1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh Đối chiếu các quán ngữ tình thái trong tiếng việt và tiếng trung (tt)

26 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh đối chiếu các quán ngữ tình thái trong tiếng Việt và tiếng Trung
Tác giả Fu Junxian
Người hướng dẫn TS. Võ Thị Minh Hà
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 758,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong tiếng Việt: Quán ngữ tình thái với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ mang chức năng ngữ dụng đặc thù, đã và đang thu hút sự quan tâm rộng rãi trong lĩnh v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: TS Võ Thị Minh Hà

Phản biện 1: TS Đỗ Thu Lan

Phản biện 2: TS Đỗ Hồng Dương

Luận văn sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm thạc sĩ họp tại: Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn, 16 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 8 năm 2025

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ là công cụ cốt lõi để truyền đạt tư tưởng, cảm xúc, và thái độ của con người Trong tiếng Việt, tồn tại một loại đơn vị ngôn ngữ chuyên dùng để thể hiện cảm xúc chủ quan, lập trường thái độ cũng như sự đánh giá mang tính ngữ dụng của người nói Loại đơn vị này được gọi là quán ngữ tình thái Đây là những biểu thức có hình thức cấu trúc ổn định, ý nghĩa chức năng độc đáo và sắc thái ngữ nghĩa rõ rệt, là một bộ phận quan trọng không thể bỏ qua trong hệ thống biểu đạt của tiếng Việt

Hiện nay, giới ngôn ngữ học Việt Nam đã bước đầu xây dựng được hệ thống lý thuyết tương đối rõ ràng về quán ngữ tình thái, các tiêu chí phân loại và phương pháp phân tích cũng ngày càng được hoàn thiện Tuy nhiên, trong nghiên cứu tiếng Trung, các công trình chuyên sâu về

“quán ngữ tình thái” vẫn còn hạn chế, đặc biệt là những nghiên cứu đối chiếu với tiếng Việt hầu như còn bỏ ngỏ Vì vậy, việc nghiên cứu đối chiếu quán ngữ tình thái giữa tiếng Việt và tiếng Trung không chỉ có ý nghĩa lý luận quan trọng

mà còn mang giá trị thực tiễn đáng kể

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong tiếng Việt:

Quán ngữ tình thái với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ mang chức năng ngữ dụng đặc thù, đã và đang thu hút

sự quan tâm rộng rãi trong lĩnh vực ngôn ngữ học, đặc biệt

là trong các nghiên cứu về ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng học Các học giả Việt Nam tập trung chủ yếu vào việc phân tích cấu trúc, chức năng và đặc điểm ngữ dụng của loại đơn vị này Nguyễn Thiện Giáp (2016) nêu ra định nghĩa của quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản để liên kết, đưa đẩy, rào đón hoặc

Trang 4

nhấn mạnh nội dung cần diễn đạt nào đó Đoàn Thị Thu Hà (2005) trong công trình nghiên cứu “Quán ngữ tình thái tiếng Việt” đã xác lập một danh sách các quán ngữ tình thái tiếng Việt Trong có chỉ ra quán ngữ tình thái là những tổ hợp từ hay lời nói mang tính ổn định được tái sinh nhiều lần

do nhu cầu cần thiết của sự giao tiếp.[Đoàn Thị Thu Hà, 2005: 59] Trần Thị Yến Nga (2008) trong luận văn thạc sĩ

“Quán ngữ tình thái tiếng Việt” đã tìm ra những tiêu chí nhận diện quán ngữ tình thái tiếng Việt và có lập một danh sách bao gồm 238 từ quán ngữ tình thái thông dụng, đồng thời miêu tả đặc điểm cơ bản và phân tích ngữ nghĩa - chức năng của lớp từ này Cao Xuân Hạo (1991) trong công trình

“Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng” đã đi sâu phân tích đặc điểm chức năng của các thành phần làm Đề tình thái, Thuyết tình thái (quán ngữ tình thái).[Cao Xuân Hạo, 1991: 175]

Theo những kết quả nghiên cứu hiện có cho thấy, trong nghiên cứu ngôn ngữ học tiếng Việt, đặc biệt là trong khuôn khổ từ vựng học, các học giả Việt Nam đã xác định một loại đơn vị ngôn ngữ là “quán ngữ tình thái”

