TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC VŨ THỊ HỒNG TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SÂN KHẤU HÓA TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở LỚP 10 ĐỀ ÁN THẠ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
VŨ THỊ HỒNG
TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SÂN KHẤU HÓA TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở LỚP 10
ĐỀ ÁN THẠC SĨ LÝ LUẬN VÀ PPDH BỘ MÔN VĂN - TIẾNG VIỆT
THANH HÓA, NĂM 2025
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
VŨ THỊ HỒNG
TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SÂN KHẤU HÓA TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở LỚP 10
ĐỀ ÁN THẠC SĨ LÝ LUẬN VÀ PPDH BỘ MÔN VĂN - TIẾNG VIỆT
Ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số: 8140111
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Phượng
THANH HÓA, NĂM 2025
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả thu thập trong đề án là trung thực, chính xác và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào Nếu sai sót, tôi xin chịu
hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả
Vũ Thị Hồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Thị Phương - giảng viên Khoa Khoa học Xã hội, Trường Đại học Hồng Đức - người đã tận tình hướng dẫn, định hướng khoa học và luôn đồng hành, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Những ý kiến chỉ dẫn sâu sắc, tinh thần làm việc nghiêm túc và tâm huyết của cô là nguồn động lực to lớn giúp tôi hoàn thành tốt đề án này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể giảng viên Khoa Khoa học Xã hội và Phòng Quản lý Đào tạo Trường Đại học Hồng Đức đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ tôi về chuyên môn cũng như tinh thần trong quá trình học tập
và nghiên cứu
Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và giáo viên Trung tâm GDNN - GDTX Quảng Xương, Thanh Hóa đã nhiệt tình phối hợp, hỗ trợ trong công tác khảo sát và thực nghiệm, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo tính thực tiễn của đề án
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và những người thân yêu đã luôn ở bên, khích lệ và ủng hộ tôi trong suốt hành trình thực hiện đề án
Tác giả
Vũ Thị Hồng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp mới của đề tài 9
7 Cấu trúc của đề tài 9
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SÂN KHẤU HÓA TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở LỚP 10 10
1.1 Cơ sở lí luận 10
1.1.1 Dạy học phát triển năng lực 10
1.1.2 Hoạt động học tập phát triển năng lực 11
1.1.3 Chuyên đề sân khấu hóa trong dạy học văn học 13
1.1.4 Hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá chuyên đề Ngữ văn ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.2.1 Yêu cầu cần đạt và nội dung dạy học chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 19
Trang 61.2.2 Thực trạng tổ chức các hoạt động học tập trong dạy học chuyên
đề sân khấu hóa tác phẩm văn học nhìn từ yêu cầu phát triển năng lực học sinh của chương trình môn Ngữ văn 2018 25 Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 NGUYÊN TẮC, BIỆN PHÁP TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SÂN KHẤU HÓA TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở LỚP 10 38
2.1 Nguyên tắc tổ chức các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10 38 2.1.1 Đảm bảo mục tiêu, yêu cầu phát triển năng lực học sinh của chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học 38 2.1.2 Lấy học sinh làm trung tâm, phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong các hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học 39 2.1.3 Đảm bảo tính giáo dục, nhân văn trong thông điệp sân khấu hóa tác phẩm văn học 40 2.1.4 Đảm bảo đa dạng và linh hoạt phù hợp với điều kiện tổ chức các hoạt động sân khấu hóa trong và ngoài lớp học 42 2.2 Biện pháp tổ chức các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10 44 2.2.1 Biện pháp 1: Giới thiệu các bước sân khấu hóa tác phẩm văn học trên sơ đồ hoặc bảng biểu 44 2.2.2 Biện pháp 2: Chuyển thể trích đoạn hoặc tác phẩm văn học thành kịch bản sân khấu 46 2.2.3 Biện pháp 3: Tập dượt theo kịch bản và chỉnh sửa kịch bản 54 2.2.4 Biện pháp 4: Biểu diễn sân khấu hóa tác phẩm văn học 55 2.2.5 Biện pháp 5: Tổ chức “Lớp học diễn xướng” theo mô hình vai diễn59 Tiểu kết chương 2 62
Trang 7Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm sư phạm 63
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.1.2 Đối tượng, số lượng và địa bàn thực nghiệm 63
3.1.3 Thời gian và quy trình thực nghiệm 63
3.2 Tổ chức thực nghiệm sân khấu hóa tác phẩm văn học 64
3.2.1 Kế hoạch thực nghiệm sân khấu hóa tác phẩm văn học 64
3.2.2 Tiến hành thực nghiệm 81
3.3 Đánh giá thực nghiệm 83
3.3.1 Kết quả định lượng 83
3.3.2 Kết quả định tính 86
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC P1
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh hoạt động học tập phát triển năng lực và hoạt động
học tập truyền thông 12 Bảng 1.2 Nội dung chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học lớp 10 của
ba bộ sách giáo khoa 2018 23 Bảng 1.3 Tổng hợp kết quả khảo sát, đánh giá giờ dạy chuyên đề sân
khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10 tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 30 Bảng 1.4 Kết quả về thực trạng mức độ phổ biến và tần suất tổ chức
hoạt động sân khấu hóa 31 Bảng 1.5 Kết quả về thực trạng hình thức tổ chức và các khâu hướng dẫn 32 Bảng 1.6 Kết quả về thực trạng cảm nhận của học sinh về sự hướng dẫn và
vai trò tham gia 32 Bảng 1.7 Kết quả về thực trạng so sánh những khó khăn gặp phải từ góc
nhìn của giáo viên và học sinh 33 Bảng 1.8 Dữ liệu so sánh đánh giá về hiệu quả phát triển năng lực 34 Bảng 2.1 Bảng biểu giới thiệu các bước sân khấu hóa tác phẩm văn học 46 Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá để cả người diễn và người xem Chuyên đề:
