Do đó, nghiên cứu về bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểmsoát nguồn lực không chỉ có ý nghĩa lý luận quan trọng mà còn có tính thựctiễn sâu sắc, góp phần đánh giá thực
Trang 1BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NOL
VŨ HOÀNG ĐẠT
460809
KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP
BÌNH ĐĂNG GIỚI GIỮA VQ VA CHONG TRONG TIẾP CAN VÀ KIEM SOÁT NGUON LỰC - VAN DE
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN
Hà Nội — 2025
Trang 2BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
VŨ HOÀNG ĐẠT
460809
KHOÁ LUẬN TÓT NGHIỆP
BÌNH ĐĂNG GIỚI GIỮA VO VÀ CHONG TRONG TIẾP CAN VÀ KIEM SOÁT NGUON LUC - VAN DE
LY LUAN VA THUC TIEN
Ngành: Luật
Bộ môn: Luật Hôn nhân và gia đình
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS BÙI THỊ MỪNG
Hà Nội — 2025
Trang 3LOI CAM DOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận, sô liệu trong khoá luận tốt
nghiệp là trung thực, dam bao độ tin cdy./.
Xác nhận của Tác giả khoá luận tốt nghiệp
giảng viên hướng dẫn (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4DANH MUC TU NGU VIET TAT
Công ước quốc tế về Xóa bỏ mọi hìnhthức phân biệt với phụ nữ
Văn bản quy phạm pháp luật
Luật Hôn nhân và g1a đìnhGiấy chứng nhận quyền sử dụng đấtGiấy chứng nhận quyền sở hữuGiấy chứng nhận quyền sử dụngBình đẳng giới
Trang 5MỤC LỤC
Bid cr ccmnavmsncun neuen: enna ES Error! Bookmark not defined.
ELAR CHIM DOAN hoeneinnnnennatatontteniantigiaitgtuitttiottiiastiBt0EA056đã1400019009050000114908150/10/08015080.1000080 ii
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận, số liệu trong khoá
luận tot nghiệp là trung thực, đẫm bảo dO CN CẬJ./S ch HH HC Hà HA ng ngà nu nen nrà ii
DANH MUC TUNG VIET TẤT uy ng nan ghi HỆ GIÀN GIEQGIGIBAQTHAAQEGSHISDG50388S09Nkasrttengi iii
MIC TYÊusngenhinraoaniindsreratoieEBSiHBSSTDS.0980403ISSESKGTAGSASSSSIS4G1608100031400004001830461050016090040/8095001344H900 iy
DEO ĐT essence tn LSS SRST BEC UAE 1
1 Tỉnh cấp thiết của việc nghiên cứu dé titi cecceccsesssessvessessssessecssessssssssssecsnessssssuessvesssssssessssssesses 1
2 Tổng quan tinh hình nghiên cứu dé tài cc<cccecceecktktEriitkitkikkikrirrerkesrkee Py
2.1 Công trình nghiên cứu ở Việt Nam wu esesssctssssssssenesereesesasessessessesssssesesneeensesassanee 2 212; Công trình nghiên cứu ở nước ngoài 5<<s<5=<2<sesk.2EEE15455454 040040 m56 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của đỀ tài «ok cen ch HH HH nà ru ớc 5
4 — Di tiwong (171 16L na T 5
5S Phicong phúp nghién CỨU ce St HH HH HH HH HH0 140114106 6
š THưfibiTfiifnwtiitttil HeeeeesessessieneseedinddtehingshtoskibshtoroikghtsittgliobsstuStpoitesiphioaieg 74
7 Kết cầu của khóa luận tốt nghiệp -ecccccecceeerrerrrrierrrrtrrierrierrrerrerrrerreerrrseee 7
HH GT cáya ng bia usspesaslllisoegtayotidltieoisisgtiis8tSEs0s32S800619104446032u3Ext4503806324001830.5160613G1151860800 8
MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VA PHAP LUAT VE BÌNH DANG GIỚI GIỮA VỢ VÀ
CHONG TRONG TIẾP CAN VA KIEM SOAT NGUON LỤỰC «.<e-c.xeekeeeeseerce 8
LI Lý luận co bản về bình ding giới giữa vợ và chong trong tiếp cận và kiểm soát nguon
lực 8
1.1.1 Khai niệm bình đẳng giới
1.1.2 Khái niệm tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
1.13 Ý nghĩa của việc quy định về bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và
1.2 Nội dung quy định của pháp Iuật Việt Nam về bình đẳng giới giữa vợ và chẳng trong tiếp cận và kiỄM soát gud ÏỊfC -cc«ccccke SH H111 1H11 1111k, 21 1.2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp NẴN TTHHDI,ÏEE eae eee ent ene ee ern ree ene eee ee eee 21 1.2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới giữa vợ va chồng trong kiểm
Trang 62.1.1 Kết quả đạt được từ thực tiễn thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm Sodt we WOM HC sacoscoigthög ng g6 g4 1d ig iÀ13ãgHÍ11ö5x1G thệtGi414gg8aããXE4434648144844133346445314868ấ 32 2.1.2 Tồn tại, vướng mắc từ thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và
Kiểnmi:Suất: WOUON TC sen dua á26ã615114á68ã1633434180138594886096ã55863i4káu582545584684643484X3481634483458 37
2.1.3 Nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc từ thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực -.« «-s<©SstS2SCs4eEA.EA295234234014832s4 41 2.2 Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và Kida SOGE MUON 5/5000 n8 6n 6n nh n6 ẽ4dTHAH 45
2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và
Eiệmi i Ab aap TR sec nsnssedDngtDttiiAtiannDL0080000n31403388t1038tggSHCĐitHjARhSotBQG 3000.t38gk80.cga-ng 45 2.2.2 Kiến nghị tổ chức thực hiện pháp luật về bình dang giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiếm soát ñpuÖn: HC ::scasisccss26g in Gà gàng da 1a dã Höb3¡498418544a420440348144468ã40ã: 47 2272/7822 272/2/227277.G52 000/00 Na, 41111 11 55 KET ILUAN CHUNG vác dc 44x41 s6004518 314,110 1G128Ả-4/18.16 0.11-10121ả168 56 [)h/;8(0/00-18772/080:071/01/70/000NNn n 59 BIEN BẢN DANH GIA
Trang 7MO DAU
1 Tinh cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bình dang giới là một trong những van dé quan trọng không chỉ tronglĩnh vực quyền con người mà còn là yếu tố thiết yếu dé phát triển bền vững củamỗi quốc gia Trong đó, bình dang giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiêmsoát nguồn lực là một nội dung cốt lõi, ảnh hưởng trực tiếp đến quyên lợi kinh
tế, tài sản và cơ hội phát triển của mỗi cá nhân trong gia đình Hiện nay, mặc
đù Việt Nam đã có hệ thống pháp luật tương đối day đủ về bình đẳng giới, đặcbiệt là Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nhưng trênthực tế, vợ và chồng vẫn chưa thực sự có quyền ngang nhau trong sở hữu, quản
lý và định đoạt tài sản chung, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn, vùng sâu,vùng xa, nơi tư tưởng gia trưởng, phân biệt giới vẫn còn tồn tại
Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng nảy xuất phát từ
nhận thức xã hội, rào cản văn hóa và sự thiếu hiệu quả trong thực thi pháp luật
Nhiều phụ nữ vẫn chưa thực sự được tiếp cận các nguồn lực tài chính, đất đai,
tin dụng hoặc quyền thừa kế ngang bằng với nam giới Trong thực té, tình trạngtài sản gia đình thường đứng tên người chồng, phụ nữ bị hạn chế quyền tiếpcận nguồn vốn, đất đai hoặc không có tiếng nói trong các quyết định tài chínhquan trong vẫn còn phố biến Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi cánhân của người vợ ma còn gây ra những hệ lụy kinh tế, xã hội rộng lớn hơn,làm gia tăng tình trạng phụ thuộc kinh tế, bất bình đẳng giới trong gia đình,thậm chí dẫn đến bạo lực gia đình và giảm mức độ ôn định của hôn nhân
Mặt khác, việc đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận và kiểm soát nguồnlực không chỉ có ý nghĩa đối với từng gia đình mà còn có vai trò quan trọngtrong phát triển kinh tế - xã hội Khi phụ nữ có quyền kiểm soát tài sản ngang
bằng với nam gidi, họ có thể chủ động hon trong kinh doanh, đầu tư, phát triển
sản xuất, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống gia đình vàđóng góp tích cực vào nên kinh tê quôc gia Nhiêu nghiên cứu đã chỉ ra rắng,
Trang 8khi phụ nữ có quyền kiểm soát tài chính và tài sản, họ có xu hướng đầu tư nhiềuhơn vào giáo đục, y té và nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình, qua đó tạo
ra sự phát triển bền vững và công bằng hơn cho xã hội
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc Việt Nam tham gia cáccông ước quốc tế về quyền phụ nữ như Công ước CEDAW (Công ước về xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ), càng đặt ra yêu cầu cấp thiết vềviệc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách bình đắnggiới, đặc biệt trong lĩnh vực tài sản, đất đai, quyền thừa kế và tài chính gia đình
Do đó, nghiên cứu về bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểmsoát nguồn lực không chỉ có ý nghĩa lý luận quan trọng mà còn có tính thựctiễn sâu sắc, góp phần đánh giá thực trạng, xác định những hạn chế và đề xuấtcác giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật nhằm bao vệ quyền lợi của cả vợ
và chồng trong gia đình
Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Bình đẳng giới giữa vợ và chẳngtrong tiếp cận và kiểm soát nguôn lực — by luận và thực tiễn” có tính cấp thiếtcao, không chỉ giúp hệ thống hóa các cơ sở lý luận và pháp luật liên quan macòn góp phan đề xuất những kiến nghị cụ thé nhằm nâng cao hiệu quả thực hiệnbình dang giới trong gia đình, hướng đến một xã hội công bang và phát triểnbền vững
2 Tông quan tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Công trình nghiên cứu ở Việt Nam
- PSG.TS Ngô Thi Hường, “Pháp luật bình dang giới và thực tiễn thihành tại Việt Nam”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường/ Trường Đạihọc Luật Hà Nội Đề tài nghiên cứu tập trung vào phân tích quy định,thực trạng của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực bình đăng giới, trong
đó ghi nhận van dé bình dang giới trong gia đình dé từ đó đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật.
