nhũ tương nhân tạo gồm các nhũ tương chế bằng cách dùng các chất nhũ hóa thích hợp và lực gây phân tán để phôi hợp hai pha dầu và nước tạo thành nhũ tương
1.1.4.2 Theo tỷ lệ pha phân tán và môi trường phân tán
Người ta nhận thấy rằng với tỉ lệ pha phân tán 2% thường phải có chất nhũ hoá tốt mới dễ dàng thu được nhũ tương vững bền. Đa số các nhũ tương thuốc là những nhũ tương đặc trong đó pha phân tán thường chiếm nồng độ từ 10 - 15% và cá biệt có trường hợp 80 - 90% (ví dụ thuốc xoa dầu amoniac) Vì vậy, để điều chế chúng cần dùng các chất nhũ hoá thích hợp và kiểu nhũ tương phụ thuộc vào tính hòa tan hoặc tính thấm của chất nhũ hóa cũng như bản chất của các chất nhũ hoá trong hỗn hợp và tỷ lệ của chúng
1.1.4.3 Theo mức độ phân tán
- Vi nhũ tương; kích thước các tiểu phân phân tán nhỏ gần bằng tiểu phân keo thuộc hệ vi dị thể.
- Nhũ tương mịn: các tiểu phân có kích thước nhỏ từ 0,5 - 1 micromet.
- Nhũ tương thô: các tiểu phân có kích thước từ vài micromet trở lên
Kiểu nhũ tương phụ thuộc chủ yếu vào tính hòa tan hoặc tính thấm của chất nhũ hóa, cũng như tỉ lệ các chất nhũ hoá trong hỗn hợp Nhìn chung thì các chất nhũ hóa dễ hòa tan trong nước hoặc dễ thấm nước hơn dầu sẽ tạo kiểu nhũ tương D/N; các chất nhũ hoá dễ hòa tan hoặc dễ thấm dầu hơn nước sẽ tạo kiểu nhũ tương N/D.
Ngoài ra kiểu nhũ tương cũng phụ thuộc trong một chừng mực nhất định vào ty lệ thể tích giữa hai pha lỏng không đồng tan có trong hệ.
Riêng đối với các vi nhũ tương, kiểu nhũ tương được hình thành phụ thuộc nhiều vào sức căng bề mặt của hai pha Thông thường:
- Nếu sức căng bề mặt của dầu lớn hơn sức căng bề mặt của nước sẽ tạo vi nhũ tương kiểu D/N
- Ngược lại, nếu sức căng bề mặt của nước lớn hơn sức căng bề mặt của dầu sẽ tạo vi nhũ tương kiểu N/D
1.1.4.5 Theo đường sử dụng thuốc
+ Tiêm bắp có thể dùng hai kiểu nhũ tương D/N và N/D.
+ Tiêm tĩnh mạch chỉ dùng kiểu nhũ tương D/N Truyền tĩnh mạch với liều lượng lớn (các nhũ tương cung cấp chất dinh dưỡng) được điều chế kiểu D/N, các tiểu phân phải nhỏ hơn 0,5 micromet để tránh gây tắc mạch Không được tiêm nhũ tương thuốc trực tiếp vào cột sống bất kể nhũ tương đó là D/N hay N/D.
- Nhũ tương uống: Chỉ uống các nhũ tương kiểu D/N Thường là các potio nhũ tương, trong thành phần có m ặt của các chất điều vị, điều hương.
Các nhũ tương dùng ngoài (bôi, xoa đắp, đặt) lên da và niêm mạc nhằm mục đích bảo vệ, phòng và chữa bệnh được dùng cả hai kiểu D/N và N/D Nhũ tương D/N dễ rửa sạch và không dây bẩn quần áo hơn
1.1.5 Ưu nhược điểm của dạng thuốc nhũ tương
- Cho phép phối hợp dễ dàng các dược chất lỏng không đồng tan hoặc các dược chất rắn chỉ tan trong 1 loại dung môi.
- Tăng hiệu quả điều trị do dược chất đạt độ phân tán cao, diện tích tiếp xúc lớn.
