1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Anh, chị hãy lựa chọn một hiện tượng thơ mới bất kì (tác giả hoặc nhóm thơ) và phân tích những Đóng góp của hiện tượng Đó Đối với văn học việt nam 1900 – 1945 trên phương diện Đổi mới thơ ca

15 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 531,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một sự đổi mới quan trọng khác của Thơ Mới là đi vào những tình cảm cụ thể và thường nhật của con người, thay vì tập trung vào các vấn đề mang tính đại tự sự như trong thơ cổ.. Ta có thể

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-🙞🙜🕮🙞🙜 -

TIỂU LUẬN GIỮA KÌ

ĐỀ BÀI: ANH, CHỊ HÃY LỰA CHỌN MỘT HIỆN TƯỢNG THƠ MỚI BẤT KÌ (TÁC GIẢ HOẶC NHÓM THƠ) VÀ PHÂN TÍCH NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA HIỆN TƯỢNG ĐÓ ĐỐI VỚI VĂN HỌC VIỆT NAM 1900 – 1945

TRÊN PHƯƠNG DIỆN ĐỔI MỚI THƠ CA

Hiện tượng Thơ mới lựa chọn: Hàn Mặc Tử

Hà Nội, 2024

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thanh Hoa

Trang 2

MỤC LỤC

1 Khái quát về phong trào thơ Mới 2

1.1 Sự ra đời của thơ Mới 2

1.2 Các giai đoạn phát triển 2

1.3 Những cách tân đổi mới của phong trào thơ Mới 3

2 Hiện tượng thơ Mới – Hàn Mặc Tử và những đóng góp đối với văn học Việt Nam 1900 – 1945 trên phương diện đổi mới thơ ca 4

2.1 Khái quát chung về Hàn Mặc Tử 4

2.2 Những đóng góp đối với văn học Việt Nam 1900 – 1945 trên phương diện đổi mới thơ ca của thi sĩ họ Hàn 5

2.2.1 Những đổi mới về nội dung 5

2.2.1.1 Tư tưởng tôn giáo và những suy tư triết lý 5

2.2.1.2 Trường thơ điên và tính siêu thực, tượng trưng trong thơ Hàn Mặc Tử 7

2.2.2 Những đổi mới về hình thức 10

2.2.2.1 Thể thơ 10

2.2.2.2 Hình ảnh thơ 11

2.2.2.3 Không gian nghệ thuật 11

Tài liệu tham khảo 14

Trang 3

1 Khái quát về phong trào thơ Mới

1.1 Sự ra đời của thơ Mới

Trong giai đoạn 1900-1945, văn đàn Việt Nam đã tồn tại song song hai nhóm sáng tác: nhà thơ cũ và nhà thơ mới, hai lối thơ với những tư duy, quan điểm sáng tác khác biệt đó là thơ mới và thơ cũ Chính bối cảnh lịch sử phức tạp đã khiến cho nhận thức, ý thức thức thẩm mỹ của các nhóm tác giả xuất hiện những thay đổi nhất định Khoảng thời gian này, về mặt lịch sử là ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp đẩy mạnh cai trị Việt Nam, liên tục đưa ra những chính sách nhằm đồng hóa dân

ta, khai thác thuộc địa triệt để cả về tài nguyên lẫn văn hóa Điều này đã khiến cho một làn gió Tây hóa thổi vào nền văn hóa Việt Nam Chính nền văn hóa phương Tây đã khiến cho giới văn nghệ Việt Nam nhận ra những gò bó, những “lạc hậu” của cổ thi với thời hiện đại Lúc này, văn đàn đã manh nha hình thành nhu cầu cải cách, cũng từ đây những bài thơ mới bắt đầu xuất hiện dẫn đến cuộc tranh luận gắt gao giữa Thơ mới và thơ cũ Cuộc tranh luận này kéo dài mãi đến năm 1941 và kết thúc là sự chiến thắng của phong trào Thơ Mới Sự hiện diện và phát triển của Thơ Mới góp phần không nhỏ trong quá trình hiện đại hóa thơ ca và định hình diện mạo hoàn chỉnh cho thi đàn Việt Nam