- _ Ngô Thị Hường, “Binh đẳng giới trong gia đình”, Tạp chí luật học số 5(2012) Bai viết tập trung phân tích vai trò của gia đình trong nhận thức
Trang 9và thực hiện bình đắng giới, ý nghĩa của bình đăng giới trong gia đình.Bài viết ghi nhận quan điểm, đánh giá về vai trò, nhiệm vụ của bình đănggiới trong hoạt động tiếp cận và kiểm soát nguồn lực trong gia đình.Trường Đại học Luật Hà Nội, “Van dé giới trong dao tạo Luật tai TrườngĐại học Luật Hà Nội”, Ky yêu hội thảo khoa học cấp trường, Hà Nộinăm 2007 Kỷ yêu đã có nhiều bài viết tiếp cận van đề bình đắng giới ởmức độ chuyên sâu như: các nguyên tắc bình đẳng giới, vận dụng quyđịnh của Luật Bình đắng giới để giảng dạy một số môn học.
Nguyễn Hữu Minh; Trần Thị Hồng, “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyênquyết định của vợ và chẳng đối với các công việc quan trọng của giađình: Những phát hiện mới từ Diéu tra gia đình 2017”, Viện Nghiên cứuGia đình và Giới (2019) Bài viết vận đụng các cách tiếp cận hiện đạihóa, phân bé nguồn lực tương đối và văn hóa và phương pháp phân tích
đa biến bài viết kiếm chứng anh hưởng của các yếu tố kinh tế-xã hội, vănhóa đến quyền quyết định của người vợ và người chồng đối với các côngviệc quan trọng của gia đình dựa trên số liệu khảo sát 2007 đại điện hộgia đình 10 xã/phường thuộc 7 tinh/thanh phố đại điện cho các vùng kinhtế- xã hội năm 2017 của Đề tài cấp Bộ “Xu hướng biến đôi của đặc điểmgia đình Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” thuộc Chương trình
“Nghiên cứu, đánh giá tông thể về gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước và hội nhập quốc té"
UN WOMEN, “Báo cáo tóm tắt Tong quan về bình dang giới ở Việt Namnăm 2021” Đây là Báo của nghiên cứu của UN WOMEN - cơ quan LiênHợp quốc hoạt động về bình đăng giới và trao quyền cho phụ nữ Nghiêncứu chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu, đánh giá tình hình bình danggiới với một số lĩnh vực quan trọng như kinh tế, chính trị, môi trường,
xã hội, gia đình, cùng với đó đưa ra những thống kê, số liệu cụ thénhằm đánh giá tiến độ thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam cũng như từtình hình thực tế để nhìn nhận những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thi
Trang 10hành pháp luật cũng như thiếu xót trong khung pháp lý để từ đó đưa ranhững kiến nghị hoàn thiện, bố sung Kết quả nghiên cứu là cở sở đểcung cấp thông tin cho cơ quan, cán bộ tư pháp dé đảm bảo thực thi phápluật hiệu quả hơn nhằm đảm bảo quyền bình đẳng trong tiếp cận và kiểmsoát những nguồn lực trong gia đình.
UNDP, “Tiép cận đất dai của phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện nay”.
Bài nghiên cứu của UNDP — Chương trình Phát triển của Liên Hợp quốc
— nhằm giúp đỡ nỗ lực của các quốc gia nhằm đạt được mục tiêu pháttriển con người bền vững, bằng cách hỗ trợ các quốc gia xây dựng nănglực trong việc thiết kế và thực hiện các chương trình phát triển nhằm xoá
bỏ đói nghèo, tạo công ăn việc làm và tìm phương cách mưu cầu sự sốngbền vững, nâng cao dia vị của phụ nữ, bảo vệ và tai tạo môi trường, ưutiên hàng đầu cho xoá đói giảm nghèo Nội dung chủ yếu của Báo cáotìm hiểu về vấn đề liên quan đến thực trạng về quyền sở hữu, quyền sửdụng đất đai cũng như khả năng định đoạt và tiếp cận thông tin về đấtđai của phụ nữ.
2.2 Công trình nghiên cứu ở nước ngoài
M Milcah Paul và P Radha Rani, “Gender Differences in Access to and Control Over Resources”, tap chi IMPACT: International Journal of Research in Applied, Natural and Social Sciences, Volume 5, Issue 8, August 2017, p71-74 Nghiên cứu này xem xét sự khác biệt giới tinh
trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực như thu nhập, thực phẩm,
quân áo, thiết bị gia đình và tài nguyên động vật tại các hộ gia đình nôngthôn ở Ấn Độ
Sarah L Gammage, Nata D Menon, va Vivian L Kenworthy, “Husban ds' and Wives' Reports of Women's Decision-Making Power in Western
Guatemala’, tạp chi Social Science & Medicine, Volume 62, Issue 9,
May 2005, p2313-2326 Bài viết đánh giá báo cáo của cả chồng và vợ vềquyền ra quyết định của phụ nữ trong gia đình tại miền Tây Guatemala,
Trang 11tập trung vào bốn lĩnh vực chính: mua sắm vật dụng gia đình, chăm sócsức khỏe trẻ em, thăm gia đình hoặc bạn bè, và quản lý tiền bạc.
- Luigi Guiso, Luana Zaccaria, “4 Study on Access to and Control Over Resources; Gender Perspective”, tap chi Journal of DevelopmentEconomics, Volume 147, Issue 3, March 2023, p573-595 Bai viét nay
đặt câu hỏi liệu việc tuân thủ các chuẩn mực giới truyền thống có ảnh
hưởng đến phúc lợi hộ gia đình, đặc biệt khi phụ nữ bị loại trừ khỏi việckiểm soát các nguồn lực quan trọng
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơbản và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bình đẳng giới và thựctiễn thi hành pháp luật trong hoạt động tiếp cận và kiểm soát nguồn lực quantrọng trong gia đình giữa vợ và chồng Từ đó đánh giá các quy định của phápluật Việt Nam hiện nay trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hai bên vợ vàchồng trong việc sử dụng và định đoạt các nguồn lực và đề xuất các giải phápnâng cao hiệu quả việc đảm bảo quyền bình đăng giữa các bên
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Phân tích cơ sở lý luận về bình đẳng giới trong tiếp cận và kiểm soátnguồn lực
+ Phân tích và chỉ rõ những điểm bat cập trong quy định của pháp luậthiện hành về bình dang giới trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
+ Phân tích, đánh giá khách quan về thực trạng và thực tiễn van đề bìnhđăng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực về kết quảđạt được, tồn tại, hạn chế và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó
+ Xây dựng các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả nội dung bình dang
giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- _ Đối tượng nghiên cứu
Trang 12Đối tượng nghiên cứu của đề tài là van đề lý luận về bình đẳng giới giữa
vợ và chồng trong tiếp cận va kiểm soát các nguồn lực trong gia đình; quy địnhcủa pháp luật Việt Nam hiện hành về tiếp cận và kiêm soát các nguồn lực tronggia đình và thực tiễn thực hiện thông qua các số liệu và các vụ việc thực tế
- Pham vi nghiên cứu
+ Về không gian: Đề tài tiễn hành nghiên cứu van đề bình dang giới giữa
vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực giữa vợ và chồng tại Việt
Nam
+ Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực tiễn thực hiện bình đẳng giữa vợ
và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực kê từ khi Luật Bình đẳng giớinăm 2006 có hiệu lực cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu:
Dé tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu dựa trên co sở lýluận triết hoe Mác — Lénin, tư tưởng Hồ Chi Minh và chủ trương, đường lỗicủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng như các VBQPPL có liênquan nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã xác định Trong đó tậptrung vào các phương pháp sau đây:
+ Phương pháp hệ thống hóa: Thu nhập, xử lý thông tin, tài liệu từ cáccông trình nghiên cứu, giáo trình giảng dạy, bài báo liên quan, các VBQPPLcủa Nhà nước có liên quan đến nội dung về bình dang giới giữa vợ và chồngtrong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
+ Phương pháp phân tích, tống hợp: Phương pháp nay được thực hiệntrong báo cáo thông qua việc tổng hợp các nguồn tư liệu, số liệu, kết quả đánhgiá, Phân tích để thấy được tình hình thực tiễn về công tác thực hiện phápluật về bình dang giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
+ Phương pháp thống kê: Thông qua số liệu thống kê có liên quan đếnthực trạng thẩm tra nội dung về bình đăng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận
và kiểm soát nguồn lực từ đó có những đánh giá khách quan và khoa học để
Trang 13phân tích thực trạng thi hành pháp luật về bình dang giới giữa vợ và chồngtrong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực và đề xuất giải pháp góp phần nâng caohiệu quả van đề bình dang giới trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực.
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- _Ý nghĩa lý luận
Những nghiên cứu, đánh giá từ đề tai góp phần hệ thống hóa và làm sáng
tỏ thêm cơ sở lý thuyết về nội dung bình dang giới giữa vợ và chồng trong tiếpcận và kiểm soát nguồn lực, góp phần bồ sung cơ sở lý luận cho các công trình
nghiên cứu liên quan và hướng tới thực hiện hiệu quả hoạt động thi hành pháp
luật trong lĩnh vực này.
- Ý nghĩa thực tiễn
+ Qua phân tích, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp trong việc bìnhđăng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực nhằm giúpcho pháp luật ngày càng hoàn thiện, hiệu quả cũng như góp phần vào việc nângcao nhận thức cho các cơ quan, tổ chức, chủ thé có thâm quyền và moi ngườidan trong xã hội, gia đình, qua đó hoàn thiện mục tiêu xóa bỏ bất bình đănggiới ở Việt Nam.
+ Đồng thời, kết quả nghiên cứu của dé tài có thé trở thành tài liệu tham
khảo trong quá trình nghiên cứu chuyên sâu và học tập tại Trường Đại học Luật
Hà Nội, các trường đại học và cơ sở đào tạo khác.
