Mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về phòng và chăm sóc trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và trẻ dưới 5 tuổi tại xã Tam Thanh và xã Trung Thành, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
+ Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu nhằm rà soát các bà mẹ và trẻ dưới 48 tháng tuổi tại xã Tam Thanh và xã Trung Thành, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Từ thời điểm bắt đầu khảo sát, mục tiêu là theo dõi và đánh giá tác động của các can thiệp để đảm bảo trẻ dưới 5 tuổi có sự phát triển tốt hơn sau 12 tháng tham gia can thiệp.
* Bà mẹ không có khả năng nhận thức và giao tiếp
* Bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu
* Trẻ và bà mẹ không ở cố định tại địa bàn nghiên cứu
* Trẻ và bà mẹ bỏ cuộc trong nghiên cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: tại xã Tam Thanh và xã Trung Thành, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2023
Từ tháng 6/2020 đến tháng 9/2020: Hoàn thiện đề cương nghiên cứu và tiếp cận cơ sở thử nghiệm, triển khai nghiên cứu thử
Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2020 đến tháng 12/2020, nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá trước can thiệp về kiến thức, thái độ và thực hành của mẹ đối với phòng và chăm sóc trẻ, đồng thời đánh giá tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ Can thiệp ban đầu được triển khai ngay sau khi kết quả đánh giá được thu thập.
Trong giai đoạn từ tháng 1/2021 đến tháng 9/2021, tiến hành phân tích và đánh giá kết quả khảo sát để xây dựng và hiệu chỉnh nội dung can thiệp cho phù hợp với nhu cầu của cộng đồng Qua quá trình này, nội dung can thiệp được tối ưu hóa dựa trên dữ liệu thu thập được nhằm tăng tính hiệu quả và sự phù hợp Sau đó, can thiệp được triển khai trên cộng đồng, nhằm đạt được tác động thực tế và bền vững.
Từ tháng 10/2021 đến tháng 12/2021 tiến hành can thiệp bổ sung (nếu cần) nhằm bảo đảm can thiệp đến trước thời điểm đánh giá sau can thiệp 12 tháng; sau can thiệp tiến hành đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành phòng và chăm sóc trẻ của bà mẹ, đồng thời đánh giá tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ sau can thiệp 1 năm.
+ Từ tháng 1/2022 đến 9/2023: Phân tích, đánh giá và hoàn thiện luận án.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính
* Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu mô tả có phân tích Áp dụng phương pháp mô tả có phân tích để:
+ Mô tả tình hình mắc NKHHCT của trẻ dưới 5 tuổi
+ Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ về phòng và chăm sóc trẻ mắc NKHHCT
Đoạn bài viết này nhằm xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT của các bà mẹ và tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi Bằng cách phân tích mối liên hệ giữa mức độ kiến thức, quan điểm và các thói quen chăm sóc sức khỏe của mẹ với tình trạng NKHHCT ở trẻ nhỏ, bài viết làm rõ vai trò của các yếu tố này đối với nguy cơ mắc bệnh Kết quả kỳ vọng sẽ xác định các điểm yếu và đề xuất các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao kiến thức và thực hành của mẹ, từ đó cải thiện sức khỏe của trẻ dưới 5 tuổi và làm giảm tỷ lệ NKHHCT trong cộng đồng.
* Phương pháp nghiên cứu định tính:
Nghiên cứu hiện tượng học được tiến hành nhằm hiểu sâu các trải nghiệm chăm sóc trẻ mắc NKHHCT tại nhà Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn sâu bán cấu trúc theo tiêu chuẩn chọn mẫu mục tiêu, nhằm khám phá thực hành chăm sóc hàng ngày và các khó khăn mà các bà mẹ gặp phải trong quá trình nuôi dưỡng tại gia Phương pháp này cho phép phân tích cặn kẽ cách các bà mẹ tổ chức chăm sóc, quản lý tình trạng của trẻ và phản ứng với các biến cố sức khỏe Kết quả kỳ vọng làm nổi bật các yếu tố ảnh hưởng đến chăm sóc tại nhà, nhu cầu hỗ trợ y tế, giáo dục và xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa chất lượng chăm sóc và hỗ trợ gia đình.
