Thuốc đã góp phần hạn chế sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, ngăn chặn và dập tắt các đợt dịch bệnh trên phạm vi lớn, bảo đảm được năng xuất cây trồng , giảm thiểu thiệt hại cho ngườ
Trang 1Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, do hạn chế về thời gian cũng như kinh nghiệm thực tiễn nên còn nhiều thiếu sót, rất mong được sự giúp
đỡ góp ý của cô Ths Trần Thị Hương để khóa luận được hoàn thiện hơn
Một lần nữa, em xin kính chúc Ban Lãnh đạo cùng toàn thể quý thầy,
cô nhà trường, quý thầy, cô Khoa Tài nguyên & Môi trường, cô Ths Trần Thị Hương thật nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công trên con đường sự nghiệp trồng người
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Nai, tháng 6 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Lê Văn Thế
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT BVTV Bảo Vệ Thực Vật
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
FAO Tổ chức Lương thực Nông Nghiệp của Liên Hợp Quốc
OTC Ô tiêu chuẩn
STNMT Sở Tài Nguyên Môi Trường
STMT Sinh thái môi trường
KCN Khu công nghiệp
VSV Vi sinh vật
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân nhóm độc chất HCBVTV tại Việt Nam……….….8 Bảng 1.2 Thời gian tồn lưu cử một số HCBVTV trong môi trường……… 16 Bảng 1.3 Thời gian tồn lưu của thuốc BVTV trong đất……… 20 Bảng 3.1 Thống kê diện tích đất đai xã Quảng Tiến Năm 2013……… ….33 Bảng 4.1 Các loại thuốc BVTV được người dân sử dụng trong sản xuất cây giống tại xã Quảng Tiến ……….….37 Bảng 4.2 Hình thứ sử dụng thuốc BVTV……… 38 Bảng 4.3 Thống kê thành phần thiên địch và sâu hại xuất hiện chủ yếu trong vườn ươm………40 Bảng 4.4 Chủng loại thuốc BVTV được người dân sử dụng phổ biến trong sản xuất cây giống tại khu vực điều tra ……… ……….41 Bảng 4.5 Cách xả thải bao bì sau khi sử dụng thuốc BVTV………… … 42
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sự chuyển hóa của hóa chất BVTV trong môi trường……….… 15 Hình 3.1 Bản đồ hành chính thị trấn Trảng Bom……….…… 30 Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ % điều tra trong 30 hộ sử dụng thuốc BVTV………38 Hình 4.2 Dụng cụ lao động cho người dân khi tiếp xúc với thuôc BVTV… 41 Hình 4.3 bình bơm và thuốc BVTV không có kho riêng sau khi sử dụng xong
……….44 Hình 4.4 Biểu đồ tỷ lệ % Cách thức xả thải bao bì sau khi sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật của người dân tại khu vực nghiên cứu………45 Hình 4.5 Một số loại thuốc BVTV được bày bán tại địa bàn điều tra…… 47
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Ngành lâm nghiệp Việt Nam ngày càng phát triển theo hướng hiện đại
và đang chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại Hiện nay, nghề ươm và trồng cây lâm nghiệp ở nước ta ngày càng gia tăng, tăng về diện tích, tăng năng xuất, sản lượng chủng loại cây lâm nghiệp phong phú thì việc gia tăng sử dụng thuốc BVTV trên cây lâm nghiệp là vô cùng quan trọng Thuốc đã góp phần hạn chế sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, ngăn chặn và dập tắt các đợt dịch bệnh trên phạm vi lớn, bảo đảm được năng xuất cây trồng , giảm thiểu thiệt hại cho người dân.Tuy nhiên, những năm gần đây việc sử dụng thuốc BVTV trong vườn ươm cây lâm nghiệp có xu hướng gia tăng cả về chất lượng lẫn chủng loại Chưa kể tới việc xả thải các tàn dư thực vật và chất thải rắn từ bao bì, chai lọ phân, thuốc trừ sâu … đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường đất và nước trong vùng mà còn ảnh hưởng đến các vi sinh vật trong đất Vấn
đề ô nhiễm môi trường tại nơi sản xuất chưa được quan tâm đúng mức và đang gây nhiều bức xúc
Huyện Trảng Bom là huyện đã có nhiều nghiên cứu và phát triển cây lâm nghiệp đang được đưa vào ươm và thử nghiệm các giống cây quý hiếm
có giá trị cao Theo kết quả thống kê năm 2014, diện tích đất rừng lâm nghiệp toàn huyện là 2.181,9781 ha,trong đó đất rừng sản xuất 2.166,6100 ha, đất rừng phòng hộ 5,6091 ha và đất rừng dặc dụng 9,7590 ha Diện tích rừng của huyện chủ yếu là rừng sản xuất được trồng quanh hồ Sông Mây và rừng tràm thuộc xí nghiệp nguyên liệu giấy Đông Nam Bộ
Việc sử dụng hóa chất BVTV trong sản xuất ươm cây lâm nghiệp tại
xã quảng tiến nói riêng và trong cả nước nói chung được coi là biện pháp
quan trọngnhất để bảo vệ sản xuất cây giống hằng năm Với tâm lí “càng phun nhiều thuốc người dân càng an tâm”, vấn đề sử dụng thuốc BVTV
trong sản xuất cây giống ngày càng trở nên khó kiểm soát và gây nên nhiều
Trang 6tác động đến môi trường, sức khỏe cộng đồng và động vật đất Chính vì vậy
để có một cách nhìn tổng quát nhất về tình hình sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất cây giống lâm nghiệp ở xã quảng tiến thì việc điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp cho việc quản lý và sử dụng thuốc BVTV một cách
hiệu quả là rất cần thiết Vì chúng tôi thực hiện đề tài “ Khảo sát tình hình
sử dụng thuốc BVTV khu vực vườn ươm cây lâm nghiệp tại xã Quảng Tiến, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai”
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu chung về thuốc BVTV
1.1.1 Khái niệm thuốc BVTV
Thuốc BVTV là những loại hóa chất bảo vệ cây trồng hoặc những sản phẩm bảo vệ mùa màng, là những chất được tạo ra để chống lại và tiêu diệt loài gây hại hoặc các vật mang mầm bệnh Chúng cũng gồm các chất để đấu tranh với các loài sống cạnh tranh với cây trồng cũng như nấm bệnh cây Ngoài ra các loại thuốc kích thích sinh trưởng giúp cây trồng đạt năng xuất cao cũng là một dạng của thuốc BVTV
Thuốc BVTV là những hóa chất độc, có khả năng phá hủy tế bào, tác động đến cơ chế sinh trưởng, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại và cả cây trồng,
vì thế khi các hợp chất này đi vào môi trường, chúng cũng có những tác động nguy hiểm đến môi trường, đến những đối tượng tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp Và đây cũng là lý do mà thuốc BVTV nằm trong số những hóa chất đầu tiên được kiểm tra triệt để về bản chất, tác dụng cũng như tác hại