7 Kết cầu của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
đề tài được kết cau thành 2 mục như sau:
Chương 1: Một số van đề lý luận cơ bản và pháp luật về bình đẳng giớigiữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
Chương II: Thực tiễn thực hiện bình dang giới giữa vợ và chồng trong
tiép cận và kiêm soát nguôn lực và một sô kiên nghị.
Trang 14CHƯƠNG 1
MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VÀ PHÁP LUẬT VE BÌNH ĐĂNGGIỚI GIỮA VO VÀ CHONG TRONG TIẾP CAN VÀ KIEM SOÁT NGUÒN
LUC
1.1 Ly luận cơ ban về bình dang giới giữa vợ va chong trong tiếp cận va
kiểm soát nguồn lực
1.1.1 Khái niệm bình đẳng giới
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của loài người, từ chế độ chiếm hữu
nô lệ cho đến nay, luôn xuất hiện sự bất bình đẳng giữa cá nhân, nhóm xã hội
và giai cấp Giữa muôn ngàn hiện tượng bat bình đẳng đã nỗi lên ba hình thứcbất bình đẳng chủ yêu, căn bản nhất giữa “chủng tộc, giai cấp và giới” Nhưngthuật ngữ giới nên được hiểu như thé nào? Ở Việt Nam, khái niệm giới bắt đầuđược phô biến và ứng dụng từ đầu những năm 80 của thé kỷ này! Mặc du LuậtBình dang giới 2006 đã đưa ra khái niệm cụ thé về thuật ngữ “giới” nhưng do
sự thay đổi và phát triển liên tục của xã hội, những quan điểm, suy nghĩ, cáchgiải thích về thuật ngữ này lại có sự khác biệt nhất định qua từng thời kì khiếncho thuật ngữ “giới” chưa được hiểu một cách thống nhất
Thuật ngữ “giới” trong tiếng anh là “gender” bắt đầu được sử đụng trongcác tài liệu khoa học xã hội của một số nước công nghiệp tiên tiến cách đâychưa day 40 năm Năm 1972, khái niệm “giới” (Gender) mới được Ann Oakleylần đầu đưa vào xã hội học dé phân biệt với khái niệm “giới tính” (Sex) Trongcuốn sách “Sex, Gender and Society”, Ann Oakley cho rằng “giới tính” thé hiện
sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ còn “giới” được cho là van đề liênquan đến văn hóa, nó đề cập đến sự phân loại xã hội thành “nam tính” và “nữtính” Trong bai viết “A history of gender” của Joanne Meyerowitz có dé cậpdén viéc “gidi la mot yếu tổ cấu thành các quan hệ xã hội dựa trên sự khác biệt
1332
về nhận thức giữa giới tính (nam và nữ,
! ThS Trần Hồng Vân, Tìm hiểu xã hội học về giới, NXB Phụ nữ, TP.HCM tr.17.
? Ann Oakley (1972), “Sex, gender and society”, Maurice Temple Smith Ltd, London, p21-22.
3 https://www.jstor.org/stable/30223445, Joanne Meyerowitz, A History of “Gender”, P1346.
Trang 15Theo từ điển Tiếng Việt, “giới” được hiểu là: “Lớp người trong xã hộiphán theo một đặc điểm chung nào đó về nghề nghiệp, địa vị xã hội” Theođịnh nghĩa này, việc một hoặc nhiều cá nhân trong một hoàn cảnh xã hội nhấtđịnh, nếu như có những đặc điểm giống nhau hoặc ngang nhau về tài sản, thunhập, địa vi, trình độ học van, thì được coi là cùng một giới Theo quan điểm
xã hội học: “Khái niệm giới không chỉ dé cập đến nam và nữ mà cả mối quan
hệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách
nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho moi gidi Nhitng
quy định, mong doi xã hội này phù hop với đặc điểm văn hóa, chỉnh trị, kinh
tế, xã hội và tôn giáo; vì thé nó luôn bién đổi theo các giai đoạn lịch sử và có
khác biệt giữa các cộng dong, xã hộ” Như vậy, khi xem xét đến khái niệm
giới, xã hội vẫn xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của thuật ngữnày Sự khác biệt đó xuất phát từ hướng tiếp cận giới Giới có thể được nhìnnhận từ góc độ co bản là nam và nữ giống nhau về mặt nhân sinh nên cũng cónhững quyền, nghĩa vụ giống nhau, ngang nhau dẫn đến việc làm luật và ápdụng luật như nhau đối với cả hai giới Hoặc cũng có thể nhìn nhận giới đướigóc độ giai cấp, tầng lớp, vị trí của một nhóm người có cùng chung đặc điểm
về nghề nghiệp, địa vi,
Theo đó, khái niệm về giới có phạm vi rất rộng, liên quan đến mọi mặtcủa đời sống trong bối cảnh xã hội cụ thể Đây là một phạm trù phản ánh quanđiểm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ, được hình thành và địnhhình bởi xã hội Những đặc điểm này không chỉ ảnh hưởng đến cách thức xãhội nhìn nhận về trẻ em gái và trai, phụ nữ và nam giới, mà còn quy định cáctrách nhiệm, hành vi và kỳ vọng mà xã hội gan cho từng giới tính Trên cơ sởtiếp cận van đề giới từ nhiều góc độ, có thé thấy rang giới tính chỉ sự khác biệt
vê mặt sinh học giữa nam và nữ, được xác định bởi yêu tô gen thì giới được
4 Hoàng Phê (chú biên), Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Da Nẵng, 2006 ;
3 Xem Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hoang Bá Thịnh, Giáo trình Xã hội học về giới, NXB.
Đại học Quéc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008, tr41-42.
Trang 16hình thành thông qua quá trình giáo dục, học hỏi Trong khi các đặc điểm củagiới tính mang tính bất biến — gần như rất ít thay đôi — thì đặc điểm về giới lại
đa dạng tùy thuộc vào điều kiện địa lý, chính trị, kinh tế, xã hội, Như vậy,giới là “khái niệm chỉ giữa khác biệt giữa nam và nữ trong các mồi quan hệ xãhội, qua đó thể hiện vị trí, vai trò của họ trong xã hội.”
Từ khái niệm giới, có thể thấy rằng sự khác biệt về vai trò, vị trí của nam
và nữ trong xã hội không chỉ xuất phát từ yếu t6 sinh học mà còn chịu ảnhhưởng bởi các yếu tổ xã hội Chính vi vậy, khái niệm bình dang giới ra đờinhằm dam bảo rang nam va nữ có quyền, cơ hội và nghĩa vụ ngang nhau trongmọi lĩnh vực của đời sống, hướng tới một xã hội công bằng và phát triển bềnvững Dé hiểu day đủ khái niệm bình dang giới, trước tiên cần làm rõ ban chấtcủa bình đăng cũng như sự khác biệt giữa bình đẳng nói chung và bình đẳnggidi nói riêng.
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Bình đẳng có nghĩa là người này ngangbang với người kia về địa vị và quyén lợi" Bình đẳng theo định nghĩa nàyđược hiểu là sự ngang bằng giữa nam giới và nữ giới mà không có sự phân biệtđối xử, nam giới như thế nào thì phụ nữ cũng như vậy Tuy nhiên, nếu bìnhđăng được nhìn nhận đưới góc độ này thì lại mang tính chủ quan, cào bằngthiếu đi tính hợp ly cũng như phù hợp với bản chat của con người Khi mà xãhội là tổng thể những mối quan hệ của các cá nhân, giữa con người với conngười, và bản chat con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội nhưng mỗi cánhân lại có những đặc điểm riêng về mặt sinh học, về vị trí, vai trò, địa vị xãhội”, dẫn đến việc bình dang giữa nhưng người không bình đắng là sự batbình đẳng
Nhưng nếu nhìn nhận đưới góc độ pháp lý, “bình đẳng” là một trongnhững quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 Dù mỗingười có hoàn cảnh, xuât thân, dia vi, giới tính, khác nhau nhưng “moi người
Š Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Hồ Chi Minh, 2002, tri 61.
7 C.Mac và Angghen Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quôc gia, Hà Nội, 1995, tr13.
Trang 17đều bình dang trước pháp luậể" Đây là quyền được pháp luật ghi nhận, dambảo thực hiện được mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tôn trọng và tự nguyệnthi hành Như vậy, “bình đẳng” có thê được hiểu là việc “mọi người déu cóquyên và nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia vào các quan hệ xã hội”.
Nhưng hiện nay, khi nhắc đến sự “bình dang”, vẫn còn tồn tại nhữngquan điểm khác nhau về cách tiếp cận
Nếu chỉ hiểu bình đắng giới đơn thuần là sự bình đắng tuyệt đối giữanam và nữ trên mọi phương diện, không có sự phân biệt hay hạn chế nào, thì
sẽ bỏ qua yếu tố giới — một khía cạnh quan trọng trong nhận thức về bình đẳng.Cách tiếp cận này có thê dẫn đến việc đối xử như nhau mà không tính đếnnhững đặc điểm sinh học vốn có của nam và nữ, trong khi sự khác biệt này làyếu tố khách quan, không thể thay đổi về mặt sinh học Nếu chỉ áp dụng mộtcách máy móc nguyên tắc bình dang mà không xét đến những đặc thù riênggiữa nam và nữ, thi đó chỉ là một sự bình đẳng hình thức, chưa phản ánh đúngbản chất và mối tương quan thực tế về giới Cần phải nhận thức được nam và
nữ có những đặc tính sinh học, đặc trưng khác nhau, nếu không chú ý đến cáiriêng trong cái chung thì sẽ không có bình đăng thực sự
Nhưng khi chúng ta thừa nhận và chấp nhận rằng phụ nữ có những khácbiệt nhất định so với nam giới, thì không thể xem bình đắng giới đơn thuần làviệc đối xử giống hệt nhau giữa hai giới trên mọi phương điện Quan niệm chorằng bình đăng giới đồng nghĩa với việc nam và nữ phải có khả năng làm tất cảmọi thứ như nhau không chỉ thiếu thực tế mà còn có thể dẫn đến nhận thức sailệch về nguyên tắc bình đẳng thực chất Trên thực tế, việc áp dụng một cáchcứng nhắc nguyên tắc đối xử như nhau đối với các nhóm xã hội vốn có sự khácbiệt sẽ không thể mang lại sự công bằng thực sự Vì vậy, bình dang giới đúngnghĩa không chi là đảm bảo quyền lợi ngang nhau cho nam và nữ ma còn phảiđược xây dựng trên cơ sở tôn trọng quyền con người, đồng thời kết hợp hài hòa
8 Khoản | điều 16 Hiến pháp 2013.
Trang 18giữa những đặc điểm sinh học và yếu tố xã hội Chỉ khi nhận thức được sự khácbiệt tự nhiên g1ữa hai giới và có những chính sách, quy định phù hợp, thì mới
có thé đạt được một xã hội bình đẳng giới thực sự, toàn diện và công bằng.