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu định lượng kết hợp định tính
Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có nhóm đối chứng ngẫu nhiên
Trong khuôn khổ nghiên cứu định tính, nghiên cứu hiện tượng học được ứng dụng để hiểu sâu trải nghiệm và các yếu tố liên quan đến chăm sóc trẻ mắc NKHHCT tại nhà Dữ liệu được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc nhằm tìm hiểu các khó khăn, thực hành và nhu cầu hỗ trợ của các bà mẹ trong quá trình chăm sóc tại gia đình Kết quả phân tích nhằm làm rõ cách bà mẹ ứng phó với tình huống chăm sóc hàng ngày, nhận thức về bệnh lý, nguồn lực sẵn có và các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến chăm sóc tại nhà, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm cải thiện chất lượng chăm sóc và hỗ trợ người chăm sóc.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Mẫu và phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu định lượng:
Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ và trẻ dưới 5 tuổi sống tại xã Tam Thanh và xã Trung Thành, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, được tuyển chọn theo tiêu chuẩn chọn mẫu nhằm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
- Cỡ mẫu nghiên cứu xác định số bà mẹ tham gia nghiên cứu: p(1-p) n = Z 2 (1- α/2) d 2
Trong đó: n: Là số bà mẹ tham gia nghiên cứu
Trong tính toán kích thước mẫu, hệ số tin cậy được lấy là Z_{1-α/2}=1,96, tương ứng với độ tin cậy 95% p=0,5 được dùng cho ước lượng biên độ tối đa Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Phương (2019), tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ và thực hành đạt theo ước tính là 50% [46] Với d=0,05, mức sai lệch giữa kết quả nghiên cứu và thực tế được cho là 5%.
Trong quá trình tính toán cỡ mẫu cho nghiên cứu, cỡ mẫu dự kiến là 385 bà mẹ Tuy nhiên, dựa trên các tiêu chuẩn chọn mẫu và tiêu chuẩn loại trừ, thực tế nghiên cứu đã triển khai trên cỡ mẫu 389 bà mẹ.
- Cỡ mẫu xác định tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi:
Cỡ mẫu nghiên cứu xác định một tỷ lệ tính theo công thức: p(1-p) n = Z 2 (1- α/2) d 2
Trong đó: n là số trẻ tham gia nghiên cứu
Z^2(1-α/2) là hệ số tin cậy được dùng để ước lượng, với giá trị 1,96 tương ứng với độ tin cậy 95% p = 0,38 dựa trên tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ em theo nghiên cứu của tác giả Đàm Thị Tuyết và Trần Thị Hằng năm 2014 [55] d = 0,05 cho biết mức sai khác giữa nghiên cứu và thực tế là 5%.
Cỡ mẫu tính được là n = 362 trẻ Để tránh sai sót và mất dữ liệu, đồng thời bảo đảm tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi tương ứng với tỉ lệ bà mẹ có con dưới 5 tuổi và đảm bảo cỡ mẫu tối thiểu theo công thức đã tính, nghiên cứu sẽ chọn mỗi bà mẹ và 1 trẻ dưới 5 tuổi là con của bà mẹ tham gia nghiên cứu Trường hợp bà mẹ có từ 2 con trở lên thì nhóm nghiên cứu sẽ chọn ngẫu nhiên 1 trẻ dưới 5 tuổi làm con của bà mẹ đó Thực tế, nhóm nghiên cứu đã khảo sát 389 bà mẹ và 389 trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã.
Cỡ mẫu nghiên cứu can thiệp:
Nghiên cứu được thiết kế theo hình thức can thiệp có nhóm can thiệp và nhóm đối chứng, nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về phòng và chăm sóc trẻ mắc NKHHCT cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi Kết quả can thiệp được so sánh trước sau trong từng nhóm và so sánh giữa nhóm can thiệp và nhóm đối chứng để đánh giá hiệu quả của can thiệp Do vậy, cỡ mẫu cho mỗi nhóm được ước tính theo công thức tính cỡ mẫu cho việc kiểm định sự khác biệt giữa hai tỷ lệ, n = Z2(α, β) 2.
