1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử Lý Vụ Việc Hạn Chế Cạnh Tranh Theo Luật Cạnh Tranh 2018_ Thực Trạng Và Giải Pháp.pdf

106 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh 2018: Thực trạng và giải pháp
Tác giả Nguyễn Bảo Linh
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Minh Hằng
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Đề án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 73,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu này không chỉ làm phong phú thêm kiến thức về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực cạnh tranh mà còn là nguồn tham khảo quý giá cho việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao

Trang 1

THUC TRANG VA GIAI PHAP

NGANH: LUAT KINH TE

NGUYEN BAO LINH

Hà Nội - 2025

Trang 2

THUC TRANG VA GIAI PHAP

Nganh: Luat Kinh té

Mã số: 8380107

Họ và tên học viên: Nguyễn Bảo Linh

Người hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Minh Hằng

Hà Nội - 2025

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Minh Hằng Các số liệu, tài liệu và kết quả phân tích trong luận văn đều trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định Những nội dung trình bày trong luận văn chưa từng được công bố trong bắt kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu có bắt kỳ sai phạm nào trong quá trình thực hiện, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

trước pháp luật và cơ sở đào tạo

Tác giả

Nguyễn Bảo Linh

Trang 4

3 Mục tiêu nghiên €ỨU 5 << S1 9.1 1 0 090091 0909090 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu . s<s<s<cssecsssezsserssserssersee 5

5 Phương pháp nghiên CỨU << «91 9115 09899 6

CHUONG I: NHUNG VAN DE LY LUAN VE XU LY VU VIEC HAN CHE

0.9/00) ~ Ô §

1.1 Khái niệm, đặc điỂm . 2-2 2 ©zEsz€zse©esserzsetrsetrzserrssrrzee 8

1.1.1 Khái niệm vụ việc Hạn chế cạnh tranh -2- s2 2s2+z+2EE+EE2EE+ZEzzEzzzzz 8 1.1.2 Đặc điểm của vụ việc Hạn chế cạnh tranh - 2 s+2s+2E+zE+ZEzzzzzzzzzz 11

1.2 Các loại vụ việc hạn chế cạnh tranh 2 s° 2 ssss<essessscse 14

1.2.1 Vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền

1.3 Nội dung về quy định pháp luật xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

1.3.1 Quy định pháp luật về xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh ld

1.3.2 Tam quan trọng trong việc hoàn thiện của các quy định xử lý vụ việc han chế cạnh tranh 22

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 25

CHUONG II: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIẾN THỰC THỊ QUY

DINH VE XU LY VU VIEC HAN CHE CANH TRANH THEO LUAT CANH

Trang 5

2.1.2 Các nguyên tắc cơ bản được sử dụng trong quá trình xử lý các hành vi hạn

ChE camh tram oo cc cccccccccececsececsessecsesecsessesessecsesvssesesvesesesessessestssessesvesessesveseeee 29 2.1.3 Những căn cứ pháp luật áp dụng trong việc xử lý hành vi hạn chế cạnh

¡0 .Ơ 30 2.1.4 Cơ quan cĩ thầm quyền xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh 33

2.2 Thực trạng các quy định pháp luật về xử lý khiếu nại, quyết định xử lý

vụ việc hạn chế cạnh tranh; khởi kiện quyết định xử lý khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh -2 s-s-s<cs<ssecsse 34

2.2.1 Trình tự thủ tục xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh -2+-z+zz+zzzz 34

2.2.2 Những hình thức xử lý và chế tài đành cho các hành vi HCCT theo quy định pháp luật - - 5 5222222323232 253212321 123215121212212121 11111111 40 2.3 Thực tiễn thực thi quy định về xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh ở Việt

TA 5Ÿ 5 Ă <3 T000 000400000008060400000003004000000040000040404000046 8.7 45

2.3.1 Những thành tự đã đạt được - 525222222222 E2 2E EeErrrerererrrrrer 45

2.3.2 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong

thực tiễn thực thi pháp luật về xử lý vụ việc HCCTT -2- 55252 s<<+<+s 47

KẾT LUẬN CHƯNG II -s2-ss+se©©++s£EE++eEEvxeErrsserrxseerrsserrree 53

CHUONG III: BINH HUONG VA GIAI PHAP HOAN THIEN CAC QUY ĐỊNH TRONG LUẬT CẠNH TRANH 2018 VẺ XỬ LÝ VỤ VIỆC HẠN CHE

CANH TTRATNH 5 5 << HH 0000 0 0 nhe eee 55 3.1 Định hướng hồn thiện pháp luật về xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam trong giaÏ 0H €Ớ 5-5-5 5 << <1 090081 9 0 55 3.1.1 Cần cĩ những giải pháp đồng bộ và hiệu quả để đảm bảo sự nhất quán giữa

Luật Cạnh tranh 2018 và luật chuyên ngàảnh 252522225252 5s+z+z+z>z>z=+x 55

3.1.2 Cần thiết lập hệ thống hoạt động độc lập và giải pháp đồng bộ với những

cơ quan lIÊn quạ - 2 +5 2222222255328 2E2EEE E323 232225312321 21131 71212123131 56 3.1.3 Tạo đựng quy định cần tập trung vào trọng tâm và những vấn đề quan trọng

cần được ưu tiên xử TẾ Q20 202021 221212121121515111111121111111 1211111111 21111111 11T 1111111 re, 58

3.1.4 Đảm bảo phù hợp với quy định quốc tẾ - -2-©222+22z222zz+2zzz+zzzzrr 60

Trang 6

3.2 Một số đề xuất hoàn thiện Luật Cạnh tranh 2018 về xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh tại Việt Namn - 2< << se ©ese©ssevsserserrserserssrrsrrsee 60

3.2.1 Hoàn thiện quy định trong Luật Cạnh tranh 2018 về xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranhh + < xxx E251 E 1E 31 511 11 111111 T1 TK 60

3.2.2 Tối ưu hóa các nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý đối với hành vi HCCT

-.ÉTHTH 2221 1.2 T111 62 3.2.3 Cải thiện và nâng cao hiệu quả của hệ thống cơ quan có thâm quyền xử lý các hành vi HCCCTT ¿+ +22 +2 22S2S32E2E2EEEE2E2321 2255312121 2111 7112121111 62 3.2.4 Hoàn thiện quy trình xử lý hành vi HCCTT -+++-+s+=+++=+>++ 64 3.3 Các biện pháp tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật trong việc xử lý 1i041040:0i900 02 67 3.3.1 Nâng cao năng lực cho cơ quan có thầm quyền thông qua đầu tư nguồn lực

3.3.2 Tạo dựng quy trình hợp tác liên ngành giữa các cơ quan chức năng đề đảm

bảo hiệu quả trong việc xử lý vụ việc HCCTT 25252 5222s+z2z£zz+z+zsezs+ 69 3.3.3 Hoàn thiện các điều kiện kinh tế - xã hội làm nền tảng cho sự phát triển của cạnh tranh + + xxx + E3 SE 1E 1E 1E 11 011051 1n, 72

KẾT LUẬN CHƯNG 3 2° 2<s°©se©ESs£EYse©ExseErseErsstrraeerssrrrsserxe 75 J0 8 9300000077 - ÔỎ 78

TAI LIEU THAM KHẢOO - 22-2 2S£Se£€E2Se€2ESeeeEvzseevxseevrsseorvee 80

Trang 7

ACCC Ủy ban cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng Úc

JFTC Uy ban canh tranh Nhat Ban

KFTC Uy ban thuong mai lanh manh Han Quéc

Trang 8

Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế và mở cửa thị trường, trong thực tế sẽ phát sinh nhiều vụ việc HCCT khi phạm vi cạnh tranh của các DN đang ngày càng được phát triển trên phạm vi lãnh thé cua trên toàn Thế giới, hành vi HCCT của các DN lớn, DN nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia sẽ ngày càng phô biến và tinh vi hơn

Việc không xử lý dứt điểm các vụ việc HCCT tiềm ân những hệ lụy khôn lường NTD

chịu thiệt hại trực tiếp từ việc giá cả bị thao túng, chất lượng sản phẩm, dịch vụ suy

giảm, đồng thời quyền lựa chọn bị hạn chế Đối với DN, môi trường kinh doanh méo

mó, thiếu công bằng kìm hãm sự đổi mới sáng tạo, cộng đồng các DN nhỏ và vừa

không thể phát triển và tham gia vào thị trường vì không đủ năng lực cạnh tranh Nền kinh tế nói chung sẽ đối mặt với nguy cơ tăng trưởng trì trệ, mắt cân bằng, kém minh bạch, hiệu quả phân bố nguồn lực thấp và mắt đi sức hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài Vì vậy, cơ quan thực thi pháp luật về cạnh tranh gánh vác trọng trách to lớn trong ngăn chặn xử lý đứt điểm các hành vi sai phạm, nhằm đảm bảo MTCT công bằng, bình đẳng và lành mạnh cho nền kinh tế

Trong các hiệp định quốc tế mới mà Việt Nam tham gia đều có những quy định nhằm tạo dựng đảm bảo một MTCT công bằng, không phân biệt đối xử giữa các

thành phần kinh tế, đồng thời nâng cao hiệu quả, hiệu lực và sự minh bạch trong việc thực hiện thực thi pháp luật về cạnh tranh Quy định PLCT có mối liên hệ chặt chẽ

và ảnh hưởng lẫn nhau với các ngành nghề khác, đặc biệt là ngành thương mại Hơn

một thập kỷ thực thi LCT dau tiên (LCT 2004), thực tiễn kết qua đã phơi bày những

bất cập trong mô hình cơ quan xử lý các vụ việc cạnh tranh vào thời điểm đó, sự

chồng chéo về thâm quyền giữa các cơ quan, cùng với những quy định tố tụng chưa

hoàn thiện, đã gây ra tình trạng trì trệ trong việc xử lý các vụ việc cạnh tranh nói chung và các vụ việc về HCCT nói riêng

Việc thiết lập một hệ thống xử lý vụ việc HCCT không chỉ mang ý nghĩa pháp

lý mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang đối mặt với nhiều biến động khó lường,

Trang 9

Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, dẫn đến nhiều điều bất hợp lý trong quy

định về xử lý vụ việc cạnh tranh Điều này khiến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia

(UBCTQG) gặp không ít khó khăn và lúng túng khi thực thi

Tuy nhiên, nhà nước cùng các cơ quan có thâm quyền luôn không ngừng cố gắng từng bước cải thiện hệ thống pháp luật liên quan đến xử lý vụ việc HCCT Mục tiêu là nhằm tăng cường khả năng thực thi LCT, đảm bảo một MTCT công bằng và minh bạch Từ thực tế này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh năm 2018: Thực trạng và giải pháp” Thông qua việc phân tích, đánh giá các quy định của LCT 2018 và đề xuất các giải pháp cụ thẻ,

dé an ky vong sé gop phan tạo dựng một MTCT lành mạnh, bình đăng, từ đó thúc

đây sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Các nghiên cứu quốc tế về vụ việc hạn chế cạnh tranh đã đóng góp nhiều kiến

thức quan trọng, làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và thực thi PLCT