1.1.2 Khái niệm HCBVTV
Hóa chất dùng trong công tác BVTV bao gồm các hóa chất trừ sâu, diệt nấm, diệt cỏ, diệt chuột đều được mang tên chung là thuốc BVTV hay
nông dược Theo Điều lệ quản lý thuốc BVTV (Ban hành kèm theo Nghị định
số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ), thuốc BVTV là các chế
phẩm có nguồn gốc từ hóa chất, thực vật, động vật, VSV và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại cho tài nguyên thực vật
1.1.2.1 Các dạng thuốc BVTV
Về cơ bản thuốc BVTV được sản xuất dưới các dạng sau
+ Thuốc sữa: viết tắt là EC hay ND: gồm các hoạt chất, dung môi, chất hóa sữa và một số chất phù trị khác Thuốc ở thể lỏng, trong suốt, tan trong nước thành dung dịch nhũ tương đối đồng đều, không lắng cặn hay phân lớp
Trang 8+ Thuốc bột thấm nước: còn gọi là bột hòa nước, viết tắt là WP, BTN: gồm hoạt chất, chất độn, chất thấm ướt và một số chất phù trợ khác Thuốc ở dạng bột mịn, phân tán trong nước thành dung dịch huyền phù, pha với nước để sử dụng
+ Thuốc phun bột: viết tắt là DP, chứa các thành phần hoạt chất thấp (dưới 10%), nhưng chứa tỉ lệ chất độn cao, thường là đất sét hoặc bột cao lanh Ngoài ra, thuốc còn chứa các chất chống ẩm, chống dính Ở dạng bột mịn, thuốc không tan trong nước
+ Thuốc dạng hạt: viết tắt là G hoặc H, gồm hoạt chất, chất độn, chất bao viên, và một số chất phù trợ khác
Ngoài ra còn một số dạng tồn tại khác:
- Thuốc dung dịch;
- Thuốc phun mùa nóng
- Thuốc bột tan trong nước
- Thuốc phun mùa lạnh
1.1.2.2 Các nhóm thuốc BVTV được chia thành nhiều nhóm dựa trên đối tượng sinh vật hại
Trang 91.1.2.3 Tác dụng của thuốc BVTV
a Thuốc BVTV tác dụng tiếp xúc
Cách thông thường để kiểm soát sâu hại là phun thuốc BVTV lên sâu hại hoặc lên bề mặt đối tượng cần bảo vệ có sâu đi qua với một lượng đủ thấm qua lớp vỏ cơ thể sâu hại Thuốc có tác dụng như vậy gọi là thuốc có tác
dụng tiếp xúc
b Thuốc BVTV tác dụng vị độc
Thuốc có tác dụng vị độc được sử dụng ở dạng phun, bột rắc hay mồi độc và được dùng để diệt các loài có hại qua đường miệng của chúng Các loài có hại ăn phải thuốc cùng với thức ăn qua miệng
c Thuốc BVTV tác dụng nội hấp
Một vài loại côn trùng như ve, rệp, hút nhựa cây bằng miệng Chúng dùng miệng nhỏ hình kim cắm vào cây trồng và hút nhựa Loài côn trùng này rất khó diệt bằng loại thuốc có tác dụng tiếp xúc Nhờ cách gây độc vào nguồn thức ăn của chúng là nhựa cây, chúng ta có thể đưa thuốc vào cơ thể côn trùng đó Đó là cách gây tác dụng nội hấp
d Thuốc BVTV tác dụng xông hơi
Để loại trừ một số sâu hại ngũ cốc, bột mì, chúng ta phải áp dụng biện pháp xông hơi Thuốc xông hơi được đưa vào khu vực cần xử lý ở dạng rắn, lỏng hoặc dạng khí Thuốc lan toả khắp không gian có sâu hại và diệt sâu hại qua đường hô hấp
1.1.2.4 Kĩ thuật sử dụng thuốc
a Đúng thuốc
Căn cứ đối tượng dịch hại cần diệt trừ và cây trồng hoặc nông sản cần được bảo vệ để chọn đúng loại thuốc và dạng thuốc cần sử dụng Việc xác định tác nhân gây hại cần sự trợ giúp của cán bộ kỹ thuật bảo vệ thực vật hoặc khuyến nông
Trang 10b Đúng lúc
Dùng thuốc khi sinh vật còn ở diện hẹp và ở các giai đoạn dễ mẫn cảm với thuốc, thời kỳ sâu non, bệnh chớm xuất hiện, trước khi bùng phát thành dịch Phun trễ sẽ kém hiệu quả và không kinh tế
c Đúng liều lượng, nồng độ
Đọc kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc, đảm bảo đúng liều lượng hoặc nồng độ pha loãng và lượng nước cần thiết cho một đơn vị diện tích Phun nồng độ thấp làm sâu hại quen thuốc, hoặc phun quá liều sẽ gây ngộ độc đối với cây trồng và làm tăng tính chịu đựng, tính kháng thuốc
d Đúng cách
Tùy vào dạng thuốc, đặc tính thuốc và những yêu cầu kỹ thuật cũng như nơi xuất hiện dịch hại mà sử dụng cho đúng cách Nên phun thuốc vào sáng sớm hoặc chiều mát Nếu phun vào buổi trưa, do nhiệt độ cao, tia tử ngoại nhiều làm thuốc nhanh mất tác dụng, thuốc bốc hơi mạnh dể gây ngộ độc cho người phun thuốc Nên đi trên gió hoặc ngang chiều gió Nếu phun ở đồng xa nên đi hai người để có thể cứu giúp nhau khi gặp nạn trong quá trình phun thuốc (Duy Hoài, 2015)
1.1.2.5 Phân loại HCBVTV
Việc phân loại hóa chất BVTV có thể thực hiện theo nhiều cách: phân loại theo đối tượng phòng trừ (thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh…) hoặc phân loại theo gốc hóa học (nhóm clo hữu cơ, nhóm lân hữu cơ…) Các loại hóa chất BVTV có nguồn gốc khác nhau thì tính độc và khả năng gây độc khác nhau Dựa vào đặc điểm hóa học, các hóa chất BVTV thường được sử dụng thuộc các nhóm sau[15] Về cơ bản thuốc BVTV được sản xuất dưới các dạng sau đây:
- Nhóm thuốc thảo mộc: có độ độc cấp tính cao nhưng nhanh phân hủy trong môi trường
Trang 11- Nhóm clo hữu cơ: DDT, 666 nhóm này có độ độc cấp tính tương đối thấp nhưng tồn lưu lâu trong môi trường, gây độc mãn tính nên nhiều sản phẩm bị cấm hoặc hạn chế sử dụng
- Nhóm lân hữu cơ: Parathinon Methyl(Vofatox), Bi-58 độ độc cấp tính của các loại thuốc thuộc nhóm này tương đối cao nhưng nhanh phân hủy trong cơ môi trường hơn so với nhóm clo hữu cơ
- Nhóm cacbamat: Mipcin, Bassa, Sevin…là thuốc được dùng rộng bởi vì thuốc tương đối rẻ tiền, hiệu lực cao, độ độc cấp tính tương đối cao nhưng khả năng phân hủy nhanh tương tự nhóm lân hữu cơ
- Nhóm Pyrethoide (Cúc tổng hợp): Decis, Sherpa, Sumicidine… nhóm này dễ bay hơi và nhanh phân hủy trong môi trường
- Các hợp chất Pheromone: Là những hóa chất đặc biệt do sinh vật tiết
ra để kích thích hành vi của những sinh vật khác cùng loài Các chất điều hòa sinh trưởng côn trùng (Nomolt, Applaud…) là những chất được dùng để biến đổi sự phát triển của côn trùng Chúng ngăn cản côn trùng biến thái hoặc kích thích sự trưởng thành từ rất sớm Các hợp chất này rất ít độc với người và môi trường