- Thuốc uống dạng nhũ tương D/N che dấu được mùi vị khó chịu, giảm tác dụng kích ứng đường tiêu hoá.
- Bào chế được dưới dạng tiêm tĩnh mạch những dược chất không tan trong nước: vitamin A, D, E, chất béo có năng lượng cao
- Kem thuốc, mỹ phẩm nhũ tương có thể chất và cảm quan tốt, hấp dẫn, có thể gây tác dụng toàn thân.
- Thuốc đặt kiểu nhũ tương hấp thu nhanh, có thể gây tác dụng toàn thân.
- Là dạng phân tán cơ học không đồng thể nên không bền.
- Đòi hỏi phải có phương tiện nhất định, người pha chế hiểu và nắm chắc kỹ thuật.
Các chất nhũ hóa thường dùng trong bào chế thuốc nhũ tương
1.2.1 Yêu cầu đối với chất nhũ hóa
Chất nhũ hoá lý tưởng dùng trong nhũ tương thuốc không chỉ là chất nhũ hoá mạnh mà còn phải là tá dược tốt đáp ứng các yêu cầu:
- Có khả năng nhũ hoá mạnh nhiều dược chất hay chất phụ, và được dùng với khối lượng rất nhỏ
- Bền vững, ít bị tác động của pH, nhiệt độ, chất điện giải, chất háo nước, vi khuẩn, nấm mốc
- Không gây tương kỵ lý, hoá học với dược chất, chất phụ gặp trong thuốc
- Không có tác dụng dược lý riêng nếu có thì phải tác dụng hiệp đồng
- Không màu sắc, mùi vị riêng hoặc mùi vị dễ chịu
1.2.2 Các chất nhũ hóa thường dùng
1.2.2.1 Các chất nhũ hóa thiên nhiên
Hay dùng là các loại gôm, pectin, thạch, tinh bột, chất nhầy, các alginat… Là các chất có phân tử lớn dễ hoà tan trương nở trong nước tạo dịch keo có độ nhớt lớn. Ưu điểm chung: không màu, không vị không có tác dụng dược lý riêng, làm dịu niêm mạc đường tiêu hoá, che lấp được mùi vị khó chịu của dược chất nên được dùng điều chế các hỗn dịch thuốc uống.
Nhược điểm: dễ bị vi khuẩn nấm mốc, chất diện hoạt, chất háo nước ở nồng độ cao làm hỏng hoặc biến mất.
Là các heterosid phân tử có hai phần: aglycol không phân cực thân dầu và đường phân cực thân nước.
Là các chất diện hoạt có khả năng nhũ hoá thực sự và gây thấm mạnh Dễ tan trong cồn và nước là chất nhũ hoá tạo kiểu nhũ tương D/N.
Nhược điểm: gây phá huyết, kích ứng niêm mạc tiêu hoá nên chỉ được dùng điều chế nhũ tương, hỗn dịch dùng ngoài (bôi, xoa). Để làm chất nhũ hoá, gây thấm dùng dạng cồn thuốc chế từ các dược liệu chứa saponin (tỷ lệ 1/5 cồn 60).
Các protein hay được dùng làm chất nhũ hoá gồm một số chất như gelatin, sữa, lòng đỏ trứng và dẫn chất Các chất này có phân tử lớn dễ hoà tan phân tán trong nước tạo dịch keo có độ nhớt lớn (chất keo thân nước) nhũ hoá tạo kiểu nhũ tương D/N
Có khả năng nhũ hoá mạnh nhưng dễ bị phân huỷ, chua thối không bảo quản được lâu, dễ đông vón bởi nhiệt độ.
Các sterol Điển hình là cholesterol và các dẫn chất có nhiều trong lanolin (sáp lông cừu), mỡ lợn, dầu cá, lòng đỏ trứng.
Cấu tạo hai phần: thân dầu và thân nước nên có tác dụng diện hoạt và có khả năng nhũ hoá, gây thấm.