Sân khấu hóa tác phẩm LÃO HẠC (Nam Cao) 57 Bảng 3.1 Đối tượng thực nghiệm 63 Bảng 3.2 Kết quả đánh giá kiến thức và hiểu biết khi tổ chức các hoạt
động học tập trong chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học (sau TN) 83 Bảng 3.3 Kết quả đánh giá năng lực của HS khi tổ chức các hoạt động học
tập trong chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học (sau TN) 84 Bảng 3.4 Kết quả đánh giá thái độ và hứng thúc khi tổ chức các hoạt
động học tập trong chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học (sau TN) 84
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hiện nay chúng ta đang tiến hành đổi mới giáo dục ở nhà trường phổ thông theo hướng chuyển từ trọng tâm cung cấp kiến thức sang trọng tâm phát triển năng lực cho học sinh Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” Vì vậy, đổi mới phương pháp
dạy học Ngữ văn nói chung, dạy đọc Văn nói riêng theo hướng hình thành ở học sinh năng lực đọc hiểu, năng lực thưởng thức và đánh giá nghệ thuật, là một yêu cầu cấp thiết hiện nay
1.2 Chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học là một trong ba chuyên
đề quan trọng trong CT giáo dục Ngữ văn 2018 và cũng là lần đầu tiên được đưa vào nhà trường THPT để dạy Khi tiếp cận với chuyên đề này học sinh
sẽ hiểu rõ hơn về nội dung, ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của tác phẩm thông qua việc thể hiện các nhân vật, tình huống và thông điệp sân khấu hóa Tuy nhiên trong thực tế các tiết dạy học CĐ chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học ở một số nhà trường đội ngũ GV còn gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ trong cách tổ chức, cần nhiều thời gian và công sức cho việc chuẩn bị, ở một
số trường còn thiếu thốn về cơ sở vật chất hoặc trang thiết bị nghệ thuật Bên cạnh đó DHCĐ là một trong những hướng tiếp cận mới nên yêu cầu GV cần
có sự kiên nhẫn, HS phải có sự hợp tác thì mới phát huy được hết giá trị của
CĐ này
1.3 Văn học là một trong những loại hình nghệ thuật tiêu biểu, chiếm
vị trí lớn trong đời sống xã hội và phản ánh cuộc sống thông qua hình tượng nghệ thuật Khi tác phẩm văn học không chỉ để đọc mà để biểu diễn trên sân khấu thì thế giới con người, đời sống xã hội nó đến với khán giả ở một kênh
Trang 11nghe nhìn, sẽ tác động trực tiếp vào cảm xúc con người bằng mọi giác quan,
từ đó sẽ tạo hứng thú cho học tập làm đa dạng hóa hình thức học tập tác phẩm văn học
1.4 Đa dạng hóa các hoạt động học tập cho HS trong DH các tác phẩm văn học ở nhà trường PT dưới hình thức sân khấu hóa chiếm ưu thế vượt trội trong việc phát triển phẩm chất năng lực, và định hướng nghề nghiệp cho HS đáp ứng mục tiêu yêu cầu của dạy học chương trình 2018 ở bậc THPT Sân khấu hóa cung cấp không gian cho HS để khám phá sở thích và năng lực của bản thân, từ khả năng diễn xuất, viết kịch bản cho đến những khía cạnh khác của nghệ thuật biểu diễn Điều này giúp HS nhận ra những lĩnh vực mà họ có thể theo đuổi trong tương lai Bên cạnh đó kỹ năng được rèn luyện qua hoạt động sân khấu hóa, như kỹ năng tổ chức sự kiện, kỹ năng thuyết trình, quản lý thời gian và lãnh đạo, đều là những yếu tố cần thiết trong bất kỳ nghề nghiệp nào Điều này có thể giúp HS tự tin hơn khi lựa chọn nghề nghiệp kỹ năng được rèn luyện qua hoạt động sân khấu hóa, như kỹ năng tổ chức sự kiện, kỹ năng thuyết trình, quản lý thời gian và lãnh đạo, đều là những yếu tố cần thiết trong bất kỳ nghề nghiệp nào Điều này có thể giúp HS tự tin hơn khi lựa chọn nghề nghiệp
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài“Tổ chức các hoạt
động học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10” Với mong muốn qua
khảo sát đặc điểm kết cấu phương pháp dạy học theo phương pháp tổ chức hoạt động vào thực trạng dạy học chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học
đề xuất được các biện pháp, cách thức, hình thức hướng dẫn học sinh học tác phẩm văn học , từ góc độ nghiên cứu ứng dụng, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học chuyên đề ở nhà trường phổ thông nói chung, và hiệu quả học tập của học sinh lớp 10 trong chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học nói riêng
Trang 12tư duy bậc cao Từ góc độ tiếp cận năng lực, dạy học chuyên đề là điều kiện
để phát triển toàn diện các năng lực chung (tư duy, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề) và các năng lực đặc thù của từng môn học
Trên thế giới, hình thức dạy học theo chuyên đề đã được nghiên cứu và
áp dụng rộng rãi trong các chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực, đặc biệt tại các quốc gia như Mỹ, Pháp, Anh, Canada, Phần Lan và Nhật Bản Các công trình của Fullan (2013), Tomlinson (2001), hay Darling-Hammond (2010) đều nhấn mạnh vai trò của các dự án, chủ đề học tập lớn và dạy học phân hóa trong phát triển tư duy phản biện, kỹ năng hợp tác, sáng tạo
và tự học Ở một số chương trình giáo dục phổ thông tiên tiến, như chương trình IB (International Baccalaureate) hay chương trình quốc gia Phần Lan, việc tổ chức học theo chuyên đề không chỉ diễn ra trong từng môn học mà còn dưới hình thức liên môn, nhằm giúp học sinh kết nối kiến thức và vận dụng vào thực tiễn
Tuy nhiên, trong lĩnh vực Ngữ văn, đặc biệt là với các năng lực đặc thù như đọc hiểu văn bản nghệ thuật, viết sáng tạo, nói và nghe có định hướng, các chuyên đề cần được thiết kế theo hướng khai thác chiều sâu cảm thụ và tính cá nhân hóa cao Một số mô hình dạy học chuyên đề văn học tại các nước
Trang 13phát triển thường kết hợp giữa phân tích văn bản, viết phản hồi cá nhân, trình bày đa phương tiện và các sản phẩm sáng tạo như nhật ký đọc, dự án văn học hoặc sân khấu hóa Điều này đặt ra yêu cầu về năng lực thiết kế hoạt động và