- Nhóm thuốc trừ sâu vi sinh (Dipel, Thuricide, Xentari, NPV ): Rất
ít độc với người và các sinh vật không phải là dịch hại
- Ngoài ra còn có nhiều chất có nguồn gốc hóa học khác, một số sản phẩm từ dầu mỏ được dùng làm thuốc trừ sâu
- Để thể hiện mức độ độc của mỗi loại thuốc người ta sử dụng chỉ số gây độc cấp tính LD50 hay còn gọi là liều gây chết trung bình căn cứ thử nghiệm trên thỏ hoặc chuột bạch Chỉ số LD50 càng thấp thì thuốc càng độc và ngược lại chỉ số LD50 càng cao thì thuốc càng ít độc Ví dụ như LD50 của Furadan (Carbofuran) bằng 8-14 mg/kg là thuốc rất độc, chỉ số của Trebon (Ethofenprox) là 21,440 mg/kg nên thuốc ít độc hơn Căn cứ vào chỉ số LD50
người ta chia các thuốc BVTV ra thành 4 cấp độc từ I đến IV: Cấp I rất độc,
Trang 12cấp II độc, cấp III độc trung bình và cấp IV tương đối ít độc Để nhận biết, người ta in băng màu trên nhãn thuốc biểu thị cấp độc (bảng 1.1)
Bảng 1.1 Phân nhóm độc chất HCBVTV tại Việt Nam
Thể rắn (mg/kg)
Thể lỏng (ml/kg)
Ia, Ib Rất độc
Vạch màu đỏ < 50 < 200 < 100 < 400
II Độc Vạch màu
vàng 50 - 500 200 -1000 100- 1000 400 - 4000 III Độc trung bình
Vạch màu xanh lam > 500 > 2000 > 1000 > 4000
IV Ít độc Vạch màu
xanh lá cây “Cẩn thận”
( Nguồn: Cục BVTV )
1.2 Thực trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
1.2.1 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV ở Việt Nam
Hiện nay, nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng tăng cả
về số lượng và chủng loại Theo Cục bảo vệ thực vật – Bộ NN&PTNT (2013), trong thời gian qua, số lượng và giá trị nhập khẩu thuốc BVTV của nước ta đều tăng lên Trước năm 1990, lượng thuốc BVTV nhập khẩu quy đổi thành phẩm là 13.000 - 14.000 tấn, giá trị khoảng 10 triệu USD, đến năm
2012 số lượng và giá trị nhập khẩu đã tăng lên 103.500 tấn với khoảng 700 triệu USD Sang năm 2013, cụ thể là 11 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu thuốc trừ sâu và nguyên liệu là 695.5 triệu USD, tăng 10,99% Sau cách mạng xanh, việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học cho cây trồng ngày trở nên phổ biền
và dần trở thành tập quán canh tác của hầu hết nông dân Phun thuốc trừ sâu nhiều lần làm cho sâu bệnh biến đổi, mất cân bằng sinh thái trên đồng ruộng
Trang 13từ đó phát sinh các nòi sâu bệnh mới Chẳng hạn sâu tơ hại rau bắp cải, trước đây nông dân sử dụng thuốc wofatox với nồng độ 1/1000, phun 500 lít thuốc pha/ha là tiêu diệt được Song cùng với việc sử dụng thường xuyên như thế, kết quả là sau một thời gian người nông dân phải nâng cao nồng độ thuốc phun hoặc đi tìm mua thuốc mới thì mới trừ được sâu này Hoặc đối với rầy nâu hại lúa, cùng với việc sử dụng thuốc hóa học trong một thời gian dài đã làm cho rầy biến đổi kiểu hình sinh học trở nên kháng thuốc Vì vậy, nhu cầu
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngày càng tăng là một điều tất yếu (Bùi Đức
Duẩn, 2009)
Việc kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV không đúng quy định như trên đã làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe cộng đồng Lượng thuốc BVTV được phun cây trồng hấp thụ một phần, một phần bị rửa tôi theo nước mưa ra sông, suối, ngấm sâu xuống lòng đất, một phần bị bốc hơi vào khí quyển Như vậy ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường là rất lớn Trong môi trường nông nghiệp thuốc BVTV cùng với phân bón hóa học là hai nhân tố chính phá hủy môi trường Theo báo cáo của Sở TN và MT Nam Định: “Toàn tỉnh hiện có 600 cơ sở kinh doanh thuốc BVTV, trong 6 tháng đầu năm 2015 các ngành chức năng thanh tra chuyên ngành trên thị trường nói chung thuốc BVTV nói riêng ở 10 huyện, thành phố Qua thanh tra có gần 300 cở sở sản xuất, kinh doanh không có giấp phép kinh doanh, chứng chỉ hành nghề” Từ những thực trạng trên thì trên thị trường hiện nay lượng thuốc BVTV cần tiêu hủy là rất lớn Đây chủ yếu là lượng thuốc tồn đọng từ hồi chiến tranh, từ viện trợ thời bao cấp, các loại thuốc nhập khẩu đã bị cấm sử dụng hoặc quá hạn sử dụng, các loại thuốc nhập lậu không rõ nguồn gốc bị thu giữ….Số lượng, tỷ lệ kho thuốc BVTV cũ, gây
ô nhiễm môi trường chưa được khoanh định, xử lý Theo số liệu thống kê của các Chi cục Bảo vệ thực vật đến 30/11/2009 cả nước có:
- Lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng cần tiêu huỷ: 89.957,177 kg
và 27.989,028 lít
Trang 14- Bao bì chứa thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng cần tiêu huỷ: 75.533,491 kg Số điểm ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: 414 điểm (trong đó có
42 điểm đã khảo sát còn 372 điểm chưa khảo sát) Diện tích đất nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: 319.673 m2 (trong đó đã khảo sát: 318.082,260 m2; ước tính 1.591 m2) Khối lượng đất nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: 694.259 kg (trong đó
đã khảo sát: 291.596,780 kg; ước tính 402.662,620 kg) Tình trạng số lượng thuốc và bao bì chứa thuốc BVTV đang lưu chứa, bảo quản tại các địa phương: 46,96% tại các kho đúng quy định, 32,04% tại các kho không đúng quy định, 9,99% chôn xuống đất, 11,01% lưu giữ tại các doanh nghiệp, gửi tại kho các ngành khác và để ở trong dân
Thực tế nhiều kho, do xây dựng từ lâu đã xuống cấp nghiêm trọng, tình trạng sàn kho, mái kho, tường bao không đảm bảo và các chai lọ thuốc tồn từ lâu nên trong tình trạng dễ bị hư hỏng, rò rỉ thẩm lậu gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân, cho nên số lượng thuốc, bao bì chứa thuốc, đất nhiễm thuốc bảo vệ thực vật nêu trên đang rất cần thiết phải được tiêu huỷ, xử lý (Nguyễn Bích Thu, 2011)
1.2.2 Tồn lưu và chuyển hóa của hóa chất BVTV trong môi trường
Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn lưu HCBVTV trong đất, nước, không khí, trong cây trồng và cả trong thực phẩm [20], hậu quả đã ảnh hưởng xấu đến động vật đặc biệt là con người