Phần thân dầu trội hơn phần thân nước nên dễ hoà tan trong dầu và là chất nhũ hoá tạo kiểu nhũ tương N/D Có khả năng nhũ hoá lượng nước gấp hai lần.
Cholestrol được chiết riêng làm chất nhũ hoá dùng tỷ lệ 1 - 5% so với dược chất thuốc mỡ, thuốc xoa, thuốc đạn, trứng, hỗn dịch tiêm dầu.
Ngoài ra còn có các acid mật ở dạng muối kiềm tan trong nước taọ kiểu nhũ tương D/N.
Các phospholipid Điển hình là lecithin có nhiều trong lòng đỏ trứng, đỗ tương là chất diện hoạt nhũ hoá mạnh Không tan nhưng dễ phân tán trong nước, tạo kiểu nhũ nhũ tương D/N.
Không độc nên được dùng nhiều điều chế nhũ tương hỗn dịch uống, tiêm, dùng ngoài.
Dễ bị oxy hóa bởi ánh sáng, không khí, môi trường kiềm.
1.2.2.2 Các chất nhũ hóa tổng hợp và bán tổng hợp
Các chất này thu được bằng phương pháp tổng hợp hoặc chiết xuất từ nguyên liệu thực vật, động vật, khoáng vật. Đặc tính của chung của nhóm là có khả năng hấp thụ trên bề mặt phân cách pha và tạo thành lớp đơn, đa phân tử hoặc các ion được định hướng làm thay đổi bản chất phân cực của bề mặt và giảm năng lượng bề mặt giữa hai pha.
Các chất diện hoạt điển hình là hợp chất lưỡng thân trong phân tử của chúng chứa cả phần thân nước và thân dầu.
Các chất diện hoạt dùng trong dược phẩm gồm 4 nhóm:
- Chất diện hoạt lưỡng tính.
- Chất diện hoạt không ion hoá.
Các chất nhũ hóa ổn định
- Các poly oxyethylen glycol ( PEG)
- Các dẫn chất của cellulose
1.2.2.3 Các chất nhũ hóa thể rắn ở dạng hạt nhỏ
Là các chất rắn không tan trong nước và dầu dưới dạng bột mịn Để có tác dụng nhũ hóa kích thước tiểu phân bột phải nhỏ hơn rất nhiều kích thước tiểu phân pha phân tán của nhũ tương.
Loại chất nào dễ thấm nước hơn dầu sẽ cho nhũ tương kiểu D/N dễ thấm hơn nước sẽ cho nhũ tương kiểu N/D.
Chất có khả năng thấm dầu và nước như nhau thì nếu trộn chất nhũ hoá với pha nào trước thì pha đó là môi trường phân tán.
Hay dùng bentonit, vegum, hectorit, cellulose bột siêu mịn.
Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành, độ ổn định và sinh khả dụng của nhũ tương thuốc
1.3.1 Sức căng bề mặt phân cách pha
Sự hình thành nhũ tương luôn kèm theo sự hấp thu năng lượng cơ học, bề mặt được tạo ra mang năng lượng tự do, mà năng lượng này phụ thuộc tổng diện tích bề mặt tiếp xúc và sức căng bề mặt hai pha. Để giảm năng lượng tự do phải giảm sức căng bề mặt thì nhũ tương mới dễ hình thành và bền vững. Để giảm sức căng bề mặt người ta chọn chất diện hoạt phù hợp
Chất nhũ hoá có khả năng gây phân tán và quyết định kiểu nhũ tương sẽ hình thành.
Chất nhũ hoá thường có một phần thân dầu và một phần thân nước nên khi cho một lượng nhỏ vào hai pha lỏng không đồng tan thì phân tử các chất này được định hướng và tập trung bề mặt tiếp xúc hai pha làm giảm sức căng bề mặt hai pha và tạo ra màng mỏng đứng trung gian giữa pha dầu và pha nước và cong vòng cung về phía pha lỏng nào mà nó dễ tan dễ thấm hơn như một lớp áo bao lấy các tiểu phân của pha phân tán, lớp áo này có độ bền nhất định có khi mang điện tích tạo ra lực đẩy tĩnh điện giúp các tiểu phân cản trở kết tụ các tiểu phân phân tán.