Trong nghiên cứu này, n là số bà mẹ tham gia cho mỗi nhóm can thiệp và đối chứng, đại diện cho kích thước mẫu ở hai nhóm để so sánh hiệu quả can thiệp α là xác suất sai lầm loại 1, tức là nguy cơ kết luận có hiệu quả khi thực tế không có hiệu quả; β là xác suất sai lầm loại 2, tức là nguy cơ bỏ qua hiệu quả khi thực tế có hiệu quả Hai tham số này cùng với kích thước mẫu n quyết định độ tin cậy và sức mạnh thống kê của thử nghiệm, giúp thiết kế nghiên cứu có khả năng phát hiện sự khác biệt nếu thực sự tồn tại.
Z2(α, β): Tra từ bảng Z tương ứng với giá trị α = 0,05 và β = 0,10 thì Z2(α, β) = 10,5
P0 là tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thái độ không đạt về NKHHCT tại quần thể trước can thiệp
P1 là tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thái độ không đạt về NKHHCT tại quần thể sau can thiệp
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bích Hằng (2020), tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thái độ chưa đạt trước can thiệp là 38,1% và sau can thiệp giảm còn 15,5% Do đó P0 = 0,381 và P1 = 0,155; khi áp dụng công thức tính kích thước mẫu cho so sánh hai tỷ lệ, n được tính là 80 Thêm 25% để phòng sai số và khả năng bỏ cuộc nên cỡ mẫu cho mỗi nhóm là 100 bà mẹ, tương ứng tổng cỡ mẫu tối thiểu cho cả hai nhóm (can thiệp và đối chứng) là 200 bà mẹ Trong giai đoạn khảo sát, mỗi bà mẹ tương ứng với một trẻ em, nên số bà mẹ và số trẻ tham gia bằng nhau Thực tế, nhóm nghiên cứu đã đánh giá 102 bà mẹ và 102 trẻ ở nhóm can thiệp và 102 bà mẹ cùng 102 trẻ ở nhóm đối chứng, tổng cộng 204 bà mẹ và 204 trẻ tại hai nhóm, đảm bảo cỡ mẫu tối thiểu như đã tính.
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
+ Giai đoạn 1: Chọn đối tượng nghiên cứu tham gia khảo sát
+ Giai đoạn 2: Chọn đối tượng nghiên cứu tham gia vào can thiệp
Phương pháp chọn mẫu cho nhóm tham gia khảo sát được thực hiện như sau: xã Tam Thanh, một trong 4 xã có sinh viên thực tập tại huyện Vụ Bản, Nam Định được chọn ngẫu nhiên làm xã tiến hành nghiên cứu và can thiệp; dựa trên mức độ tương đồng đối tượng và khoảng cách địa lý, xã Trung Thành thuộc 3 xã còn lại được chọn làm địa bàn triển khai nghiên cứu và làm nhóm đối chứng Từ danh sách bà mẹ và trẻ dưới 48 tháng tuổi của các thôn trong mỗi xã, nhóm nghiên cứu tiến hành chọn ngẫu nhiên các bà mẹ bằng cách đánh số thứ tự danh sách và dùng phần mềm Excel để thực hiện chọn ngẫu nhiên, đảm bảo đủ cỡ mẫu tối thiểu theo công thức đã tính và đáp ứng tiêu chuẩn chọn Những bà mẹ từ chối tham gia hoặc không đáp ứng tiêu chuẩn sẽ bị loại và thay thế bằng số ngẫu nhiên khác cho đến khi đạt đủ số lượng mẫu theo yêu cầu Thực tế, nhóm nghiên cứu đã khảo sát 194 bà mẹ và trẻ tại xã Tam Thanh.
195 bà mẹ và trẻ tại xã Trung Thành
Phương pháp chọn mẫu cho nhóm can thiệp và nhóm đối chứng được thực hiện bằng cách lập danh sách 194 bà mẹ và trẻ tham gia khảo sát tại nhóm can thiệp, đánh số thứ tự và dùng phần mềm Excel để chọn ngẫu nhiên 102 số; những trường hợp bà mẹ từ chối tham gia sẽ được thay thế bằng số ngẫu nhiên khác cho đến khi đủ kích thước mẫu tối thiểu theo công thức đã tính Sau khi hoàn tất danh sách tham gia nhóm can thiệp tại xã Tam Thanh, danh sách tham gia nhóm chứng tại xã Trung Thành sẽ được xác định sao cho hai nhóm có đặc điểm tương đồng về nhân khẩu học, thông tin tư vấn, kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ và tỷ lệ mắc NKHHCT của trẻ.