Không khí có thể dễ dàng bị ô nhiễm bởi HCBVTV dễ bay hơi, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nóng Ở các vùng nhiệt đới, khoảng 90 % HCBVTV phốt pho hữu cơ có thể bay hơi nhanh hơn Các thuốc diệt cỏ cũng
bị bay hơi nhất là trong quá trình phun thuốc
Trong đất có tới 50% lượng HCBVTV được phun để bảo vệ mùa màng hoặc được sử dụng diệt cỏ để phun không đúng vị trí và dải trên mặt đất Một vài HCBVTV như clo hữu cơ có thể tồn tại trong đất nhiều năm mặc
dù là một lượng lớn HCBVTV đã bay hơi Theo Bùi Vĩnh Diện, Vũ Đức Vọng nghiên cứu dư lượng HCBVTV trong đất tại Đắk Lắk cho thấy trong
Trang 15đất canh tác các loại có chứa dư lượng HCBVTV chung là 62,22 % số mẫu và 44,44 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Đất trồng cà phê 60,0 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 33,33 % số mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Đất trồng rau, màu 66,66 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 60,0 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Đất trồng lúa 60,0 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 40,0 % mẫu có dư lượng
vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Nước có thể bị ô nhiễm bởi việc đổ các HCBVTV thừa sau khi phun xong hoặc đổ nước rửa dụng cụ sau khi phun xuống hồ ao Cây trồng được phun HCBVTV ở ngay cạnh mép nước, sự rò rỉ, xói mòn từ đất đã xử lý bằng HCBVTV hoặc HCBVTV rơi xuống từ không khí bị ô nhiễm Sử dụng HCBVTV cho xuống các sông hồ để giết cá và vớt cá để ăn Nghiên cứu của Bùi Vĩnh Diên, Vũ Đức Vọng dư lượng HCBVTV chung là 58,33 % số mẫu
và 20,0 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước giếng đào có 60,0 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 20,0 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước hồ thủy lợi 53,33 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 26,66 % mẫu có dư lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước ruộng có 66,66 % số mẫu có dư lượng HCBVTV và 33,33 % vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước sông, suối có 53,33 % số mẫu có dư lượng HCBVTV
và không có mẫu nào vượt quá tiêu chuẩn cho phép
Trên thực tế hiện tượng sử dụng HCBVTV không theo chỉ dẫn ở nhiều nơi hiện nay đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Kết quả định lượng HCBVTV ở một số địa phương cho thấy dư lượng HCBVTV trong đất, nước và thực phẩm đang ở mức báo động và có nguy cơ gia tăng
Khi đưa hóa chất BVTV vào trong môi trường đất, rất nhiều các quá trình chuyển hóa có thể xảy ra Ngoài tác động có lợi là tiêu diệt sâu hại, việc đưa hóa chất bảo vệ thực vật vào trong môi trường cũng gây ra rất nhiều tác động có hại Ví dụ như các dòng chảy có thể rửa trôi các hóa chất diệt cỏ tại
Trang 16khu vực có cỏ dại, dẫn đến giảm hiệu quả kiểm soát cỏ dại, gây thiệt hại cho các loài sinh vật khác đồng thời cũng gây ô nhiễm đất và nước Bên canh đó, các loại thuốc trừ sâu khi phát tán vào không khí gây ra các ảnh hưởng nằm ngoài dự kiến
Có nhiều quá trình ảnh hưởng tới sự tồn lưu thuốc BVTV trong môi trường, ví dụ như quá trình hấp phụ, di chuyển, phân hủy
Di chuyển là quá trình mà hóa chất BVTV chuyển rời khỏi khu vực
sử dụng nó bao gồm sự bay hơi, rửa trôi Các quá trình này được mô tả trong hình 1.1
Hình 1.1: sự chuyển hóa của hóa chất BVTV trong môi trường
Thời gian tồn lưu được tính là thời gian bán phân hủy của hóa chất BVTV trong môi trường Nếu các hóa chất BVTV có thời gian phân hủy ngắn thì ít có khả năng tồn lưu và di chuyển trong môi trường (bảng 1.2) Thời gian tồn lưu của hóa chất BVTV phụ thuộc vào các yếu tố môi trường và hoạt động của VSV Hóa chất BVTV bị phân hủy khi tồn tại ở trên bề mặt đất, do
Phân hủy quang học
Thoái hóa
Rửa trôi
Bay hơi Phân tán
do gió
Hấp thụ
Hấp phụ Thoái hóa sinh
học Thoái hóa hóa học Lắng đọng
Trang 17tác động bởi các quá trình quang hóa, rửa trôi hay thất thoát nhờ gió Do vậy,
sự chuyển hóa của các chất BVTV trên bề mặt đất là không liên tục và khó có thể dự đoán trước
Bảng 1 2 Thời gian tồn lưu của một số HCBVTV trong môi trường
Thời gian tồn lưu nhanh
(chu kì bán phân hủy 30
ngày)
Thời gian tồn lưu trung bình (chu kì bán phân hủy 30 - 100 ngày)
Thời gian tồn lưu lâu (chu kì bán phân hủy
TCA Picloram Bromacil Trifluralin Chlordane Paraquat Lindane
(Nguồn: Kenneth R Bolen (1993)[46].)
Hấp phụ là sự liên kết giữa thuốc BVTV với các hạt đất Số lượng hóa chất BVTV được hấp phụ ở các loại đất khác nhau phụ thuộc vào loại thuốc, loại đất và một số đặc tính của đất như thành phần cấp hạt, cấu trúc, độ
ẩm và độ chua Hóa chất BVTV được hấp phụ cao trong đất giàu sét và chất hữu cơ, ngược lại được hấp phụ rất ít trong đất cát
Bay hơi là các quá trình của các chất rắn, lỏng chuyển đổi thành dạng khí và có thể di chuyển đến nơi rất xa so với nơi sử dụng Hóa chất BVTV dễ bay hơi nhất từ đất cát, đất ẩm, khi thời tiết khô, nóng và có gió thì lượng bay hơi tăng
Trang 18Rửa trôi là sự di chuyển của các hóa chất BVTV trong nước do nước có thể hòa tan các hóa chất này Các dòng chảy này cũng có thể xuất hiện khi lượng nước chảy trên bề mặt nhanh hơn tốc độ nó được hấp thu vào đất Lượng hóa chất BVTV trong các dòng chảy phụ thuộc vào độ dốc, kết cấu, độ ẩm của đất, lượng mưa và thời gian mưa, cũng như loại hóa chất BVTV được sử dụng Sự rửa trôi mang theo thuốc BVTV có thể gây ô nhiễm
ao, hồ và các nguồn nước khác Nước ô nhiễm chứa hóa chất BVTV có thể gây ảnh hưởng tới vật nuôi, cây trồng, gây ô nhiễm nước ngầm Ngoài ra việc thất thoát hóa chất BVTV rất dễ xảy ra khi trời mưa nhiều ngay sau khi phun Chính vì vậy, bên cạnh các biện pháp kỹ thuật sử dụng, cần theo dõi thời tiết
để hạn chế, hoãn phun hóa chất BVTV vào những ngày mưa nhiều
Quá trình phân hủy hóa chất BVTV do các VSV, phản ứng hóa học, phản ứng quang hóa có thể xảy ra vào bất cứ thời gian nào tùy thuộc vào điều kiện môi trường và đặc điểm hóa học của hóa chất BVTV