Một số chất nhũ hoá có độ nhớt làm tăng độ nhớt môi trường phân tán nên làm cho nhũ tương bền vững.
Hầu hết chất nhũ hoá ổn định và có khả năng hydrat hoá, làm giảm sức căng bề mặt hai pha, thay đổi độ nhớt môi trường phân tán làm cho nhũ tương hình thành và thay đổi đặc tính sinh khả dụng của thuốc (mức độ giải phóng và hấp thu dược chất tăng lên).
1.3.3 Lớp điện tích cùng dấu xung quanh các tiểu phân pha phân tán
Hầu hết nhũ tương lỏng xung quanh các tiểu phân pha phân tán đều mang một lớp điện tích cùng dấu được hình thành do mang chất nhũ hoá hydrat hoá, chất nhũ hoá ion hoá, tiểu phân pha phân tán hấp thu ion tồn tại tự do (ion dùng dấu).
Theo thuyết DLVO (Dejagine – Landau – Vervey – Overbek) các tiểu phân pha phân tán trong nhũ tương đồng thời chịu hai lực tác động:
- Lực hút Van der waals.
- Lực đẩy tĩnh điện giữa các tiểu phân mang điện tích cùng dấu.
Nếu lực hút van der waals lớn hơn lực đẩy tĩnh điện thì nhũ tương không bền vững và dễ dàng phân lớp.
Hàng rào năng lượng chống lại sự va chạm giữa các tiểu phân làm chúng khó tập hợp lại với nhau Hàng rào năng lượng cân bằng sự thay đổi năng lượng động học các tiểu phân thì nhũ tương bền vững nhưng vẫn có thể xảy ra tách lớp.
1.3.4 Ảnh hưởng của độ nhớt môi trường phân tán
Nhũ tương càng bền vững khi môi trường phân tán có độ nhớt càng lớn. Để tăng độ bền vững của nhũ tương D/N thêm chất có khả năng làm tăng độ nhớt của môi trường phân tán. Để nhũ tương N/D bền vững thường dùng các xà phòng kim loại hoá trị hai trở lên.
Nhũ tương càng dễ hình thành và bền vững khi hai pha có tỷ trọng gần bằng nhau.
Hai pha có tỷ trọng khác nhau thì nhũ tương thu được không bền vững tuỳ theo pha phân tán có tỷ trọng nhỏ hơn môi trường phân tán các tiểu phân pha phân tán sẽ nổi lên hoặc lắng xuống đáy bình đựng nhũ tương.
1.3.6 Nồng độ pha phân tán
Nhũ tương càng bền vững khi nồng độ pha phân tán càng nhỏ.
1.3.7 Phương pháp phối hợp chất nhũ hóa
Phối hợp chất nhũ hoá vào hai pha nước và dầu thích hợp thì cho kiểu nhũ tương bền vững.
- Điều chế nhũ tương D/N thì phối hợp hoà tan chất nhũ hoá vào pha nước.
- Điều chế nhũ tương N/D hoà tan chất nhũ hoá vào pha dầu.
- Các chất nhũ hoá bằng xà phòng, khi phối hợp hai pha trên bề mặt phân cách xà phòng được tạo ra làm nhũ tương bền vững Tuỳ thuộc bản chất xà phòng tạo ra mà có thể thu được nhũ tương D/N hay N/D.
1.3.8 Phương pháp phối hợp các pha
Nhũ tương D/N dễ hình thành hơn khi thêm pha dầu dần dần vào pha nước. Nhũ tương N/D dễ hình thành hơn khi thêm pha nước dần dần vào pha dầu.
1.3.9 Cường độ và thời gian tác dụng lực gây phân tán
Cường độ lực gây phân tán càng lớn thì nhũ tương thu được càng có chất lượng cao.
Thời gian tác dụng của lực gây phân tán có ảnh hưởng rất nhiều đến kích thuớc các tiểu phân phân tán nhưng nếu kéo dài khuấy trộn quá thời gian tối ưu thì chất lượng cũng không tăng.