Thời điểm đánh giá năm 2020, số bà mẹ và trẻ dưới 48 tháng tuổi tại 8 thôn của xã Tam Thanh là 495 bà mẹ và 495 trẻ dưới 48 tháng tuổi; tại 13 thôn của xã Trung Thành là 303 bà mẹ và 412 trẻ dưới 48 tháng tuổi Số bà mẹ và trẻ dưới 48 tháng tuổi tham gia khảo sát ở nhóm can thiệp (xã Tam Thanh) và nhóm đối chứng (xã Trung Thành) được thống kê cụ thể trong Phụ lục 8.
* Mẫu và phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu định tính:
- Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu định tính: Chọn mẫu chủ đích theo tiêu chuẩn lựa chọn
Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi sống tại hai xã Tam Thanh và xã Trung Thành, thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Việc lựa chọn mẫu được thực hiện theo tiêu chuẩn chọn mẫu đã xác định, nhằm đảm bảo tính đại diện cho cộng đồng và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Trong nghiên cứu hiện tượng học, để hiểu sâu một hiện tượng, mọi đối tượng tham gia phải có kinh nghiệm liên quan và có thể liên hệ giữa cuộc sống của họ với hiện tượng đang được nghiên cứu Vì vậy, cỡ mẫu trong nghiên cứu hiện tượng học thường từ 10–15 đối tượng, nhưng có thể ít hơn nếu nghiên cứu dừng khi không thu thập được thông tin mới hoặc nhiều hơn khi nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu thêm về hiện tượng Với phương pháp chọn mẫu có chủ đích, mẫu được lựa chọn theo chỉ dẫn của cán bộ y tế xã từ danh sách các bà mẹ có con dưới …
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu sử dụng 2 loại công cụ: công cụ thu thập số liệu và công cụ can thiệp
2.5.1.1 Công cụ thu thập số liệu
* Bộ câu hỏi điều tra của trẻ dưới 5 tuổi
Bộ câu hỏi khảo sát được dùng để thu thập dữ liệu về đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm lâm sàng của trẻ dưới 5 tuổi, dựa trên các hướng dẫn của TCYTTG [86].
Phân loại bệnh và ước lượng tỷ lệ mắc NKHHCT theo chương trình IMCI dựa trên các triệu chứng ho, sốt và khó thở ở trẻ em [10], [11] Bộ câu hỏi đi kèm được thiết kế để thu thập dữ liệu liên quan đến các nội dung sau nhằm hỗ trợ phân loại bệnh và xác định mức độ phổ biến của NKHHCT: triệu chứng ho, sốt, khó thở và các yếu tố liên quan.
Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu gồm 12 câu hỏi được đánh số từ A1 đến A12
Phần B: Khám hô hấp của trẻ gồm 14 câu hỏi lựa chọn từ B1 đến B14
* Bộ câu hỏi khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về NKHHCT của bà mẹ
Đây là công cụ thu thập số liệu dựa trên bộ câu hỏi do tác giả Nguyễn Minh Tuấn và Chu Thị Thùy Linh biên soạn năm 2016, sau đó được hoàn thiện dựa trên các hướng dẫn của WHO năm 2014 [53], [114], với các nội dung được chuẩn hóa và tích hợp nhằm tăng tính khả dụng và độ tin cậy của dữ liệu.
Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: gồm 12 câu hỏi được đánh số từ A1 đến A12
Phần B: Đánh giá kiến thức của bà mẹ về NKHHCT gồm 8 câu hỏi lựa chọn được đánh số từ B1 đến B8
Phần C: Đánh giá thái độ của bà mẹ về NKHHCT gồm 10 câu hỏi lựa chọn được đánh số từ C1 đến C10
Phần D trình bày đánh giá thực hành của bà mẹ về NKHHCT, gồm 8 câu hỏi lựa chọn được đánh số từ D1 đến D8, và kèm theo 3 bảng kiểm đánh giá kỹ năng chăm sóc của bà mẹ, bao gồm bảng kiểm đo thân nhiệt, bảng kiểm chườm nước ấm hạ sốt và bảng kiểm vỗ rung lồng ngực.