Nghiên cứu Antitrust cua Louis Kaplow và Carl Shapiro (2007) đã sử dụng tư duy kinh tế để đánh giá các thỏa thuận ngầm gây bóp méo cạnh tranh trên thị trường, từ

đó cung cấp góc nhìn sâu sắc về tác động của các hành vi này đối với nền kinh tế Tiếp theo, Competition Policy, Theory and Practice của Massimo Motta (2004) là một trong những tài liệu nền tảng quan trọng trong lĩnh vực chính sách cạnh tranh, đặc biệt khi phân tích các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Tác giả nhắn mạnh rằng các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh không chỉ gây thiệt hại cho các DN khác mà còn làm giảm hiệu quả kinh tế tổng thé, dẫn đến sự méo mó trong phân bồ

nguồn lực và hạn chế sự đổi mới sáng tạo Motta cho rằng, việc ngăn chặn các hành

vi này đòi hỏi sự can thiệp mạnh mẽ từ phía cơ quan quản lý cạnh tranh, đồng thời cần có sự kết hợp giữa các biện pháp pháp lý và kinh tế để đảm bảo tính răn đe và hiệu quả Trong chương 4, tác giả đi sâu vào mô tả hành vi, đánh giá vi phạm và tác động của chúng, đồng thời đề xuất các chứng cứ cần thu thập trong quá trình điều tra,

Trang 10

Kovacic va Carl Shapiro (1999) lai tập trung vào lịch sử hình thành luật Sherman Act

và các nguyên tắc cắm mặc nhiên ("per-se") cũng như cắm dựa trên tác động ("rule

of reason") déi voi hành vi hạn chế cạnh tranh, cung cấp nên tảng lý thuyết quan trọng cho việc áp dụng PLCT Cuối cùng, nghiên cứu Case Resolution Chapter, Subgroup

2 Enforcement Techniques, Anti — Cartel enforcement Manual cia ICN (2011) đã cung cấp cho các cơ quan cạnh tranh trên thế giới cách thức xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh hiệu quả Nghiên cứu này phân tích các yếu tố cần cân nhắc trong quá

trình lựa chọn phương thức xử lý và đưa ra các vụ việc giả định dựa trên các biện

pháp xử lý thông lệ, giúp các cơ quan cạnh tranh nâng cao năng lực thực thi pháp luật Những nghiên cứu này không chỉ làm phong phú thêm kiến thức về lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực cạnh tranh mà còn là nguồn tham khảo quý giá cho việc hoàn

thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi tại Việt Nam.”

Các nghiên cứu quốc tế về hành vi HCCT đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể, thể hiện sự chuyên sâu và khả năng thích ứng nhanh chóng với những biến đổi trong hoạt động kinh doanh toàn cầu Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu trong lĩnh

vực này vẫn còn nhiều điểm hạn chế Mặc dù UBCTQG đã công bố một số báo cáo nghiên cứu chuyên sâu về cạnh tranh và hành vi hạn chế cạnh tranh, nhiều báo cáo

đã trở nên lỗi thời do được xây dựng dựa trên LCT 2004 Một số báo cáo khác chỉ

tập trung vào các nội dung téng quan, chang hạn như phân tích các yếu tố cầu thành

của hành vi HCCT, hoặc đi sâu vào một số khía cạnh cụ thể như sở hữu trí tuệ, chính

sách khoan hồng, hay tác động HCCT Trong số các nghiên cứu học thuật, luận án Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam của tiến sĩ Đặng Vũ Huân (2002) đã nhắn mạnh sự cần thiết của một văn bản pháp lý điều chỉnh cạnh tranh, bao gồm cả kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không

1 Massimo Motta, Competition Policy, Theory and Practice của (2004), chương 4

? Ủy Ban Cạnh tranh Quốc gia, Một số nội dung của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp tăng cường điều tra và xử lý vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam”, ngày

23/102/2024

https://www.bvntd.gov.vn/tintuc_ sukien/mot-so-noi-dung-cua-de-tai-nghien-cuu-khoa-hoc-cap-bo-nghien- cuu-de-xuat-giai-phap-tang-cuong-dieu-tra-va-xu-ly-vu-viec-thoa-thuan-han-che-canh-tranh-tai-viet-nam/

Trang 11

Kế thừa kết quả các nghiên cứu, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế hội nhập hiện

nay ở Việt Nam, đề án tiếp tục phát triển các thành quả về pháp luật xử lý hành vi

hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh 2018, bao gồm cả các quy định VỀ cơ quan

có thâm quyền, trình tự thủ tục, chế tài xử lý, và thực tiễn áp dụng, nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tế Thông qua việc phân tích những bắt cập còn tồn tại và đề xuất các giải pháp mang tính đột phá,

đề án không chỉ hướng đến việc củng cỗ khung pháp lý minh bạch, thống nhất mà

còn thúc đây môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực cho sự phát triển bền

vững của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng Những nội dung này sẽ được triển khai chỉ tiết trong các phần tiếp theo, với trọng tâm là đánh giá thực trạng và định hướng cải cách toàn diện

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề án này hướng đến việc phân tích các khía cạnh lý luận cũng như thực tiễn

về xử lý các vụ việc HCCT dựa trên quy định của LCT năm 2018 Đồng thời, đề án

cũng đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật hiện hành trong lĩnh vực

này tại Việt Nam, qua đó rút ra những kiến nghị nhằm kiện toàn hệ thống PLCT và

cải thiện hiệu quả trong công tác xử lý các vụ việc HCCT Đề tiến tới những mục tiêu nêu trên, nghiên cứu sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Làm rõ nền tảng lý thuyết liên quan đến xử lý vụ việc HCCT: Tổng hợp và hệ thống các lý luận, quan điểm về cạnh tranh, vụ việc HCCT cũng như quy trình xử lý

các vụ việc này theo LCT 2018

- Đánh giá và phân tích các quy định của LCT 2018 về xử lý vụ việc HCCT: Nghiên cứu chỉ tiết các quy định pháp lý liên quan đến thấm quyên, trình tự, thủ tục

xử lý, cũng như các chế tài áp dụng đối với các vụ việc HCCT

- Đánh giá thực trạng xử lý vụ việc HCCT theo LCT năm 2018: Phân tích thực

tiễn áp dụng các quy định của LCT năm 2018 trong công tác xử lý vụ việc HCCT,

nhận định những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quá

Trang 12

nghị và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện LCT và tăng cường hiệu quả thực thi pháp

luật trong lĩnh vực xử lý vụ việc HCCT tại Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối trợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề án bao gồm các quy định được nêu trong LCT năm 2018 cùng với những văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến quy trình

xử lý các vụ việc HCCT Bên cạnh việc xem xét kinh nghiệm quốc tế trong việc hoàn

thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý vụ việc HCCT, đề án này còn tập trung vào việc phân tích và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật trong công

tác điều tra, phát hiện và xử lý các hành vi HCCT tại Việt Nam Từ đó đề xuất những

biện pháp có thể áp dụng cho Việt Nam

4.2 Phạm vỉ nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề án chủ yếu tập trung vào các hành vi HCCT được quy định trong LCT năm 2018, cũng như thực tiễn thực thi pháp luật xử lý vụ việc

HCCT ké tir thoi điểm LCT năm 2018 có hiệu lực kết hợp với việc nghiên cứu các

văn bản pháp luật liên quan hiện hành Các đối tượng chính thuộc phạm vi nghiên cứu bao gồm: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, hành vi lạm dung VTTL thị trường, và lạm dụng VTĐQ Nội dung về kiêm soát TTKT không nằm trong phạm vi chính của

đề án do LCT 2018 đã tách biệt chế định này thành một phần riêng Bên cạnh đó, đề

án cũng tập trung phân tích các chế tài với các vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý

vụ việc HCCT tại Việt Nam từ khi LCT năm 2018 có hiệu lực

Trên cơ sở đó, nghiên cứu tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng, đồng thời đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm cải thiện hệ thống pháp luật và tăng cường hiệu quả trong việc xử lý các vụ việc HCCT trong thời gian tới Những đề xuất này

hướng tới mục đích tạo dựng một MTCT công bằng và lành mạnh tại Việt Nam.

Trang 13

pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể như sau:

3.1 Phương pháp luận chung:

- Chủ nghĩa Mác - Lênin: Đề án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng phương pháp luận xuyên

suốt

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nhằm thể hiện mối liên kết giữa vụ việc HCCT cũng như các quy định pháp luật liên quan, đề án đã kết hợp các học thuyết pháp lý và kinh tế xã hội, qua đó thể hiện rõ tính chất đa ngành trong quá trình nghiên cứu

5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

- Phân tích, đánh giá và giải thích: Đây là phương pháp chính, được áp dụng trong toàn bộ các phần của đề án, đặc biệt trong quá trình nghiên cứu tổng quan các vấn đề lý luận liên quan đến hành vi HCCT và quy trình xử lý hành vi này Từ đó, nghiên cứu tiễn hành phân tích, đánh giá và giải thích pháp luật về xử lý vụ việc

HCCT tại Việt Nam

- Phương pháp đối chiếu so sánh: Đề án áp dụng phương pháp này nhằm: Đối chiếu các quy định pháp lý và thực tiễn áp dụng trong xử lý hành vi HCCT giữa Việt Nam và một số quốc gia tiêu biêu Đồng thời, nhận diện các yếu tố phù hợp từ lý thuyết pháp luật, quan điểm học giả, hệ thống quy phạm và kinh nghiệm thực tiễn của các nước, qua đó kiến nghị giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp lý về xử lý hành

vi HCCT ở Việt Nam

- Phương pháp tổng hợp: bằng cách thu thập đa dang tài liệu và tổng hợp các quan điểm khác nhau, tác giả đã xử lý các vấn đề lý luận quan trọng, từ đó nhận diện bản chất của vụ việc HCCT và đề xuất cầu trúc pháp luật phù hợp Phương pháp này cho phép đề án cung cấp một cái nhìn toàn diện, đa chiều về thực trạng pháp luật và

thực tiễn thi hành pháp luật về vụ việc HCCT và các quy định về xử lý vụ việc HCCT,

Trang 14

Đề án gồm 03 phần Mở đầu, Nội dung và Kết luận Đề tài nghiên cứu sẽ được triển khai cụ thể trong phần nội dung với 03 chương như sau:

Chương I: Những vấn lý luận về xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

Chương II: thực trạng quy định và thực tiễn thực thi quy định về xử lý vụ việc

hạn chế cạnh tranh theo luật cạnh tranh 2018

Chương III: Định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định trong luật cạnh

tranh 2018 về xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

Trang 15

1.1 Khái niệm, đặc điểm

1.1.1 Khái niệm vụ việc Hạn chế cạnh tranh

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm vụ việc hạn chế cạnh tranh có thể được xây dựng dựa trên các định nghĩa và quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh trong các

nguồn pháp lý quốc tế và Việt Nam Theo từ điển Black's Law của tác gia Garner,

hạn chế cạnh tranh được hiểu là các hành vi hoặc thỏa thuận nhằm loại bỏ cạnh tranh, tạo vị thế độc quyền, hoặc gây bắt lợi cho thị trường tự do, vốn bị cắm theo nguyên

tắc hợp lý và lợi ích công cộng Tương tự, từ điển The Australian Legal Dictionary