1.3.10 Nhiệt độ và Ph môi trường phân tán
Nhiệt độ thay đổi có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng của nhũ tương, làm thay đổi sức căng bề mặt phân cách pha, làm thay đổi độ nhớt môi trường phân tán, khả năng hấp phụ của chất nhũ hoá, tăng tốc độ chuyển động Brown…Vì vậy khi điều chế nhũ tương thuốc phải khống chế nhiệt độ của hỗn hợp để không ảnh hưởng đến sự hình thành và ổn định của nhũ tương. pH có ảnh hưởng đến độ bền vững và sinh khả dụng của nhũ tương, pH của 1 số thuốc cụ thể phải ở pH tối ưu Trong nhũ tương nếu sử dụng chất nhũ hoá lưỡng tính bắt buộc chế phẩm phải có giá trị pH khác giá trị pH điểm đẳng điện của chất nhũ hoá, nếu không thể thì phải thay thế lưỡng tính bằng các chất nhũ hoá khác.
Kỹ thuật điều chế
1.4.1 Phương pháp nhũ hóa thông dụng để điều chế nhũ tương thuốc
1.4.1.1 Thêm pha nội vào pha ngoại (phương pháp keo ướt)
Chất nhũ hoá được hoà tan trong lượng lớn pha ngoại, sau đó thêm từ từ pha nội vào, vừa thêm vừa phân tán đến khi hết pha nội và tiếp tục phân tán cho đến khi nhũ tương đạt yêu cầu.
Thiết bị gây phân tán là máy khuấy chân vịt, máy khuấy cánh quạt Trong nhiều trường hợp, máy khuấy hay máy trộn chỉ cho nhũ tương thô, kích thước của pha nội không đồng đều Vì vậy, phải cho nhũ tương thô qua máy làm mịn và làm đồng nhất như máy xay keo, máy làm mịn ở áp suất cao hay có khe hẹp (máy đồng nhất hoá).
1.4.1.2 Thêm pha ngoại vào pha nội (phương pháp keo khô)
Chất nhũ hoá ở dạng bột mịn được trộn với toàn bộ tướng nội Thêm một lượng tướng ngoại vừa đủ và phân tán mạnh để tạo nhũ tương đậm đặc Thêm từ từ tướng ngoại còn lại vào và hoàn chỉnh nhũ tương.
Phương pháp này áp dụng thuận lợi để điều chế nhũ tương D/N trong trường hợp chất nhũ hoá thân nước là gôm arabic, adragant, hoặc methyl cellulose Chất nhũ hoá được trộn với pha dầu tạo một hệ phân tán nhưng không gây thấm ướt. Thêm nước vào và phân tán thành nhũ tương đậm đặc D/N.
Kỹ thuật "keo khô" là một phương pháp nhanh để điều chế một lượng nhỏ nhũ tương D/N với chất nhũ hoá là gôm arabic Tỷ lệ 4 dầu, 2 nước và 1 gôm là tỷ lệ để phân tán pha dầu thành những giọt nhỏ bằng cối chày Tuy nhiên tỷ lệ này có thể được điều chỉnh sao cho có một nhũ tương tốt, ví dụ tinh dầu, dầu parafin, dầu hạt lanh có thể áp dụng tỷ lệ 3: 2: 1 hoặc 2: 2: 1 Sau đó, nhũ tương được pha loãng và phân tán bằng nước đến nồng độ xác định.
Nếu có sự phối hợp của nhiều loại dầu, lượng gôm được tính riêng cho từng loại và cộng lại.
1.4.1.3 Các phương pháp đặc biệt
- Trộn lẫn hai pha sau khi đun nóng
- Phương pháp dùng dung môi chung
- Nhũ hóa các tinh dầu và các chất dễ bay hơi
1.4.2 Kiểm soát chất lượng và đóng gói, bảo quản
Nhũ tương có thể chất mềm, mịn màng đồng nhất giống như kem Nhũ tương lỏng phải đục trắng và đồng nhất giống như sữa.