Trong tiếng Trung

Đối với vấn đề lịch sử về quán ngữ tình thái nếu như vấn đề này đã được nghiên cứu kĩ ở Việt Nam với bộ khái niệm và tiêu chí nhận diện rõ ràng qua các nghiên cứu của Cao Xuân Hạo, Đoàn Thị Thu Hà, Trần Thị Yến Nga Thì ở tiếng Trung vấn đề không đơn giản như vậy Trong hệ thống ngôn ngữ học tiếng Trung, đặc biệt là trong các phân loại truyền thống của từ vựng học và ngữ pháp học, theo tìm hiểu hiện giờ trong tiếng Trung không tìm thấy một phạm trù, thuật ngữ hoặc khái niệm tương ứng với “quán ngữ tình thái” tiếng Việt Nhưng có một điểm chúng ta có thể xác định là trong tiếng Trung có hiện tượng ngôn ngữ

Trang 5

giống với quán ngữ tình thái tiếng Việt, ví dụ như: ai cũng biết 众所周知(chúng sở chu tri-ai cũng biết), 总的来说(tổng đích lai thuyết-nói tóm lại), 当然(đương nhiên-tất nhiên), 按

我 的 想 法(án ngã đích tưởng pháp-theo tôi thì), 可 能(khả năng-có lẽ), v.v…Chúng tôi nhận thấy, trong ngữ pháp tiếng Trung các kiểu biểu đạt ngữ pháp của động từ tình thái, phó từ tình thái/phó từ ngữ khí tình thái, trợ từ ngữ khí, biểu đạt cố định (chunk) và và các kiểu câu dùng để thể hiện thái độ của người nói (như câu phản vấn, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu điều kiện, câu nhấn mạnh, v.v Những câu này thường có dấu hiệu rõ rệt về mặt cấu trúc cú pháp, đồng thời trong chức năng dụng học thì nổi bật ở lập trường chủ quan và ý đồ giao tiếp của người nói,

là một phương thức biểu đạt tình thái quan trọng trong tiếng Trung Trong luận văn này gọi chung là “câu mẫu tình thái”) đều có một phần tương đương với khái niệm quán ngữ trong tiếng Việt Do ở tiếng Trung không có một khái niệm hoàn toàn tương đương, nên để tìm hiểu vấn đề này trong tiếng Trung chúng tôi phải đi tìm ở các dạng thức ngữ pháp nói trên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn này lấy hệ thống quán ngữ tình thái trong tiếng Việt theo phân loại của TS Đoàn Thị Thu Hà làm cơ

sở, từ đó đối chiếu với các hiện tượng ngôn ngữ tương ứng trong tiếng Trung nhằm làm rõ đặc điểm cấu trúc và chức năng ngữ dụng của chúng

Về phạm vi nghiên cứu, trong tiếng Việt, quán ngữ tình thái đã được mã hóa và xác định theo hệ thống phân loại của TS Đoàn Thị Thu Hà Trong tiếng Trung các hiện tượng ngôn ngữ tương ứng với tiếng Việt bao gồm: phó từ tình thái, động từ tình thái, trợ từ ngữ khí, biểu đạt cố định mang tính tình thái và các kiểu câu mẫu tình thái như câu

Trang 6

phản vấn, nghi vấn, cầu khiến, điều kiện, giả định, cảm thán, nhấn mạnh v.v Dựa trên cơ sở đã xác định đối tượng nghiên cứu, luận văn sẽ tiến hành đối chiếu từ hai phương diện chính: đặc điểm hình thức và đặc điểm ngữ nghĩa chức năng của các đơn vị tương đương trong hai ngôn ngữ

Ngoài ngữ liệu được thống kê, mã hóa nêu trên, chúng tôi còn sử dụng những ngữ liệu làm ví dụ cho luận văn Nguồn ngữ liệu được khảo sát trong phụ lục luận văn của Đoàn Thị Thu Hà và một số tác phẩm văn học Trung

Quốc (Lạc đà Tường Từ - 骆驼祥子 , Cuộc đời tôi - 我这一

辈子 , Tứ thế đồng đường - 四世同堂 , Tiếu ngạo giang hồ -

笑傲江湖 , Anh hùng xạ diệu - 射雕英雄传 ,Ỷ thiên đồ long

ký - 倚天屠龙记 )

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học nhằm đảm bảo tính khoa học và toàn diện Cụ thể như sau:

Phương pháp đối chiếu;

Phương pháp phân tích;

Phương pháp miêu tả;