Như vậy, bình dang giới được hiểu là việc nam và nữ đều có vị thé, cơhội ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, cả hai giớidéu được tạo diéu kiện dé phát triển bản thân, tham gia vào các hoạt động xãhội và hưởng thụ thành quả của sự phát triển mà không bị phân biệt đối xử trên
cơ sở giới tính.
Binh đẳng giới không chỉ đơn thuần 1a sự chia đều quyền lợi, mà còn là
su tôn trọng và tạo cơ hội công bằng dé cá nam và nữ có thé phát triển tối đakhả năng của mình, cùng đóng góp cho xã hội và đáp ứng các nhu cầu cá nhânmột cách công bằng Việc hình thành nhận thức đúng đắn về bình dang giớitrong xã hội là yếu tố quan trọng, giúp nguyên tắc này được thực hiện thực chất,thay vì chỉ mang tính hình thức.
1.1.2 Khái niệm tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
“Nguồn lực” không phải là một khái niệm cô định, mà luôn thay đổi và
mở rộng theo sự phát triển của xã hội loài người” Trong giai đoạn đầu của lịch
sử kinh tế, nguồn lực thường được hiểu theo nghĩa vật chất như tiền bạc, đấtđai, nhân lực — những yếu tố quyết định sự phát triển của nền sản xuất côngnghiệp va thương mại Thuật ngữ “nguồn lực” trong tiếng Anh là “resource”hoặc “source”, xuất hiện từ thế kỷ 18 và được sử dụng phô biến trong các tàiliệu kinh tế - xã hội tại các nước công nghiệp tiên tiến Trong bối cảnh cáchmạng công nghiệp lần thứ nhất (năm 1784), nhiều nhà kinh tế học, đặc biệt làAdam Smith — cha đẻ của kinh tế học hiện đại, đã nhắn mạnh rằng nguồn lựcđóng vai trò cốt lõi trong quá trình sản xuất và quyết định mức độ phát triển
°
https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/hoi-thao-quang-ninh/-/2018/826745/co-che-phan-bo-nguon- thich-ung-an-toan%2C-linh-hoat%2C-kiem-soat-hieu-qua-dich-benh-covid-
luc-trong-nen-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-va-nhung-van-de-dat-ra-trong-thuc-hien-19.aspx#:~:text=T%E1%BB%AB%20%C4%9 Li“E 1 %BB%83n%20TiIME1%MBA%BFne%20Vi%E1%BB% 87t%2C%20ngu%E 1 %BB%93n,th%C3 %BAC%20%C4%9 1 %E1 MBA %AIV%200%C3%B3%20ph%C3%A.
1t%20tri%E1 %BB%83n%E2%80%9D (truy cập vào 9h10” ngày 12/1/2025)
Trang 19của một quốc gia Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ của khoa học — công nghệ vàquá trình toàn cầu hóa, khái niệm nguồn lực không còn bị giới hạn trong cácyếu tố hữu hình mà mở rộng sang các yêu tố phi vật chất như tri thức, kỹ năng,danh dự, mối quan hệ xã hội, thậm chí là những tiềm năng chưa được khai tháctrong tương lai Điều này phản ánh xu hướng chuyên dịch của nền kinh tế thếgiới, từ nền kinh tế tài nguyên truyền thống (dựa trên tài nguyên thiên nhiên)sang nền kinh tế tri thức (dựa trên công nghệ, thông tin và sáng tạo).
Theo Oxford Advanced Learner's Dictionary, nguồn lực được định nghĩa
là “những thứ mà một quốc gia, một tô chức hoặc một cả nhân có thé sử dụng,đặc biệt nhằm mục đích tạo ra lợi nhuận” Định nghĩa này nhấn mạnh rằngnguồn lực không chỉ đơn thuần là công cụ sản xuất, ma còn là tài sản có thékhai thác đề tạo ra giá trị kinh tế hoặc xã hội
Từ những phân tích trên, có thể hiểu “nguồn lực” theo một cách tổngquát hơn: “Nguôn lực là tổng hợp những điều kiện can thiết, bao gồm cả yếu to
vật chất và phi vật chất, giúp cd nhán, tổ chức tiễn hành các hoạt động và đạt
được một lợi ích nhất định.”
Định nghĩa này cho thấy rằng:
‹ Nguồn lực không chỉ giới hạn trong các tài sản hữu hình (tiền, đất dai,
tài sản vật chất ) mà còn bao gồm các yếu tố phi vật chất như kiến thức,
kỹ năng, các moi quan hệ xã hội, uy tín, danh dự
‹ Nguồn lực mang tính tương đối, có thé thay đổi theo bối cảnh xã hội,kinh tế và chính trị
‹ Nguồn lực không phải lúc nào cũng sẵn có, mà đôi khi cần được tạo rahoặc khai thác từ tiềm năng trong tương lai
Tiếp cận (Access) hay khả năng tiếp cận (Accessibility) là một trongnhững thuật ngữ được dùng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Theo từđiển Tiếng Việt, “tiếp cận” được hiểu là: “Từng bước, bằng những phương pháp
Trang 20nhất định, tìm hiểu một đối tượng nghiên cứu nào đó!?° Nhưng đối với đề tài,tiếp cận trong thuật ngữ tiếp cận nguồn lực thường được gắn với các yếu tô cóliên quan đến kinh tế, giáo dục, như việc trẻ em có thể tiếp cận với tri thứcthông qua việc được đi học, phụ nữ có khả năng tiếp cận đến nguồn vốn vay từngân hàng, tô chức tín dụng hay con gái được thừa kế tài sản riêng từ bố mẹ và
có thể chiếm hữu, sử đụng chúng
Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu đơn thuần là việc tìm hiểu về nguồn lực thì dườngnhư là chưa đầy đủ và thiếu đi mục đích thật sự của việc “tiếp cận” Nếu chỉ đểtìm hiểu về một đối tượng hay nguồn lực nhất định mà không thé sử dung hayđem lại cho các chủ thể bất kì lợi ích nào thì việc tiếp cận đó là không có ýnghĩa thực tiễn nào Vì vậy, việc tiếp cận này nên được nhìn nhận một cáchrộng hơn về việc sử dung và hướng lợi như thé nao từ các nguồn lực chứ khôngchỉ đơn thuần là cách thức đề thu thập thông tin Theo Uy ban Kinh tế và Xãhội của Liên hợp quốc ở Tây A (UNESCWA)'! thì thuật ngữ “tiếp cận” đượchiểu là: “Khả năng sử dụng và hướng lợi từ những nguôn lợi cụ thể (như nguyênvật liệu, vốn, nhân ẨNG, cai
Do đó, “tiếp cận” có thé được nhìn nhận dưới góc độ là: “Cách thức một
cá nhân tìm hiểu, sử dụng, khai thác và hưởng lợi hoặc dat được mục dich từnhững nguồn lực có sẵn.”
Theo từ điển Tiếng Việt, “kiểm soát? được hiểu là “dat trong phạm viquyên hành của minh” hay theo từ dién Oxford Advanced Learner’s Dictionarythì “kiểm soát” là “quyền lực dé dua ra cách thức vận hành cho cá nhân, cơquan, tổ chức” hay “khả năng ép buộc ai đó phải thực hiện theo ý muốn củaminh” Dựa trên những định nghĩa này, kiểm soát có mức độ tác động cao hơn
so với tiếp cận Bởi lẽ, kiểm soát nguồn lực đồng nghĩa với việc cá nhân ngoàiquyền chiếm hữu va sử dụng họ còn phải có khả năng định đoạt đối với cácnguôn lực mà mình có Ví dụ, một người phụ nữ có quyên kiêm soát đât đai
‘0 Hoang Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Da Nẵng, tr.987, 2003.
!! https://www.unescwa.org/focus/gender (truy cập lúc 8h20” ngày 3/1/2025).
Trang 21đồng nghĩa với việc họ có thé tiếp cận đất đai (sử dung), sở hữu dat đai và đưa
ra quyét định về việc sử dụng nó như thế nào (có thể là bán hoặc cho thuê) Từhai định nghĩa trên, có thé thấy rằng "kiểm soát" mang một mức độ quyền lựcmạnh hơn so với “tiếp cận” Một cá nhân có thể tiếp cận một nguồn lực (ví dụ:
sứ dụng đất đai, tiếp cận nguồn vốn), nhưng nếu không có quyền kiểm soát, họkhông thé tự do quyết định cách sử dụng hay phân bé nguồn lực đó theo ý muốncủa mình.
Vì vậy, “kiểm soát” trong “tiếp cận và kiểm soát nguồn lực” là: “Quyênquyết định việc sử dụng, cách thức sử dụng và phân bồ nguôn lực.”