Bảng kiểm đo nhiệt độ (đo nhiệt độ ở nách bằng nhiệt kế thủy ngân) và bảng chườm nước ấm hạ sốt được xây dựng dựa trên quy trình kỹ thuật của Bộ Y tế, nhằm chuẩn hóa các bước đo và chăm sóc khi sốt Bảng đo nhiệt độ ở nách hướng dẫn cách sử dụng nhiệt kế thủy ngân đúng cách, đọc kết quả và theo dõi dấu hiệu sốt theo thời gian Bảng chườm nước ấm hạ sốt cung cấp hướng dẫn an toàn và hiệu quả về cách áp dụng nhiệt độ nước ấm để hạ sốt, kèm lưu ý vệ sinh, tránh phỏng và phù hợp với quy định y tế Việc áp dụng đầy đủ hai bảng này giúp người dùng thực hiện đo nhiệt độ và chăm sóc hạ sốt một cách chuẩn xác, an toàn và tối ưu cho SEO với các từ khóa liên quan như bảng kiểm đo nhiệt độ, đo nhiệt độ ở nách, nhiệt kế thủy ngân, bảng chườm nước ấm, hạ sốt, quy trình Bộ Y tế.
[50], [56] Bảng kiểm vỗ rung lồng ngực được xây dựng dựa trên quy trình kỹ thuật của Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017 [3]
Bộ công cụ trên đã được thẩm định giá trị nội dung bởi 5 chuyên gia Nhi khoa có trình độ sau đại học và hơn 5 năm kinh nghiệm chăm sóc, điều trị trẻ bệnh Kết quả CVI = 0,98 cho thấy nội dung được đánh giá cao về chất lượng và độ tin cậy.
Bộ công cụ đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về phòng và chăm sóc trẻ mắc NKHHCT đã được kiểm định tính giá trị về cấu trúc trên mẫu 130 bà mẹ ở 4 xã thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (130 bà mẹ này không tham gia vào đối tượng được điều tra sau đó) Kết quả cho thấy hệ số KMO toàn cục của bộ công cụ là 0,57; trong đó các câu hỏi đánh giá kiến thức có KMO = 0,60, các câu hỏi đánh giá thái độ có KMO = 0,89 Trong nghiên cứu thử nghiệm này, KMO 0,57 > 0,50 cho thấy mô hình phù hợp với phương pháp phân tích nhân tố.
Kiểm định độ tin cậy thống nhất nội tại trên 130 bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại
Nghiên cứu được thực hiện tại 4 xã thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, với dữ liệu cho thấy (130 bà mẹ này không tham gia đối tượng được điều tra sau đó) Bộ công cụ đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về phòng và chăm sóc trẻ mắc NKHHCT cho thấy Cronbach’s alpha đạt 0,8 (> 0,70), chứng tỏ công cụ có độ tin cậy nội tại và tính nhất quán trong đo lường.
Kiểm định độ tin cậy lặp lại của thang đo trên 30 bà mẹ chọn ngẫu nhiên trong
130 bà mẹ tham gia nghiên cứu thử nghiệm cho thấy hệ số tương quan ICC khi so sánh giữa hai lần trả lời dao động từ 0,96 đến 0,98, cho thấy tính lặp lại của dữ liệu ở mức cao Bộ công cụ đo lường đảm bảo độ tin cậy lặp lại với ICC > 0,70 Độ tương đồng giữa 5 đánh giá viên về 3 bảng kiểm quy trình kỹ thuật đạt 0,97 Trong đó, các kỹ thuật đo nhiệt độ, chườm ấm và vỗ rung lồng ngực có điểm đồng thuận lần lượt là 0,98; 0,97 và 0,97.
Kết quả kiểm định cho thấy bộ công cụ đảm bảo tính giá trị và độ tin cậy, đồng thời đạt các tiêu chuẩn cần thiết để áp dụng cho nghiên cứu này và được nêu ở Phụ lục 7.