5 Nhiệm vụ và ý nghĩa nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu, làm rõ phạm vi của quán ngữ tình thái trong tiếng Trung, dựa trên cơ sở lý thuyết của tiếng Việt, tiến hành nhận diện và liệt kê danh sách quán ngữ tình thái tương ứng trong tiếng Trung So sánh đối chiếu đặc điểm hình thức và chức năng ngữ nghĩa của quán ngữ tình thái trong tiếng Việt và tiếng Trung

Về lý luận, một đóng góp cốt lõi và mang tính đổi mới của luận văn là xây dựng được quán ngữ tình thái trong tiếng Trung và phát hiện quan hệ đối ứng giữa hai ngôn ngữ Thông qua việc làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, không chỉ cung cấp một cái nhìn sâu sắc

Trang 7

về "tư duy tình thái" của người Việt và người Trung Quốc

mà còn bổ sung đáng kể cho lý thuyết tình thái học liên ngôn ngữ

Về thực tiễn, dựa trên những phân tích và đối chiếu chi tiết, luận văn sẽ đưa ra tài liệu tham khảo cho chiến lược giảng dạy, học tập hiệu quả nhằm hỗ trợ người học tiếng Trung (đối với người Việt) và người học tiếng Việt (đối với người Trung Quốc) nắm vững hơn việc sử dụng và hiểu các quán ngữ tình thái, qua đó nâng cao năng lực giao tiếp liên văn hóa và giảm thiểu những lỗi sai do sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn gồm ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết: Tổng quan về khái niệm tình thái, quán ngữ và quán ngữ tình thái, làm rõ đối tượng nghiên cứu của luận văn trong tiếng Việt và tiếng Trung

Chương 2: Đối chiếu đặc điểm hình thức của quán ngữ tình thái trong tiếng Việt và tiếng Trung: Tiến hành so sánh khảo sát và phân loại quán ngữ tình thái trong tiếng Việt và tiếng Trung thông qua việc đối chiếu cấu trúc hình thức, thành tố cấu tạo

Chương 3: Đối chiếu ngữ nghĩa và chức năng của quán ngữ tình thái trong tiếng Việt và tiếng Trung: Từ phương diện ngữ nghĩa và chức năng tiến hành phân tích quán ngữ tình thái trong tiếng Việt và tiếng Trung

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái niệm quán ngữ

1.1.1 Khái niệm quán ngữ trong tiếng Việt

Trong nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam, quán ngữ đã được xác định rõ là một bộ phận của từ vựng học Theo lý luận của Nguyễn

Trang 8

Thiện Giáp (2016) từ vựng học tiếng Việt bao gồm “từ”/ “ngữ” và

“cụm từ cố định’, các cụm từ cố định được phân loại như: ngữ định danh, thành ngữ, ngữ láy âm và quán ngữ [Nguyễn Thiện Giáp, Võ Thị Minh Hà, 2016: 10 – 17]

Quán ngữ “Từ điển tiếng Việt” do Viện Ngôn ngữ học biên

soạn định nghĩa là “cụm từ cố định được sử dụng lâu ngày thành thói

quen, có nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của các thành tố cấu thành”

[Hoàng Phê, 2003: 829] “Từ điển tiếng Việt” do Trung tâm Ngôn ngữ

và Văn hóa thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn định nghĩa là

“hình thức biểu đạt gồm các cụm từ cố định, có nghĩa có thể suy ra từ các thành phần cấu tạo” [Nguyễn Như Ý, 1998: 264] Cả hai định

nghĩa đều nhấn mạnh rằng quán ngữ là đơn vị biểu đạt cố định, có thể nhận diện và có tính thông dụng về mặt hình thức và ý nghĩa

Qua khảo sát những quan điểm của các học già chúng tôi quan niệm: “quán ngữ” là: một đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc tương đối cố định, nghĩa có thể suy ra được, có tần suất sử dụng cao trong văn bản,

và chức năng chính là tạo kết nối diễn ngôn, dẫn dắt ngữ khí, chuyển ý hoặc thể hiện thái độ, cảm xúc và ý đồ giao tiếp của người nói