Sự phá hủy cấu trúc của hóa chất BVTV xảy ra do tác động của các VSV đất như nấm, vi khuẩn Sự phân hủy sinh học tăng khi nhiệt độ thuận lợi
ở 25 - 30oC, pH đất, độ ẩm đất, độ thoáng khí thích hợp cho sự hoạt động của VSV đất
Sự phân hủy quang học là sự phân hủy của hóa chất BVTV do chịu ảnh hưởng của ánh sáng mặt trời Trên thực tế, ở mức độ nào đó tất cả các hóa chất BVTV đều bị phân hủy quang học Tốc độ của phân hủy quang học phụ thuộc vào cường độ chiếu sáng, thời gian chiếu sáng và đặc tính của hóa chất BVTV
1.2.2.1 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường nước
Thuốc BVTV vào trong nước bằng nhiều cách: cuốn trôi từ những cánh đồng có phun thuốc xuống ao, hồ, sông, hoặc do đổ thuốc BVTV thừa sau khi đã sử dụng, phun thuốc trực tiếp xuống những ruộng lúa nước để trừ
cỏ, trừ sâu, trừ bệnh, thuốc BVTV lẫn trong
Trang 19Ô nhiễm môi trường đất dẫn đến ô nhiễm nguồn nước Thuốc trừ sâu trong đất, dưới tác dụng của mưa và rửa trôi sẽ tích lũy và lắng đọng trong lớp bùn đáy ở sông, ao, hồ,…sẽ làm ô nhiễm nguồn nước Thuốc trừ sâu có thể phát hiện trong các giếng, ao, hồ, sông, suối cách nơi sử dụng thuốc trừ sâu vài km
Thuốc trừ sâu phun lên cây trồng thì trong đó có khoảng 50% rơi xuống đất, sẽ tạo thành lớp mỏng trên bề mặt, một lớp chất lắng gọi là dư lượng gây hại đáng kể cho cây trồng Sự lưu trữ của thuốc trừ sâu trong đất là yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng gây ô nhiễm môi trường và cây trồng
a Nguồn nước mặt
Nguồn nước mặt đã bị ảnh hưởng trực tiếp bởi hóa chất BVTV Theo kết quả phân tích hóa chất BVTV nước Biển Hồ tỉnh Gia Lai, Hồ Lắc tỉnh Đăk Lăk (Bùi Vĩnh Diện và Vũ Đức Vọng, 2006) nước Biển Hồ có chứa
dư lượng 2 - 3 loại trong 15 loại hóa chất chuẩn gốc Clo hữu cơ, hàm lượng trung bình 0,05 - 0,06 mg/l Như vậy việc sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp, lâm nghiệp là nguồn gốc sinh ra lượng tồn lưu trong môi trường đất, nước dẫn đến nguồn nước ô nhiễm
Việt Nam có nền sản xuất nông nghiệp là chính nên nguồn nước ô nhiễm thuốc BVTV không chỉ ở một nơi nhiều nơi khác cũng đã bị ô nhiễm Nguồn nước nhiễm hóa chất BVTV không chỉ bởi nông dân trồng lúa mà tất
cả các nông hộ trồng các loại cây rau, lâm nghiệp, cây công nghiệp sử dụng thuốc BVTV làm ô nhiễm nguồn nước (Phan Thị Phẩm, 2014)
b Nguồn nước ngầm
Trong quá trình sử dụng thuốc BVTV, một lượng đáng kể một lượng thuốc sẽ không được cây trồng tiếp nhận, chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất thấm thấu vào nguồn nước ngầm, làm cho nước ngầm nhiễm các thuốc BVTV
Việc sử dụng hợp chất BVTV trong sản xuất nông nghiệp làm hóa chất thấm vào đất đến nguồn nước ngầm, làm cho nước ngầm nhiễm thuốc
Trang 20bảo vệ thực vật, với lưu lượng tồn đọng như vậy gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng xung quanh rất cao
Tại Tiên Lãng, Vĩnh Bảo nguồn nước giếng khoan, giếng đào đã có 70% mẫu nước lấy từ các giếng bị ô nhiễm bởi chất sắt, asen và dư lượng thuốc BVTV (Nhân Dân, 2006) Từ trên cho thấy nhiều nơi nguồn nước
ngầm đã nhiễm thuốc BVTV, ở đâu có sản xuất nông nghiệp thuốc BVTV
vượt mức quy định làm cho nguồn nước ô nhiễm và nó sẽ gây khó khăn đến nguồn nước sinh hoạt cho cộng đồng xung quanh Vì vậy chúng ta cần có những biện pháp khắc phục để nông dân sử dụng thuốc BVTV một cách hợp
lí Đặc biệt nguồn nước ngầm, khi nguồn nước ngầm bị nhiễm thuốc trừ sâu,
nó không có khả năng tự làm sạch như nguồn nước mặt Dòng chảy trong nguồn nước ngầm rất chậm các dư lượng thuốc trừ sâu không pha loãng hay phân tán được, do vậy nó tồn tại trong khoảng thời gian rất lâu có thể hàng trăm năm để làm sạch những chất ô nhiễm (Phan Thị Phẩm, 2014)
1.2.2.2 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường đất
Cho dù hóa chất BVTV được áp dụng trên lá của các loại thực vật, trên bề mặt đất hay được đưa vào trong đất, một tỉ lệ khá cao của những hóa chất cuối cùng cũng di chuyển vào trong đất Những hóa chất này di chuyển vào trong đất theo một trong các cách sau:
- Chúng sẽ bốc hơi vào trong khí quyển mà không có sự thay đổi về hóa học
- Chúng có thể bị phá hủy bởi những vi sinh vật
- Chúng có thể bị hấp thụ bởi thực vật và được giải độc bên trong thực vật Sự tồn lưu của hóa chất BVTV trong đất là một sự tổng hợp tất cả
Trang 21các phản ứng, sự di chuyển và sự phân hủy ảnh hưởng đến những hóa chất này Ví dụ, thuốc diệt côn trùng organophosphate có thể kéo dài chỉ vài ngày trong đất Thuốc diệt cỏ được sử dụng phổ biến nhất là 2,4-D, lưu tồn từ 3-15 năm hoặc dài hơn Thời gian lưu tồn của các thuốc diệt cỏ khác, thuốc diệt nấm và thuốc diệt côn trùng thì thường nằm trong khoảng trung gian Phần lớn các chất sát trùng phân hủy nhanh chóng dù để chống lại sự tích lũy trong đất những thuốc sát trùng nào kháng cự lại sự phân hủy thì có khả năng làm thiệt hại đến môi trường
Theo kết quả nghiên cứu thì phun thuốc cho cây trồng có tới 50% số thuốc rơi xuống đất một phần được cây hấp thụ, phần còn lại thuốc được keo đất giữ lại Thuốc tồn tại trong đất dần dần được phân giải qua hoạt đông sinh học của đất và qua tác động của các yếu tố hóa, lý (Nguyễn Hữu Chương, 2011)
Tuy nhiên tốc độ phân giải chậm nếu thuốc tồn tại trong môi trường đất với lượng lớn, nhất là trong đất có hoạt tính sinh học kém.Thời gian tồn tại của thuốc trong đất dài hay ngắn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường
Ví dụ: sản phẩm tồn lưu của DDT trong đất là DDE cũng có tác dụng như thuốc trừ sâu nhưng tác hại đối với sự phát triển của phôi bào trứng chim độc hơn DDT từ 2 đến 3 lần Loại thuốc Aldrin cũng đồng thời với DDT, có khả năng tồn lưu trong môi trường sinh thái (MTST) đất và cũng tạo thành sản phẩm "dieldrin" mà độc tính của nó cao hơn aldrin nhiều lần Thuốc diệt cỏ 2,4 – D tồn lưu trong MTST đất và cũng có khả năng tích lũy trong quả hạt cây trồng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nông sản