tổ chức lớp học linh hoạt đối với giáo viên
Tại Việt Nam, từ sau khi Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được ban hành, dạy học chuyên đề trở thành một nội dung chính thức trong chương trình môn Ngữ văn cấp trung học phổ thông Theo đó, bên cạnh các bài học bắt buộc, học sinh được lựa chọn các chuyên đề học tập phù hợp với nhu cầu, định hướng nghề nghiệp và sở thích cá nhân Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã
có các văn bản hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, trong
đó nêu rõ vai trò của chuyên đề như một phần quan trọng trong việc phát triển chương trình giáo dục ở địa phương
Về mặt nghiên cứu, đã có nhiều công trình bước đầu tiếp cận vấn đề dạy học chuyên đề từ các khía cạnh lý luận và thực tiễn Có thể kể đến: Nguyễn Thị Hồng Nam (2020) nghiên cứu về việc xây dựng và triển khai chuyên đề đọc hiểu văn bản văn học hiện đại nhằm phát triển năng lực tiếp nhận văn học cho học sinh THPT; Phạm Thị Hòa (2021) đề xuất quy trình thiết kế chuyên đề Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, nhấn mạnh việc tích hợp các hoạt động đọc - viết - nói - nghe trong cùng một đơn vị học tập; Trần Thị Hạnh (2022) phân tích hiệu quả của dạy học chuyên đề tích hợp liên môn giữa Ngữ văn và Lịch sử trong việc nâng cao khả năng cảm thụ và liên hệ thực tế của học sinh; Nguyễn Văn Thuận (2019) đề xuất việc lồng ghép hoạt động trải nghiệm và dự án học tập vào chuyên đề Ngữ văn để nâng cao hứng thú học tập và tính sáng tạo của học sinh
Bên cạnh đó, một số đề tài luận văn thạc sĩ tại các trường đại học sư phạm lớn như Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm
TP Hồ Chí Minh, Đại học Vinh,… cũng đã tiến hành xây dựng và thực nghiệm các chuyên đề dạy học cụ thể, tập trung vào các nội dung như: văn học dân gian, truyện ngắn hiện đại, thơ ca cách mạng, kỹ năng viết nghị luận
xã hội, hoặc giáo dục giá trị sống qua văn học
Trang 14Tóm lại, việc nghiên cứu về dạy học chuyên đề trong môn học Ngữ văn
ở trường phổ thông là cần thiết nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu của chương trình mới Việc nghiên cứu cần tập trung vào các yếu tố như: lựa chọn nội dung phù hợp với đối tượng học sinh, quy trình thiết kế chuyên đề khả thi, hình thức tổ chức phong phú và tiêu chí đánh giá rõ ràng Đây cũng chính là định hướng cho luận văn nghiên cứu mà đề tài này hướng tới
2.2 Tình hình nghiên cứu về tổ chức hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Ngữ văn ở Trung học phổ thông
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, việc tổ chức hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh đã và đang trở thành một trong những yêu cầu cốt lõi trong dạy học môn Ngữ văn ở Trung học phổ thông (THPT) Nhiều công trình lý luận và thực tiễn đã tiếp cận vấn đề này từ các góc độ khác nhau, góp phần làm rõ cơ sở lý luận, nguyên tắc tổ chức, cũng như các mô hình và biện pháp triển khai phù hợp với đặc trưng của môn học
Một số công trình đã tập trung vào việc xác định hệ thống năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh qua môn Ngữ văn Theo quan điểm của Nguyễn Minh Thuyết (2018) - Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Ngữ văn cần hướng đến việc phát triển các năng lực đặc thù như: năng lực đọc hiểu, năng lực viết, năng lực nói và nghe, đồng thời hình thành năng lực thẩm mỹ và năng lực cảm thụ văn học Quan điểm này là cơ sở định hướng cho việc xây dựng các hoạt động học tập trong chương trình mới Lê Trí Khánh (2019) và Phạm Thị Hạnh (2020) cũng khẳng định rằng: để phát triển năng lực cho học sinh, việc tổ chức hoạt động học tập cần chuyển từ dạy học truyền thụ tri thức sang dạy học tích cực hóa người học, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm, sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Nhiều nghiên cứu đề xuất việc đổi mới phương pháp tổ chức dạy học theo định hướng hoạt động Nguyễn Thị Thanh Huyền (2021) nhấn mạnh hiệu quả của các phương pháp như dạy học hợp tác, dạy học theo dự án, dạy học
Trang 15theo trạm, và dạy học theo tình huống trong phát triển năng lực tiếp nhận văn học Việc tổ chức lớp học thành các nhóm nhỏ, giao nhiệm vụ học tập đa dạng, khuyến khích học sinh trình bày, phản biện và tổng kết là những hình thức đã được thực nghiệm và đánh giá tích cực Trần Mạnh Tiến (2020) nghiên cứu việc vận dụng kỹ thuật "bản đồ tư duy", "hỏi - đáp ngược", "kịch hóa văn học" để tổ chức hoạt động học tập trong các giờ học văn, cho thấy rõ hiệu quả trong việc nâng cao năng lực tư duy, sáng tạo và năng lực giao tiếp của học sinh Bên cạnh đó, Đặng Thị Thủy (2019) chỉ ra rằng việc tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo như viết nhật ký đọc sách, phỏng vấn nhân vật văn học, sáng tác thơ - truyện ngắn dựa trên văn bản đã học, giúp học sinh thể hiện cá tính sáng tạo và hiểu sâu sắc hơn giá trị nghệ thuật - nhân văn của tác phẩm văn học
Một số luận văn và đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng đã tiến hành thực nghiệm cụ thể các mô hình tổ chức hoạt động học tập trong môn Ngữ văn ở THPT Ví dụ: Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Lan (ĐHSP Hà Nội, 2021) xây dựng mô hình tổ chức hoạt động đọc hiểu theo nhóm dựa trên
kỹ thuật tranh luận - phản biện, áp dụng với văn bản truyện hiện đại; Luận văn của Nguyễn Văn Cường (ĐHSP TP.HCM, 2020) thử nghiệm tổ chức hoạt động viết sáng tạo (viết tiếp, viết lại, viết từ góc nhìn khác) nhằm phát triển năng lực viết văn tự sự và biểu cảm; Một số đề tài cấp sở tại các tỉnh như Thái Nguyên, Cần Thơ, Quảng Nam cũng đã bước đầu triển khai dạy học theo hướng phát triển năng lực, tập trung vào tổ chức hoạt động học tập linh hoạt, lấy học sinh làm trung tâm