1.1.2 Khái niệm quán ngữ trong tiếng Trung

Trong tiếng Trung có một khái niệm là 惯用语(quán ngữ), bất

cứ là thuật ngữ tên gọi hoặc là định nghĩa đều rất đúng quán ngữ tiếng Việt Theo lý thuyết của Ge Beny và Zhou Jian chỉ ra rằng tiếng Trung

có một đơn vị được gọi là quán ngữ (惯用语) Đơn vị này thuộc phạm

vi cụm từ cố định, có hình thức cấu trúc ổn định và ý nghĩa hoàn chỉnh Những đơn vị cụ thể như: 敲竹杠(xao trúc cang-lừa đảo), 拖后腿

(tha hậu thối-vướng chân/cản đường), 背黑锅(bối hắc gánh tội thay), 保护伞(bảo hộ tán-ô che chở),v.v Xét về mặt nghĩa, quán ngữ trong tiếng Trung thường mang tính ẩn dụ, khái quát, giàu sức biểu đạt và đậm tính hình tượng Do đó, những đơn vị này tên gọi là quán ngữ (惯用语) trong tiếng Trung như vậy thì lại tương đương với thành ngữ trong tiếng Việt, chứ không phải là đơn vị “quán ngữ” mà luận văn này đang nghiên cứu

oa-1.2 Khái niệm tình thái

1.2.1 Khái niệm tình thái trong tiếng Việt

Tình thái đã nhận được sự chú ý trong lý thuyết ngôn ngữ học thế kỷ 20 và được nghiên cứu một cách hệ thống trong tiếng Anh Giới

Trang 9

học thuật Việt Nam có chung quan điểm coi “tình thái” là một phạm trù ngữ nghĩa tổng hợp, dùng để biểu đạt lập trường chủ quan của người nói, là một phần quan trọng trong hệ thống cú pháp, từ loại và cấu trúc ngữ dụng của tiếng Việt Các nghiên cứu liên quan như Hoàng Tuệ (1988) đã nhận xét: “Tình thái là khái niệm được xác định qua việc phân tích thái độ của người nói trong hành vi ngôn ngữ, bản chất thuộc phạm trù hiệu quả ngữ dụng, nhằm tác động đến sự hiểu và phản ứng của người nghe” [Hoàng Tuệ, 1988: 74] Nguyễn Văn Hiệp (2008) cho rằng tình thái là một tất yếu trong quá trình phát triển của ngôn ngữ học, nếu không quan tâm đến các bình diện của tình thái thì không thể hiểu được bản chất của ngôn ngữ, với tư cách là công cụ con người dùng để phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức và tương tác xã hội [Nguyễn Văn Hiệp, 2008: 74]

1.2.2 Khái niệm tình thái trong tiếng Trung

Tình thái trong tiếng Trung, đã được những học giả đưa lý thuyết tình thái từ các quốc gia phương Tây vào nghiên cứu tiếng Trung Nhờ đó thúc đẩy sự phát triển sâu sắc của nghiên cứu tình thái tiếng Trung trên cả phương diện lý thuyết và ứng dụng Trong suốt thời gian qua, tình thái đã dần trở thành vấn đề nghiên cứu nổi bật của tiếng Trung, với góc nhìn nghiên cứu ngày càng mở rộng và đối tượng nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu trở nên đa dạng hơn

Liên quan đến việc xây dựng lý thuyết về hệ thống tình thái, Shui Changxi (2018) cho rằng khi chúng ta nhận thức về tình thái nên thuộc phạm trù tình thái rộng Tình thái hẹp: thường chỉ nghĩa được biểu đạt qua động từ tình thái và một số trạng từ tình thái trong

vị trí vị ngữ, chú trọng vào việc hiện thực hóa trên cấp độ cú pháp Tình thái rộng: bao gồm tất cả các phương tiện ngôn ngữ có thể thể hiện thái độ của người nói: phạm trù ngữ nghĩa, phạm trù chức năng, phạm trù ngữ dụng

Luận văn dựa trên nghiên cứu của Shui Changxi có thể biết được khái niệm của tình thái là thái độ chủ quan của người nói đối với giá trị chân lý của một mệnh đề hoặc tính hiện thực của sự kiện [Shui Changxi, 2018: 278]

1.2.3 Các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt

và tiếng Trung

Tuy có cùng loại hình đơn lập nhưng tiếng Việt và tiếng Trung thuộc các ngữ hệ khác nhau nên có một số cách biểu đạt ngôn ngữ khác nhau Bên cạnh đó, mặc dù đều có cách biểu thị tình thái nhưng