* Công cụ thu thập số liệu trong nghiên cứu định tính
Nhóm nghiên cứu thu thập số liệu định tính bằng phỏng vấn sâu bán cấu trúc
Bà mẹ tham gia phỏng vấn riêng bằng một bộ câu hỏi hướng dẫn dựa trên gợi ý của Ingram J và các đồng sự (2013) [77] Bộ câu hỏi tập trung chủ yếu vào các nội dung liên quan đến chăm sóc trẻ mắc NKHHCT, nhằm làm rõ các khía cạnh như chế độ chăm sóc, thói quen sinh hoạt hàng ngày và những khó khăn mà gia đình gặp phải trong quá trình nuôi dưỡng trẻ có NKHHCT.
Sau khi thảo luận mục đích nghiên cứu và nhận sự đồng ý của các bà mẹ tham gia, các cuộc phỏng vấn được tiến hành với thời lượng từ 25 đến 30 phút Người nghiên cứu ghi âm, ghi chú và phiên âm thông tin ngay sau mỗi phỏng vấn để đảm bảo tính xác thực Để đánh giá sự phù hợp của bộ câu hỏi, hai cuộc phỏng vấn thử nghiệm được thực hiện và việc chỉnh sửa bộ câu hỏi dựa trên ý kiến của một chuyên gia Nhi khoa có kinh nghiệm tiến hành nghiên cứu Sau phỏng vấn, hai bản phiên âm được kiểm tra tính chính xác bằng cách xác nhận nội dung với hai bà mẹ tham gia phỏng vấn.
2.5.1.2 Công cụ can thiệp Đánh giá tính khả thi và tính phù hợp của chương trình can thiệp TT-GDSK:
5 chuyên gia được lựa chọn gồm: 1 tiến sĩ Điều dưỡng chuyên ngành Điều dưỡng Nhi, 1 tiến sĩ Bác sĩ chuyên ngành Y tế Công đồng, 2 thạc sĩ Bác sĩ chuyên ngành Nhi khoa và 1 bác sĩ là trưởng trạm y tế xã triển khai can thiệp Các chuyên gia đều có trên 10 năm kinh nghiệm chăm sóc trẻ bệnh và làm việc thực tế tại cộng đồng.
Chương trình can thiệp do nhóm nghiên cứu xây dựng dựa trên cơ sở lý luận là học thuyết nâng cao hành vi sức khỏe và tổng quan tài liệu, kết hợp với đánh giá nhu cầu về phòng và chăm sóc trẻ mắc NKHHCT của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi nhằm cung cấp thông tin cho sự phát triển của chương trình can thiệp.
Chương trình can thiệp được cấu thành 4 phần với 27 nội dung đánh giá nhằm đánh giá kế hoạch thực hiện, nội dung can thiệp, tài liệu phát tay và tranh gấp, đồng thời đề cập đến phương pháp và công cụ thực hiện can thiệp về phòng và chăm sóc trẻ mắc NKHHCT cho bà mẹ Các chuyên gia đánh giá theo 4 mức độ xếp loại từ mức 1 "không phù hợp và không thể triển khai" đến mức 4 "rất phù hợp và dễ triển khai", tương ứng điểm từ 1 đến 4 Việc đánh giá này giúp xác định mức độ khả thi và tính ứng dụng của từng thành phần, từ đó điều chỉnh và nâng cao hiệu quả can thiệp nhằm hỗ trợ công tác phòng và chăm sóc trẻ mắc NKHHCT cho bà mẹ một cách tối ưu.
Phân tích và xử lý số liệu
Dữ liệu được làm sạch trước khi nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS 25.0; sau khi nhập dữ liệu, tiến hành kiểm tra tính chính xác để đảm bảo độ tin cậy của kết quả và thực hiện phân tích số liệu đã nhập Các kết quả được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ phù hợp, nhằm thể hiện rõ xu hướng và mối quan hệ giữa các biến một cách trực quan.
Trong phân tích này, các biến liên tục được mô tả bằng giá trị trung bình và phương sai; các biến phân loại và thứ bậc được trình bày dưới dạng tỷ lệ phần trăm Để so sánh hai biến nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các kỹ thuật thống kê phù hợp: kiểm định Chi-square cho các biến rời rạc và kiểm định McNemar cho các cặp quan sát liên kết, nhằm đánh giá sự khác biệt và mối quan hệ giữa hai biến một cách có căn cứ.