định nghĩa hành vi hạn chế cạnh tranh là các thỏa thuận, hợp đồng hoặc hành vi nhằm

giảm hoặc triệt tiêu cạnh tranh.3 Bộ quy tắc của Liên Hợp Quốc (1980) cũng nhấn mạnh các hành vi doanh nghiệp như sáp nhập hoặc lạm dụng vị trí thống lĩnh gây ảnh hưởng xấu đến thương mại quốc tế Trong khi đó, pháp luật cạnh tranh của các quốc

gia như Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, và khuyến nghị cua UNCTAD tap trung vao muc tiéu kiểm soát các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dung vi

trí thống lĩnh, hoặc tập trung kinh tế để bảo vệ môi trường kinh doanh công bằng Ở

Việt Nam, Luật Cạnh tranh 2004 định nghĩa hành vi hạn chế cạnh tranh là các hành

vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh, trong khi Luật Cạnh tranh 2018 sửa đổi nhắn

mạnh hành vi gây hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh

Cụm từ “vụ việc HCCT” lần đầu được xuất hiện tại LCT 2018, đây cũng là một trong những điểm mới của LCT 2018 so với LCT 2004 Cụ thé, khoản 8, điều 3, LCT

2018 quy định vụ việc cạnh tranh đề cập đến các hành vi có dấu hiệu vi phạm các

quy định pháp luật liên quan đến cạnh tranh, được tiễn hành điều tra bởi cơ quan cạnh tranh và xử lý theo các quy định của LCT 2018 Các vụ việc này về các hành vi liên

quan đến: hành vi hạn chế cạnh tranh, vi phạm các quy định về TTKT, và các hành

vi cạnh tranh không lành mạnh Hiện nay chưa có một tài liệu cụ thể nào giải thích

3 The Australian legal dictionary - Từ điển pháp lý Australia, Nhà xuất bản Edward Arnold, (Australia) năm 1985

Trang 16

vi phạm PLCT

Đề có thê nghiên cứu sâu hơn về xử lý vụ việc HCCT theo LCT 2018, trước hết cần phân tích kỹ hơn về hành vi HCCT

Khoản 2, Điều 3, LCT 2018 đã đưa ra khái niệm về hành vi hạn chế cạnh tranh

là nhóm những hành vi gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng VTTL thị

trường và lạm dụng VTĐQ Đồng thời, những hành vi này là những hành vi gây ra ảnh hưởng hoặc có khả năng gây ra ảnh hưởng hạn chế, cản trở cạnh tranh

Theo Giáo trình LCT của Trường Đại học Luật Hà Nội thì hành vi HCCT là những hành vi tiêu cực xảy trong MTCT, cản trở cạnh tranh, làm giảm hoặc sai lệch cán cân cạnh tranh Chính vì vậy, hành vi HCCT vô cùng có hại đến sự phát triển của

thị trường và làm giảm các phúc lợi xã hội của người dân

Theo Bryan A Garner trong tir dién Black’s Law tai bản lần thứ 10 thi HCCT

(antitrust) 1a su thoa thuan, đồng thuận hoặc sự liên kết giữa hai các bên Mục tiêu của thỏa thuận và sự liên kết này là loại bỏ sự cạnh tranh của các đối thủ kinh doanh của nhóm chủ thể này Từ đó, nhóm chủ thể thực hiện hành vi thỏa thuận sẽ đạt được VTDQ trên thị trường, tạo tiền đề để sau đó nhóm chủ thể này sẽ tiếp tuc loi dung vi

trí đang có mà nâng giá sản phẩm, dịch vụ đắt đỏ một cách vô lý Hậu quả của những

hành vi này sẽ là làm tốn hại đến thị trường tự do cạnh tranh Dé dam bao loi ích cho

moi chủ thê tham gia kinh doanh và cho toàn xã hội, những hành vi này cần bị ngăn chặn và nghiêm cắm thực hiện.”

PLCT ở châu Âu hiện nay được tạo dựng dựa trên nền tảng từ các quy định ngăn

chặn hạn chế thương mại và chịu ảnh hưởng từ Đạo luật Sherman năm 1890 cũng

như Đạo luật Clayton năm 1914 của Hoa Kỳ Cơ sở pháp lý chính nằm ở các Điều từ

101 đến 109 trong Hiệp ước về Chức năng của Liên minh Châu Âu (TFEU) Trong

đó, Điều 101 đặt ra lệnh cắm đối với các thỏa thuận gây cản trở cạnh tranh, trong khi

4 Bryan A Garner, 2014, Black’s Law Dictionary 10th Edition, West Group, trang 2097

Trang 17

Diéu 102 quy dinh về việc ngăn chặn hành vi lạm dụng V'TTL trên thị trường

Về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (cartel), Điều §1 của Hiệp định Rome và Điều

101 của Hiệp ước TFEU đều quy định nghiêm cắm các thỏa thuận có mục đích hoặc hậu quả làm cản trở, hạn chế, hoặc bóp méo cạnh tranh Cụ thể, các điều khoản này cắm tất cả các DN, hiệp hội DN hay tổ chức nào tiến hảnh mọi loại thỏa thuận mà

trong thỏa thuận hợp tác đó có khả năng tạo ra ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan

hệ thương mại trong các quốc gia thành viên của tô chức Đặc biệt là nếu các thỏa

thuận hợp tác này có mục tiêu hoặc chỉ hậu quả suy giảm sức cạnh tranh, ngăn cản,

hạn chế cạnh tranh trên thị trường chung.Š Quy định này áp dụng cho cả thỏa thuận theo chiều ngang (giữa các công ty cùng cấp độ trong chuỗi giá trị, ví dụ như giữa hai nhà sản xuất) và thỏa thuận theo chiều dọc (các công ty không cùng cấp bậc, ví

dụ như giữa nhà phân phối và khách hàng).5

Khái niệm về hành vi HCCT lần đầu tiên được đưa ra trong LCT 2004 thì các

Hành vi hạn chế cạnh tranh là những hành động có chủ đích làm suy yếu, bóp méo hoặc gây cản trở đến MTCT trên thị trường Những hành vi này bao gỗm các thỏa

thuận nhằm hạn chế cạnh tranh, lạm dụng VTTL hoặc VTĐO, cũng như các hoạt động TTKT.” Nhưng sau đó, nhằm tiếp cận sát hơn với biểu hiện cụ thể của hảnh vi

HCCT, LCT 2018 đã sửa đổi khái niệm, cụ thể là LCT đã bỏ các hoạt động TTKT ra

khỏi khái niệm hảnh vi hạn chế cạnh tranh

Từ các cơ sở này, vụ việc hạn chế cạnh tranh được hiểu là sự kiện hoặc chuỗi

hành vi cụ thể của các chủ thê kinh doanh vi phạm hoặc bị nghỉ ngờ vi phạm pháp

luật cạnh tranh, gây ra hoặc có khả năng gây ra tác động tiêu cực đến cạnh tranh

trên thị trường, dẫn đến việc cơ quan quản lý cạnh tranh phải tiến hành điều tra và

xử lý theo quy trình pháp lý nhằm bảo vệ thị trường tự do, công bằng và quyên lợi

5 Trung tâm WTO, Luật cạnh tranh của EU quy định cấm đối với hành vi lạm dụng sức mạnh thống lĩnh thị trường như thế nào? 08/12/2021, https://trungtamwto.vn/chuyen-de/19528-luat-canh-tranh-cua-eu-quy- dinh-cam-doi-voi-hanh-vi-lam-dung-suc-manh-thong-linh-thi-truong-nhu-the-

Trang 18

nguoi tiéu dung

1.1.2 Đặc điểm của vụ việc Hạn chế cạnh tranh

Các đặc điểm sẽ giúp cho cơ quan cạnh tranh nhanh chóng nhận diện và xác

định các dấu hiệu của một vụ việc HCCT rồi tiến hành xử lý, ngăn chặn các hệ quả

của hành vi HCCT đến thị trường Khi điều tra vụ việc HCCT, UBCTQG căn cứ vào

nhiều yếu tố như: chủ thể thực hiện hành vi, biểu hiện của HVVP, thị trường nơi diễn

ra hành vi HCCT và khi thực hiện những hành vị HCCT trên thị trường đó nó có ảnh

hưởng tiêu cực đến MTCT hay không

Đầu tiên, chủ thể của vụ việc HCCT là các DN, nhóm DN, đơn vị sự nghiệp

công lập hoặc hiệp hội ngành nghê

Theo Điều 2, LCT 2018, đối tượng áp dụng của Luật đã mở rộng đến mọi đối tượng liên quan đến cạnh tranh trên thị trường, cụ thể:

- Các đơn vị tham gia hoạt động kinh doanh (gọi chung là DN) bao gồm các DN cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích, các DN hoạt động trong những ngành nghè,

lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập, và cả những DN nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam So với LCT 2004, LCT 2018 có phạm vi

điều chỉnh rộng hơn khi bổ sung thêm đơn vị sự nghiệp công lập vào danh sách các

đối tượng áp dụng Sự thay đổi này nhằm mục đích tạo một sân chơi bình đăng, hạn chế tối đa việc tạo lợi thế cạnh tranh không công bằng cho các đơn vị sự nghiệp công lập Như vậy, chủ thể DN áp dụng của LCT so với các Luật khác, cụ thể khoản 10

Điều 4 Luật DN 2020 quy định rằng DN là một tổ chức được hình thành và hoạt động

dựa trên các quy định pháp luật, có tên gọi riêng biệt, sở hữu tài sản độc lập, có địa chỉ trụ sở cụ thể, và được thành lập hoặc đăng ký hợp pháp với mục tiêu chính là thực hiện các hoạt động kinh doanh Luật DN không điều chỉnh các cá nhân kinh doanh,

nhưng đối với LCT, phạm vi của định nghĩa DN rộng hơn khi các cá nhân kinh doanh

dù đăng ký hay không đăng ký thì đều được gọi chung là DN Đây là một trong những đặc điểm quan trọng của LCT mà cần được lưu ý khi tiến hành nghiên cứu và áp dụng