Trang 22Bảng 1 3 Thời gian tồn lưu của thuốc BVTV trong đất
2 Thuốc diệt côn trùng Chlorinalted
(Vd: DDT, chlordane,dieldrin)
2-5 năm
3 Thuốc diệt cỏ Triazin (Vd: Amiben, simazine) 1-2 năm
4 Thuốc diệt cỏ Benzoic (Amiben, dicamba) 2-12 tháng
5 Thuốc diệt cỏ Urea (Vd: Monuron, diuron) 2-10 tháng
6 Thuốc diệt cỏ phenoxy (2,4-D ; 2,4,5-T) 1-5 tháng
7 Thuốc diệt côn trùng Organophosphate
(Vd: Malathion, diazion)
1-12 tháng
8 Thuốc diệt côn trùng Carbamate 1-8 tuần
9 Thuốc diệt cỏ Carbamate (Vd: barban, CIPC) 2-8 tuần
Hệ số hấp thụ Cacbon hữu cơ K OC
Đánh giá khả năng tồn động thuốc BVTV trong đất hay trong nước Giá trị KOC càng nhỏ nồng độ của thuốc BVTV trong dung dịch đất càng lớn thuốc BVTV càng dễ di chuyển trong đất vào nguồn nước; ngược lại thuốc BVTV có khuynh hướng hấp phụ mạnh và tồn đọng trong đất Những chất có giá trị KOC > 1000 ml/g thường có khả năng hấp thụ vào đất, ngược lại những chất có giá trị KOC < 500 ml/g thường có khả năng hấp thụ vào nước
1.2.3 Tác động của thuốc BVTV đến hệ sinh thái nông nghiệp
a Những tác động có lợi
Vai trò của thuốc BVTV đã khẳng định rõ ràng đối với ngành trồng trọt ngay từ buổi đầu của lịch sử phát triển ngành hóa BVTV Nhìn chung, thuốc BVTV có những tác động có lợi lớn đối với cây trồng như sau:
Việc sử dụng thuốc BVTV tuân theo 4 đúng (đúng lúc, đúng liều, đúng loại và đúng kỹ thuật) sẽ đẩy lùi dịch hại, diệt cỏ dại và tạo điều kiện cho cây trồng tận dụng được những điều kiện phát triển tối ưu của kỹ thuật
Trang 23thâm canh, giúp cho cây trồng phát triển thuận lợi, đạt năng suất và chất lượng cao
Cho hiệu quả kinh tế cao, ít tốn công chăm sóc, ít cực nhọc cho nông dân
Ngăn chặn kịp thời những đợt dịch hại lớn xảy ra
Một số thuốc BVTV còn có tác dụng kích thích giúp cây trồng phát triển tốt, khỏe mạnh hơn (2,4 – D dùng xịt cỏ còn giúp lúa đẻ nhánh mạnh hơn)
Dễ dàng cho công việc cơ giới hóa ngành nông nghiệp (thuốc làm rụng bông, khô thân khoai tây… được sử dụng trước khi thu hoạch bằng cơ giới)
b Những tác hại của việc dùng thuốc BVTV cho cây trồng
Về cơ bản thuốc BVTV được sử dụng để bảo vệ vụ mùa chống lại sâu bệnh và cỏ dại, nhưng đôi khi chúng làm hại cây trồng Đó là trong các trờng hợp sau: Liều lượng quá cao kiềm chế sự phát triển của cây trồng
Thuốc BVTV ảnh hưởng đến các loại cây trồng xung quanh loại cây
mà nó bảo vệ
Dư lượng thuốc diệt cỏ ảnh hưởng đến cây trồng luân canh hoặc kiềm chế sử phát triển của cây
Dư lượng thuốc BVTV tích tụ trên cây trồng quá nhiều khiến người
ta phải tiêu hủy sản phẩm
Khi phun thuốc lên cây, xử lý hạt giống và đất bằng thuốc hóa học,
có trường hợp thuốc gây độc trực tiếp cho cây Ở nước ta, việc sử dụng các thuốc trừ nấm chứa đồng, thuốc trừ nấm chứa thủy ngân hữu cơ phun cho khoai tây, cà chua, lúa nếu pha chế không đúng cách hoặc dùng liều lượng quá cao, có thể làm cho lá và những chồi, chỉ sau một ngày phun thuốc, cây
và chồi có thể bị héo và đen, thời tiết càng nóng, ẩm tác động của thuốc đối với cây trồng càng thể hiện nhanh
Trang 24Tác hại của thuốc BVTV đối với cây trồng có trường hợp không thể hiện ngay sau đợt phun thuốc Ở California, trước đây thường dùng các loại dầu khoáng để phun trừ các loại rệp trên cây ăn quả Một số vườn cam, sau vài năm thường xuyên được phun các loại dầu, đã dần dần bị úa vàng., lá cây
bị rụng, nhiều cây chết khô Giải phẩu những bộ phận bị hại, người ta quan sát thấy, sau khi phun trên lá, một phần dầu đã nhanh chóng xâm nhập qua biểu bì của mặt trên lá hoặc qua các khí khổng có mặt trên lá Dầu được tích ở các gian bào, nếu phun nhiều lần liên tiếp, từ lá dầu sẽ dịch chuyển theo mạch
gỗ, làm cho thân và cành dần bị khô, chết, như vậy, phải sau vài năm sử dụng tác hại của dầu đối với cây cam mới thực sự rõ ràng (Balachowski S.S., 1955)
Ở nước ta, Nguyễn Trần Oánh và Ngô Xuân Trung (1978) đã dùng thuốc bảo thấm nước 50% TMTD hòa loãng ở nồng độ 0,5% chế phẩm tưới vào đất vườn ươm trước khi gieo hạt thuốc lá với lượng 30.000 l/ha Thuốc không ảnh hưởng đến tỷ lệ mọc của hạt, đã hạn chế một số cây bị đốm vi khuẩn do Pseudomonas tabaci gây hại, nhưng ảnh hưởng xấu đến cây trồng, làm giảm số cây đủ tiêu chuẩn đem trồng
Thuốc BVTV còn gây hại cho cây trồng thông qua sự tồn tại lâu của chúng trong đất trồng trọt Trên đất cát pha ven sông Đáy ở Hà Nội, dùng Simazin và Atrazin phun cho ngô với lượng 4 – 5kg/ha, thuốc đã có tác dụng trừ cỏ tốt, không ảnh hưởng gì đến sinh trưởng và năng suất của cây ngô Sau khi thu hoạch ngô, làm đất để gieo đỗ tương, đỗ vàng hoặc mạ thì cá loại cây này bị hại nặng Các loại đỗ bị chết hoàn toàn sau khi ra lá that 2 – 3 ngày, mạ
ra ba lá that thì bắt đầu úa vàng, cây lúa ra đến lá thứ 9 – 11 thì bị lụi và chết Cũng trên đất này, nếu cấy lúa, cây sẽ không chết nhưng sinh trưởng chậm và năng suất giảm Kết quả nói lên thuốc BVTV có thể tồn tại khá lâu trong đất
và gây hại cho các loại cây trồng vụ sau (Đoàn Đại Trí, 2014)
c Tác hại của thuốc đối với đa dạng sinh học và côn trùng có ích trên vườn ươm
Trang 25Thuốc BVTV khi sử dụng được phun vào cây trồng mục đích là tiêu diệt những vi sinh vật có hại cho cây trồng, nhưng số lượng thuốc tiêu diệt sinh vật gây hại chỉ 50% lượng thuốc sử dụng, còn lại 50% là rơi vãi trên mặt đất, sau đó thuốc sẽ hòa tan vào đất, vào nguồn nước mặt Lượng 50% thuốc BVTV này rất khó kiểm soát do đó gây ra ảnh hưởng cho môi trường đặc biệt
là ảnh hưởng đến những sinh vật sống trong môi trường đó, tác động hàng loạt côn trùng có ích bắt mồi, ký sinh, thụ phấn cho cây… và các động vật có ích khác cùng sống trong ruộng lúa đó (cua, ếch, cá…) Hậu quả của thuốc BVTV đã gây ra những xáo động trong hệ sinh thái Tùy trường hợp, các thuốc BVTV có thể tác động ở những mức độ khác nhau