Nhũ tương coi như hỏng nếu pha dầu và pha nước đã tách ra hoặc thành lớp riêng, khuấy lắc cũng không khôi phục lại trạng thái đồng nhất.
Xác định kiểu nhũ tương
Nhỏ 1 giọt nước cất vào một lượng nhỏ nhũ tương trên lam kính, giọt nước khuếch tán nhanh vào khối nhũ tương mà nhũ tương vẫn đồng nhất ta kết luận nhũ tương đem thử là nhũ tương D/N Nếu giọt nước vẫn đọng thành khối riêng trên bề mặt nhũ tương thì nhũ tương đem thử là nhũ tương N/D.
Nguyên tắc: chất màu sử dụng tan trong pha nào của nhũ tương thì pha đó sẽ có màu còn pha thứ hai sẽ không có màu.
Phương pháp đo độ dẫn điện
Nguyên tắc: pha nước nhũ tương dẫn điện, pha dầu nhũ tương không dẫn điện.Nhũ tương cho dòng điện chạy qua thì pha nước là môi trường phân tán.
Nhũ tương thuốc tương đối khó bảo quản vì để lâu dễ bị tách lớp, ôi khét, nấm mốc phát triển Ngoại trừ nhũ tương thuốc tiêm được bảo quản theo chế độ riêng, các nhũ tương thuốc uống, dùng ngoài được bảo quản trong chai lọ sạch khô, nút kín để nơi mát, nhiệt độ ít thay đổi Nhiệt độ tăng thúc đẩy sự oxy hoá các chất béo, nhiệt độgiảm làm kết tinh nước và dẫn đến tách lớp.
Các chất bảo quản được sử dụng như các alcol, glycerol nồng độ 10 - 20%; nipagin hoặc nipagin và nipazol 0,1 - 0,2% cho các nhũ tương dùng trong; benzalkonium clorid 0,01%, clocresol 0,1 -0,2% cho các nhũ tương dùng ngoài. Chất chống oxy hoá như tocoferol 0,05 - 0,1%, BHT (butyl hydroxytoluen) 0,1% để ổn định pha dầu.
Bao bì của nhũ tương có thể tích lớn hơn thể tích thuốc và trên nhãn phải ghi dòng chữ "lắc trước khi dùng".
CÁC NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
Các nghiên cứu tại Việt Nam
Theo Hồ Hoàng Nhân và cộng sự (2023) trong nghiên cứu “Nghiên cứu bào chế hydrogel chứa vi nhũ tương ibuprofen dùng trên da”, ibuprofen (IBU), một thuốc giảm đau kháng viêm không steroid, đã được bào chế thành công dưới dạng hydrogel chứa vi nhũ tương Công thức hydrogel gôm xanthan 1% chứa vi nhũ tương IBU 5% cho thấy khả năng thẩm thấu qua da tai lợn vượt trội, cao gấp 45 lần so với công thức hydrogel chứa IBU thông thường Nghiên cứu khẳng định dạng bào chế này có tiềm năng cải thiện sinh khả dụng của IBU khi sử dụng ngoài da
Theo nghiên cứu về vi nhũ tương methyl salicylat 5%, vi nhũ tương này đã được đánh giá với các tiêu chí như hình thức, kích thước tiểu phân và khả năng giải phóng dược chất Kết quả cho thấy vi nhũ tương có hình thức đồng nhất, trong suốt với kích thước tiểu phân khoảng 20 nm và PDI nhỏ hơn 0,2 Khả năng giải phóng methyl salicylat qua da chuột cao hơn 1,3 lần so với thuốc mỡ methyl salicylat, cho thấy tiềm năng ứng dụng trong điều trị giảm đau cấp
Theo nghiên cứu về gel nhũ tương từ Dầu Olive, dầu này được sử dụng phổ biến trong mỹ phẩm nhờ khả năng chống oxy hóa và bảo vệ da Nghiên cứu đã xác định hệ số cân bằng dầu-nước (RHLB) với chất nhũ hóa là hỗn hợp Span 80 và Tween 80, dẫn đến công thức nhũ tương lỏng đạt yêu cầu cảm quan và độ bền Kết quả cuối cùng cho thấy gel nhũ tương với tác nhân gel hóa là carbopol 940 (0,3%) và triethanolamin (0,1%) đạt độ ổn định và pH phù hợp với da
Nghiên cứu bào chế hydrogel chứa vi nhũ tương betamethason dipropionat:Nghiên cứu này đã phát triển một công thức hydrogel chứa vi nhũ tương betamethason dipropionat, được ứng dụng cho thuốc bôi ngoài da Mục tiêu của nghiên cứu là tối ưu hóa khả năng thẩm thấu và tính ổn định của thuốc Các chỉ số về kích thước giọt, độ nhớt, và hiệu quả giải phóng dược chất đã được đánh giá, cho thấy vi nhũ tương có thể cải thiện đáng kể tính khả dụng của betamethason khi sử dụng trên da.