1.2 Các giai đoạn phát triển

Về các giai đoạn của phong trào này, có thể nhắc tới 3 giai đoạn: giai đoạn 1932 – 1935, giai đoạn 1936 – 1939, giai đoạn 1940 – 1945 Ở giai đoạn 1932 – 1935, các tác giả bị chịu ảnh hưởng rất mạnh của phong trào thơ lãng mạn Pháp nên Thơ Mới ngập tràn nỗi buồn, các nhà thơ trốn vào thiên nhiên, quá khứ và vào tháp ngọc sáng tạo nghệ thuật của riêng mình Có thể kể đến một số hiện tượng tiêu biểu như Thế Lữ, Lưu Trọng

Lư, Vũ Đình Liên, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp…Thơ mới phát triển rực rỡ nhất trong những năm 1936 – 1939 Đây là giai đoạn Thơ mới chiếm ưu thế tuyệt đối so với

“thơ cũ” Một số cây bút tên tuổi có thể kể tới là Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…Điểm nổi bật của giai đoạn này là sự lên ngôi của cái tôi

cá nhân Các tác phẩm cũng nói lên được cảm xúc chân thật, thể hiện được tâm tư của các tác giả một cách trọn vẹn nhất Lúc này trong thơ mới không chỉ có nỗi buồn mà còn có cả tình yêu con người, yêu quê hương đất nước, sự lạc quan Tiếc rằng, Thơ mới chiếm ưu thế trên văn đàn chỉ được một thời gian ngắn, đến những năm 1940 – 1945 trên văn đàn đã xuất hiện những trường thơ mới như thơ siêu thực, tượng trưng; cũng chính lúc này thơ mới đã bắt đầu có sự thoái trào

Trang 4

1.3 Những cách tân đổi mới của phong trào thơ Mới

Phong trào Thơ Mới ở Việt Nam đã mang đến những cách tân nổi bật, đóng góp lớn cho sự phát triển của văn học hiện đại Đầu tiên, Thơ Mới giải phóng cái tôi cá nhân của thi sĩ, cho phép họ tự do bộc lộ những cảm xúc và suy nghĩ riêng tư, thay vì bị ràng buộc bởi các chuẩn mực và khuôn mẫu cố định Điều này thể hiện rõ rệt qua các tác phẩm như "Nhớ rừng" của Thế Lữ, nơi cảm xúc cá nhân và tình yêu tự do của con người được diễn tả một cách sâu sắc và mạnh mẽ

Một sự đổi mới quan trọng khác của Thơ Mới là đi vào những tình cảm cụ thể và thường nhật của con người, thay vì tập trung vào các vấn đề mang tính đại tự sự như trong thơ cổ Các thi sĩ Thơ Mới quan tâm đến những khía cạnh đời sống hàng ngày, từ tình yêu, nỗi buồn, niềm vui, đến những khắc khoải và suy tư cá nhân Ta có thể kể đến những sáng tác của Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,…

Chuẩn mực của cái đẹp trong Thơ Mới cũng thay đổi, từ chỗ thiên nhiên là đối tượng trung tâm, chuyển sang con người Sự chú trọng vào con người và cảm xúc của

họ tạo nên một diện mạo mới cho thơ ca, nơi con người là nguồn cảm hứng và là chuẩn mực của cái đẹp

Về mặt thể thơ, Thơ Mới đã có những sáng tạo đáng kể Các thi sĩ đã phá vỡ khuôn mẫu của các thể thơ truyền thống, tạo ra những thể thơ mới mẻ như thơ tự do hỗn hợp với các câu thơ dài ngắn khác nhau Họ cũng kết hợp cả truyền thống và hiện đại trong các thể thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, 8 chữ và lục bát Sự linh hoạt trong cách gieo vần, ngắt nhịp giúp thơ trở nên đa dạng và phong phú hơn Thơ Mới còn thay đổi cách diễn đạt, từ câu thơ điệu ngâm truyền thống sang câu thơ điệu nói, từ thơ tự tình sang thơ trữ tình Ngôn ngữ và giọng điệu thơ cũng thay đổi, trở nên gũi gũi thường nhật hơn góp phần phản ánh đúng cuộc sống và cảm xúc của con người Một câu thơ không còn bị giới hạn trong một dòng thơ mà có thể trải dài qua nhiều dòng, tạo nên sự uyển chuyển

và mềm mại trong cách diễn đạt Ngôn ngữ trong Thơ Mới giàu nhạc điệu, loại bỏ những

từ ngữ cổ kính, sang trọng hay các điển cố, điển tích, thay vào đó là ngôn từ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc Các hình ảnh ngoại giới cũng được làm lạ hóa bằng cách thổi vào đó những xúc cảm của con người, tạo nên những hình ảnh mới mẻ và độc đáo