- Méi quan hệ giữa tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
Binh dang giới trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực là một trong nhữngnội dung quan trọng của các chính sách và pháp luật về bình dang giới, đặc biệttrong quan hệ vợ chồng Trong đó, “tiếp cận” và “kiêm soát” là hai khái niệm
có mỗi quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời Tiếp cận và kiểm soát là hai mức
độ khác nhau trong mối quan hệ giữa con người với các nguồn lực, thể hiệnmỗi quan hệ giới có bình dang hay không Nếu chỉ có quyền tiếp cận mà không
có quyền kiểm soát, thì quyền lợi về kinh tẾ, tài sản, tài chính của một cá nhânvẫn có thể bị hạn chế Ngược lại, nêu có quyền kiểm soát nhưng không cóquyên tiếp cận, thì cá nhân đó cũng không thé có được quyền quyết định thực
sự đối với các nguồn lực kinh tế trong gia đình và xã hội Hay nói cách khác,tiếp cận là điều kiện cần, nhưng kiêm soát mới là điều kiện đủ để dam bảo bìnhđăng giới thực chat Vì vậy, dé dam bảo bình dang giới thực chat, can phải xemxét cả quyên tiếp cận và quyền kiểm soát nguồn lực một cách đồng bộ
Có thể nói, bất bình đẳng giới trong gia đình đã tồn tại ngay khi hình tháigia đình một vợ một chồng xuất hiện Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình,của chế độ tư hữu và Nhà nước”, Angghen nhận định rằng mẫu thuẫn vốn có
của chế độ một vợ một chồng xuất phát từ nguyên nhân kinh tẾ, voi vai tro tru
cột của người dan ông đã thé hiện sự bất bình đăng giữa vo va chồng Đây lànguyên nhân căn bản dẫn đến việc người phụ nữ bị lệ thuộc về kinh tế vào
Trang 22người đàn ông Dé khang định vị thé, vai trò của mình trong gia đình, để không
bị lệ thuộc về kinh tế vào người đàn ông thì người phụ nữ (tức người vợ) cầnphải tham gia vào thị trường lao động dé có thu nhập Tuy nhiên, nếu như vậythì “người dan bà nếu làm tròn bồn phận phục vụ riêng cho gia đình thì phảiđứng ngoài nên sản xuất xã hội và không thể có được thu nhập nào cả; và nếu
họ muốn tham gia công việc doanh nghiệp xã hội và kiếm sống một cách độclập thì họ lại không có điều để làm tròn nhiệm vụ gia đình!?” Chính vòng lặpnày là lí do dẫn đến việc bình đẳng giới trong gia đình hay bình đăng giới giữa
vợ và chồng trong tiếp cận luôn là van đề khiến cho bat bình dang luôn dién ra
Muốn đạt được bình dang giới thực chất hay gần hon là bình đẳng giớitrong xã hội thì trước hết cần phải đạt được bình đẳng giới trong chính bản thânmỗi gia đình Quan điểm của chủ nghĩa Mác — Lénin và Chủ tịch Hồ Chí Minhluôn đề cao và chú trọng đến vai trò của mỗi gia đình trong sự phát triển của xãhội Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vai trò của gia đình,bởi theo Bác nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hộimới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình.Vậy nên, quan tâm đến gia đình nhỏ trước tiên là phải thực hiện nam - nữ bìnhquyêền13 Tuy nhiên, việc thực hiện quyền bình đăng giữa vợ và chồng trong giađình đã và đang còn tồn tại nhiều hạn chế từ định kiến giới, những tư tưởng, lốisống lạc hậu và đặc biệt và cũng là nguyên nhân sâu xa của mọi vấn đề đó làviệc bất bình đẳng trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong giađình Gia đình là nơi diễn ra quá trình sản xuất và phân phối các nguồn lực Kếtquả nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng, trong gia đình, người vợ và người chồng
có xu hướng chia sé sự tiếp cận phần lớn các nguồn lực, nhưng người chồng cóvai trò quyết định trong việc kiểm soát các nguồn lực quan trọng của gia đìnhnhư đất đai, nhà cửa, phương tiện sản xuất, Do đó, đói nghèo, chậm phát
!2 Các Mác — Angghen tuyén tập, tập VI, NXB Chính trị quốc gia — Sự thật, Hà Nội, 1984, tr120.
!
https://baoquankhu7.vn/loi-bac-ho-day-ngay-nay-nam-xua-gia-dinh-la-hat-nhan-cua-xa-hoi-1573051567-0016157s34810gs2AspxAutoDetectCookieSupport=Ll (truy cập lúc 14h23” ngày 16/1/2025).
Trang 23triển luôn là hiểm họa tiềm tàng với người phụ nữ, đặc biệt là khi ly hôn hoặckhi người chồng chết.!* Như vậy chính sự bat bình dang trong tiếp cận và kiêmsoát nguồn lực là một trong những yếu tô làm tăng sự bat bình đẳng giới tronggia đình là yêu tố làm tăng bạo lực giới với phụ nữ, làm giảm tiếng nói và khảnăng tự bảo vệ của phụ nữ trong quan hệ với nam giới Vì vậy, muốn hướngđến việc bình dang giới trong lĩnh vực tiếp cận và kiểm soát nguồn lực cần phảigiải phóng phụ nữ khỏi công việc nội trợ thông thường dé họ có thời gian làmcác công việc kinh tế Tuy nhiên, giống như bình dang giới, việc bình dang giữa
vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực không có nghĩa là vợ chồnggiống nhau Do đặc điểm sinh học của nam và nữ khác nhau, thứ bac, vai trònhiệm vụ trong gia đình cũng khác nhau nên vợ và chồng sẽ có những cáchthức thức tiếp cận và kiểm soát nguồn lực khác nhau Tuy nhiên, sự khác biệtnày không làm thay đổi tính chất ngang nhau về vị thế giữa vợ và chồng tronghoạt động tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
Từ những phân tích trên có thé hiểu, “bình đẳng giới trong tiếp cận vàkiểm soát nguồn lực giữa vợ và chong là việc cả vợ và chong đều có quyên và
cơ hội như nhau trong việc sử dụng và quyết định sử dung các nguồn lực tronggia đình mà không có sự phân biệt đối xử nào dựa trên cơ sở giới tính, tạo tiên
đề để vợ chong tao dung vi thé của minh trong gia đình và xã hội ”
1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định về bình đắng giới giữa vợ và chồng trong
tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
- ¥ nghia phap ly:
Thứ nhất, việc pháp luật quy định về quyền bình đăng giữa vo và chồngtrong quyền tiếp cận và kiểm soát với các nguồn lực là cơ sở pháp lý để bảođảm quyên bình dang giữa vợ và chồng
Hiến pháp 2013, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Luật Bình đăng giới
2006 và Bộ luật Dân sự 2015, nó không chỉ mang tính tuyên bố mà còn trở
14 Trường đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình “Lud? Bình đẳng giới”, tr214-215, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
Trang 24thành quyền cơ ban của mỗi cá nhân, được Nhà nước bảo vệ và đảm bảo thựcthi trên thực tiễn Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợikinh tế, tài sản và tài chính của cả hai bên trong quan hệ hôn nhân, ngăn chặntình trạng một bên lạm dụng quyền lực tài chính để kiểm soát bên còn lại.
Trước hết, khi quyền tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của vợ và chồngđược công nhận, nó giúp tạo ra cơ chế pháp lý dé bảo vệ quyên tiếp cận tải sảnchung cua cả hai bên, dam bảo rằng không ai có thé bị loại trừ khỏi quyền tiếpcận và hưởng lợi từ tài sản chung của gia đình Điều này ngăn chặn tình trạngmột bên (thường là người có thu nhập cao hơn) kiểm soát hoàn toàn tải sản,khiến bên còn lại rơi vào thế phụ thuộc kinh tế Ngoài ra, quyền kiểm soát tàisan chung cũng được đảm bảo thực hiện thông qua các quy định về sự đồngthuận giữa vợ và chồng trong quản lý và định đoạt tài sản, giúp hạn chế cáchành vi lạm dung tài chính như tự ý ban, thế chấp, cầm cố tai sản chung màkhông có sự đồng ý của bên còn lại
Hơn nữa, khi quyền này được Nhà nước bảo vệ, nó còn tạo điều kiện cho
cả vợ và chồng có cơ hội tiếp cận các nguồn lực kinh tế như vốn, tín dụng, đấtđai, tài sản tài chính, từ đó tăng cường khả năng tự chủ về kinh tế Điều nàyđặc biệt quan trọng đối với phụ nữ, những người thường gặp rào cản trong việctiếp cận các nguồn lực do định kiến giới hoặc các quy định pháp lý chưa đầy
đủ Khi Nhà nước công nhận và bảo vệ quyền kiểm soát tài sản, phụ nữ có thể
tự do tham gia vào các hoạt động kinh tế, kinh doanh, dau tu, không bị ràngbuộc bởi sự kiểm soát của chồng hoặc gia đình
Thứ hai, việc quy định bình đẳng giới giữa vợ và chẳng trong tiếp cận
và kiểm soát nguon lực vừa thé hiện trách nhiệm pháp lý của Việt Nam khi thamgia các cam kết quốc tế về bình đẳng giới, đồng thời là cơ sở dé xây dung, cảicách hệ thông pháp luật về bình đẳng giới
Việc việc tăng cường và tuân thủ các cam kết quốc tế về bình đẳng giớikhông chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là thé hiện mong muốn của Việt Namtrong hoạt động thúc đây bình đẳng giới cũng như nghĩa vụ đạo đức và chính
Trang 25trị đối với mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam Dựa trên nguyên tắc "pacta sunt
servanda" — nghĩa là các cam kết quốc tế phải được thực hiện một cách trung
thực và có thiện chí! — việc thực hiện bình dang giới trong tiếp cận và kiểmsoát nguồn lực giữa nam và nữ trở thành một chỉ tiêu quan trọng để đánh giámức độ tuân thủ các hiệp định quốc tế về quyền phụ nữ và bình đăng giới
Trước hết, các hiệp định quốc tế như Công ước của Liên Hợp Quốc vềXóa bỏ Mọi Hình Thức Phân Biệt Đối Xử đối với Phụ Nữ (CEDAW) đã nêu rõyêu cầu các quốc gia phải đảm bảo quyền bình dang cho phụ nữ trong mọi lĩnhvực, bao gồm cả quyền tiếp cận va quản lý tài sản, nguồn thu nhập và các nguồnlực kinh tế khác Cam kết này không chỉ nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi cánhân của phụ nữ mà còn thúc day sự phát triển kinh tế — xã hội toàn điện, giúphình thành một nền tảng vững chắc cho sự ổn định gia đình và xã hội Trongbối cảnh đó, nguyên tắc "pacta sunt servanda" trở thành kim chỉ nam cho quátrình chuyên thé và thực hiện các cam kết quốc tế vào hệ thống pháp luật quốcgia Việt Nam, với tư cách là thành viên của cộng đồng quốc tế, có trách nhiệmxây dựng và cai cách khung pháp lý nội địa dé dam bảo rang mọi quy định vềquản lý tài sản và tiếp cận nguồn lực trong gia đình không phân biệt giới đượcthực thi đồng bộ và minh bạch Việc này không chỉ giúp khắng định quyền lợicủa phụ nữ mà còn tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, góp phần giảm bớt cácbất công và định kiến truyền thống còn tồn tại trong xã hội
Bên cạnh đó, thực hiện các cam kết quốc tế còn mở ra cơ hội cho ViệtNam trong việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác, áp dụng các biệnpháp quản lý hiện đại và tăng cường năng lực giám sát, xử lý vi phạm Điềunày góp phan làm giảm thiêu các tranh chấp pháp lý liên quan đến quyền sởhữu và kiểm soát tai sản trong gia đình, nhất là trong các trường hợp ly hônhoặc thay đôi tinh trạng hôn nhân Khi mọi thành viên trong gia đình đều đượctrao quyền bình dang trong việc quan ly và sử dung nguồn lực, các quyết định
!5 Khoản 2 điều 2 Hiến chương Liên Hợp quốc.