LCT trong việc xử lý các vụ việc HCCT

- Hiệp hội ngành, nghề hoạt động tại Việt Nam, cụ thể là hiệp hội ngành hàng

Trang 19

(như Hiệp hội Bông sợi Việt Nam, Hiệp hội chế biến và xuất khâu Thủy sản Việt

Nam, Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, .) và hiệp hội nghề nghiệp (Hiệp hội tư vấn tạo dựng Việt Nam, Hội kế toán kiểm toán Việt Nam, Hiệp hội nhà thầu tạo dựng Việt Nam., ) Các Hiệp hội được thành lập nên với mục tiêu đề cao, ưu tiên lợi ích nhóm, đồng thời các Hiệp hội đều có những quy định

và hoạt động theo quy tắc số đông, chính vì vậy một số quyết định của Hiệp hội đưa

ra có thé triệt tiêu sự cạnh tranh trong thị trường của Hiệp hội đó LCT không chỉ giới

hạn việc cắm các cơ quan quản lý nhà nước mà còn mở rộng phạm vi áp dụng đối với

cả các tổ chức và cá nhân có hảnh vi cung cấp thông tin, vận động, kêu gọi, ép buộc hoặc tổ chức để DN thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh” Do đó, cần phải đảm

bảo các quy định, quyết định, hoạt động của Hiệp hội đưa ra là vì giúp đề hỗ trợ cùng nhau hoạt động trong lĩnh vực hoạt động, điều này cũng giúp góp phần phát triển kinh

tế - xã hội đất nước, tránh các hoạt động, tổ chức có dấu hiệu vi phạm LCT

- Thực tiễn đã có những hành vi HCCT xảy ra ngoài lãnh thổ quốc gia nước sở

tại do chủ thể thực hiện là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài

gây ảnh hưởng HCCT tới thị trường trong nước LCT 2004 chỉ quy định chủ thê áp

dụng là DN nước ngoài hoạt động ở Việt Nam, điểm thay đổi mới ở LCT 2018 đã tạo

cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền thực hiện điều tra và xử lý toàn diện mọi

hành vi ảnh hưởng đến thị trường trong nước dù cho khu vực thực hiện hành v1 ở bất

cứ quốc gia nào Việc mở rộng phạm vi áp dụng đã thiết lập một cơ sở pháp lý vững

chắc, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan cạnh tranh của Việt Nam trong việc hợp tác

chặt chẽ với các cơ quan cạnh tranh quốc tế đề điều tra và xử lý các vụ việc liên quan

đến cạnh tranh Nhờ đó, MTCT trở nên minh bạch, công bằng hơn, hỗ trợ tích cực

cho sự phát triển ôn định và bền vững của các DN trong nước

Thứ hai, biểu hiện vụ việc HCCT được xác định dựa trên thị trường liên quan

Bước quan trọng nhất trong quá trình điều tra các vụ việc liên quan đến cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu là xác định rõ thị trường liên quan nhằm xác định đầy đủ

các sản phẩm hoặc dịch vụ có thể thay thế cho sản phẩm hoặc dịch vụ đang bị điều

7 Điều 8 Luật Cạnh tranh 2018

Trang 20

tra Bước khoanh vùng thị trường liên quan đóng vai trò nền tảng cho các bước tiếp

theo của cơ quan cạnh tranh, gồm việc phân tích mức độ tập trung của thị trường, thị

phần và khả năng mở rộng sản xuất, những trở ngại gia nhập Thị trường liên quan được xác định trên cơ sở thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Trong giai đoạn điều tra ban đầu, xác định thị trường liên quan, UBCTQG có quyền tham vấn ý kiến của các cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực, các DN, tô chức và cá nhân

có chuyên môn liên quan đến vụ việc đang được xử lý

Nói một cách dễ hiểu hơn, xác định thị trường liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá các hành vi HCCT vì chỉ khi xác định được thị trường liên quan

thì mới tiến hành xác định được thi phần của DN, từ đó đưa ra các kết luận đánh giả

Cụ thể, khi xem xét các thỏa thuận giữa các DN, UBCTQG sẽ đánh giá thị phần của các bên tham gia Thị phần lớn có thể là dấu hiệu cảnh báo về dấu hiệu của hành vi HCCT, cần tiến hành theo dõi, điều tra để đảm bảo tính công bằng và minh bạch của thị trường Trong việc xác định hành vi lạm dụng VTTL thị trường, thị phần là yếu

tố quyết định DN có thị phần lớn, đặc biệt là DN độc quyền, sẽ phải chịu sự quản lý chặt chẽ để phòng ngừa việc lợi dụng vị thế tạo bất lợi đến MTCT Tuy nhiên, LCT

cũng quy định rõ ràng rằng DN có thị phần đưới 10% không thuộc đối tượng điều tra

về hành vi lạm dụng.Š

Thứ ba, ý thức của chủ thể là yếu tố quan trọng để xác định lỗi của chủ thể

trong vụ việc HCCT

Đề xác định vụ việc HCCT có thực sự vi phạm PLCT, UBCTQG cần xem xét

cả yếu tố chủ quan, tức là ý định hoặc nhận thức của chủ thể thực hiện hành vi, ngoài các điều kiện hoản cảnh khách quan Dựa vào biểu hiện của hành vi HCCT, UBCTQG tiến hành xác định “động cơ” thực hiện hành vi của chủ thể vụ việc HCCT Các chủ

thé có thê sử dụng nhiều phương thức tỉnh vi, từ thông đồng ngầm đến các chiến lược

phức tạp, nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh, củng cố thị phần và thu lợi bất chính Hậu

quả là các DN yếu kém hơn trong thị trường sẽ không có cơ hội hoạt động và phát

triển, làm giảm động lực cạnh tranh, kìm hãm sự đổi mới, sáng tạo, dẫn đến sự trì trệ

8 Khoản 3, Điều 24 Luật Cạnh tranh 2018

Trang 21

của nền kinh tế, lựa chọn của NTD bị giới hạn và phải sử dụng các sản phẩm, dịch

vụ chất lượng kém với giá cao Thay vì tuân theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, thị

trường bị chỉ phối bởi một hoặc một nhóm DN thông qua các hành vi HCCT, điều

này đi ngược lại nguyên tắc của thị trường tự do, nơi mà các lực lượng cung cầu tự

điều tiết

Tuy nhiên, cũng cần phải xét đến những yếu tố khách quan trong quá trình xử

lý vụ việc HCCT Đặc thù của từng ngành nghề kinh doanh đóng vai trò quan trọng

Ví dụ, một số ngành có tính tập trung cao do rào cản gia nhập lớn (ngành hàng không,

Sở giao dịch hàng hóa phái sinh, ), trong khi những ngành khác lại có mức độ cạnh tranh gay gắt hơn (ngành sản xuất, bán lẻ mặt hàng tiêu dùng) Hành động của các

DN chịu ảnh hưởng đáng kể từ bối cảnh kinh tế tại thời điểm đó Cụ thể, trong thời

kỳ suy thoái, các DN thường tìm kiếm sự hợp tác để cùng vượt qua khó khăn và giảm thiểu rủi ro Tuy nhiên, những hợp tác này có thê tiềm ân những HVVP pháp luật về HCCT và cần được UBCTQG xem xét kỹ lưỡng Ngoài ra, những yếu tố bất khả

kháng như thiên tai, dịch bệnh cũng cần được xem xét thấu đáo

Cuối cùng, mức độ ảnh hưởng thực tế của vụ việc HCCT lên thị trường cần

được đánh giá kỹ lưỡng Có những trường hợp vụ việc tuy có dấu hiệu vi pháp pháp

luật HCCT nhưng ảnh hưởng nhỏ, thậm chí còn mang lại lợi ích cho NTD Việc xem

xét đầy đủ các yếu tổ khách quan này sẽ giúp cơ quan chức năng có cái nhìn toàn diện, khách quan và công bằng, từ đó đưa ra quyết định xử lý phù hợp, đảm bảo MTCT lành mạnh, đồng thời khuyến khích sự phát triển của DN

1.2 Các loại vụ việc hạn chế cạnh tranh

Hành vi HCCT là những hành vi có khả năng gây ảnh hưởng xấu hoặc tiềm ân nguy cơ xấu đến MTCT Những hành vi này bao gồm các thỏa thuận hạn chế cạnh

tranh, lạm dụng VTTL thị trường, và lạm dụng VTĐQ

1.2.1 Vụ việc lạm dụng vị trí thong lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền

Vụ việc lạm dụng VTTL thị trường và VTĐQ là vụ việc mà các DN nắm giữ

VTTL hoặc VTĐQ gây ra hoặc có khả năng gây ra những ảnh hưởng bóp méo cạnh

tranh.

Trang 22

Hiện nay, pháp luật của các quốc gia và tổ chức quốc tế có hai xu hướng tiếp

cận chính trong việc mô tả hành vi lạm dụng VTTL, VTĐQ Đầu tiên, pháp luật định nghĩa và quy định cụ thé về từng hành vi lạm dụng VTTL, VTĐQ Ví dụ điển hình

cho xu hướng này là các quy định trong Bộ Quy tắc về Cạnh tranh của Liên hợp quốc (1980) và Luật Mẫu về Cạnh tranh của Tổ chức thương mại và phát triển Liên hợp

quốc (UNCTAD) Theo đó, hành vi lạm dụng VTTL và VTĐQ dé HCCT là những

hành vi mà các DN có VTTL hoặc độc quyền sử dụng nhằm mục đích tiếp tục giữ vững hoặc củng cé vi thé của mình trên thị trường Mục đích của hành vi nay là ngăn chặn sự tham gia của các đối thủ tiềm năng vào thị trường hoặc tạo ra những rào cản quá lớn nhằm hạn chế cạnh tranh, từ đó gây ra những tác động xấu đến tính công bang và sự lành mạnh của môi trường kinh doanh.” Xu hướng thứ hai trong pháp luật

không tập trung vào việc định nghĩa cụ thể hành vi lạm dụng VTTL hoặc VTĐQ, ma thay vào đó, chỉ đưa ra các đặc điểm chung để xác định hành vi này, đồng thời liệt kê

một cách chỉ tiết các hành vi bị xem là lạm dụng VTTL, VTĐQ nhằm HCCT Một ví

dụ điển hình cho xu hướng này là LCT Canada Cụ thé, Khoản I Điều 79 LCT Canada

không đưa ra khái niệm cụ thể mà chỉ nêu ba dấu hiệu chính của hành vi lạm dụng:

(i) Cac DN nay đã hoặc đang thực hiện những hành vi mang tính phản cạnh tranh theo quy định của LCT; (1) Một hoặc một nhóm DN có kha nang kiểm soát toàn bộ hoặc một phần đáng kể một ngành nghề hoặc phân khúc kinh doanh, dù trên phạm vi

toàn quốc hay tại một khu vực cụ thể của Canada; (1m) Những hành vị đó đã, đang

hoặc có nguy cơ gây cản trở đáng kê đến cạnh tranh trên thị trường Ngoài ra, Điều

78 LCT Canada còn liệt kê chỉ tiết 9 nhóm hành vi có khả năng bị coi là phản cạnh

tranh và bị cắm

Trong lĩnh vực cạnh tranh, việc phân loại hành vi lạm dụng có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào tiêu chí được sử dụng Tuy nhiên, nhìn

chung có hai phương pháp phân loại chính

Phân loại dựa trên đối tượng bị xâm hại, nghĩa là xác định aI là người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hành v1 lạm dụng đó, có thể là là toàn bộ thị trường hoặc chỉ khách

Xem Mục B đoạn 1 Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên hợp quốc: Tổ chức thương mại và phát triển Liên hợp quốc, Luật mẫu về cạnh tranh, bản dịch của Hoàng Xuân Bắc, tr 52.