Các loại thuốc BVTV đã và đang là những nguyên nhân đóng góp vào công việc làm giảm số lượng nhiều loài sinh vật có ích, làm giảm tính đa dạng sinh học Dư lượng thuốc BVTV tồn dư trong đất, gây hại đến các vi sinh vật, côn trùng có ích trong đất, chúng làm nhiệm vụ phân hủy, chuyển hóa các hóa chất bảo vệ thực vật, chất hữu cơ thành khoáng chất đơn giản, thành các dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng Đặc biệt dư lượng của một số chất có độc tính cao như: DDT, Lindan, Monitor, Marathion, Wofatox, Validacin
Một hệ sinh thái đa dạng, bao gồm nhiều chủng loại sinh vật thường có năng suất sinh học cao và tương đối ổn định Trong một hệ luôn luôn có những quan hệ cạnh tranh, ký sinh, đối kháng có tác dụng kìm hãm sự phát triển quá mức, sự bùng nổ về số lượng của một loài Do vậy, tránh được những bệnh dịch lan tràn trên những vùng rộng lớn Hệ sinh thái luôn có mắc xích và chuỗi thức ăn đan xen với nhau để tạo ra mối cân bằng trong hệ Nhưng do một yếu tố nào đó bên ngoài tác động vào thì sẽ làm xáo trộn can bằng của hệ đang duy trì Trong hệ sinh thái nông nghiệp luôn bị tác động luôn bị tác động của con người làm xáo động, đặc biệt là việc sử dụng thuốc BVTV (Nguyễn Hữu Chương, 2011) Khi sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ côn trùng không ít trường hợp người ta quan sát thấy ở những vùng mà dùng
Trang 26thuốc BVTV chẳng những suy giảm về số lượng cá thể trong các loài sinh vật, mà còn có thể làm suy giảm số lượng loài ở nơi đó Thuốc BVTV càng được sử dụng nhiều lần trong một vụ, thời gian dùng thuốc càng kéo dài, quy
mô dùng thuốc càng rộng, nguy cơ tạo ra một vùng “sa mạc sinh học” càng lớn
Có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đã cho thấy, các thuốc trừ sâu, trừ bệnh và trừ cỏ khi được sử dụng lâu dài đều có thể làm cho thành phần loài ở địa phương suy giảm, rõ nhất là thiên địch
1.2.3.1 Ảnh hưởng của dư lượng thuốc BVTV lên con người và động vật
Ngoài tác dụng diệt dịch bệnh, các loại cỏ và sâu bệnh phá hoại mùa màng, dư lượng thuốc BVTV cũng đã gây nên các vụ ngộ độc cấp tính và mãn tính cho người tiếp xúc và sử dụng chúng
Các độc tố trong thuốc BVTV xâm nhập vào rau quả, cây lương thực, thức ăn gia súc và động vật sống trong nước rồi xâm nhập vào các loại thực phẩm, thức uống như: thịt, cá, sữa, trứng,… Một số loại thuốc BVTV và hợp chất của chúng qua xét nghiệm cho tháy có thể gây quái thai và bệnh ung thư cho con người và gia súc Con đường lây nhiễm độc chủ yếu là qua ăn, uống (tiêu hóa) 97,3%, qua da và hô hấp chỉ chiếm 1,9% và 1,8% Thuốc gây độc chủ yếu là Wolfatox (77,3%), sau đó là 666 (14,7%) và DDT (8%)
- Hấp thụ xuyên qua các lỗ chân lông ngoài da
- Đi vào thực quản theo thức ăn hoặc nước uống
- Đi vào khí quản qua đường hô hấp
- Các triệu chứng khi nhiễm thuốc BVTV
- Hội chứng về thần kinh: Rối loạn thần kinh trung ương, nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ Rối loạn thần kinh thực vật như ra mồ hôi Ở mức độ nặng hơn có thể gây tổn thương thần kinh ngoại biên dẫn đến tê liệt, nặng hơn nữa có thể gây tổn thương não bộ, hội chứng nhiễm độc não thường gặp nhất
là do thủy ngân hữu cơ sau đó là đến lân hữu cơ và Clo hữu cơ
Trang 27- Hội chứng về tim mạch: Co thắt ngoại vi, nhiễm độc cơ tim, rối loạn nhịp tim nặng là suy tim, thường là do nhiễm độc lân hữu cơ, clo hữu cơ
và Nicotin
- Hội chứng hô hấp: Viêm đường hô hấp, thở khò khè, viêm phổi, nặng hơn có thể suy hô hấp cấp, ngừng thở, thường là do nhiễm độc lân hữu
cơ, clo hữu cơ
- Hội chứng tiêu hóa – gan mật: Viêm dạ dày, viêm gan, mật, co thắt đường mật, thường là do nhiễm độc clo hữu cơ, carbamat, thuốc vô cơ chứa Cu,S
- Hội chứng về máu: Thiếu máu, giảm bạch cầu, xuất huyết, thường
là do nhiễm độc Clo, lân hữu cơ, carbamat Ngoài ra trong máu có sự thay đồi hoạt tính của một số men như men Axetyl cholinesteza do nhiễm độc lan hữu
cơ Hơn nữa, có thể thay đổi đường máu, tăng nồng độ axit pyruvic trong máu
Ngoài 5 hội chứng kể trên, nhiễm độc do thuốc BVTV còn có thể gây ra tổn thương đến hệ tiết niệu, nội tiết và tuyến giáp Như vậy, nếu quá trình phân phối và sử dụng thuốc BVTV không an toàn, đúng cách sẽ gây nhiều nguy hiểm cho môi trường, sức khỏe con người và sinh vật (Nguyễn Hữu Chương, 2011)
Trang 28Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1Mục tiêu tổng quát
Đánh giá sự ảnh hưởng của thuốc BVTV tới đa dạng sinh học và ảnh hưởng tới môi trường sống của con người Hướng dẫn người dân sử dụng thuốc BVTV hợp lý, đúng quy trình kỹ thuật, đúng liều lượng, giảm thiểu lượng tồn dư vào môi trường để đảm bảo sức khỏe cho con người, nâng cao năng xuất cây trồng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
2.1.2 Mục tiêu chi tiết
Xác định thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất cây giống lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu
Đánh giá việc sử dụng thuốc BVTV ảnh hưởng đến đa dạng sinh học các loài sâu hại và thiên địch trên cây lâm nghiệp tại khu vực nghiên cứu
Khảo sát phương thức sử dụng thuốc BVTV tại các hộ gia đình có vườn ươm để phòng trừ sâu bệnh hại
Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả thuốc BVTV
Tìm ra những giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý nhằm sử dụng hợp lý thuốc BVTV trên cây lâm nghiệp tại địa bàn
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 29- Phạm vi thời gian: 03/2017 - 06/2017
2.3 Nội dung nghiên cứu
Điều tra tình hình sử dụng thuốc BVTV trên cây lâm nghiệp Điều tra thành phần loài sâu hại và thiên địch tại khu vực nghiên cứu
Điều tra quy trình sử dụng thuốc của các chủ vườn ươm Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe của người lao động trong vườn
Đề xuất các biện pháp sử dụng thuốc BVTV hiệu quả
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa
Tập hợp các số liệu thống kê đất đai, yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, tài nguyên, dân số và lao động của xã Quảng Tiến