Trang 26kinh tế được đưa ra trên cơ sở hợp tác và đồng thuận, từ đó giúp tăng cường sự6n định và phát triển bền vững cho gia đình va cộng đồng.
- _Ý nghĩa xã hội
Thứ nhất, việc quy định bình dang giới giữa vợ và chông trong tiếp cận
và kiểm soát nguồn lực còn góp phần xây dựng một cơ chế quản ly nguôn lựcgia đình bình dang không chỉ mang lại lợi ích cho các thành viên mà còn tạođộng lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế — xã hội
Một gia đình có cau trúc quản lý tài chính công bang, nơi cả vợ và chồngđều được tham gia đưa ra quyết định, sẽ khuyến khích sự đóng góp ý kiến đachiều, từ đó tạo nên các quyết định kinh tế thông minh và bền vững Khi cả haibên cùng cân nhắc và đánh giá các yếu tố liên quan, nguồn lực của gia đìnhđược tôi ưu hóa, giảm thiểu lãng phí và tăng cường hiệu quả đầu tư Hon nữa,khi phụ nữ được trao quyền tiếp cận va quan lý nguồn lực, họ có co hội thé hiệnnăng lực, khởi nghiệp và tham gia vào các hoạt động kinh doanh Sự tham gianày không chỉ giúp gia đình tạo ra thêm nguồn thu nhập mà còn góp phần làm
đa dạng hóa nền kinh tế, kích thích sáng tạo và thúc đây sự đôi mới Nhữngsáng kiến kinh doanh mới do phụ nữ dẫn dắt có thé mở ra những lĩnh vực kinhdoanh mới, tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh và nâng cao năng lực phát triểncủa cả cộng đồng Qua đó, việc thực hiện bình đăng trong quản lý nguồn lựckhông chỉ là một biện pháp bảo vệ quyền lợi cá nhân mà còn là động lực thúcđây một nền kinh tế năng động, sáng tạo và phát triển bền vững trên phạm vi
xã hội.
Thit hai, việc quy định bình đẳng giới giữa vợ và chong trong tiếp cận
và kiểm soát nguồn lực còn góp phan nâng cao vị thé, vai trò làm chủ của phụ
nữ trong đời sống sinh hoạt gia đình và xã hội
Sự trao quyền này giúp phá bỏ những định kiến cũ kỹ về vai trò “nam
làm chủ, nữ lo nội trợ”, qua đó xây dựng hình ảnh người phụ nữ hiện đại — độc
lập, tự chủ và chủ động Hơn nữa, khi phụ nữ có khả năng kiểm soát các nguồnlực, họ thường lựa chọn đầu tư nhiều vảo các lĩnh vực mang tính xây dựng bền
Trang 27vững như giáo dục, y tế và sự phát triển toàn điện của con cái Việc này khôngchỉ nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình mà còn góp phần tạo dựng một thế
hệ nhân lực chất lượng cao, là nền tảng cho sự phát triển kinh tế — xã hội của
cộng đồng Sự tự chủ của phụ nữ, khi được khẳng định và phát huy, trở thành
một động lực thúc day sự đổi mới trong toàn xã hội, góp phần giảm bớt những
bất bình đẳng và tạo ra một môi trường xã hội công bằng, nơi mà mọi cá nhân
đều có cơ hội phát triển theo năng lực và pham chat của mình
Thứ ba, việc quy định quyên bình đẳng của vợ chéng trong tiếp cận vàkiểm soát nguồn lực góp phan giảm thiểu mâu thuẫn giữa vợ và chỗng, tạo tiền
dé tốt để thúc day sự phát triển chung của xã hội
Khi mỗi thành viên đều có cơ hội tham gia vào quá trình quản lý tài sản
và đưa ra quyết định, các lựa chọn kinh tế được hình thành trên cơ sở thảo luận
chung, góp phần ngăn chặn những bất đồng có thé leo thang thành xung đột
nghiêm trọng Sự tham gia công bằng này không chỉ mang lại cảm giác côngbang, tăng cường tinh than hợp tác mà còn giúp giảm bớt gánh nặng cá nhân,bởi trách nhiệm và quyền lực được chia sẻ đều đặn giữa các thành viên Kếtquả là, gia đình không chi trở nên 6n định về mặt tài chính ma còn đuy trì đượcmôi trường sống hải hòa, nơi mà mỗi cá nhân cảm thây được trân trọng và đónggóp vào sự phát triển chung Điều này không chỉ củng cố mối quan hệ nội bộ
mà còn tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế — xã hội bền vững,khi mà các giá trị của sự công bằng và hợp tác lan tỏa ra toàn cộng đồng
1.2 Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới giữa
vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
1.2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới giữa vợ và chồng
trong tiếp cận nguồn lực
Nguyên tắc nam — nữ bình dang trước pháp luật, khi tham gia vào cácquan hệ kinh tế, chính trị, xã hội đã được ghi nhận ngay từ Hiếp pháp 1946 théhiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm bình đăng và thúcđây bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ hay quyên con người nói chung
Trang 28Nhưng khi đến khi Luật Bình dang giới 2006 ra đời đồng thời trở thành nguồnchủ đạo và quan trọng nhằm điều chỉnh các vấn đề giới và quan hệ giới đồngthời Hiến pháp 2013 xuất hiện khang định “Công dan nam, nữ bình dang vềmọi mặt Nhà nước có chính sách bảo dam quyền và cơ hội bình dang giới" và
“Nghiêm cam phân biệt đối xử về giới” thì sự ghi nhận này không chỉ phản ánhnhận thức của Dang va Nhà nước về tầm quan trọng của bình dang giới đối với
sự phát triển của xã hội mà còn là lời cam kết bảo vệ quyền lợi của người phụ
nữ — một nhóm đối tượng đã chịu ảnh hưởng nặng nề của truyền thống phongkiến và các tư tưởng lạc hậu Hiến pháp 2013 khẳng định quyền bình đẳng củacông dan nam và nữ, coi đây là nguyên tắc không thẻ thiếu trong việc xây dựngmột xã hội hiện đại, công bằng Việc đưa nguyên tắc “bình đẳng giới” vào vănbản Hiến pháp đã tao ra một nền tang pháp lý vững chắc, là cơ sở dé xây dung
và hoàn thiện các quy định luật pháp chuyên ngành khác như Luật Hôn nhân
va Gia đình, Luật Bình dang giới, Luật Dat đai, Luật Dân sự,
1.2.1.1 Luật Bình đẳng giới năm 2006
Hiểu được tầm quan trọng của quyền bình đăng giữa vợ và chồng trongtiếp cận các nguồn lực quan trọng, pháp luật đã ghi nhận quyên bình đăng trongtiếp cận nguồn lực giữa vợ và chồng trước hết tại Luật Bình đắng giới 2006.Theo đó, khoản 2 điều 18 Luật Bình dang giới 2006 quy định: “Vợ, chông cóquyên, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sửdụng nguon thu nhập chung của vợ chồng” Thay vì sử dung trực tiếp thuật ngữ
“tiếp cận”, Luật Bình đẳng giới 2006 sử dụng thuật ngữ “sở hữu” và “sử đụng”khi ghi nhận về quyền bình đăng giữa vợ và chồng khi tiếp cận khối tài sảnchung, nguồn thu nhập chung Việc sử dụng hai thuật ngữ này không làm thayđổi đi tính chất của việc bình đắng trong việc tiếp cận mà chỉ cụ thể hóa quyđịnh của pháp luật, dam bảo khả năng thi hành trong thực tiễn thực hiện phápluật về bình đẳng giới Bởi lẽ, trong cuộc sống gia đình, quyền tiếp cận đượcnhìn nhận một cách trực điện và phố thông hơn, đó là ai là người được sử dụng,khai thác những nguồn lực trong gia đình Việc Bình dang giới quy định như
Trang 29vậy không làm thay đổi bản chất của quyền bình đăng trong tiếp cận với cácnguồn lực khi vẫn ghi nhận sự bình đắng trong khả năng sử dung các nguồn lựcnhưng lại thiếu đi được yếu tô cốt lõi của việc tiếp cận đó là khả năng hưởnglợi hay đạt được mục đích khi sử dụng được những nguồn lực sẵn có Có nhiềutrường hợp, mặc di người vợ có quyên tiếp cận đối với các khoản vay từ ngânhàng, tổ chức tín dụng nhưng họ lại không thể sử dụng chúng hoặc sử dụng mộtcách hạn chế, không phủ hợp với mục đích của họ.