Trang 10

giới ngôn ngữ học ở hai nước này lại xếp chúng trong những tiểu loại khác nhau Luận văn này sẽ lựa chọn quan điểm của Đoàn Thị Thu Hà

và Shui Changxi đối chiếu các phương thức biểu thị tình thái giữa tiếng Việt và tiếng Trung

Đoàn Thị Thu Hà có đưa ra ba phương diện biểu hiện tình thái của tiếng Việt: phương tiện ngôn điệu, phương tiện ngữ pháp, phương tiện từ vựng Shui Changxi cũng đưa ra phương tiện biểu thị tình thái của tiếng Trung là ba phương tiện: ngữ pháp, từ vựng, bài văn Qua đối chiếu hệ thống biểu đạt tình thái của tiếng Việt và tiếng Trung đều bao gồm, phương tiện ngữ pháp và phương tiện từ vựng, còn phương tiện ngữ âm (ngữ điệu) đều có nhắc đến nhưng chỉ là một tiểu loại trong phương tiện ngữ pháp Tiếng Trung có “phương tiện bài văn”, như đánh dấu chủ đề cấu trúc khung của câu, ngữ chèn trong bài văn nhằm thể hiện mối liên hệ chặt chẽ giữa biểu đạt tình thái và ngữ cảnh dụng học Trong khi đó, phương pháp phân loại của tiếng Việt mang tính khái quát và có trật tự hơn

Tiếp theo, mặc dù cả hai ngôn ngữ đều có sự phân chia hệ thống ở “phương tiện ngữ pháp” và “phương tiện từ vựng”, nhưng hình thức cụ thể lại có sự khác biệt đáng kể Tiếng Trung có cú pháp linh hoạt cao, ý nghĩa tình thái thường được thể hiện qua các cách như lặp lại từ thực thể hiện chức năng biểu đạt mạnh mẽ và xu hướng đánh giá rõ rệt Ngược lại, tiếng Việt có cấu trúc cú pháp ổn định hơn, trật

tự từ tương đối cố định, ý nghĩa tình thái chủ yếu được thể hiện thông qua sự biến hóa thì – vị của động từ, trợ từ tình thái và các cấu trúc cố định, thể hiện sự ngắn gọn và trực tiếp hơn

Từ tất cả những điều đã trinh bày ở trên, trong luận văn này,

chúng tôi quan niệm: Tình thái là một phạm trù ngôn ngữ học phức

hợp, có vai trò quan trọng trong việc thể hiện thái độ, lập trường chủ quan của người nói đối với nội dung mệnh đề, người nghe và bối cảnh giao tiếp

1.3 Khái niệm quán ngữ tình thái

Luận văn này sẽ tập trung vào việc khảo sát quán ngữ tình thái trong tiếng Việt và tiếng Trung, nhằm làm rõ hiện tượng ngôn ngữ này

1.3.1 Khái niệm quán ngữ tình thái trong tiếng Việt

Nguyễn Thị Thìn (2000) phân loại quán ngữ theo chức năng thành bốn loại: nhóm chức năng ngữ nghĩa, nhóm chức năng dụng học, nhóm chức năng liên kết văn bản và nhóm đa chức năng Trong đó, quán ngữ trong chức năng dụng học còn gọi là quán ngữ tình thái

Trang 11

Đoàn Thị Thu Hà lấy ra khái niệm rõ ràng của quán ngữ tình thái Bà chỉ ra rằng nội hàm của quán ngữ tình thái chính là những “khái niệm đặc biệt”, và đối tượng cụ thể của quán ngữ tình thái là những quán ngữ đã được mã hóa và dùng để biểu đạt nghĩa có hình thức chính thức hoặc tham gia vào việc xây dựng khung cấu trúc câu Qua những nghiên cứu và phân tích ở trên có thể rút ra được khái niệm quán ngữ tình thái trong tiếng Việt là những cụm từ và cách diễn đạt đã hình thành đơn vị cấu trúc cố định, thường được sử dụng để biểu đạt ý nghĩa tình thái và có tác động nhất định đến nội dung câu

1.3.2 Tiêu chí nhận diện của quán ngữ tình thái tiếng Việt

Dựa trên tổng hợp quan điểm của các học giả Việt Nam như Đoàn Thị Thu Hà, tiểu mục này sẽ trình bày các tiêu chí nhận diện quán ngữ tình thái tiếng Việt, từ đó làm nền tảng lý luận cho việc phân loại và đối chiếu sau này