2.4.2 Điều tra
- Điều tra thực địa
Kết quả thống kê một số loài thiên địch và sâu hại tại vườn ươm bằng hình thức lập OTC, mỗi OTC có diện tích là 25m2 , hoặc theo luống tại các vườn ươm mỗi luống từ 10-15m2
* Bảng phân cấp mức độ sâu hại
+ Ít, gây hại không đáng kể, tần xuất bắt gặp 5 – 10%
++ Trung bình, gây hại cục bộ, tần xuất bắt gặp 11 – 35%
+++ Nhiều, gây hại rõ ràng, tần xuất bắt gặp 36 – 50%
++++ Rất nhiều, đôi khi gây hại nặng, tần xuất bắt gặp > 50%
* Chỉ tiêu ghi nhận:
- Thành phần sâu hại chính, thiên địch: Thống kê, phân loại các loại sâu hại, thiên địch theo tên thường gọi, bộ phận cây bị hại, mức độ thiệt hại
- Mật độ sâu hại : MĐS = số sâu hại/luống
Mật độ sâu, thiên địch bắt mồi (con/m 2 ) = 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐬ố 𝐬â𝐮,𝐭𝐡𝐢ê𝐧 đị𝐜𝐡 đ𝐢ề𝐮 𝐭𝐫𝐚
𝐭ổ𝐧𝐠 𝐬ố 𝐦𝟐 đ𝐢ề𝐮 𝐭𝐫𝐚
Trang 30- Phương pháp phỏng vấn
Tổ chức điều tra bằng phiếu kết hợp phỏng vấn nhanh 30 hộ có vườn ươm được chọn theo mẫu ngẫu nhiên.Điều tra hiện trạng phun thuốc và xả thải bao bì trên đồng ruộng kết hợp với phỏng vấn nhanh đội ngũ phun thuốc ngoài đồng ((Phụ lục 1)
Phương pháp So sánh: So sánh danh sách thuốc BVTV thực tế ngoài đồng ruộng, tại các cửa hàng kinh doanh và thu thập được do điều tra trực tiếp người dân về danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng và cấm sử dụng
Phân tích thống kê và xử lý số liệu
Tính toán các giá trị trung bình, đo vẽ các biểu đồ và đồ thị bằng phần mềm excel
Trang 31Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Tình hình sử dụng đất và sản xuất cây giống tại vùng nghiên cứu
3.1.1 Vị Trí Địa Lý
Huyện Trảng Bom được thành lập ngày 01/01/2004, trên cơ sở chia tách từ huyện Thống Nhất (cũ) theo Nghị định số 97/2003/NĐ – CP ngày 21/8/2003 của Chính phủ; là một huyện trung du, phía Nam giáp huyện Long Thành, phía đông giáp huyện Thống Nhất, phía Tây giáp thành phố Biên Hòa, phía bắc giáp huyện Vĩnh Cửu
Hình 3.1: Bản đồ hành chính thị trấn Trảng Bom
Huyện Trảng Bom có đường Quốc lộ 1A đi qua, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km và Thành phố Biên Hòa 28 km về phía Đông; Huyện
Trang 32trước đây là cửa ngõ miền Đông trong kháng chiến chống Mỹ và là chiến trận
vô cùng ác liệt trong chiến dịch Hồ Chí Minh Với vị trí địa lý chiến lược, huyện Trảng Bom đang là khu vực có nhiều dự án quan trọng đã và đang được triển khai như: Đường cao tốc Tp Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây, đường sắt cao tốc Bắc - Nam, đường Quốc lộ 1A tránh thành phố Biên Hòa
Huyện Trảng Bom có 01 thị trấn (Thị trấn Trảng Bom) và 16 xã: Xã
An Viễn, Xã Bàu Hàm, Xã Bắc Sơn, Xã Bình Minh, Xã Cây Gáo, Xã Đông Hòa, Xã Đồi 61, Xã Giang Điền, Xã Hố Nai 3, Xã Hưng Thịnh, Xã Quảng Tiến, Xã Sông Thao, Xã Sông Trầu, Xã Tây Hòa, Xã Thanh Bình, Xã Trung Hòa Riêng, Thị trấn Trảng Bom đang được xây dựng, phấn đấu sau năm
2015 trở thành Đô thị loại IV
Dân số
Dân số trung bình: 275.021 người (số liệu thống kê năm 2012), mật độ dân số 795,03 người/km2 GDP bình quân đầu người 42,177 triệu đồng; toàn huyện có 22 dân tộc anh em cùng chung sống Lực lượng lao động trong độ tuổi toàn huyện 197.700 người
Tài nguyên thiên nhiên
- Tài nguyên đất: Huyện Trảng Bom nằm trong vùng địa hình đồi thấp,
thoải; cao độ thấp dần từ Bắc xuống Nam Địa hình của huyện có thể chia thành ba khu vực: (1) khu vực có địa hình thấp nằm ở phía Nam và ven Quốc
lộ 1A; (2) khu vực địa hình cao nằm ở phía Bắc của huyện; (3) khu vực có địa hình trung bình nằm ở phía Bắc của Quốc lộ 1A
Theo kết quả điều tra, trên địa bàn huyện Trảng Bom có 5 nhóm đất chính:
+ Nhóm đất gley (Gleysols): có diện tích khoảng 300 ha, chiếm khoảng 1% diện tích tự nhiên của huyện; phân bố chủ yếu ở các xã Hố Nai 3, Bắc Sơn và Bình Minh Loại đất này được hình thành trên trầm tích phù sa sông Đồng Nai và một ít trên sản phẩm dốc tụ, do ảnh hưởng của quá trình ngập
Trang 33nước nên tầng đất từ 0 - 50cm bị gley mạnh, quá trình tích lũy mùn cao, tương đối giàu đạm, lân và kali, thành phần cơ giới nặng, thích hợp với việc trồng lúa nước
+ Nhóm đất tầng mỏng (Leptosols): có diện tích 76 ha, chiếm khoảng 0,2% diện tích tự nhiên của huyện; phân bố chủ yếu ở xã Hố Nai 3 Loại đất này có tầng đất hiện hữu mỏng, trơ sỏi đá trên bề mặt, không thích hợp với sản xuất nông nghiệp
+ Nhóm đất đen (Luvisols): có diện tích 16.425 ha, chiếm khoảng 50,7% diện tích tự nhiên; gồm đất đen điển hình, tầng đá sâu; đất nâu thẩm, tầng đá sâu và đất nâu thẩm, tầng đá nông; phân bố chủ yếu ở các xã Sông Trầu, Thanh Bình, Cây Gáo, Sông Thao và Bắc Sơn Loại đất này được hình thành trên đá bazan, tầng đất lẫn nhiều đá bọt, có kết von Tuy vậy, đất lại rất giàu mùn, đạm đặc biệt là lân, đất chua, giàu bazơ, cacbon, kiềm cấu tạo viên hạt bền thích hợp cho nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái và hoa màu
+ Nhóm đất xám (Acrisols): gồm đất xám điển hình, đất xám vàng, đất xám có kết von, đất xám cơ giới nhẹ và đất xám gley; diện tích 11.737 ha, chiếm khoảng 37% diện tích tự nhiên Đất này được hình thành trên mẩu chất phù sa cổ, có thành phần cơ giới nhẹ, sét bị rửa trôi mạnh, độ phì nhiêu thấp; thích hợp với nhiều loại cây trồng kể cả cây công nghiệp dài ngày, cây công nghiệp ngắn ngày, hoa màu, cây lương thực tuy nhiên phải đầu tư cao và có chế độ tưới tiêu tốt mới cho hiệu quả
+ Nhóm đất đỏ (Ferrasols): gồm đất vàng đỏ (Xanthic Ferrasols) và đất
đỏ thẩm (Radic ferrasols) diện tích 3.834 ha, chiếm khoảng 11,8% diện tích tự nhiên Đất được hình thành từ đá bazan, thành phần cơ giới nặng, cấu tạo viên, tơi xốp, giàu đạm, lân Loại đất này thích hợp cho cây lâu năm như cao
su, cà phê, cây ăn trái …
Theo kết quả điều tra đất đai năm 2010, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Trảng Bom có 32.368 ha vào năm 2010, chiếm 5,5% trong tổng diện