Các nghiên cứu trên thế giới
Theo Algahtani M.S và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “Co-delivery of imiquimod and curcumin by nanoemugel for improved topical delivery and reduced psoriasis-like skin lesions”, hệ thống nanoemulgel được phát triển nhằm cải thiện khả năng thẩm thấu của cả imiquimod và curcumin – hai chất chống viêm và kháng u Nanoemulgel được thử nghiệm trong các mô hình viêm da dị ứng và đã chứng minh khả năng làm giảm đáng kể các triệu chứng như mẩn đỏ, viêm da, đồng thời giảm tổn thương mô da khi so sánh với các phương pháp điều trị truyền thống
Theo Salim N và cộng sự (2020) trong nghiên cứu “Nanoemulsion as a topical delivery system of antipsoriatic drugs”, nhóm nghiên cứu đã phát triển một hệ thống nanoemulsion nhằm cải thiện sự hấp thụ qua da và tăng hiệu quả điều trị của các thuốc chống vảy nến Nghiên cứu này đã sử dụng dầu hướng dương làm pha dầu và Tween 80 làm chất nhũ hóa, với kết quả chỉ ra rằng kích thước giọt nano nhỏ, phân tán đồng đều, giúp nâng cao khả năng thâm nhập qua da Hơn nữa, các thử nghiệm in vivo cho thấy nanoemulsion có khả năng giảm đáng kể các triệu chứng của bệnh vảy nến, làm giảm viêm và tình trạng bong tróc da
Theo Mohaini M.A và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “Formulation and characterization of chitosan-decorated multiple nanoemulsion for topical delivery in vitro and ex vivo”, nhóm nghiên cứu đã sử dụng chitosan – một polymer sinh học có tính kháng khuẩn – để tăng tính ổn định và hiệu quả thẩm thấu của hệ nanoemulsion Kết quả cho thấy, nhờ vào chitosan, hệ thống này có khả năng bảo vệ dược chất khỏi môi trường bên ngoài, đồng thời cải thiện khả năng vận chuyển thuốc qua da và tăng cường khả năng chống viêm
Theo Alhakamy N.A và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “Improved
Analgesic and Anti-Inflammatory Effect of Diclofenac Sodium by Topical Nanoemulgel”, nanoemulgel đã được chứng minh là tăng cường khả năng thẩm thấu của diclofenac sodium, một loại thuốc chống viêm không steroid (NSAID). Kết quả in vitro và in vivo cho thấy nanoemulgel có khả năng giảm viêm và giảm đau mạnh hơn so với dạng gel thông thường Đồng thời, nanoemulgel còn giảm thiểu nguy cơ kích ứng da, điều này rất quan trọng trong các sản phẩm bôi ngoài da
Theo Narang A.S và cộng sự (2021) trong nghiên cứu “Nanoemulsions as a vehicle for drug delivery across skin barriers”, hệ thống nanoemulsion được áp dụng để cải thiện khả năng hấp thụ của các dược chất kém tan trong dầu Nghiên cứu đã chứng minh rằng nanoemulsion có khả năng vượt qua hàng rào bảo vệ da tốt hơn so với các hệ bào chế truyền thống, tăng cường hiệu quả điều trị mà vẫn đảm bảo an toàn cho da
Theo Jangdey M.S và cộng sự (2017) trong nghiên cứu "Nanoemulsion Gel for Enhanced UV Protection", nhóm nghiên cứu đã phát triển hệ thống nanoemulsion gel nhằm tăng cường khả năng bảo vệ da khỏi tác động của tia cực tím (UV) Kết quả thử nghiệm cho thấy nanoemulsion gel giúp dược chất phân tán đồng đều trên bề mặt da và thấm sâu vào lớp biểu bì, tăng khả năng chống nắng lên đáng kể so với các sản phẩm chống nắng thông thường