1.2.1.2 Luật HN&GD 2014
Ngoài ra, các quy định về quyền bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực giữa
vo và chồng còn được quy định tại Luật HN&GD 2014 Trước hết, khi nói vềquyền bình đăng trong tiếp cận nguồn lực, tại khoản 1 điều 29 Luật HN&GD
2014 khi ghi nhận về nguyên tắc chưng về chế độ tài sản của vợ chồng quyđịnh: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tao lập,chiếm hữu, sử dung, tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong giađình và lao động có thu nhập” Cũng giỗng như quy định tại Luật Bình đẳnggiới 2006, Luật HN&GD cũng ghi nhận việc cả hai bên vợ hoặc chồng đều cóquyền tiếp cận, sử đụng khối tài sản chung nhăm thực hiện những mục tiêuchung cua gia đình như chi trả chi phí sinh hoạt hàng ngày hay xây sửa nhacửa, tiễn hành đầu tư, kinh doanh, sản xuất, Hon thế nữa, Luật HN&GĐ
2014 cũng giải quyết được một trong những van đề chính gây ra sự bất bìnhdang giữa vợ và chồng khi tiếp cận các nguồn lực trong gia đình khi quy định
“không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập” Đây
là điểm mới của Luật HN&GÐ 2014 so với Luật HN&GĐÐ 2000 khi bây giờ,người phụ nữ du làm những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình — hay nhữngcông việc không trực tiếp tạo ra thu nhập khác — cũng có quyền tiếp cận, sửdụng các nguồn lực trong gia đình mà không bị hạn chế bởi người chồng
Ngoài ra, sự bình đẳng trong sử dụng nguồn lực cũng được thể hiện thôngqua quy định tại khoản 1 điều 35 Luật HN&GD, theo đó: “Việc chiếm hữu, sửdụng tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận” Mặc dù là tài sản thuộc sở hữu
Trang 30chung của cá vợ và chồng nhưng việc sử dụng như thé nào, vào mục đích gì thìvẫn cần phải thông qua sự thỏa thuận của cả vợ và chồng Đây là quy định quantrọng, thể hiện rõ sự bình đẳng thông qua quy định mọi quyết định liên quanđến việc sử dụng tài sản chung chỉ được tiễn hành khi có sự đồng thuận, thốngnhất về mặt ý chí Điều này cũng góp phân tránh việc một bên lạm dụng quyềnlực hay có những hành vi lừa dối, trốn tránh với bên còn lại để sử dụng tài sảnchung vào mục đích cá nhân.
Sự bình đẳng trong việc tiếp cận các nguồn lực cũng được thé hiện quaquy định tại điều 34 Luật HN&GD 2014: “Trong trường hợp tài sản thuộc sởhữu chung của vợ chong mà pháp luật quy định phải đăng kỷ quyên sở hữu,quyên sử dung thì giấy chứng nhận quyên sở hữu, giấy chứng nhận quyén sửdung phải ghi tên cả hai vợ chong, trừ trường hợp vợ chéng có thỏa thuận
khác” Khác với những loại tài sản thông thường, những tài sản đặc biệt như
đất đai, nhà cửa, oto, là những loại tài sản đặc biệt mà pháp luật quy địnhphải đăng ký quyền sở hữu Sự đặc biệt của những tài sản này không đơn thuầnnăm ở giá trị vật chất của chúng mà còn ở việc chúng đóng vai trò trong cuộcsống sinh hoạt gia đình, ảnh hưởng đến kế sinh nhai của vợ và chồng Quy định
về việc tài sản thuộc sở hữu chung phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụngnhư hiện nay là phù hợp bởi lẽ ví dụ như việc cả vợ và chồng cùng được đứngtên trên GCNQSH, QSD đồng nghĩa với việc cả hai sẽ đều có quyền của chủ
sở hữu đối với tài sản, đồng thời góp phần nâng cao vị thế, vai trò, trách nhiệmcủa mỗi người đối với khối tài sản chung Tuy nhiên, hiện nay, ở một số loại tàisản có thé kế đến như đất đai, việc cả hai vo chồng đứng tên trên GCNQSDĐkhông phải là yêu cầu bắt buộc trong trường hợp “vợ chồng có thỏa thuậnkhác” Mặc di quy định của pháp luật hiện nay về lý thuyết thì không sai vìviệc có cùng đứng tên trên GCNQSDD hay không thuộc về thỏa thuận dân sựcủa vợ và chồng và pháp luật tôn trọng những thỏa thuận này miễn sao chúngphù hợp với quy định của pháp luật Nhưng việc quy định này không phái bắtbuộc lại vô hình chung khiến cho nhiều người phụ nữ, người vợ trong gia đình
Trang 31bị hạn chế kha năng tiếp cận với nguồn lực quan trọng này Có thé kế đến ởnhững vùng quê, những vùng nặng về sản xuất kinh doanh nông nghiệp thì đấtnông nghiệp là một tư liệu sản xuất vô cùng quan trong, thé nhưng trên thực tế,tại Việt Nam, GCNQSDD nông nghiệp lại thường chỉ mang tên một người —thường là người chồng — vì nhiều lí do khác nhau như người vợ không muốn
đứng tên, hoặc hạn chế về pháp luật khiến người vợ không nhận thức được
quyền của mình, Đây là quy định ảnh hưởng rất nhiều đến việc tiếp cận đếncác nguồn lực quan trọng trong gia đình, đặc biệt là đất đai, nhà cửa của người
phụ nữ.
1.2.2 Quy định của pháp luật Việt Nam về bình đẳng giới giữa vợ và chồng
trong kiểm soát nguồn lực
Các quy định về bình đẳng giữa vợ và chồng trong kiểm soát các nguồnlực trước hết được thể hiện tại khoán 2 điều 18 Luật Bình đẳng giới 2006 khiquy định: “Vo, chong có quyên, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sảnchung, và quyết định các nguồn lực trong gia đình" và tại điều 29 LuậtHN&GD 2014, theo đó: “Vo, chồng bình đẳng với nhau về quyên, nghĩa vụtrong việc định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động gia đình
và lao động có thu nhập” Cũng tương tự đối với các quy định đối van đề tiếpcận nguồn lực, các quy định của pháp luật hiện nay cũng ghi nhận quyền bìnhđăng của vợ và chồng trong việc quyết định, định đoạt các nguồn lực, tài sảnchung trong gia đình mà không bị hạn chế bởi lý do giới tính, thu nhập, Đây
là quy định đã đưa ra hướng giải quyết nhằm hạn chế sự bat bình dang trongquyền quyết định đối với các nguồn lực bởi khi đưa ra quy định không phânbiệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập, vợ và chồng giờ đâyđược tính là có đóng góp ngang nhau trong việc xây dựng vào khối tài sảnchung nên quyền quyết định cũng phải được chia sẻ một cách công bằng cho
ca hai người Đây đều là những quy định thé hiện được tầm nhìn của co quanlập pháp trong việc góp phần khiến các quy định của pháp luật trong việc tiếpcận nguồn lực được thi hành một cách đầy đủ trong thực tiễn nhằm đảm bảo
Trang 32quyên lợi của các bên liên quan Trước hết, phụ nữ ngoài các công việc kinh tếthường phải đảm nhận thêm các công việc như chăm sóc gia đình, con cái, nộitrợ, là chỗ dựa kinh tế cho người chồng, cho gia đình của họ, đây là thiên chứcchỉ riêng người vợ có và những hoạt động này không thé được tính ra thànhtiền Vì vậy nếu như quyền quyết định được dựa trên đóng góp tài chính của vợ
và chồng trong thời kì hôn nhân thì đường như người phụ nữ thường sẽ luôn ởthế phụ thuộc Quy định nay đã kết hợp ca yếu tố sinh học va xã hội để hướngtới bình dang giới thực chất trong việc kiểm soát nguồn lực trong gia đình Quy
định này ghi nhận việc tạo lập và sự đóng góp công sức của mỗi bên trong cáchoạt động làm nên khối tài sản chung của vợ chồng Quy định này vừa dé cho
vợ chồng đều có trách nhiệm chăm lo sản xuất, tạo thu nhập phát triển đời sốnggia đình và đề cao mối quan hệ tình cảm gắn bó giữa vợ và chồng Điều nàycũng là nhằm tôn trọng công sức đóng góp của nhau trong quá trình xây đựngkinh tế gia đình
Quyền binh đăng trong việc kiểm soát nguồn lực còn được thé hiện rõnét ở quy định tại khoản 2 điều 35 Luật HN&GD: “Việc định đoạt tài sản chungphải có sự thỏa thuận băng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sauđây:
có giá trị pháp lý Ví dụ, đối với oto, mặc dù trong thực tiễn, giấy tờ xe thườngchỉ để tên vợ hoặc chồng, nhưng nếu chiếc xe đó được sở hữu trong thời kì hôn
nhân thì được coi là tài sản chung của vợ và chồng Vi vậy, néu muốn bán chiếc
xe đó, vợ hoặc chồng sẽ cần có sự đồng ý (bằng văn bản) của người còn lại để
Trang 33có thê định đoạt Quy định như vậy nhằm nâng cao sự quản lý của cả hai vợchồng đối với khối tài sản chung gia đình Bởi lẽ, trong xã hội xưa, người chồng
đa phan là người đứng tên đối với các tai sản quan trọng như nhà cửa, xe cộ,đất dai, vì vậy đã từng xảy ra nhiều trường hợp, người chồng vì muốn kinhdoanh, đầu tư mà tự ý mang những tài sản này dé thế chấp, cam cố mà khôngthông qua ý kiến của người vợ Điều này dẫn đến nhiều hệ quả xấu như việcgần như loại bỏ quyền quyết định của người phụ nữ trong việc định đoạt khốitài sản chung mang tính sống còn trong gia đình, hơn nữa, về lâu dai việc nàycũng tạo ra tiền lệ xấu khi người chồng có thể tự quyết định mà không cầnngười vợ Như vậy, khi thực hiện quyền của mình đối với tài sản chung, vợ vàchồng bình đăng trong quyền định đoạt đối với tài sản chung Trong trường hợp
vợ, chồng định đoạt tài sản chung nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đìnhthì pháp luật luôn coi là đã có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng.Việc này cho phép các bên điều chỉnh quyền lực quan ly tài sản đựa trên điềukiện cụ thể, năng lực và hoàn cảnh thực tế của mỗi người, tạo điều kiện cho sựlinh hoạt trong quan ly và ra quyết định Sự linh hoạt này góp phan tối ưu hóaviệc sử dụng nguồn lực và bảo vệ quyên lợi của mỗi cá nhân trong gia đình
Ngoài ra, Luật Bình đắng giới 2006 và Nghị định 125/2021/NĐ-CP cũngquy định các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong tiếp cận vàkiểm soát nguồn lực!” Theo đó hành vi cản trở thành viên trong gia đình có đủđiều kiện theo quy định của pháp luật tham gia định đoạt tài sản thuộc sở hữuchung của hộ gia đình vì lý do giới tính có thé bị xứ phạt từ 5 đến 10 triệu đồng
tùy mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm'Ÿ Quy định biện pháp xử lý vi
phạm trong việc thực hiện bình đăng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận vàkiểm soát nguồn lực là cần thiết vì nhiều lý do then chốt Trước hết, những quyđịnh này bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên trong gia đình, đặc biệt
'6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2024), Giáo trình “Ludt Hon nhân và gia đình Việt Nam”, Nguyễn Văn Cừ
(chủ biên).