Nhìn chung, Thơ Mới đã mang lại những cách tân vượt bậc, làm phong phú thêm cho nền thi ca Việt Nam Những đổi mới này không chỉ mở ra những hướng đi mới cho thơ ca mà còn phản ánh sự thay đổi trong tư duy và cảm xúc của con người trong thời đại mới

Trang 5

2 Hiện tượng thơ Mới – Hàn Mặc Tử và những đóng góp đối với văn học Việt Nam 1900 – 1945 trên phương diện đổi mới thơ ca

2.1 Khái quát chung về Hàn Mặc Tử

Hàn Mặc Tử là một nhà thơ công giáo Ông tên là thật Nguyễn Trọng Trí, tên thánh là Francois Ngay từ khi còn nhỏ, Hàn Mặc Tử tính tình hiền lành, ham học, vốn

có lối sống giản dị và thích giao du với những người bạn có chung niềm đam mê thơ ca với mình Hàn Mặc Tử bắt đầu sự nghiệp sáng tác thơ khi còn rất trẻ, năm 1917 bài thơ đầu tiên của ra đời là “Vội vàng chi lắm” họa lại của nhà thơ Mộng Châu Trước khi lấy bút danh Hàn Mặc Tử, nhà thơ này đã hoạt động thơ văn sôi nổi và nổi danh với tên gọi Phong Trần

Năm 1932, Trí bước vào đời làm việc đầu tiên ở sở Đạc Điền Quy Nhơn, và cũng vào năm ấy yêu người yêu đầu tiên là Hoàng Thị Kim Cúc, người gốc Huế sinh năm

1913 (vì Hàn Mặc Tử tính tình nhút nhát rụt rè nên chỉ dám tỏ bày qua thơ) Đây chính

là mối tình đầu sâu đậm để lại nhiều tiếc nuối nhất trong Hàn Mặc Tử Người con gái

ấy chính là nàng thơ xuất hiện trong nhiều sáng tác của Hàn Mặc Tử có thể kể đến như Đây thôn Vĩ Dạ, Hồn Cúc hay tập Gái quê,…

Năm 21 tuổi, Hàn Mặc Tử rời quê vào Sài Gòn lập nghiệp, trở thành phóng viên phụ trách mảng thơ cho tờ báo Công Luận, đây cũng là thời điểm ông và Mộng Cầm quen biết nhau Mộng Cầm là một cộng tác của tờ báo, cô có niềm đam mê thơ ca và thường xuyên làm thơ gửi lên toà soạn Dần dà, Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm thư từ qua lại, hai người tâm đầu ý hợp, Hàn Mặc Tử quyết định ra Phan Thiết gặp nàng thơ của mình và bắt đầu một chuyện tình lãng mạn

Khi Hàn Mặc Tử 23 tuổi (năm 1935) trên cơ thể anh bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của bệnh phong Thời ấy phong cùi được xem là một căn bệnh truyền nhiễm, hầu như ai cũng có thành kiến với người mắc căn bệnh này, bệnh nhân bị hắt hủi, xa lánh và thậm chí là ngược đãi Tin nhà thơ Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong cùi nhanh chóng lan rộng, gia đình lựa chọn đưa anh đi cách ly thay vì đi chữa trị ở Bệnh viện phong Quy Hòa

Vào những năm cuối đời bệnh của Hàn Mặc Tử bộc phát dữ dội, cơ thể vô cùng đau đớn, những người thân yêu chia xa Hàn Mặc Tử đau khổ cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng không ai nghe nhà thơ khóc than hay rên rỉ một lời, ông dồn nén tất cả nỗi đau

và chỉ gào thét trong thơ Chính vì lẽ đó mà thơ của Hàn Mặc Tử viết về nỗi sầu về nỗi

Trang 6

đau nhưng đề là những nỗi niềm quặn xé, thương đau khác hẳn với các nhà thơ đương thời