Theo Deveda P và cộng sự (2010) trong nghiên cứu "Gellified Emulsion for
Topical Fungal Treatment", hệ thống gel-emulsion được phát triển để tăng cường hiệu quả điều trị các bệnh nấm da, đặc biệt là khi sử dụng các dược chất kém tan trong nước như itraconazole Nghiên cứu này cho thấy rằng gel-emulsion giúp duy trì nồng độ thuốc trên da trong thời gian dài hơn, tăng khả năng tiêu diệt nấm và giảm thiểu nguy cơ tái phát
Theo Kaur R và Ajitha M (2019) trong nghiên cứu “Transdermal
Nanoemulsion Gel for Osteoporosis Treatment”, hệ thống nanoemulsion gel được phát triển nhằm cải thiện sự thẩm thấu qua da của lovastatin, một thuốc điều trị loãng xương Nghiên cứu chỉ ra rằng nanoemulsion gel không chỉ cải thiện khả năng thẩm thấu qua da mà còn giúp duy trì nồng độ thuốc trong cơ thể ở mức ổn định hơn
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Qua các nghiên cứu được trình bày về việc bào chế các dạng nhũ tương và vi nhũ tương dùng ngoài da, có thể thấy công nghệ bào chế này mang lại những cải tiến quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả điều trị của thuốc Các dạng bào chế như gel nhũ tương, vi nhũ tương, và nanoemulgel giúp cải thiện độ tan của các dược chất kém tan trong nước, tăng cường khả năng thẩm thấu qua da và kéo dài thời gian tác dụng của thuốc Những ưu điểm này giúp nâng cao sinh khả dụng và giảm thiểu các tác dụng phụ tiềm ẩn khi sử dụng đường bôi ngoài da.
Nhũ tương methyl salicylat đã được chứng minh giúp tăng hiệu quả điều trị giảm đau, với khả năng giải phóng dược chất qua da cao hơn so với dạng bào chế truyền thống.
Hydrogel chứa vi nhũ tương ibuprofen cũng cho thấy khả năng thẩm thấu vượt trội qua da chuột nhắt so với hydrogel thông thường, khẳng định tiềm năng ứng dụng của công nghệ vi nhũ tương trong điều trị kháng viêm, giảm đau.
Nanoemulgel chứa diclofenac giúp tăng cường tác dụng chống viêm, giảm nguy cơ kích ứng da, đặc biệt là trong điều trị viêm da và các bệnh da liễu khác.
Gel nhũ tương dầu olive không chỉ cung cấp dưỡng chất mà còn có khả năng bảo vệ da khỏi các tác nhân oxy hóa, cải thiện độ bền và tính thẩm mỹ của sản phẩm.
Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế thẩm thấu của nhũ tương qua da: Các thử nghiệm hiện tại chủ yếu đánh giá trên động vật (chuột) hoặc in vitro, do đó cần thêm các nghiên cứu lâm sàng để hiểu rõ hơn về cơ chế thẩm thấu qua da người và hiệu quả điều trị trên các loại bệnh cụ thể.
Phát triển thêm các dạng nhũ tương cho các dược chất khác: Với tiềm năng cải thiện sinh khả dụng và ổn định dược chất, cần tiếp tục phát triển các công thức bào chế nhũ tương cho các loại thuốc kháng viêm, kháng sinh, và thuốc điều trị các bệnh mãn tính, đặc biệt là các dược chất kém tan trong nước.