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu tổ chức hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực trong môn Ngữ văn - đặc biệt là trong các chuyên
đề học tập cụ thể - là cần thiết và mang ý nghĩa thực tiễn cao Đó cũng là định hướng mà luận văn này tập trung làm rõ, nhằm góp phần đổi mới hoạt động dạy học Ngữ văn ở bậc THPT theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới
Trang 163 Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Đề xuất được các nguyên tắc, biện pháp tổ chức các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10 đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn 2018
3.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu, hệ thống hoá những vấn đề lí luận về chuyên đề sân khấu hóa và phương pháp tổ chức hoạt động dạy học cho học sinh ở chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học ở nhà trường phổ thông
Khảo sát thực trạng dạy và học chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học ở chương trình Ngữ văn lớp 10
Đề xuất nguyên tắc quy trình và biện pháp, tổ chức hoạt động dạy học cho học sinh vào chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10 nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Văn ở nhà trường phổ thông
Thực nghiệm thiết kế giáo án và tổ chức dạy học chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học ở chương trình Ngữ văn lớp 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực học
sinh trong dạy học chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10
4.2 Phạm vi khảo sát
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu giá trị của chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học, bên cạnh đó là khảo sát thực trạng
Tổ chức các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh
trong dạy học chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
5.1.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Sử dụng nhằm xác định cơ sở lí luận và thực tiễn cho đề án Nghiên cứu các tài liệu lí luận có liên quan đến việc Tổ chức các hoạt động học tập phát triển năng lực học sinh trong DHCĐ sân khấu hóa tác phẩm văn học theo
Trang 17SGK Ngữ văn 10, đồng thời bao gồm cả các tài liệu liên quan đến thực tế chương trình dạy học CĐ sân khấu hóa tác phẩm văn học như: Chương trình tổng thể 2018 môn Ngữ văn, SGK Ngữ văn lớp 10 bộ KNTTVCS Phương pháp này được thực hiện thông qua việc vận dụng các thao tác: phân tích, tổng hợp, so sánh
5.1.2 Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lí luận về việc tổ chức hoạt động dạy học
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề có tính lí luận và thực tiễn
về tổ chức hoạt động học tập trong dạy học chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học tổng hợp đáp ứng mục tiêu, yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực người học của chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1 Phương pháp quan sát, khảo sát
Quan sát, khảo sát giờ dạy trên lớp của GV để thu thập thông tin về thực trạng thiết kế và Tổ chức các hoạt động học tập phát triển năng lực học sinh trong DHCĐ sân khấu hóa tác phẩm văn học theo sách giáo khoa Ngữ văn 10 bộ KNTTVCS ở Trung tâm GDTX-GDNN Quảng Xương
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn CBQL, GV và HS Trung tâm GDTX-GDNN Quảng Xương
về thực trạng Tổ chức các hoạt động học tập phát triển năng lực học sinh trong DHCĐ sân khấu hóa tác phẩm văn học theo sách giáo khoa Ngữ văn 10
bộ KNTTVCS
5.2.3 Phương pháp chuyên gia
Kiểm chứng tính chuẩn xác, độ tin cậy và mức độ hiệu quả của các nội dung nghiên cứu thuộc đề tài luận văn bằng phương pháp hỏi - đáp, trao đổi, thảo luận, nhận xét, phản biện, góp ý của những người am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu của đề tài
5.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng để thiết kế Kế hoạch bài dạy, tổ chức dạy học thực nghiệm và kiểm tra đánh giá kết quả dạy học thực nghiệm và dạy học đối chứng dựa trên các nguyên tắc, quy trình, biện pháp tổ chức các hoạt động học tập trong dạy học chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10 đáp ứng yêu cầu
Trang 18phát triển phẩm chất, năng lực người học của chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
5.2.5 Phương pháp thống kê, phân loại
Thống kê, phân loại thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu trong các công trình khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài; chuyên đề, số liệu kết quả khảo sát đánh giá thực trạng dạy học chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học theo chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018 trong một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
6 Đóng góp mới của đề tài
Về lí luận: góp phần bổ sung, hoàn thiện hóa hệ thống lí thuyết về phương pháp tổ chức hoạt động dạy học cho học sinh chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học
Về mặt thực tiễn: Là tài liệu tham khảo của giáo viên và học sinh và những người có quan tâm trong DHCĐ môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc tổ chức các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học chuyên đề Sân khấu
hóa tác phẩm văn học ở lớp 10
Chương 2: Nguyên tắc, quy trình, biện pháp tổ chức các hoạt động học
tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHUYÊN ĐỀ SÂN KHẤU HÓA
TÁC PHẨM VĂN HỌC Ở LỚP 10
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Dạy học phát triển năng lực
1.1.1.1 Khái niệm năng lực
Thuật ngữ năng lực được sử dụng như một từ khóa trong đổi mới dạy
học chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông năm 2018 Về phạm trù năng lực, hiện có nhiều cách hiểu khác nhau
Vào khoảng những năm 60 của thế kỉ XX, lí thuyết học tập kiến tạo (Constructivist Competency Theory) nêu định nghĩa về năng lực “là sự cấu trúc