Cuộc đời Hàn Mặc Tử rất bất hạnh nhưng khi ra đi thi sĩ đã để lại cho thi đàn văn học một kho tàng đồ sộ, có thể kể đến như: Lệ Thanh thi tập (gồm toàn bộ các bài thơ Đường luật), Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản lúc tác giả chưa qua đời), Thơ Điên (hay Đau Thương, gồm ba tập: 1 Hương thơm; 2 Mật đắng; 3 Máu cuồng và hồn điên-1938), Xuân như ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Duyên

kỳ ngộ (kịch thơ-1939), Quần tiên hội (kịch thơ, viết những năm cuối đời, 1940), Chơi Giữa Mùa Trăng (tập thơ-văn xuôi)

Hàn Mặc Tử được mệnh danh là nhà thơ “lạ lùng” nhất trong phong trào Thơ mới Phong cách thơ độc, lạ, mang đậm phong cách cá nhân với ngôn từ lãng mạn đã giúp ông khẳng định được vị trí của mình trong giới văn học Thơ Hàn là sự biểu đạt một tâm hồn thiết tha yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên và con người đến khát khao, cháy bỏng Trong những vần thơ của ông, ta có thể cảm nhận được một khát vọng sống mãnh liệt, nhưng cũng đầy đau đớn tột cùng Nhiều tác phẩm của ông mang khuynh hướng siêu thoát vào thế giới siêu nhiên, tôn giáo, nhưng thực chất đó lại là sự phản chiếu ngược của khát vọng giao cảm với đời Đặc biệt, những bài thơ cuối đời của Hàn Mặc

Tử còn đan xen hình ảnh ma quái, dấu ấn của sự đau đớn cả về thể xác lẫn tâm hồn, thể hiện sự khủng hoảng tinh thần và tuyệt vọng trước cuộc đời

Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ tiên phong trong việc cách tân thi pháp của phong trào Thơ mới, đem đến cho thế giới nghệ thuật trong thơ một sự đa dạng và nhiều sắc màu Ông đã đưa vào Thơ mới những sáng tạo độc đáo, những hình tượng ngôn từ đầy ấn tượng, gợi cảm giác liên tưởng và suy tưởng phong phú Ngoài bút pháp lãng mạn, Hàn Mặc Tử còn sử dụng bút pháp tượng trưng và yếu tố siêu thực, tạo nên một phong cách thơ riêng biệt và đặc sắc Tâm hồn thơ của ông đã thăng hoa thành những vần thơ tuyệt diệu, chẳng những gợi cho người đọc niềm thương cảm mà còn đem đến những cảm xúc thẩm mỹ kỳ thú và niềm tự hào về sức sáng tạo của con người

2.2 Những đóng góp đối với văn học Việt Nam 1900 – 1945 trên phương diện đổi mới thơ ca của thi sĩ họ Hàn

2.2.1 Những đổi mới về nội dung

2.2.1.1 Tư tưởng tôn giáo và những suy tư triết lý

Như đã nói trên, Hàn Mặc Tử ngoài là một nhà thơ thì còn là một nhà tín đồ công giáo Trong bài “Nguồn thơm” của tập “Xuân Như Ý” Hàn Mặc Tử cũng đã tự nhận

Trang 7

mình là “thi-sĩ của đạo quân Thánh-giá” Tuy nhiên, thực tế thì Hàn Mặc Tử không chỉ chịu ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa mà trong thơ Hàn còn có những triết lý nhà Phật Chính Hàn Mặc Tử đả có lần tâm sự với Quách Tấn: “Tôi lợi dụng văn chương và triết

lý nhà Phật đó chỉ muốn làm giầu cho nên văn chương chung”

Tư tưởng Kito giáo xuất hiện trong thơ Hàn như một sự cứu rỗi về tâm hồn Trong bài thơ "Ave Maria," Hàn Mặc Tử sử dụng hình ảnh Đức Mẹ Maria để diễn tả nỗi đau

và niềm hy vọng:

Maria ! Linh hồn tôi ớn lạnh ! Run như run thần tử thấy long nhan Run như run hơi thở chạm tơ vàng Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến […]

Lạy Bà là Đấng tinh truyền thánh vẹn Giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi, Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ Câu thơ "Hồn tôi ớn lạnh giữa trời khuya" phản ánh nỗi cô đơn và tuyệt vọng của ông trong cuộc sống, nhưng cũng đồng thời là một lời cầu cứu, hy vọng vào sự cứu rỗi

từ Đức Mẹ Tư tưởng Kitô giáo được thể hiện rõ ràng qua các hình ảnh tôn giáo và lời cầu nguyện, mang lại một chiều sâu tâm linh đặc biệt cho thơ ca của Hàn Mặc Tử Theo một số lời kể, Hàn Mặc Tử đã chết đi sống lại ba bốn lần trong thời gian lâm bệnh Có

lẽ vì vậy, trong ý thơ, Hàn Mặc Tử đã thể hiện lòng biết ơn, sự cảm tạ, nỗi xúc động trước sự cứu rỗi, “phò nguy” những lúc cận kề sinh tử vào những ngày bệnh tật giày vò