Trang 23

hang, đối thủ cạnh tranh mới bị ảnh hưởng Dựa trên đối tượng bị xâm hại, hành vi lạm dụng được phân chia thành hai nhóm: nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột

và nhóm hành vi lạm dụng mang tính độc quyền

1.2.1.1 Nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột

Nhóm hành vi lạm dụng mang tính bóc lột bao gồm những hành vi mà DN lợi

dụng VTTL hoặc VTĐQ để tạo lợi thế trong các hoạt động kinh doanh, nhằm mục

đích thu về lợi nhuận độc quyền Nhóm hành vi này có một số đặc điểm chính như

sau:

- Mục tiêu chính mà nhóm này hướng đến là các đối tượng khách hàng của DN

Do đó, chúng thường xuất hiện trong các giao dịch mà DN có VTTL hoặc VTĐQ với khách hàng Trong mối quan hệ này, khách hàng thường ở vị thế yếu hơn đo khả năng lựa chọn bị giới hạn Với VTTL hoặc VTĐQ, DN có khả năng kiểm soát toàn bộ hoặc phần lớn nguồn cung cầu trên thị trường

- Hành vi lạm dụng không chỉ mang lại lợi thế cho DN thông qua kết quả giao dịch mà còn thông qua việc áp các điều kiện giao thương bắt lợi lên khách hàng

Những lợi thế này có thể bao gồm việc thu về lợi nhuận độc quyền, kiểm soát các yếu

tố cốt lõi của thị trường (nguyên liệu, nguồn cung ứng, ) Điều này phản ánh bản chất bóc lột của hành vi lạm dụng, khi DN thu lợi từ việc áp đặt các nghĩa vụ phi lí hoặc thiếu công bằng lên khách hàng, từ đó khai thác giá trị từ họ một cách không chính đáng

Mỗi phương pháp đều có ưu điểm riêng và được lựa chọn dựa trên mục tiêu nghiên cứu cụ thể Các nghiên cứu về hành vi lạm dụng VTTL thị trường và VTĐQ

đã chỉ ra nhiều hình thức khác nhau, mỗi hình thức đều mang mục đích và bản chất

riêng biệt Ví dụ, một số DN tìm cách gia tăng chỉ phí hoạt động của đối thú, khiến

họ yếu thế và dễ bị loại bỏ Điều này có thể đạt được bằng cách gây áp lực lên các nhà cung cấp trong chuỗi liên kết, thâu tóm nguồn nguyên liệu đầu vào quan trọng,

hoặc kiểm soát các nguồn lực khan hiểm Một chiến thuật khác là thâu tóm khách

hàng, nhằm chặn các DN cùng ngành nghề tiếp cận thị trường hoặc phát triển Các hợp đồng ràng buộc, độc quyền dài hạn, hoặc tạo ra chỉ phí chuyên đổi cao là những

Trang 24

công cụ thường được sử dụng Dinh giá hủy diệt là một hình thức phổ biến, trong đó

DN loi dụng sức mạnh thị trường đề bán sản phâm với giá cực thấp, đủ lau dé day

đối thủ ra khỏi cuộc chơi Sau đó, họ sẽ tăng giá trở lại đề thu lợi nhuận độc quyền

Ngoài ra, còn có các hành vi như chỉ phối giá cả thị trường, kiểm soát nguồn cung

cau, phan biét đối xử, và lạm dụng quyền Sở hữu trí tuệ

Tat cả những hành vi này đều được luật pháp các nước nghiên cứu kỹ lưỡng về ban chat và mục đích, từ đó tạo dựng các quy định pháp lý cụ thể để ngăn chặn và xử

lý Việc hiểu rõ các hình thức lạm dụng này là rất quan trọng để UBCTQG có thể áp

dụng điều tra vụ việc

1.2.1.2 Hanh vi lạm dụng vị trị độc quyên

Hành vi lạm dụng VTĐQ là những hành động được thực hiện bởi các DN có

VTTL hoặc VTĐQ trên thị trường, nhằm HCCT bằng cách áp dụng các biện pháp

triệt tiêu hoặc ngăn chặn đối thủ gia nhập thị trường Mục đích của những hành vi này là duy trì và tăng cường quyền lực của DN, gây ảnh hưởng tiêu cực đến MTCT công bằng và lành mạnh Nhóm hành vi này có hai đặc điểm nổi bật cần lưu ý: Thứ nhất, mục tiêu của hành vi này chính là các DN cạnh tranh, gồm những DN đang hoạt động trên thị trường và các đối thủ tiềm năng trong tương lai

Thứ hai, mặc dù hành vi có thể không mang lại lợi ích vật chất trực tiếp cho

DN, nhưng nó tạo điều kiện để DN tăng cường vị thế của mình bằng cách triệt tiêu các đối thủ Việc đối thủ rời bỏ thị trường hoặc từ bỏ ý định tham gia sẽ làm giảm áp lực cạnh tranh, đồng thời khiến các lựa chọn của khách hàng sẽ bị thu hẹp

1.2.2 Vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Trong lĩnh vực kinh tế học, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được hiểu là

sự đồng lòng và hợp tác hành động giữa các DN nhằm mục đích giảm thiểu hoặc triệt

tiêu áp lực cạnh tranh, hoặc hạn chế tính độc lập trong hành động của các đối thủ cạnh tranh Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự đồng thuận giữa nhiều chủ thể kinh doanh, được thê hiện dưới bất kỳ hình thức nảo, nhằm mục đích hoặc có tác động làm

Trang 25

suy yếu, bóp méo hoặc gây cản trở đến hoạt động cạnh tranh trên thị trường ? Thỏa

thuận hạn chế cạnh tranh đặc biệt là thỏa thuận ấn định giá, là biểu hiện rõ nét của độc quyền nhóm Thay vì cạnh tranh lành mạnh, các DN lại "bắt tay" nhau, hình thành

một liên minh ngầm đề kiểm soát thị trường và thao túng giá cả Hậu quả là NTD bị

tước mắt quyền lợi được hưởng lợi ích từ sự cạnh tranh, phải chấp nhận mức giá cao hơn, lựa chọn hạn chế hơn và chất lượng dịch vụ có thể bị ảnh hưởng

LCT năm 2018 của Việt Nam đã có những quy định cụ thể về hành vi HCCT

Theo đó, "thỏa thuận hạn chế cạnh tranh" được hiểu là bất kỳ sự đồng thuận nào giữa

các bên, dù dưới hình thức nào, gây ra hoặc có khả năng gây ra sự HCCT trên thị

trường Không chỉ đưa ra định nghĩa chung, Luật còn liệt kê chỉ tiết các loại thỏa

thuận bị coi là HCCT, giúp các DN và cơ quan chức năng dễ dàng nhận diện và xử

lý, cụ thể quy định tại Điều 11, LCT 2018 Điều khoản này đã mang đến sự linh hoạt

hơn so với quy định trong LCT 2004 và vô cùng thích hợp với bối cảnh kinh tế hiện nay khi các hoạt động kinh doanh càng ngày càng đa dạng Một cách cu thé, quy định

về "Thỏa thuận khác gây ảnh hưởng hoặc có khả năng gây ảnh hưởng HCCT" được hiểu là các thỏa thuận hợp tác ngoài những trường hợp được quy định cụ thể trong

luật vẫn có thé bi coi 1a vi pham LCT néu chúng tạo ra hoặc có nguy cơ tạo ra những

ảnh hưởng HCCT trên thị trường

Lịch sử phát triển LCT trên thế giới cho thấy quy định về thỏa thuận hạn chế

cạnh tranh xuất hiện đầu tiên trong LCT cua Hoa Kỳ (section I của đạo luật Sherman

năm 1890), theo đó: “Mọi hợp đồng, liên kết dưới hình thức độc quyền hoặc theo phương thức khác, nhằm hạn chế trao đổi hoặc thương mại giữa các bang với nhau

hoặc với các quốc gia khác, đều bị coi là bất hợp pháp” Tại châu Âu, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định tại Điều §1 (trước đây là Điều 85) của Hiệp ước Rome năm 1957 về Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (nay là Điều 101 TFEU sau Hiệp ước

Lisbon) Theo quy định, tất cả các thỏa thuận giữa các DN, quyết định của hiệp hội

DN, cũng như các hành vi liên kết khác có khả năng tác động đến hoạt động thương

mại giữa các quốc gia thành viên, với mục đích hoặc hệ quả gây cản trở, hạn chế hoặc

19 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB Công an

nhân dân, tr 126

Trang 26

làm méo mó cạnh tranh trong thị trường chung, đều bị xem là vi phạm và nằm trong

danh mục bị cắm Đặc biệt bao gồm các hành vi như: ấn định giá mua/bán hoặc điều kiện giao dịch; hạn chế hoặc kiểm soát sản xuất, thi trường, tiến bộ kỹ thuật hoặc đầu

tư; phân chia thị trường hoặc nguồn cung cấp; áp dụng điều kiện phân biệt đối xử đối

với các đối tác thương mại gây thiệt hại cho họ; buộc đối tác chấp nhận các điều kiện

thương mại bồ sung không liên quan đến đối tượng của hợp đồng Tại Thổ Nhĩ Kỳ,

Điều 4 LCT quy định: Mọi thỏa thuận, hành vĩ cấu kết của DN, quyết định và hành

vi cua hiệp hội DN có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng kìm hãm, bóp méo hoặc HCCT trên thị trường hàng hóa, dịch vụ đều bị cắm

Các loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thường được phân loại theo chiều ngang

và chiều đọc Chiều ngang là thỏa thuận giữa các DN cùng ngành hàng trên cùng thị trường (ví dụ: giữa các nhà sản xuất, bán buôn hoặc bán lẻ sản phẩm tương tự) Thỏa

thuận theo chiều dọc liên quan đến việc bán lại sản phẩm từ nhà sản xuất hoặc cung

cấp, diễn ra giữa các DN ở các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, phân phối (ví dụ: giữa nhà sản xuất và nhà phân phối) Thỏa thuận theo chiều đọc diễn ra giữa các DN không phải là đối thủ mà là bổ trợ lẫn nhau và có thể là khách hàng của nhau, do đó thường không tạo ra khả năng khống chế thị trường

Từ đặc điểm của các loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, UBCTQG sẽ nhận diện dấu hiệu vi phạm, điều tra và xử lý các vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

1.3 Nội dung về quy định pháp luật xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

1.3.1 Quy định pháp luật về xứ lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

Thứ nhất, pháp luật về cạnh tranh có mục tiêu duy trì MTCT công bằng và lành mạnh Đề đạt được điều này, UBCTQG được trao quyền xử lý những vụ việc HCCT

Điểm mấu chốt của của việc xử ly vi phạm là xác định chính xác những hành vi bi

cám Không phải mọi hành vi HCCT đều là bat hợp pháp, chỉ các hành vi gây thiệt

hại đáng kể cho thị trường và dẫn đến sức cạnh tranh trở nên mất cân bằng mới bị xử phạt Vì đó, khi triển khai điều tra các vụ việc, UBCTQG cần cân nhắc hết các khía cạnh của vụ việc, sau đó dựa vào đặc điểm của những HVVP mà đưa ra kết luận Nhằm bảo đám việc xử lý vụ việc HCCT được áp dụng thực hiện minh bạch và