và vận dụng linh hoạt tri thức trong bối cảnh có ý nghĩa, thông qua hoạt động tích cực, tự chủ và hợp tác của người học” Nhấn mạnh năng lực không được truyền thụ, mà được kiến tạo thông qua trải nghiệm và hoạt động thực tiễn [7,
tr 115-118]
Theo UNESCO (1996), năng lực được hiểu là sự tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ được vận dụng một cách linh hoạt để giải quyết hiệu quả các tình huống trong học tập và đời sống Điểm nổi bật trong định nghĩa của UNESCO là nhấn mạnh vào hiệu quả của hành động và thành công trong tình huống cụ thể, không chỉ là có kiến thức hay kĩ năng đơn lẻ
OCED trong Dự án DeSeCo (1997) quan niệm “Năng lực là khả năng sử dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ và các phẩm chất cá nhân để đáp ứng hiệu quả các yêu cầu của cuộc sống cá nhân, xã hội và nghề nghiệp” Nếu UNESCO nhấn mạnh vào hiệu quả của hành động và thành công trong tình huống cụ thể, không chỉ là có kiến thức hay kĩ năng đơn lẻ thì OCED nhấn mạnh năng lực là
sự tổng hợp, tích hợp, gắn với thực tiễn đời sống và nghề nghiệp
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 của Việt Nam xác
định: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp
Trang 20các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin,
ý chí… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [2, tr 4]
Từ các khái niệm nêu trên, có thể rút ra các yếu tố cốt lõi của năng lực
để thực hiện nghiên cứu Đề án Kiến thức – kĩ năng – thái độ là nền tảng để thực hiện hoạt động; Cách thức thực hiện trong thực tiễn của người có năng lực là khả năng vận dụng – tổng hợp; Tiêu chí đánh giá năng lực là hiệu quả của hành động và sự phù hợp bối cảnh; Cá nhân trải nghiệm là nơi năng lực được hình thành và phát triển
1.1.1.2 Khái niệm dạy học phát triển năng lực
Dạy học phát triển năng lực là tổ chức quá trình học tập cho người học tích cực tham gia vào các hoạt động học để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng và phát triển phẩm chất, năng lực cá nhân thông qua trải nghiệm, khám phá và giải quyết vấn đề [1]
1.1.2 Hoạt động học tập phát triển năng lực
1.1.2.1 Khái niệm hoạt động học tập phát triển năng lực
Hoạt động học tập phát triển năng lực là hoạt động cho phép học sinh tham gia tích cực, chủ động vào các nhiệm vụ học tập được thiết kế theo hướng mở, đa dạng, nhằm huy động và vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ để giải quyết vấn đề, tạo ra sản phẩm có giá trị, qua đó hình thành và phát triển các năng lực cần thiết [1, tr 2]
1.1.2.2 Đặc điểm hoạt động học tập phát triển năng lực
a) Hoạt động học tập phát triển năng lực có các đặc điểm chính:
Gắn với tình huống có vấn đề, có tính thực tiễn, không mang tính lặp lại đơn thuần
Học sinh chủ động tham gia các nhiệm vụ học tập như tìm hiểu, suy nghĩ, thảo luận, quyết định, hành động
Vận dụng kiến thức từ nhiều lĩnh vực, nhiều phương diện
Có sản phẩm học tập là kịch bản, bài trình bày, mô hình, video, tiểu phẩm, v.v
Hướng đến phát triển năng lực học sinh không chỉ hiểu biết mà phải làm được, giải quyết được vấn đề [1,tr.9]
Trang 21b) So sánh hoạt động học tập phát triển năng lực và hoạt động học tập truyền thông
Bảng 1.1 So sánh hoạt động học tập phát triển năng lực
và hoạt động học tập truyền thông
Tiêu chí Hoạt động học tập
truyền thống
Hoạt động học tập phát triển năng lực
1 Mục tiêu Truyền đạt kiến thức,
rèn kĩ năng tái hiện
Hình thành và phát triển năng lực qua vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề
2 Vai trò
của học sinh
Tiếp nhận, ghi nhớ, làm theo hướng dẫn
Chủ động, tích cực, sáng tạo, tự kiến tạo tri thức và kĩ năng
3 Vai trò
của giáo viên
Trung tâm truyền đạt, kiểm soát quá trình học
Hướng dẫn, tổ chức, hỗ trợ, tạo điều kiện cho học sinh hành động độc lập
4 Nội dung
học tập
Trình bày theo bài – chương, trọng tâm là kiến thức khái niệm
Thiết kế theo chủ đề, vấn đề, tình huống thực tiễn gắn với cuộc sống
5 Hình thức
tổ chức
Dạy học theo tiết, giảng giải – hỏi đáp – làm bài tập
Hoạt động nhóm, dự án, trải nghiệm, thảo luận, đóng vai, sân khấu hóa…
Đánh giá quá trình và sản phẩm, kết hợp đánh giá bằng rubric, tự đánh giá, phản hồi
8 Mức độ huy
động năng lực
Chủ yếu huy động trí nhớ, hiểu biết kiến thức
Huy động tổng hợp: tư duy, cảm xúc, giao tiếp, hợp tác, sáng tạo, thực hành…
10 Hình thành
phẩm chất –
năng lực
Bị động, chậm phát triển phẩm chất cá nhân
Giúp học sinh phát triển toàn diện: phẩm chất, năng lực, thái độ học tập chủ động
Trang 221.1.3 Chuyên đề sân khấu hóa trong dạy học văn học
1.1.3.1 Khái niệm chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học
a) Khái niệm chuyên đề
Chuyên đề trong dạy học là một đơn vị nội dung học tập được thiết kế xoay quanh một chủ điểm trọng tâm, có ý nghĩa thực tiễn hoặc giáo dục sâu sắc, nhằm phát triển năng lực và phẩm chất học sinh thông qua các hoạt động học tập đa dạng, tích hợp và trải nghiệm
Chuyên đề học tập là một hình thức tổ chức dạy học theo định hướng tích hợp liên môn, được thiết kế và triển khai trong nhiều tiết hoặc nhiều tuần Mục tiêu của chuyên đề là giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn đời sống hoặc hướng đến việc sáng tạo sản phẩm học tập có giá trị [2, tr 45-46]
b) Khái niệm sân khấu hóa tác phẩm văn học
Sân khấu hóa tác phẩm văn học là hình thức chuyển thể nội dung và thông điệp của một tác phẩm văn học thành kịch bản sân khấu, nhằm tái hiện thế giới nghệ thuật của tác phẩm một cách sinh động và giúp học sinh trải nghiệm, cảm thụ sâu sắc qua hoạt động nhập vai và biểu diễn sáng tạo, qua đó phát triển năng lực cảm thụ văn học, năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ, năng lực giao tiếp và hợp tác [9, tr 250-252]
c) Khái niệm chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học
Chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học là hình thức tổ chức dạy học theo chủ đề, trong đó học sinh tìm hiểu, phân tích và tái hiện nội dung, giá trị của tác phẩm văn học qua hình thức sân khấu hóa (diễn kịch, hoạt cảnh, kể chuyện theo vai…), nhằm phát triển năng lực cảm thụ văn học, năng lực ngôn ngữ, năng lực hợp tác và sáng tạo
1.1.3.2 Các hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học
Sân khấu hóa tác phẩm văn học là một hình thức đặc biệt của quá trình tiếp nhận văn học Hoạt động tiếp nhận văn học vốn đòi hỏi sự chủ động và tích cực từ người đọc để khám phá tác phẩm Người đọc vận dụng trí tưởng tượng, cảm xúc, kinh nghiệm sống và vốn kiến thức để hình dung thế giới được mô tả trong tác phẩm, đồng thời thể hiện phản ứng, đánh giá về nhân vật, cốt truyện, tư tưởng, và đưa ra những diễn giải riêng
Trang 23Với sân khấu hóa, quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học được trực quan hóa thông qua màn trình diễn của những người tham gia vào vở diễn Về cơ bản, sân khấu hóa tác phẩm văn học có thể được phân thành hai hướng chính:
Sân khấu hóa nhằm minh họa tác phẩm văn học: Đây là cách sử
dụng ngôn ngữ sân khấu để trực quan hóa các yếu phẩm của tác phẩm văn học Các yếu tố sân khấu cần được huy động bao gồm bối cảnh, âm thanh, ánh sáng, và đặc biệt là diễn xuất Diễn xuất đóng vai trò then chốt, yêu cầu diễn viên phải có khả năng biểu cảm thông qua giọng nói, cử chỉ và dáng điệu Trong bối cảnh học đường, việc rèn luyện giọng nói là phương diện đặc biệt cần được chú trọng để thể hiện rõ nét nội dung và cảm xúc của nhân vật Hướng sân khấu hóa này ưu tiên tái hiện một cách chân thực nhất thế giới nghệ thuật, nhân vật và cốt truyện theo đúng tinh thần của tác phẩm gốc, giúp
khán giả dễ dàng hình dung và nắm bắt nội dung
Sân khấu hóa nhằm phóng tác tác phẩm văn học: Trong hướng này,
việc sử dụng ngôn ngữ sân khấu không chỉ dừng lại ở việc minh họa cốt truyện hay nhân vật Nó còn được xem như một phương pháp diễn giải sâu sắc tác phẩm văn học Rộng hơn, sân khấu hóa trở thành cơ hội để những người thực hiện, với vai trò là độc giả, có thể đối thoại, tranh luận, suy nghĩ khác và phát triển thêm những ý tưởng từ tác phẩm gốc Đây là quá trình sáng tạo mang tính chủ quan, nơi người nghệ sĩ có thể thêm thắt, biến đổi, hoặc thậm chí tái cấu trúc một số yếu tố của tác phẩm để truyền tải một thông điệp mới, một góc nhìn độc đáo, hoặc đề cập nhật tác phẩm vào bối cảnh đương đại Hướng này khuyến khích sự tự do nghệ thuật, cho phép diễn giải lại tác phẩm theo nhiều chiều hướng khác nhau, làm phong phú thêm đời sống và giá
trị của văn học trong bối cảnh sân khấu
Nhìn chung, cả hai hướng sân khấu hóa đều góp phần làm sống lại tác phẩm văn học, nhưng chúng khác nhau ở mức độ can thiệp và diễn giải của người nghệ sĩ Hướng minh họa tập trung vào việc tái hiện trung thành, trong khi hướng phóng tác mở ra không gian rộng lớn cho sự sáng tạo và đối thoại liên văn bản
Trang 241.1.3.3 Ý nghĩa của hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học
Sân khấu hóa tác phẩm văn học là một hoạt động mang ý nghĩa sâu sắc, không chỉ giúp mở rộng không gian và thời gian tồn tại của tác phẩm mà còn thúc đẩy quá trình tiếp nhận và sáng tạo nghệ thuật
Hoạt động này cho phép tác phẩm văn học tái sinh trong một loại hình nghệ thuật khác, cụ thể là sân khấu Điều này có nghĩa là, câu chuyện, nhân vật và thông điệp vốn chỉ tồn tại trên trang giấy giờ đây được hiện hữu một cách trực quan, sống động trong một không gian và thời gian cụ thể của buổi biểu diễn Quá trình này đòi hỏi người thực hiện phải có hứng thú, khả năng cảm thụ sâu sắc và năng lực diễn giải tác phẩm văn học Nếu thiếu những yếu
tố này, việc sân khấu hóa sẽ khó đạt được hiệu quả mong muốn
Chính vì vậy, sân khấu hóa tác phẩm văn học không chỉ đơn thuần là chuyển thể mà còn là một phương tiện kích hoạt quá trình nhận thức và cảm thụ tác phẩm văn học của người tham gia Qua đó, họ không chỉ hiểu sâu hơn
về tác phẩm gốc mà còn làm giàu vốn hiểu biết của mình về các loại hình nghệ thuật sân khấu, từ cách xây dựng bối cảnh, âm thanh, ánh sáng cho đến
kỹ thuật diễn xuất
Hơn nữa, hoạt động sân khấu hóa còn có vai trò quan trọng trong việc phát huy năng lực sáng tạo cá nhân và rèn luyện khả năng làm việc tập thể Khi cùng nhau xây dựng một vở diễn, học sinh hoặc người tham gia phải phối hợp nhịp nhàng, đóng góp ý tưởng và giải quyết vấn đề chung Điều này tạo
ra một môi trường học tập gắn liền với vui chơi, nơi mà việc tích lũy tri thức, hình thành kỹ năng (như kỹ năng giao tiếp, biểu đạt, giải quyết vấn đề) và rèn luyện phẩm chất (như tính kỷ luật, trách nhiệm, hợp tác) diễn ra một cách tự nhiên và thống nhất
Tóm lại, sân khấu hóa tác phẩm văn học mang lại nhiều giá trị toàn diện, từ việc làm phong phú thêm đời sống của tác phẩm nghệ thuật đến việc phát triển năng lực toàn diện cho người tham gia
Trang 251.1.4 Hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá chuyên đề Ngữ văn ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực
1.1.4.1 Hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học chuyên đề môn Ngữ văn
Trên cơ sở các định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn năm 2018, việc chuyển đổi mô hình dạy học chuyên đề Ngữ văn là một tất yếu Quá trình này đòi hỏi sự dịch chuyển căn bản từ phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều sang việc tổ chức các hoạt động học tập phức hợp, trong đó học sinh là chủ thể tích cực kiến tạo tri thức Các phương pháp dạy học (PPDH) được lựa chọn phải tuân thủ nguyên tắc phát huy tính tự chủ của người học, hướng tới các yêu cầu cần đạt về năng lực và tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn [2]
Dạy học dự án: Kiến tạo tri thức thông qua sản phẩm thực tế
Dạy học dự án được xem là phương pháp nền tảng, phù hợp nhất với tinh thần của các chuyên đề học tập, đặc biệt là trong định hướng về việc tổ chức hoạt động học phức hợp, giao nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm học tập.được nhấn mạnh trong [5]