Trong thơ của Hàn Mặc Tử cũng sử dụng chất liệu Phật giáo để làm cảm hứng,

để bày tỏ nỗi niềm, có thể kể đến những câu thơ trong bài Huyền ảo:

Mới lớn lên trăng đã thẹn thò, Thơm như tình ái của ni cô

Ở trong hai câu thơ này, chất liệu Phật giáo không đứng song hành và có sự kết hợp chất liệu của Kinh thánh Trăng trước hết là Ánh sáng Trăng trước hết là Ánh Sáng, một chủ để rọi suốt mặc Khải Kinh Thành, từ ngày thứ nhất của Sáng Thế, khi Đức Chúa Trời phản định ánh sáng và bóng tối cho đến chương cuối cùng của Khải Huyện,

Trang 8

khi con người trong trời đất mới, hưởng một ánh sáng miên viễn Trăng thẹn thò, tượng trưng cho sự rụt rè, nhút nhát vì được được hưởng ân đức của ơn trên Đức Chúa Trời Theo một số nghiên cứu chỉ rằng sự thẹn thò trong trăng của Hàn Mặc Tử sự thẹn thò ở đây là kế thừa của Adam Thẹn thò là cảm giác của Adam và vợ khi đóng khô che thân lánh mặt Đức chúa trời sau khi ăn trái cấm Adam thẹn thò vì đã phạm tội Tuy nhiên, đây là những tội lỗi vì dục tình, còn đặt trong hoàn cảnh Hàn Mặc Tử tôi cho rằng Trăng như một chất liệu để xoa dịu nỗi đau về tình thần, tìm đến đức tin, Chúa trời để được giải thoát

Câu thơ "Thơm như tình ái của ni cô" tiếp tục sử dụng chất liệu phật giáo để tạo nên hình ảnh tình yêu thuần khiết, thanh sạch “Tình ái của ni cô" được mô tả như một hình ảnh tinh túy của tình yêu Cũng có thể Hàn Mặc Tử nhắc đến tình ái ni cô để luận cho sự vô tội của mình trong một thế giới đã hư hỏng về nguyên tội Nhưng Ni cô là người phụ nữ xuất gia, sống xa rời cuộc đời, mang theo nỗi buồn, cô đơn Hình ảnh này thường xuất hiện trong những cảnh thơ buồn, thể hiện tâm trạng u uất, sầu muộn của thi nhân Qua đó, Hàn Mặc Tử thể hiện nỗi buồn về thân phận, về cuộc đời, về tình yêu dang dở (nói là tình yêu đang dở vì trong những ngày bệnh tật Hàn Mặc Tử còn phải chịu nỗi đau tuyệt tình)

Mặc dù trước đó, ở thời trung đại, tôn giáo cũng được được vào thi ca tiêu biểu nhất là thơ thiền, là thứ thơ chuyển tải tinh thần giác ngộ theo Phật giáo Thiền tông Tuy nhiên, ở Hàn Mặc Tử, những sáng tác của ông không có giá trị về mặt truyền giáo, truyền đạo cho bất cứ tông giáo Hàn chỉ sử dụng những chất liệu tôn giáo để làm giàu phong cách của mình, làm thứ chất liệu để tái hiện đời mình với khao khát được cứu rỗi Đó như một thế giới tinh thần huyền diệu mà Hàn tự nhốt mình trong đó để làm tê liệt nỗi đau bệnh tật, nỗi đau tinh thần Có thể thấy rằng với Hàn Mặc Tử, tôn giáo là cái chặng, cái đích cao siêu mà đã là một thi sĩ chân chính trên bước đường tìm tòi nghệ thuật của mình thì tất phải chạm tới, bước tới, vì nó là chốn tuyệt đích của thơ Và quan trọng hơn

cả, Hàn có quan điểm mở về tôn giáo Tôn giáo Hàn nói tới là một hình thái tinh thần nói chung, chứ không phải tôn giáo là một thiết chế cụ thể hạn hẹp nào Nó không phải tôn giáo của tín đồ mà là tôn giáo của nghệ sĩ