Đoàn Thị Thu Hà chỉ ra quán ngữ tình thái là tổ hợp từ, những lời nói đã tạo thành những đơn vị, khối hay khuôn cấu trúc tương đối

ổn định được người nói dùng như một công cụ, có tính ổn định và quen dùng Dựa trên tiêu chí nhận diện này Đoàn Thị Thu Hà đã xây dựng một danh sách quán ngữ tình thái tiếng Việt có 273 từ , luận văn này sẽ dựa trên tiêu chí nhận diện và danh sách quán ngữ tình của Đoàn Thị Thu Hà tiếp tục phân tích và nhận diện quán ngữ tình thái tiếng Trung, và thực hiện so sánh liên ngôn ngữ nhằm hiểu rõ hơn về quán ngữ tình thái trong hai ngôn ngữ

1.3.3 Đặc điểm của quán ngữ tình thái tiếng Việt

Sau khi đã xác định được tiêu chí nhận diện quán ngữ tình thái tiếng Việt, việc tiếp tục phân tích các đặc điểm cụ thể của chúng sẽ góp phần làm sâu sắc thêm hiểu biết về đơn vị ngôn ngữ này trên các bình diện cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Cao Xuân Hạo trong tác phẩm “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng”, từ bình diện đề thuyết nêu ra các đặc điểm về quán ngữ tình thái rất chi tiết

Dưới góc nhìn tổng hợp từ các học giả như Cao Xuân Hạo và Trần Thị Yến Nga, chúng ta có thể nắm bắt một cách có hệ thống các đặc trưng cốt lõi của quán ngữ tình thái tiếng Việt về tính ổn định cấu trúc, tính chủ quan ngữ nghĩa cũng như chức năng dụng học Điều này không chỉ góp phần hoàn thiện hệ thống tiêu chí nhận diện loại biểu thức này, mà còn cung cấp cơ sở lý luận cho việc phân tích đặc điểm của quán ngữ tình thái tiếng Trung trong các phần sau Chương tiếp theo sẽ dựa trên nền tảng này để tiếp tục khảo sát hình thức biểu đạt

Trang 12

quán ngữ tình thái trong tiếng Trung

Từ tất cả những điều đã trinh bày ở trên, trong luận văn này, chúng tôi quan niệm quán ngữ tình thai là: những cụm từ hoặc tổ hợp ngôn ngữ có cấu trúc tương đối ổn định, được sử dụng phổ biến trong lời nói tiếng Việt nhằm biểu đạt thái độ, cảm xúc chủ quan hoặc lập trường đánh giá của người nói đối với nội dung được phát ngôn

1.4 Ngữ liệu nghiên cứu và quy trình xử lý

1.4.1 Tiêu chí lựa chọn và xử lý ngữ liệu tiếng Trung

Trong tiếng Việt, “quán ngữ tình thái” vẫn chưa được xác lập như một đơn vị ngôn ngữ độc lập có định nghĩa hệ thống Dù vậy, thông qua việc đối chiếu ngữ liệu theo chiều ngang có thể thấy rằng, trong tiếng Trung cũng tồn tại số lượng lớn các hình thức biểu đạt khác biệt về cấu trúc nhưng có chức năng dụng học tương ứng rất cao Luận văn này, trên cơ sở hiểu biết về hệ thống quán ngữ tình thái trong tiếng Việt, kết hợp với những thành tựu nghiên cứu hiện có của tiếng Trung trong các phương diện như phó từ tình thái, động từ tình thái, trợ từ ngữ khí, mẫu câu tình thái và biểu đạt cố định, đã xây dựng một

hệ tiêu chí nhằm lựa chọn và phân loại ngữ liệu tiếng Trung Hệ thống này vừa kế thừa cơ sở lý luận từ các nghiên cứu ngữ pháp và dụng học hiện có, vừa xem trọng tính tình thái, tính ổn định và đặc điểm tần suất dụng học cao (được quen dùng) của các đơn vị biểu đạt, nhằm phục vụ cho việc sàng lọc, phân loại và đối chiếu ngữ liệu trong nghiên cứu so sánh Việt – Trung

1) Nguyên tắc chung trong lựa chọn ngữ liệu

Mặc dù tiếng Trung không sử dụng trực tiếp thuật ngữ “quán ngữ tình thái”, nhưng xét từ góc độ chức năng, nhiều đơn vị biểu đạt trong giao tiếp đã thể hiện vai trò tương tự như quán ngữ tình thái trong tiếng Việt Trên cơ sở đó, nghiên cứu này áp dụng phương pháp