! Khoản 1, khoản 2 điều 41 Luật Binh đẳng giới 2006.
!8 Khoản 2, khoản 3 điều 13 Nghị định 125/2021/NĐ-CP.
Trang 34là phụ nữ — đối tượng vốn thường bị ảnh hưởng bởi các định kiến truyền thống
bat công Khi có co chế xử ly vi phạm rõ ràng, người bị xâm phạm có cơ sở
pháp lý để yêu cầu bồi thường hoặc khắc phục hậu quả, từ đó ngăn chặn tình
trạng bị lợi dụng, mat quyén kiém soat nguồn lực kinh tế Việc quy định các
biện pháp xứ lý vi phạm góp phần tạo nên một môi trường pháp lý minh bạch,công bằng và ổn định cho quan lý tải sản gia đình Khi mọi hành vi vi phạmđều được xử lý nghiêm túc, cả vợ và chồng đều phải tuân thủ nguyên tắc bìnhđăng trong quản lý tài sản chung, đảm bảo rằng các quyết định kinh tế đượcđưa ra dựa trên sự đồng thuận và tôn trọng lẫn nhau, giảm thiểu mâu thuẫn nội
bộ và tranh chấp pháp lý Bên cạnh đó, việc quy định xử lý vi phạm còn tạođộng lực cho các bên trong gia đình tuân thủ pháp luật Khi biết rằng có nhữngbiện pháp xử phạt cụ thể, các hành vi bất công, thiên vị hoặc chiếm ưu thế sẽ
bị xử lý một cách nghiêm khắc, từ đó thúc đây văn hóa tôn trọng quyên bìnhđăng, khuyến khích sự hợp tác và trao đổi công bang giữa các thành viên tronggia đình.
Cần phải nhìn nhận một cách khách quan, nhờ các chính sách, pháp luậtcủa Đảng và Nhà nước trong thời gian trở lại đây mà phụ nữ đã được nâng caokhả năng tiếp cận đối với những nguồn lực quan trọng như đất đai, nhà cửa,vốn vay tín dung, nhưng dé hướng đến việc bình dang giới trong tiếp cận vakiểm soát nguồn lực giữa vợ và chồng, vai trò trong hoạt động kiểm soát — haynói cách khác là khả năng quyết định việc sử dung các nguồn lực, cách thức sửdụng hay kha năng phân bổ các nguồn lực — cần được chú trọng, xem xét kỹhơn Đây là điểm pháp luật Việt Nam vẫn tôn tại nhiều hạn chế bởi các quyđịnh vẫn được quy định một cách tong quan va bo lot nhiéu truong hop, hanchế quyên lợi của một bên trong việc kiểm soát nguồn lực cũng như thiếu nhữngbiện pháp bảo đảm việc thi hành pháp luật được diễn ra trong thực tiễn
Khi nhắc đến van đề kiêm soát nguồn lực, đa phần mọi người sẽ nhìnnhận đó là quyền liên quan đến các giao địch chuyền giao quyền sở hữu đối vớitài sản Do đó, khi tìm hiểu pháp luật liên quan đến quyền bình đẳng trong kiểm
Trang 35soát các nguồn lực, Luật HN&GD 2014 sẽ được ưu tiên vi đây là luật chuyênngành, điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tải sản của vợ và chồng Nhưnghiện nay luật HN&GĐÐ 2014 lại tập trung chủ yêu vào van dé bình dang trongquyên định đoạt tài sản giữa vợ và chồng khi tiễn hành các hoạt động chuyểnquyền sở hữu như mua, bán, tặng cho, mà chưa đề cập đến những yếu tốkhác trong lĩnh vực kiểm soát Mặc đù phải thừa nhận hiện nay, những quy địnhghi nhận quyền bình đắng của vợ chồng đối với những tư liệu sản xuất như nhàcửa, đất đai, thu nhập chung là vô cùng cần thiết vì đây là một trong những yếu
tố cốt lõi có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiến tới bình dang chung giữa vợ vachồng trong hoạt động kiểm soát nguồn lực Tuy nhiên, khi nhìn vào thực tế,
có nhiều trường hợp pháp luật ghi nhận về quyền bình đẳng trong việc quyếtđịnh các nguồn lực chung của vợ và chồng nhưng trong đời sống gia đình, mộtbên vẫn bị hạn chế bởi người còn lại Ví dụ như việc trong một gia đình, người
vợ về mặt pháp lý, họ bình dang với người chồng trong định đoạt khối tài sảnchung, nhưng khi đưa khối tài sản đó tiến hành một số các hoạt động như sảnxuất, kinh doanh, đầu tư, thì người vợ vẫn thường bị lép về so với ngườichồng trong việc đưa ra quyết định Điểm bất cập ở đây nằmở việc vợ và chồngtrong thực tiễn chưa đạt được sự bình dang thực chat trong “quyền quyết định”với các vấn đề liên quan đến nguồn lực Dựa trên quan niệm, “vợ chồng tối lửatắt đèn bảo nhau”, xã hội cho rằng những van đề gia đình nên dé nội bộ gia đìnhgiải quyết Vì vậy, pháp luật hiện đang chú trọng vào việc giải quyết những van
đề pháp lý khi có tranh chấp xảy ra khi định đoạt tài sản chứ chưa đề cập đếnviệc làm sao dé bình đăng trong giai đoạn đưa ra quyết định
Trang 36TIỂU KÉT CHƯƠNG IChương I đã trình bày một cách có hệ thống những van dé lý luận vàpháp luật cơ bản về bình dang giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiêmsoát nguồn lực Trước hết, chương này làm rõ các khái niệm cốt lõi như bìnhđăng giới, tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, từ đó xác định nội hàm của bìnhđăng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực Những vấn
đề này không chỉ phản ánh nguyên tắc công băng trong quan hệ gia đình màcòn là nền tang cho việc bảo dam quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên, gópphần xây dựng một xã hội tiến bộ, bền vững
Bên cạnh đó, chương này đã phân tích ý nghĩa của việc quy định bìnhđăng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực trên cả haiphương diện: pháp lý và xã hội Về mặt pháp lý, quy định này bảo đảm rằng cả
vợ và chồng đều có quyền bình đăng trong sở hữu, sử dụng và định đoạt tài sảnchung, đồng thời giúp thực thi các nguyên tắc của Luật Bình đắng giới 2006,Luật Hôn nhân va Gia đình 2014, và các văn bản pháp luật liên quan Về mặt
xã hội, việc bảo đảm bình đắng giới trong quản lý nguồn lực giúp giảm thiểu
sự phụ thuộc tài chính, thúc day quyền ra quyết định của phụ nữ trong gia đình
và góp phần nâng cao vị thê của họ trong xã hội Chương này cũng đã hệ thốnghóa các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến bình đẳng giới giữa vợ vàchồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực Những quy định này tạo ra cơ sởpháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyên lợi của cả hai bên, hạn chế tình trạngmột bên chiếm hữu hoặc kiểm soát tài sản một cách bất bình đẳng, đồng thờithúc đây sự tham gia bình đẳng của vợ và chồng vào các quyết định kinh tếtrong gia đình.
Hay nói cách khác, đây cũng chính là cơ sở nghiên cứu của đề tài, kếtquả nghiên cứu tại chương I sẽ là yếu tố quan trọng dé tiếp tục đi sâu và timhiểu, tháo gỡ vấn đề, đồng thời cũng là nội dung lý luận tiền đề để nghiên cứu,phân tích, tìm hiểu chương II về thực tiễn thực hiện pháp luật về bình dang giới
Trang 37giữa vợ và chong trong tiêp cận và kiêm soát nguôn lực cũng như đưa ra một
sô kiên nghị nham giải quyêt những vân dé còn tôn đọng.
Trang 38Chương II
THỰC TIEN THỰC HIỆN BÌNH DANG GIỚI GIỮA VQ VÀ CHONGTRONG TIẾP CAN VA KIÊM SOÁT NGUON LỰC VÀ MOT SO KIÊN
NGHỊ2.1 Thực tiễn thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận
và kiểm soát nguồn lực
2.1.1 Kết quả đạt được từ thực tiễn thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và
chong trong tiép cận và kiêm soát nguôn lực
Trong những năm qua, việc thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và chồng,đặc biệt là trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong gia đình, đã đạtđược những kết quả đáng khích lệ tại Việt Nam Các chính sách và chiến lược
về bình đẳng giới ngày càng được chú trọng và triển khai rộng rãi, tạo cơ hộicho phụ nữ tham gia vào các quyết định quan trọng trong gia đình, từ tài chính,tài sản đến các van đề liên quan đến đầu tư va phát triển kinh tế Mặc du còntồn tại một số thách thức, nhưng những kết quả này đã góp phần làm thay đổinhận thức xã hội, thúc day sự công bằng trong quan hệ vợ chồng, đồng thờinâng cao vai trò và vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Trên cơ sở thừa kế những ưu điểm của Chiến lược quốc gia về bình đănggiới giai đoạn 2011-2021, Đảng và Nhà nước đã thực hiện nhiều công tác chiếnlược dé chuẩn bị cho thời ki tiếp theo trong công cuộc tiễn đến bình dang giớithực chất Chính phú tiếp tục ban hành Nghị quyết số 28/NQ-CP về Chiến lượcquốc gia về bình đăng giới giai đoạn 2021-2030 với nhiều mục tiêu và nhiệm
vụ cụ thé phục vụ cho công tác
Chỉ số phát triển giới (Gender Development Index — GDI) đã có sự cảithiện tích cực trong thời gian gần đây Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF),chỉ số khoảng cách giới năm 2023 của Việt Nam xếp thứ 72 trong số 146 quốcgia tham gia xếp hạng, tăng 11 bậc so với năm 2022'° Với thành tựu này, Liên
!
https:/www.xaydungdang.org.vn/nhan-quyen-va-cuoc-song/thuc-day-binh-dang-gioi-trong-cac-linh-vuc-