Phân tích mô tả: tính n, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình
Trong nghiên cứu, tác giả thực hiện phân tích và xác định các yếu tố liên quan bằng cách sử dụng thống kê tương quan Pearson để đánh giá sự liên hệ giữa các biến định lượng Mối quan hệ giữa hai biến định tính/biến phân loại được phân tích bằng kiểm định χ² và kiểm định McNemar Kết quả được xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 Đánh giá hiệu quả can thiệp được thực hiện bằng Chỉ số hiệu quả (CSHQ), so sánh giá trị trước và sau can thiệp thông qua hiệu số p2 − p1.
CSHQ = x 100% p1 p1: Tỷ lệ giá trị trước can thiệp
P2: Tỷ lệ giá trị sau can thiệp
Tính hiệu quả can thiệp (HQCT) bằng công thức:
HQCT= (CSHQCT – CSHQNC) CSHQCT: Chỉ số hiệu quả của nhóm can thiệp
CSHQNC: Chỉ số hiệu quả của nhóm chứng
Để hiểu sâu các khó khăn của mẹ khi chăm sóc trẻ mắc NKHHCT tại nhà, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu được ghi âm, gỡ băng và ghi chép văn bản một cách trung thực; để đảm bảo tính khách quan, các cuộc phỏng vấn được thực hiện và ghi chép bởi 3 thành viên trong nhóm nghiên cứu một cách độc lập, sau đó so sánh và đối chiếu nội dung trả lời của các bà mẹ để đạt sự thống nhất chung Số liệu được phân tích theo chủ đề và mục tiêu nghiên cứu, những ý kiến tiêu biểu được trích dẫn minh họa trong phần trình bày kết quả, áp dụng phương pháp quy nạp để thể hiện kết quả của nghiên cứu và rút ra các kết luận mang tính khái quát cho thực hành tại nhà.
Dữ liệu nhân khẩu học được phân tích bằng thống kê mô tả nhằm làm nổi bật ý nghĩa của trải nghiệm sống của bà mẹ, thay vì chỉ đếm tần suất các chủ đề Sau mỗi phỏng vấn được phiên âm, các tác giả nghe lại bản ghi để đảm bảo độ chính xác và chỉnh sửa khi cần thiết Nhóm nghiên cứu thảo luận và đi đến sự đồng thuận về cách mã hóa, điều chỉnh các mã và sắp xếp chúng thành các chủ đề phù hợp Quá trình mã hóa ban đầu bắt đầu bằng việc rà soát từng bản ghi nhiều lần và dùng từ ngắn gọn để mô tả và đặt tên cho các phát hiện sơ khai Khi tiếp tục thu thập và phân tích, chúng tôi xác định các ý nghĩa mới và so sánh điểm tương đồng, khác biệt, dẫn đến bổ sung mã mới và hợp nhất hoặc loại bỏ các mã cũ Tiếp theo là xem xét nội dung mang ý nghĩa và tổ chức các mã thành danh mục và chủ đề Để tăng độ tin cậy của phân tích, nghiên cứu viên nghe lại các bản ghi và rà soát lại để đảm bảo thông tin quan trọng không bị bỏ sót.
Đạo đức trong nghiên cứu
Việc thực hiện nghiên cứu phải được sự chấp thuận và cho phép của hội đồng khoa học Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, Trạm y tế xã Tam Thanh và xã Trung Thành; đề cương nghiên cứu đã được thông qua và chấp thuận bởi Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định theo số 2359/GCN-HĐĐĐ.
Bà mẹ tham gia nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích, lợi ích và quy trình phỏng vấn Bà có quyền đồng ý hay từ chối tham gia và sự tham gia của bà là hoàn toàn tự nguyện.
- Mọi bà mẹ dù có tham gia vào nghiên cứu hay không đều được GDSK
Thông tin thu thập được chỉ được sử dụng khi có sự chấp thuận của bà mẹ để làm cơ sở cho kết quả nghiên cứu Các dữ liệu thu thập được chỉ được dùng cho mục đích nghiên cứu.
- Sau khi thực hiện can thiệp, xã đối chứng được hưởng các quyền lợi giống xã can thiệp