Về bản chất khoa học, đây là một mô hình dạy học mà trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ tìm tòi, nghiên cứu sâu một vấn đề mang tính thực tiễn trong một thời gian nhất định để tạo ra một sản phẩm cụ thể có thể công bố Quá trình triển khai một dự án đòi hỏi sự tuân thủ một quy trình chặt chẽ, bắt đầu từ việc giáo viên và học sinh cùng nhau xác định một chủ đề hấp dẫn, xây dựng một câu hỏi định hướng mang tính thách thức Tiếp đó, học sinh, dưới sự cố vấn của giáo viên, phải tự lập kế hoạch thực hiện, phân công nhiệm vụ và xác định các tiêu chí cho sản phẩm đầu ra Giai đoạn thực thi là lúc học sinh chủ động nghiên cứu, thu thập thông tin, hợp tác với nhau để hiện thực hóa kế hoạch, mà đỉnh cao là việc tạo ra sản phẩm cuối cùng và trình bày, bảo vệ nó trước tập thể [1, tr 9]
Dạy học dựa trên vấn đề: Mài giũa tư duy phản biện và lập luận
Dạy học dựa trên vấn đề là một phương pháp sư phạm lấy tình huống
có vấn đề làm điểm xuất phát cho toàn bộ quá trình học tập Trong đó, giáo viên sẽ đưa ra một vấn đề mở, phức hợp, không có sẵn câu trả lời đúng/sai
Trang 26duy nhất, đặt học sinh vào vai trò của người phải trực tiếp giải quyết Quá trình này kích thích học sinh huy động kiến thức nền, xác định các thông tin cần tìm hiểu thêm, tự nghiên cứu, và cuối cùng là xây dựng những lập luận chặt chẽ để bảo vệ giải pháp của mình Phương pháp này được xem là tối ưu
để rèn luyện tư duy phản biện, đồng thời phát triển hiệu quả năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, một trong những năng lực chung cốt lõi [1, tr 14]
Dạy học trải nghiệm: Kết nối tri thức và đời sống qua trải nghiệm
thẩm mỹ
Dạy học trải nghiệm là phương pháp học thông qua hành động và sự suy ngẫm từ các kinh nghiệm thực tế, phá vỡ không gian lớp học truyền thống Phương pháp này đưa học sinh vào các bối cảnh chân thực, nơi các em
có thể quan sát, cảm nhận và tương tác trực tiếp với đối tượng học tập Quá trình này giúp kết nối kiến thức sách vở với đời sống, mang lại những trải nghiệm thẩm mỹ sâu sắc để khơi nguồn sáng tạo Cách tiếp cận này hiện thực hóa một trong những yêu cầu quan trọng của Chương trình GDPT 2018: tăng cường hoạt động trải nghiệm và gắn việc dạy học với thực tiễn đời sống (định hướng này được nêu rõ trong phần Quan điểm xây dựng chương trình và Phương pháp giáo dục) [2, tr 40]
Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc triển khai một cách bài bản và sáng tạo các phương pháp dạy học hiện đại như dạy học dự án, dạy học dựa trên vấn đề và dạy học trải nghiệm không còn là một lựa chọn, mà là yêu cầu cốt lõi Chỉ thông qua các con đường này, các chuyên đề Ngữ văn mới thực sự phát huy vai trò của mình trong việc bồi dưỡng, phân hóa và định hướng cho học sinh, qua đó góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển con người toàn diện đã được đề ra trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 [2]
1.1.4.2 Hướng dẫn đổi mới kiểm tra đánh giá chuyên đề môn Ngữ Văn
Cơ sở pháp lý trực tiếp và quan trọng nhất cho việc đổi mới kiểm tra đánh giá (KTĐG) các chuyên đề học tập môn Ngữ văn Nguyên tắc nền tảng
là phải thoát ly khỏi lối mòn kiểm tra kiến thức đơn thuần, chuyển dịch sang đánh giá năng lực vận dụng và giải quyết vấn đề của học sinh Hoạt động KTĐG không phải là một giai đoạn tách rời mà phải được tích hợp vào quá trình dạy học, đồng thời phải đáp ứng các mục tiêu năng lực [5]
Trang 27Quy định cốt lõi về hình thức và nội dung đánh giá theo Thông tư 22 có các điểm chính như sau:
Hình thức đánh giá tổng kết: Nhận xét theo mức độ Đạt/Chưa đạt
Đây là quy định đặc thù và quan trọng nhất đối với các chuyên đề học tập Theo đó, kết quả học tập của học sinh không được cho điểm số mà được đánh giá bằng nhận xét theo hai mức độ: Đạt hoặc Chưa đạt Mức độ "Đạt" được xác định khi học sinh hoàn thành đầy đủ các yêu cầu của chuyên đề và đáp ứng được các yêu cầu cần đạt đã nêu trong chương trình
Đánh giá thường xuyên: Theo dõi quá trình, nhấn mạnh thông tin
phản hồi Đánh giá thường xuyên được thực hiện trong suốt quá trình tổ chức dạy học chuyên đề, nhằm mục đích theo dõi, hỗ trợ và động viên học sinh Hình thức đánh giá rất linh hoạt, bao gồm: quan sát các hoạt động trên lớp (thảo luận, hợp tác nhóm), hỏi-đáp, và đặc biệt là đánh giá thông qua các sản phẩm học tập nhỏ trong quá trình thực hiện dự án (phiếu học tập, sơ đồ tư duy, các bản báo cáo tiến độ ) Mục tiêu của đánh giá thường xuyên không phải để cho điểm mà là cung cấp những nhận xét, góp ý mang tính xây dựng, giúp học sinh nhận ra ưu điểm và các điểm cần cải thiện
Đánh giá định kì: Đánh giá tổng thể năng lực qua các nhiệm vụ phức
hợp Đánh giá định kì đối với chuyên đề chính là bài đánh giá tổng kết cuối cùng để xếp loại Đạt/Chưa đạt Thay vì một bài kiểm tra trên giấy truyền thống, hình thức đánh giá này cần được thiết kế dưới dạng các nhiệm vụ phức hợp, đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng Các hình thức được khuyến khích bao gồm: đánh giá thông qua báo cáo thực hành, báo cáo dự án học tập, bài thuyết trình, hoặc đánh giá một hồ sơ học tập (portfolio) bao gồm các sản phẩm tiêu biểu mà học sinh đã thực hiện trong suốt chuyên đề
Công cụ đánh giá khoa học: Bảng kiểm và tiêu chí (Rubric) Để đảm
bảo tính khách quan, công bằng và khoa học khi đánh giá các sản phẩm phức tạp như dự án học tập hay bài thuyết trình, việc xây dựng các công cụ đánh giá chi tiết là yêu cầu bắt buộc Giáo viên cần thiết kế các bảng kiểm (checklist) hoặc thang đo theo tiêu chí (rubric) rõ ràng Một rubric tốt cần bao gồm các tiêu chí đánh giá cụ thể (ví dụ: nội dung nghiên cứu, tính sáng tạo