Trang 27

công bằng, pháp luật đã tạo dựng một hệ thống các nguyên tắc xử lý Các nguyên tắc này không chỉ hướng dẫn việc áp dụng các biện pháp chế tài mà còn đảm bảo quyền

lợi của các bên liên quan các tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm dựa trên tính chất và mức độ vi phạm Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của vụ việc,

các tổ chức hoặc cá nhân có thể phải chịu những hình thức xử lý khác nhau Với

những vi phạm ở mức độ nhẹ, các biện pháp xử phạt hành chính như cảnh cáo, phạt

tiền hoặc tịch thu tang vật vi phạm có thê được áp dụng Trong trường hợp vi phạm

nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn hoặc có tính chất đặc biệt nguy hiểm, việc truy cứu trách nhiệm hình sự là cần thiết nhằm mục đích răn đe và ngăn chặn việc tái phạm

Bên cạnh đó, vấn đề bồi thường thiệt hại cũng đóng vai trò quan trọng không kém

Thứ hai, hành vi HCCT không chỉ ảnh hưởng đến các DN cùng cạnh tranh trực tiếp mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến nên kinh tế chung cũng như quyên của NTD Do

đó, trong quá trình xử lý, cần phải đánh giá toàn diện mọi khía cạnh như tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả gây ra, cũng như mức độ ảnh hưởng đến thị trường Mục đích của việc bồi thường là nhằm khôi phục lại trạng thái ban đầu, đảm bảo quyền lợi cho các bên bị thiệt hại và duy trì sự công bằng trong hoạt động kinh doanh Các biện

pháp xử lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo nên một hệ thống nhất quán Chủ thể vi phạm có thê bị xử lý bằng nhiều hình thức khác nhau Chắng hạn, ngoài việc

chịu xử phạt hành chính, bên vi phạm còn có thể bị yêu cầu bồi thường thiệt hại cho

các đối tượng bị ảnh hưởng Dù vậy, mỗi HVVP sẽ chỉ bị xử lý duy nhất một lần và

sẽ không tái xử lý Nếu đã bị xử lý hình sự, bên vi phạm sẽ không phải chịu thêm xử phạt hành chính cho cùng một hành vi đó

Việc xử lý các vụ việc HCCT đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng về mặt pháp lý, đặc

biệt trong bối cảnh hệ thống pháp luật có sự đan xen giữa các quy định chung và quy định chuyên ngành Đề đảm bảo tính chính xác và thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật, cần hiệu rõ nguyên tắc xử lý liên quan đến mối quan hệ giữa LCT và các luật chuyên ngành khác

Thứ ba, về thẩm quyên xử lý vụ việc HCCT UBCTQG đóng vai trò chủ chốt

trong việc đảm bảo MTCT lành mạnh tại Việt Nam Là cơ quan trực thuộc Bộ Công

Thương, Ủy ban này được trao quyền xử lý các vụ việc HCCT, góp phần ngăn chặn

Trang 28

những hành vi phá hoại thị trường, ảnh hưởng đến quyền lợi của NTD và DN Cụ

thể, UBCTQG có thâm quyền điều tra, xác minh, và xử lý các HVVP PLCT như thỏa

thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng VTTL thị trường, TTKT trái phép Đồng thời,

Ủy ban cũng đảm nhiệm các nhiệm vụ khác như kiểm soát TTKT, quyết định việc miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cắm, và xử ly khiếu nại liên quan

đến các quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh Với vai trò này, UBCTQG góp phần

quan trọng vào việc tạo dựng một nền kinh tế thị trường cạnh tranh, minh bạch và

công bằng, thúc đây sự phát triển bền vững của đất nước

Thứ tư, về cơ sở pháp lý để xử lý các vụ việc HCCT, việc áp dụng các biện pháp

xử lý đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì sự vận hành minh bạch và công bằng

của thị trường, vì vậy quá trình xử lý cần được thực hiện một cách cần trọng và khách

quan Để xác định một vụ việc có vi phạm PLCT hay không, cần phải xem xét ba yếu

tố cơ bản: sự hiện diện của HVVP, lỗi của chủ thể thực hiện hành vi đó, và những hậu quả thực tế hoặc tiềm ân mà hành động tạo ra những ảnh hưởng xấu với MTCT Đầu tiên, cần xác định rõ một hành vi cụ thể có vi phạm các quy định của pháp luật

về cạnh tranh hay không, cụ thê, hành vi này phải được quy định rõ ràng trong LCT

và các văn bản hướng dẫn thi hành

Thứ năm, việc áp dụng các biện pháp chế tài đối với HVVP đóng vai trò then chốt đề đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa Tuy nhiên, khái niệm "chế tài cạnh tranh" dường như chưa được định hình rõ ràng trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành Thực tế, các văn bản pháp lý thường đề cập đến "chế tài xử lý hành vi HCCT", bao

gồm các hình thức xử phạt như chế tải dân sự (đền bù thiệt hại), chế tài hình sự (phạt

tù) và chế tài hành chính (cảnh cáo, phạt tiền) Các chế tài này có thê được áp dụng riêng lẻ hoặc kết hợp để tạo sức nặng răn đe và đảm bảo tính công bằng

Mặc dù LCT 2018 và các văn bản hướng dẫn không trực tiếp sử dụng thuật ngữ

"chế tài cạnh tranh", nhưng trên thực tế, các biện pháp xử lý vi phạm được quy định

trong luật này chính là những hình thức chế tài Các biện pháp này bao gồm xử phạt

chính (như cảnh cáo, phạt tiền, phạt tù), xử phạt bé sung, va cac bién phap khắc phục

hậu quả như yêu cầu bồi thường thiệt hại Điều đáng chú ý là những chế tài này không chỉ được quy định trong LCT mà còn có thê được đề cập trong các luật chuyên ngành

Trang 29

khác Do đó, việc phân tích và tổng hợp các biện pháp xử lý đối với hành vi HCCT

đóng vai trò thiết yếu, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, và duy trì một MTCT công bằng, bền vững

Để làm rõ hơn về vấn đề này, cần tiến hành các phân tích chuyên sâu về khái

niệm "chế tài cạnh tranh", phân tích mối quan hệ giữa các loại chế tài khác nhau, cũng

như đánh giá hiệu quả áp dụng của chúng trong thực tiễn Dựa vào nền tảng đó, đưa

ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý, góp phần tăng cường hiệu quả trong việc ngăn ngừa và xử lý các hành vi HCCT, đồng thời thúc đây sự phát triển ôn định

và bên vững của nên kinh tê

1.3.2 Tầm quan trong trong việc hoàn thiện của các quy định xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

1.3.2.1 Bảo đảm sự phát triển kinh tế và môi trường cạnh tranh

Hành vi HCCT mang lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực, ảnh hưởng thắng đến thị

trường, các DN và NTD Do đó, việc tạo dựng một hệ thống pháp luật chặt chẽ để xử

lý những hành vi này là điều vô cùng quan trọng Các quy định pháp lý không chỉ đóng vai trò răn đe, ngăn chặn các HVVP mà còn đóng góp tích cực vào việc tạo dựng một MTCT công bằng và minh bạch Nhờ đó, chúng thúc đây tăng trưởng kinh

tế bền vững và bảo vệ quyền lợi chính đáng của NTD

Trong bối cảnh nền kinh tế đa đạng với sự hiện diện của các DN thuộc mọi quy

mô, các DN lớn thường tiềm ân nguy cơ thực hiện hành vi HCCT Với nguồn lực và ảnh hưởng đáng kê, những DN này có thể thao túng thị trường, tăng giá sản phẩm

nhằm thu lợi nhuận cá nhân một cách tối đa, gây bắt lợi cho NTD và làm sai lệch các

nguyên tắc cơ bản của thị trường Đề ngăn chặn tình trạng này, LCT đóng vai trò như một công cụ điều tiết quan trọng của Nhà nước Thông qua việc thiết lập các quy định

và chế tài xử lý, LCT bảo vệ quyền lợi của các DN, duy trì sự cạnh tranh công bằng, lành mạnh, và tạo động lực cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế

Ngay từ thế kỷ XVIII, nhà kinh tế học Adam Smith đã nhận định cạnh tranh là

Trang 30

"bàn tay vô hình" điều tiết nền kinh tế!! Tuy nhiên, nhận định của ông về tự do cạnh tranh - một thị trường hoàn toàn tự do, không có sự can thiệp của Nhà nước - đã bộc

lộ những hạn chế Thực tế cho thấy, các hành vi HCCT, như thỏa thuận hạn chế công

nghệ, đầu tư, hay lạm dụng VTTL thị trường có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển kinh tế và công nghệ

Vì vậy, việc nghiêm cắm các hành vi này thông qua các quy định pháp luật chặt

chẽ là điều cần thiết PLCT cần được tạo dựng và thực thi một cách hiệu quả, công bằng, tạo điều kiện cho mọi DN phát triển, đồng thời bảo vệ quyền lợi của NTD và

thúc đây kinh tế phát triển

1.3.2.2 Bảo vệ các chủ thể tham gia cạnh tranh

Tuy vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh chủ đề vai trò của LCT trong việc bảo

vệ thị trường Có quan điểm cho rằng luật này chỉ nên tập trung bảo hộ các DN nhỏ,

yếu thế, trong khi quan điểm khác lại nhắn mạnh vào việc bảo hộ toản bộ quá trình

cạnh tranh Tuy nhiên, thực tế cho thấy LCT có vai trò bảo vệ cả hai yếu tố này Đối với các DN yếu thế, LCT như một "lá chắn" giúp họ có cơ hội cạnh tranh công bằng với những "ông lớn" trên thị trường Luật này ngăn chặn các hành vi lạm dụng VTTL,

VTĐQ nhằm loại bỏ đối thủ, tạo điều kiện cho các DN nhỏ phát triển và khẳng định

vị thê của mình

Có thể nói, thông qua việc bảo vệ quyền lợi của từng DN, đặc biệt là các DN

vừa và nhỏ, LCT đã góp phần tạo dựng và duy trì một MTCT công bằng, minh bạch

và lành mạnh Đây chính là yếu tố nền tảng thúc đây sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường cũng như toàn bộ nền kinh tế Vì lý do này, các quy định pháp

luật về xử lý vụ việc HCCT, cùng với những chế tài nghiêm ngặt, đảm nhiệm vai trò cốt lõi trong việc ngăn chặn các HVVP, đồng thời đảm bảo sự hoạt động hiệu quả

của thị trường

1.3.2.3 Bảo vệ người tiêu dùng

Richard Whish và David Bailey trong cuốn “Competition law” cho rằng, một

11 Adam Smith: Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997

Trang 31

trong những mục tiêu đầu tiên của LCT nói chung là nhằm bảo vệ NTD !? Các hành

vi HCCT, chang hạn như thỏa thuận ấn định giá hay lạm dụng VTTIL thị trường để

tăng giá, gây ra những ảnh hưởng xấu thắng đến NTD Khi các DN cấu kết để thao túng giá cả, NTD bị tước đi quyền lựa chọn và phải chấp nhận giá dịch vụ đắt đỏ, gần như là một hình thức "móc túi" trá hình đối với những NTD