“lấy chức năng làm trung tâm đối ứng” trong việc lựa chọn ngữ liệu, tức là từ các đơn vị ngôn ngữ có chức năng biểu đạt tình thái chủ quan (thái độ, cảm xúc, phán đoán, ý chí, khuynh hướng…), tiến hành quy nạp ra các kiểu biểu đạt có thể đối ứng với “quán ngữ tình thái” tiếng Việt và thực hiện phân loại theo nhóm hình thái – chức năng

2) Các loại ngữ liệu chính và tiêu chí phân loại

Luận văn này tham khảo tiêu chí nhận diện và đặc điểm về quán ngữ tình thái trong tiếng Việt của Cao Xuân Hạo và Đoàn Thị Thu Hà, bước đầu thiết lập năm loại hình biểu đạt chính trong tiếng Trung có chức năng tương ứng làm ngữ liệu nghiên cứu 5 nhóm: Phó

Trang 13

từ tình thái/ Phó từ ngữ khí tình thái; Động từ tình thái; Mẫu câu tình thái; Biểu đạt cố định (chunk)

3) Tiêu chí phân loại và phương pháp xử lý

Trên cơ sở năm loại biểu đạt nêu trên, nghiên cứu này xác lập các nguyên tắc sàng lọc và phân loại ngữ liệu như sau: (1) Định hướng chức năng; (2) Hình thức tương đối ổn định; (3) Tính linh hoạt

cú pháp; (4) Tham khảo nghiên cứu trước Dựa vào các nghiên cứu trước đây về phó từ tình thái (phó từ ngữ khí tình thái), động từ tình thái, trợ từ ngữ khí, mẫu câu tình thái và biểu đạt cố định, luận văn xây dựng một hệ tiêu chí chọn lọc và phân loại ngữ liệu

1.4.2 Tổng quan ngữ liệu quán ngữ tình thái tiếng Trung

Để xây dựng một danh sách “quán ngữ tình thái trong tiếng Trung”, luận văn dựa trên các khái niệm, tiêu chí nhận diện, đặc điểm cốt lõi đã nêu ở phần trước, tiến hành trích xuất các biểu đạt có chức năng tình thái điển hình từ nhiều nguồn ngữ liệu học thuật uy tín, qua

đó bước đầu thiết lập một hệ thống ngữ liệu có độ phủ rộng và chức năng rõ ràng Tổng hợp từ các nguồn và phương diện trên, sau khi loại trùng, thu được 1163 đơn vị ngữ liệu đã có học giả xác minh có chức năng tình thái Để đảm bảo các đơn vị được trích xuất phù hợp với định nghĩa "quán ngữ tình thái", luận văn sẽ tiếp tục sử dụng đặc điểm

và tiêu chí nhận diện do Cao Xuân Hạo và Đoàn Thị Thu Hà đề xuất làm cơ sở lý thuyết tham chiếu, kết hợp với ngữ cảnh sử dụng trong tiếng Trung để tiến hành đối chiếu ngữ nghĩa và phân loại cấu trúc một cách nghiêm ngặt Kết quả nhận diện và sàng lọc “quán ngữ tình thái tiếng Trung” trong có 293 từ

Tiếp theo luận văn tiến hành rà soát, phân loại và loại trừ các ngữ liệu trùng lặp, qua đó bước đầu xác định được tổng cộng 280 đơn vị quán ngữ tình thái tiếng Trung

1.5 Tiểu kết

Chương này đã trình bày về ba khái niệm trong tiếng Việt và tiếng Trung: “quán ngữ”, “tình thái” và “quán ngữ tình thái” Qua phân tích chúng tôi nhận thấy rằng tuy cả tiếng Việt và tiếng Trung đều có hiện tượng và thuật ngữ “quán ngữ” nhưng các biểu hiện và đặc trưng từ vựng học của chúng không hoàn toàn tương ứng Trong khi tiếng Việt có hệ thống phân loại quán ngữ rõ ràng với các chức năng khác nhau, thì trong tiếng Trung những đơn vị ngôn ngữ thuộc về phạm trù “quán ngữ ” tương ứng với tiếng Việt là thành ngữ Các biểu thức tương đương với quán ngữ tình thái tiếng Việt thường được thể

Ngày đăng: 08/09/2025, 14:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w