2.2.1.2 Trường thơ điên và tính siêu thực, tượng trưng trong thơ Hàn Mặc Tử

Thơ mới Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi các chủ nghĩa được du nhập từ Pháp Bởi vậy, mà việc các nhà thơ chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa siêu thực là điều dĩ nhiên Trong khoảng thời gian Thơ Mới phát triển rực rỡ nhất: 1936 – 1939 hơ mới đã

Trang 9

hình thành những quan niệm thực sự đứt gãy so với thơ lãng mạn giai đoạn trước, thể hiện trong quan niệm của trường thơ Loạn, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, nhóm Dạ Đài Có thể tìm thấy những điểm gần gũi với tư duy và phương pháp sáng tác thơ siêu thực trong các bài thơ văn xuôi của Hàn Mặc Tử (Quan niệm thơ, Chơi giữa mùa trăng, Chiêm bao

và sự thật,…), tựa tập Thơ điên và tựa tập Điêu tàn do chính hai tác giả Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên tự viết, tuyên ngôn Thơ của Xuân Thu Nhã Tập và Tuyên ngôn tượng trưng của Dạ Đài Với họ, thơ là địa hạt của huyền diệu, thần bí, cao siêu Theo Trần Thị Huyền Trang viết trong “Thơ và đời Hàn Mặc Tử” có một bài viết “Vị chúa của trường thơ loạn Đại ý của bài này cho rằng Hàn Mặc Tử chính là vị chủ soái, người sáng lập ra trường thơ Điên, Loạn Việc ai sáng lập ra trường thơ này trước tiên nhất thì thật khó để định đoán nhưng chắc chắn một điều không thể phủ nhận rằng: Tính siêu thực được thể hiện đậm đà nhất trong thơ Hàn Mặc Tử với một không gian ma quái, quỷ

dị với những sự xuất hiện méo mó của trăng, hồn và máu huyết

Cảm nhận được cái chết đang gắn kề, trong cơn tuyệt vọng Hàn Mặc Tử đã bắt đầu tìm kiếm lối thoát cho riêng mình thông qua thơ ca và niềm tin tôn giáo Thể xác ông càng đau đớn và chết dần đi thì văn chương ông lại càng kêu gào mạnh mẽ Chính trong thời gian này, văn chương Hàn Mặc Tử đã đạt đến đỉnh cao Như Hoài Thanh từng nói về Hàn Mặc Tử: “Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng", thơ ca của ông mở ra một cõi

lạ mà dường như chỉ riêng linh hồn người thi sĩ mới có thể cảm nhận được một cách toàn vẹn nhất Khoảng thời gian này, Hàn Mặc Tử viết như đang trong cơn mê sảng, như viết trong cơn vô thức được đấng thần linh chỉ bảo và viết và viết trong cơn rồ dại

và viết bằng tất cả máu huyết, linh hồn mình

“Ta cho ra một giòng thơ rất mát Mới tinh-khôi và thanh-sạch bằng hương

Trời như hớp phải hơi men ngan-ngát, Đắm muôn ngôi tinh lạc xuống mười phương.”

(Nguồn thơm)

“Ôi ngông-cuồng ! Ôi rồ-dại, rồ-dại !

Ta đi thuyền trên mặt nước lòng ta

Ôi ngông-cuồng ! ôi rồ-dại, rồ-dại !

Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta”

(Biển hồn ta)

Trang 10

Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút Mỗi lời thơ đều dính não cân ta Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt Như mê man chết điếng cả làn da

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh, Đừng nắm lại nguồn thơ ta đang siết

Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh

(Rướm máu) Siêu thực trong thơ Hàn Mặc Tử được thể hiện đậm nét nhất trong tập Đau Thương đặc biệt qua những hình ảnh hư ảo, chập chờn giữa thực và mộng, tạo nên một thế giới thơ đầy ám ảnh Hình ảnh trăng trong thơ ông không chỉ là một yếu tố thiên nhiên mà đã trở thành một phần của thực tại, bao trùm cả không gian và con người Thơ Hàn Mặc Tử tràn ngập trăng, sao, mây, trời, vầng dương, cầu Ô thước, sông Ngân Hà,

có cả không gian tâm tưởng bên ngoài vũ trụ dành cho “loài thi sĩ” mà ông sở hữu như báu vật Hàn Mặc Tử muốn hòa nhập vào vô biên ấy để được tận hưởng không gian thượng thanh khí và để “nghe trời giải nghĩa yêu”, để được thấy: “Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm”, để cảm nhận: “Thinh không tan như bào ảnh hư vô – Dải Ngân Hà biến theo cầu Ô thước” Ở đó, một trời trăng diễm ảo hiện ra Trăng hiện diện khắp nơi, len lỏi vào tận tâm hồn thi nhân, như trong bài “Huyền diệu”, Hàn Mặc Tử viết:

Không gian dày đặc toàn trăng cả Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng

Mỗi ảnh, mỗi hình thêm phiếu diễu Nàng xa tôi quá nói nghe chăng?

Ở đây, trăng trở thành biểu tượng của sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên, giữa thực và mộng Trăng bao phủ và chiếm lĩnh không gian, làm mờ ranh giới giữa cái tôi và cái không phải tôi, tạo nên một thế giới siêu thực, nơi mà mọi thứ đều là trăng Trăng biến đổi không ngừng thâm nhập từng bước vào thế giới con người một cách mơ hồ Trăng ở đây không chỉ là ánh sáng mà còn là một thực thể có khả năng biến hóa và thấm nhập, tạo nên một không gian siêu thực và kỳ ảo Chính vì vậy, trong thơ Hàn Mặc Tử, trăng không chỉ đơn thuần là một hình ảnh thiên nhiên mà trở thành một biểu tượng siêu thực, hòa quyện vào mọi yếu tố của cuộc sống Điều này được thể hiện

Ngày đăng: 05/09/2025, 10:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Tiến sĩ Tôn Thảo Miên, 2007, NXB Văn học, Hàn Mặc Tử: Tác phẩm và lời bình 3. Nguyễn Thị Minh Thương, Vài suy nghĩ về khuynh hướng siêu thực trong Thơ mới1932 – 1945, Tao Đàn, Vài suy nghĩ về khuynh hướng siêu thực trong Thơ mới 1932 - 1945 - Tạp Chí Tao Đàn (taodan.com.vn), truy cập ngày 27/05/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử: Tác phẩm và lời bình" 3. Nguyễn Thị Minh Thương, "Vài suy nghĩ về khuynh hướng siêu thực trong Thơ mới "1932 – 1945
Nhà XB: NXB Văn học
4. Thụy Khuê, Tưởng tượng, hư ảo và vũ trụ luận mới trong thơ Hàn Mặc Tử, Văn học nghệ thuật, RFI - Tưởng tượng, hư ảo và vũ trụ luận mới trong thơ Hàn Mặc Tử, truy cập ngày 28/05/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tưởng tượng, hư ảo và vũ trụ luận mới trong thơ Hàn Mặc Tử
5. Hồ Thế Hà, Không gian nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử, vanvn.vn, Không gian nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử - Hội Nhà Văn Việt Nam (vanvn.vn), truy cập ngày 28/05/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử
6. Mai Thị Dung, Phong trào thơ mới là gì? Những tác giả, tác phẩm nổi bật, Voh.com, Phong trào thơ mới là gì? Những tác giả, tác phẩm nổi bật (voh.com.vn), truy cập ngày 27/05/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thơ mới là gì? Những tác giả, tác phẩm nổi bật
7. Phan Cư Đệ, Chất đạo và chất đời trong thơ Hàn Mạc Tử, Văn thơ công giáo, Chất đạo và chất đời trong thơ Hàn Mạc Tử (vanthoconggiao.net), truy cập ngày 28/05/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất đạo và chất đời trong thơ Hàn Mạc Tử
8. Tú Cẩm, Câu chuyện cuộc đời Hàn Mặc Tử, nhà thơ tài hoa bạc mệnh của Việt Nam!, Voh.com, Câu chuyện cuộc đời Hàn Mặc Tử, nhà thơ tài hoa bạc mệnh của Việt Nam! (voh.com.vn), truy cập ngày 27/05/2024 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện cuộc đời Hàn Mặc Tử, nhà thơ tài hoa bạc mệnh của Việt Nam
1. Đoàn Khoách, Lê Văn, 2007, NXB Dòng Việt, Dòng Việt số 21 - Hàn Mặc Tử: Thi nhân Bình Định Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w