Mặc dù có những hành vi HCCT ban đầu có vẻ mang lại loi ich cho NTD, chang han nhu ban pha gia để loại bỏ đối thủ, nhưng về lâu dài, chúng đều nhằm mục đích cuối cùng là kiểm soát thị trường và bóc lột NTD Khi đã loại bỏ được đối thủ, chủ thể thực hiện hành vi có thể tự đo tăng giá dịch vụ cao hòng chuộc lợi Những chế tài

nghiêm khắc được ban hành nhằm ngăn các hành vi HCCT thực hiện thành công

LCT thuộc lĩnh vực "luật công" bởi vì mục tiêu của nó chính là bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội

Việc xử lý các hành vi HCCT không chỉ bảo vệ NTD mà còn giúp thu hồi những

khoản lợi nhuận bất chính do "bóc lột" NTD, góp phần bù đắp thiệt hại cho xã hội

Tóm lại, LCT đóng vai trò cốt yếu trong việc duy trì một thị trường công bằng, lành

mạnh, nơi NTD được bảo vệ và các DN cạnh tranh một cách lành mạnh, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội

12 Richard Whish & David Bailey (2012), “Competition law”, Oxford University Press, 7th Edition, trang 20 - 23

Trang 32

KET LUAN CHUONG I

Chương 1 là chương đặt nền móng lý luận cho cả đề án, tác giả đã xác định

những vấn đề lý luận, nội dung cần nghiên cứu về vụ việc HCCT:

Một là tác giả đã cố gắng đưa ra được khái niệm của vụ việc HCCT và xử lý vụ

việc HCCT cũng như phân loại được các vụ việc HCCT Theo đó, có thể hiểu xứ jý

vụ việc HCCT là hoạt động điều tra, xử lý những các vụ việc cạnh tranh có dấu hiệu

gây suy yếu, bóp méo hoặc cản trở hoạt động cạnh tranh trên thị trường, làm tồn hại đến MTCT công bằng và mình bạch, từ đó dẫn đến những tác động tiêu cực nghiêm trọng đối với nền kinh tế, thị trường và đời sống xã hội Những vụ việc này bao gôm

các hành vi như thỏa thuận nhằm hạn chế cạnh tranh, lạm dụng VTITL thị trường, và lạm dụng VTĐO Việc xử lý vụ việc HCCT mang những đặc trưng cơ bản, ví dụ như

được tiễn hành bởi cơ quan “song tính” là hành pháp và tư pháp; tuân theo trình tự,

thủ tục tố tụng đặc biệt; và các chế tài mang tính mềm dẻo, linh hoạt

Vì mục đích phân tích và đánh giá các vụ việc HCCT, tác giả đã tiến hành phân tích chỉ tiết các hành vi này, đồng thời xác định và phân loại chúng dựa trên những

tiêu chí cụ thể Bên cạnh đó, phân tích cũng đã làm rõ các yếu tố kinh tế và xã hội

làm nền tảng cho sự tồn tại của những hành vi HCCT Có hai phương pháp chính đề phân loại các hành vi HCCT Phương pháp thứ nhất dựa trên mức độ ảnh hưởng tiêu cực của hành vi đến MTCT Hầu hết các quốc gia đều tập trung vào các dạng hành vi

cơ bản, gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng VTTL, VTĐQ, và TTKT

Phương pháp thứ hai dựa trên bản chất của hành vi và quan điểm của nhà nước đối

với chúng, trong đó TTKT được tách biệt khỏi nhóm hành vi HCCT

Đề án đã phân tích nguyên nhân cần thiết phải xử lý các vụ việc HCCT, cũng như các tác nhân ảnh hưởng đến quá trình tạo dựng hệ thống pháp luật Việc xử lý các hành vi này căn cứ vào những ảnh hưởng tiêu cực mà chúng gây ra đối với MTCT,

NTD và cộng đồng DN Mục tiêu chính là răn đe, ngăn chặn các hành vi tương tự

trong tương lai, đồng thời củng cỗ quyền lực và uy tín của các cơ quan nhà nước trong

việc bảo vệ MTCT

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tạo dựng khung pháp lý xử lý hành vi HCCT,

Trang 33

bao gồm điều kiện kinh tế xã hội, chính sách cạnh tranh của Nhà nước trong từng giai đoạn, trình độ lập pháp, ý thức và tập quán kinh doanh của các chủ thê trên thị trường

Đề án tập trung nghiên cứu vào những nội dung trọng tâm của pháp luật liên quan đến việc xử lý các hành vi HCCT, đồng thời tham khảo và phân tích kinh nghiệm từ các quốc gia khác Pháp luật về xử lý hành vi HCCT bao gồm các khía cạnh chính như: xác định những hành vi bị cắm, nguyên tắc áp dụng trong quá trình xử lý, và các hình thức xử lý cụ thể Trong đó, các hình thức xử lý được coi là yếu tố cốt lõi và quan trọng nhất, bao gồm các quy định pháp lý về căn cứ xử lý, trình tự, thủ tục áp dụng, cũng như các chế tài xử lý vi phạm, cơ quan xử lý Những nội dung này tạo nên nền tang lý luận vững chắc, làm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn về quy định pháp luật thực định, đồng thời hỗ trợ việc đánh giá và đề xuất các giải pháp nhằm xử

lý những vấn đề pháp lý liên quan đến xử lý hành vi HCCT

Trang 34

CHUONG II: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIẾN THUC THI QUY

DINH VE XU LY VU VIEC HAN CHE CANH TRANH THEO LUAT CANH

TRANH 2018

2.1 Thực trạng quy định pháp luật về xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh 2018

2.1.1 Các hành vỉ hạn chế cạnh tranh bị cấm theo Luật cạnh tranh 2018

() Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Trong kinh tế học, hành vi thoả thuận HCCT được coi là việc nhiều DN có các hành động thống nhất nhằm giảm, triệt tiêu sức cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động của các đối thủ cạnh tranh!3, LCT 2018 quy định rằng thỏa thuận hạn chế

cạnh tranh là hành vi cấu kết đưới mọi hình thức giữa các DN, có nguy cơ tao ra ra

những ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường Điều 11 của LCT 2018 đã liệt kê một số

hình thức cụ thể của hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh So với LCT 2004, LCT

2018 đã mở rộng danh sách nay, cho phép cơ quan chức năng có thê xử lý nhiều hành

vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hơn

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 11 của LCT 2018, không phải tất cả các hình

thức thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đều bị cắm Cụ thể, Điều 12 của Luật này đã nêu

rõ các trường hợp thỏa thuận bị cám, bao gồm những hành vi được quy định tại khoản

4, 5 và 6 của Điều 11 Các thỏa thuận này bao gồm: (1) thỏa thuận nhằm giúp một hoặc một số bên tham gia giành được lợi thế trong quá trình đấu thầu; (2) thỏa thuận

có mục đích ngăn cản, hạn chế các DN khác hoạt động kinh doanh hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh; và (3) thỏa thuận nhằm loại bỏ các DN không tham gia thỏa thuận

ra khỏi thị trường Những quy định này nhằm đảm bảo MTCT công bằng và minh

bạch Điểm đặc biệt là các hành vi này bị cấm tuyệt đối, không phụ thuộc vào việc

DN thực hiện hành vị có cùng thị trường liên quan hay không Nguyên nhân là do những hành vi này luôn gây ra những hậu quả tiêu cực cho MTCT, mang tính bắt lợi

và ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường, do đó cần phải bị ngăn chặn một cách nghiêm

ngặt UBCTQG sẽ xem xét nhiều yếu tố để đánh giá liệu một thỏa thuận hạn chế cạnh

13 Trường Đại học kinh tế - luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, giáo trình LCT, tr74

Trang 35

tranh có gây ra tác động hoặc có khả năng gây ra ảnh hưởng HCCT một cách đáng

kê hay không

So với LCT 2004, LCT 2018 đã thay đổi cách tiếp cận kiểm soát thỏa thuận hạn

chế cạnh tranh theo hướng kết hop tư duy kinh tế và tư duy pháp lý, phù hợp hơn với thực tiễn cạnh tranh trên thị trường và thông lệ quốc tế, từ đó nâng cao hiệu quả thực

thi Thay vì chỉ dựa vào tiêu chí thị phần như trước đây, LCT 2018 kiểm soát hành vi

dựa trên bản chất, ảnh hưởng hoặc khả năng gây ảnh hưởng HCCT một cách đáng kê của hành vi Việc đánh giá này sẽ căn cứ vào nhiều yếu tố như thị phần, rào cản gia nhập thị trường, năng lực công nghệ,

(ii) Hanh vi lam dung VTTL, VTDQ

PLCT Viét Nam hién nay m6 ta hanh vi lam dung VTTL thi truong, lam dung

VTĐQ theo xu hướng đưa ra khái niệm và có những quy định cụ thể về từng hành vi lạm dụng VTTL, VTĐQ để HCCT Theo đó, #ŒCT là hành vi gây ảnh hưởng hoặc

có khá năng gây ảnh hưởng HCCT, bao gầm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh,

lạm dụng VTTL thị trường và lạm dụng VTĐO Lạm dụng VTTTL thị trường, lạm dụng

VTĐQ là hành vi của các DN có VTTL thị trường, VTĐQ gây ảnh hưởng hoặc có

khả năng gây ảnh hưởng HCCT Để làm rõ hơn các hành vi bị cắm, LCT 2018 đã liệt

kê chỉ tiết từng hành vi cụ thể thuộc ba nhóm hành vi HCCT nêu trên Cụ thể, Điều

27 của Luật này đã nêu rõ các hành vi lạm dụng VTTL thị trường và VTĐQ, bao

gôm:

- Đặt ra mức giá mua hoặc bán hàng hóa, dịch vụ một cách bắt hợp lý hoặc quy định giá bán lại tối thiểu, gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho NTD

- Bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ với mức giá thấp hơn giá thành sản xuất,

dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến việc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh khỏi thị trường

- Trong các giao dịch tương đồng nhưng lại áp dụng điều kiện thương mại khác

nhau dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến việc ngăn cản hoặc loại bỏ các DN khác khỏi

thị trường

- Hạn chế các hoạt động kinh doanh, cung ứng dịch vụ sản phẩm, giới hạn thị

trường hoặc cản trở sự phát triển khoa học công nghệ kỹ thuật gây ra hoặc có khả

Trang 36

nang gay thiét hai cho khach hang

- Trong quá trình ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ, việc yêu cầu hoặc áp đặt các DN khác hoặc khách hàng phải chấp nhận những nghĩa vụ hoặc điều kiện không có liên quan trực tiếp đến nội dung chính của hợp đồng, dẫn đến hoặc có

nguy cơ dẫn đến việc cản trở hoặc loại bỏ các DN khác khỏi thị trường

- Hanh vi ngăn cản việc tham gia hoặc mở rộng thị trường của DN khác

- Cac hanh vi lam dung VTTL thị trường khác bị cấm theo quy định của các luật

khác có liên quan

Khoản 2 Điều 27 LCT bé sung hai hành vi áp dụng riêng với DN có VTĐQ trên

thị trường, bao gồm:

- Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng:

- Lợi dụng VTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết

mà không có lí do chính đáng

- Hanh vi lam dung VTDQ bị cấm theo quy định của luật khác

2.1.2 Các nguyên tắc cơ bản được sử dụng trong quá trình xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh

Điều 10, Luật Cạnh tranh 2018, quy định về nguyên tắc xử lý vi phạm, hình thức xử lý vi phạm và biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm pháp luật về cạnh tranh

Về cơ bản, nội dung của Điều 117 LCT 2004 về các hình thức xử phat vi phạm

PLCT và Điều 110 LCT 2018 là tương tự nhau Điều 110 LCT 2018 quy định tổ chức

hoặc cá nhân thực hiện HVVP pháp luật về cạnh tranh sẽ bị áp dụng các hình thức xử

lý phù hợp tùy theo tính chất và mức độ vi phạm Cụ thê, vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự Truong hop HVVP gay

thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác, tổ chức, cá nhân vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy

định của pháp luật Nguyên tắc xử lý vi phạm, hình thức xử lý vi phạm và biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm pháp luật về cạnh tranh được quy định tại khoản 1 Điều

110 Luật Cạnh tranh, cụ thể như sau:

Trang 37

Thứ nhất, về nguyên tắc, chủ thể có HVVP PLCT nói chung, va hanh vi HCCT

bị cắm nói riêng có thể bị xử lý, xử phạt VPHC hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự

Tuy nhiên, một HVVP PLCT chỉ có thể bị xử lý hành vi vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, chứ không áp dụng cả hai hình thức xử lý này cùng một

lúc

Thứ hai, theo Điều 110 LCT 2018, chủ thể thực hiện hành vi HCCT phải bồi

thường thiệt hại theo quy định của pháp luật nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân Điều này có nghĩa là bên cạnh các hình thức xử phạt VPHC hoặc xử lý hình sự, các chủ thể vi phạm còn có thê phải chịu thêm chế tài buộc bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, PLCT hiện hành chưa có quy

định cụ thê về vấn đề bồi thường thiệt hại Do đó, nếu các chủ thể bị thiệt hại do ảnh hưởng của hành vi HCCT muốn được bồi thường, theo quy định của luật dân sự, họ

sẽ phải tiến hành các thủ tục riêng dé yêu cầu đền bù thiệt hại Nguyên tắc bồi thường thiệt hại vẫn dựa trên các căn cứ quen thuộc, bao gồm: có HVVP, có thiệt hại thực tế xảy ra, và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và HVVP Như vậy, HVVP được

hiểu chính là các HVVP PLCT, trong đó có hành vi HCCT bi cam

2.1.3 Những căn cứ pháp luật áp dụng trong việc xử lý hành vì hạn chế cạnh

tranh

Việc xử lý hành vi HCCT, tương tự như các lĩnh vực pháp luật khác, trước hết

phải dựa trên HVVP Chủ thê chỉ bị xem xét áp dụng chế tài khi có hành vi HCCT bị

cắm theo quy định của pháp luật Các hành vi này được quy định cụ thê trong LCT

2018 và các luật chuyên ngành liên quan Đặc biệt, đối với trường hợp xử lý hình sự, căn cứ quan trọng nhất là HVVP phải được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

2015

Việc xử lý các hành vi HCCT chỉ được tiến hành khi chủ thể vi phạm có lỗi, tức

là chủ thể phải biết rằng hành vi là trái pháp luật, gây thiệt hại cho các DN khác hoặc

NTD, nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích thu lợi bất chính Khi cơ quan có

thấm quyền chứng minh được cả yếu tố hành vi và lỗi của chủ thê, họ sẽ có đủ căn

cứ để áp dụng các chế tài pháp lý phù hợp Điều này đảm bảo tính công bằng và

Trang 38

nghiêm minh trong việc thực thi PLCT Việc chứng minh yếu tố “!ô¡” hiện có nhiều

ý kiến khác nhau Quan trọng là các bên phải có ý chí chủ quan, tự bằng ý chí cá nhân thực hiện các HVVP mà không trong tình trạng không bị cưỡng ép hay đe dọa Đây

cũng chính là biêu hiện của việc xác định "lỗi" của các chủ thẻ

Căn cứ pháp lý quan trọng nhất trong việc xác định HVVP là hậu quả của

HVVP Về mặt lý luận, các hành vi HCCT thường được đánh giá dựa trên mức độ

ảnh hưởng trên thị trường Tuy nhiên, sự ảnh hưởng này không chỉ ảnh hưởng đến

một chủ thể cụ thể mà có thể ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường, tùy vào các điều kiện

khách quan mà sẽ gây ra nhiều hậu quả làm méo mó hoặc kìm hãm sự phát triển cạnh

tranh lành mạnh

Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Luật xử lý hành vi vi phạm hành chính,

được sửa đối, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14 ngày 13 thang 11

năm 2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý hành vi vi phạm

hành chính quy định nguyên tắc xử phạt hành chính là chỉ xử lý một lần đối với mỗi HVVP va trong trường hợp nhiều người cùng vi phạm một hành vi thì mỗi người đều phải bị xử phạt vì HVVP đó

Tuy nhiên, đã có một vụ việc được UBCTQG xử lý gặp vướng mắc trong vấn

đề xác định số lượng HVVP của chủ thế trong quá trình điều tra vụ việc cạnh tranh

Cụ thể, liên quan đến hành vi đưa thông tin gian dối hoặc gây nhằm lẫn cho khách hàng về hàng hóa (sữa dành cho trẻ dưới 24 tháng tuổi) mà DN đang cung cấp trên không gian mạng nhằm thu hút khách hàng của DN khác, CQĐT phát hiện cơ quan quản lý nhà nước khác đã từng xử phạt chỉ nhánh Công ty về hành vi quảng cáo sản phẩm sữa thay thể sữa mẹ dùng cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi, vi phạm quy định tại

khoản 1 Điều 8 Luật Quảng cáo

Việc Công ty hoặc chỉ nhánh Công ty cùng đưa thông tin có nội dung không trung thực về sản phẩm sữa dành cho trẻ dưới 24 tháng tuổi có được coi là 02 hành

vi hành chính: (¡) quảng cáo sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Quảng cáo; (ii) dwa thông tin gian dối hoặc gây nhằm lân cho khách hàng về hàng hóa do DN mình cung cấp nhằm

Trang 39

thu hút khách hàng của DN khác, có vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 45

LCT hay không?

Nếu coi sự việc trên chỉ cầu thành 01 HVVP HCCT, thì rõ ràng quyền lợi, lợi

ích hợp pháp của NTD — những người tin vào lời quảng cáo đã bị xâm phạm, đi ngược

lại với mục tiêu của việc tạo dựng MTCT lành mạnh là bảo đảm quyền lợi cho NTD

Tuy nhiên, nếu bỏ qua quyền lợi của NTD mà UBCTQG tiếp tục ban hành quyết định

xử lý vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 45 LCT đối với Công ty lại không

phù hợp với nguyên tắc “M”iêu người cùng thực hiện một HƯVP hành chính thì mỗi

người vi phạm đêu bị xử phạt về HƯVP hành chính đó” Nhiều người ở trong vụ việc này

là Công ty và các chi nhánh, các chi nhánh nhận sự chỉ đạo từ Công ty để thực hiện HVVP Như vậy, khi tiến hành xử lý hành vi vi phạm hành chính, căn cứ theo khoản 4 Điều 3 Nghị định 1 18/2021/NĐ-CP, Công ty sẽ phải chịu xử phạt thay cho chỉ nhánh và đồng thời sẽ chịu thêm một lần xử phạt nữa đối với hành vi của chính Công ty Việc nay đồng thời đi ngược lại với cả hai nguyên tắc trên là mỗi hành vi chỉ xử phạt một lần và

mỗi người đều bị xử phạt khi thực hiện cùng một hành v1

Tuy nhiên nếu coi sự việc nêu trên cấu thành 02 HVVP, UBCTQG ban hành

quyết định xử lý vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 45 LCT áp dụng đối với Chỉ nhánh Công ty có được coi là phù hợp với nguyên tắc “Một 'IVVP hành chính chỉ

bị xử phạt một lần” Vì bản chất của vụ việc này là chỉ có một hành vị “ưa thông tin có

nội dung không trung thực về sản phẩm sữa” được thực hiện nhưng lại gây ra 2 “lỗi” VPHC Từ đây, sử dụng căn cứ xác định xử lý vi phạm là hậu quả của hành vi và đưa ra kết luận rằng việc đưa thông tin có nội dung không trung thực về sản phẩm sữa dành cho trẻ dưới 24 tháng tuổi có được coi là 02 hành vi hành chính: (¡) quảng cáo sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ em dưới 24 tháng tuổi, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Quảng cáo; (ii) đưa thông tin gian đối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về hàng hóa do DN mình cung cấp nhằm thu hút khách hàng của DN khác, vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 45 LCT

Như vậy có thê thấy căn cứ xử lý hành vi HCCT được phân loại theo từng hình

thức chế tài cụ thể, hành vi HCCT sẽ chỉ bị xử lý khi có các căn cứ sau (i) cé HVVP PLCT; (i) có lỗi của chủ thể thực hiện HVVP; (iii) có hậu quả pháp lý dé lại do

Trang 40

HIVVP gay ra

2.1.4 Cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh

Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (UBCTQG), một cơ quan quan trọng thuộc Bộ Công Thương, giữ vai trò then chốt trong việc đảm bảo một MTCT lành mạnh và công bằng tại Việt Nam Theo LCT 2018, chủ thể có thâm quyền xử lý vụ việc HCCT

là UBCTQG Cụ thể, UBCTQG có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Tham mưu và giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện công tác quản lý

nhà nước trong lĩnh vực cạnh tranh

- Thực hiện các thủ tục tố tụng liên quan đến cạnh tranh, giám sát hoạt động

TTKT, và quyết định việc áp dụng miễn trừ đối với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thuộc danh mục bị cấm

- Xử lý các khiếu nại phát sinh liên quan đến quyết định xử lý vụ việc cạnh

tranh

- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của LCT và các văn bản pháp luật

liên quan !4

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của UBCTQG là tiến hành tế tụng cạnh

tranh Trong quá trình này, Ủy ban cần phát hiện, xác minh và đánh giá các thông tin, chứng cứ về vụ việc HCCT Đồng thời, Ủy ban có trách nhiệm tiếp nhận thông tin từ

các tổ chức và cá nhân, tiến hành xem xét, thụ lý các hồ sơ khiếu nại, thực hiện điều

tra vụ việc và ra quyết định xử lý theo đúng quy định pháp luật

Tiếp theo, để hoạt động hiệu quả, cơ quan cạnh tranh cần đảm bảo bốn yếu tố

then chốt: tính độc lập, nguồn lực đầy đủ (cả tài chính lẫn nhân sự), tính minh bạch

và quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng Trong số đó, tính độc lập được xem là

yếu tố quan trọng hàng đầu, mang tính quyết định đối với hiệu quả hoạt động của cơ quan cạnh tranh

Tính độc lập của cơ quan cạnh tranh được thể hiện qua hai yếu tố chính: độc lập

về mặt tổ chức và độc lập trong quá trình hoạt động Về mặt tổ chức, cơ quan cạnh

14 Khoản 2 Điều 46 Luật Cạnh tranh 2018

Ngày đăng: 05/09/2025, 18:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w