Trang 28của sản phẩm, kỹ năng hợp tác, khả năng trình bày ) và mô tả chi tiết các mức độ hoàn thành (Tốt, Khá, Đạt, Cần cố gắng) cho từng tiêu chí Công cụ này phải được công bố cho học sinh ngay từ đầu để các em hiểu rõ mục tiêu
a Yêu cầu về Phát triển Năng lực
Trong hệ thống yêu cầu cần đạt của chuyên đề, nhóm yêu cầu về phát triển năng lực giữ vai trò trung tâm, định hướng toàn bộ quá trình tổ chức hoạt động dạy học Các năng lực này được xác định theo một cấu trúc logic, đi từ năng lực đặc thù của môn học đến các năng lực chung cốt lõi mà mọi công dân cần có
Phát triển năng lực đặc thù: Sự tương tác giữa năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ
Về phương diện năng lực đặc thù, chuyên đề đặt ra yêu cầu cao về sự phát triển đồng bộ và tương hỗ giữa năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ Quá trình này bắt đầu từ hoạt động nhận thức ở mức độ cao, khi học sinh phải phân tích, so sánh để giải mã đặc trưng thi pháp của hai loại hình văn bản: văn bản truyện và kịch bản sân khấu
Từ nền tảng phân tích đó, học sinh tiến đến hoạt động chuyển thể sáng tạo – một thao tác tư duy phức hợp đòi hỏi khả năng tái tạo cấu trúc, chuyển hóa ngôn ngữ tự sự thành ngôn ngữ kịch và khách quan hóa thế giới nội tâm của nhân vật thành hành động, cử chỉ, lời thoại Quá trình này không chỉ là sự
Trang 29vận dụng năng lực ngôn ngữ viết để tạo ra một kịch bản hoàn chỉnh, mà còn
là sự thăng hoa của năng lực văn học khi học sinh phải đưa ra những quyết định sáng tạo nhưng vẫn tôn trọng tư tưởng cốt lõi của tác phẩm gốc Cuối cùng, toàn bộ quá trình được hoàn thiện khi học sinh vận dụng tổng hợp năng lực ngôn ngữ nói và ngôn ngữ hình thể để biểu diễn, đồng thời phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ thông qua việc thưởng thức, đánh giá các sản phẩm sân khấu Kỹ năng trình bày và phản biện trong các buổi thảo luận là bước cuối cùng, giúp học sinh nâng cao tư duy phân tích và khả năng bảo vệ quan điểm nghệ thuật của mình
Phát triển năng lực chung: Kiến tạo môi trường học tập mô phỏng
Song song với việc hình thành năng lực chuyên môn, mô hình học tập theo dự án của chuyên đề là môi trường lý tưởng để kiến tạo và phát triển các năng lực chung cốt lõi Học sinh không còn là người tiếp nhận thụ động mà trở thành chủ thể của hoạt động, phải vận dụng năng lực tự chủ và tự học để quản lý toàn bộ vòng đời dự án, từ khâu lên ý tưởng, lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực đến việc kiểm soát tiến độ và tự đánh giá
Trong môi trường đó, năng lực giao tiếp và hợp tác được xem là điều kiện tiên quyết cho sự thành công Nó đòi hỏi một quá trình tương tác xã hội phức tạp, nơi các thành viên phải đàm phán ý tưởng, giải quyết các xung đột sáng tạo và phối hợp hành động để tạo ra một sản phẩm nghệ thuật tập thể Hơn nữa, khi đối diện với những thách thức thực tiễn như giới hạn về thời gian, không gian, hay các bài toán khó trong việc chuyển thể, học sinh buộc phải huy động năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo để tìm ra những giải pháp tối ưu, khả thi
b Yêu cầu về Phát triển Phẩm chất
Vượt lên trên mục tiêu về năng lực, chuyên đề còn hướng tới việc bồi dưỡng những phẩm chất nhân văn sâu sắc thông qua các hoạt động trải nghiệm mang tính thực tiễn Quá trình "hóa thân" vào nhân vật không chỉ là một kỹ thuật diễn xuất, mà còn là một hành trình khám phá, giúp học sinh đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, từ đó nội tâm hóa sự thấu cảm và lòng
Trang 30nhân ái Phẩm chất trách nhiệm được hình thành một cách tự nhiên khi mỗi cá nhân nhận thức được rằng sự nỗ lực hay thiếu sót của mình đều ảnh hưởng trực tiếp đến thành công chung của cả tập thể Cuối cùng, chính những nỗ lực trong quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, từ những đêm trăn trở với kịch bản đến những giờ tập luyện miệt mài, sẽ giúp các em nuôi dưỡng phẩm chất chăm chỉ và một tình yêu bền vững đối với các giá trị văn học, nghệ thuật của dân tộc [2, tr 55-56]
1.2.1.2 Nội dung dạy học chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10
a Vị trí và mục tiêu của chuyên đề trong chương trình GDPT môn Ngữ văn 2018
Theo quy định của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 đối với môn Ngữ văn, chuyên đề "Sân khấu hóa tác phẩm văn học" được xác định là một trong ba chuyên đề học tập lựa chọn ở lớp 10, bên cạnh các chuyên đề về nghiên cứu và hùng biện Việc đặt chuyên đề này ở vị trí một học phần tự chọn mang ý nghĩa sư phạm quan trọng Một mặt, nó thể hiện rõ tinh thần dạy học phân hóa, cho phép học sinh được lựa chọn nội dung học tập phù hợp với năng lực và sở trường cá nhân Mặt khác, chuyên đề góp phần thực hiện mục tiêu định hướng nghề nghiệp, tạo cơ hội cho những học sinh có năng khiếu, đam mê với các lĩnh vực nghệ thuật như văn chương, biên kịch, sân khấu, điện ảnh được tiếp cận và tìm hiểu sâu hơn về ngành nghề mình yêu thích [2,
tr 55-56]
Về mục tiêu chuyên môn, chuyên đề tập trung phát triển sâu sắc hai nhóm năng lực đặc thù của môn Ngữ văn là năng lực văn học và năng lực ngôn ngữ Đối với năng lực văn học, học sinh được yêu cầu phải nhận biết và phân tích được những khác biệt căn bản giữa ngôn ngữ tự sự trong truyện và ngôn ngữ kịch tính trong kịch bản Trên cơ sở đó, các em vận dụng kiến thức
về các yếu tố của sân khấu như lời thoại, độc thoại, chỉ dẫn sân khấu, xung đột kịch, để thực hiện một nhiệm vụ sáng tạo cốt lõi: chuyển thể một đoạn trích hoặc toàn bộ tác phẩm truyện sang hình thức kịch bản Song song đó,
Trang 31năng lực ngôn ngữ cũng được phát triển toàn diện thông qua việc học sinh phải vận dụng kết hợp ngôn ngữ viết (khi xây dựng kịch bản), ngôn ngữ nói (khi luyện tập và biểu diễn lời thoại) và ngôn ngữ hình thể (khi thể hiện hành động, cảm xúc của nhân vật)
Bên cạnh các năng lực chuyên môn, chuyên đề "Sân khấu hóa" còn là một môi trường lý tưởng để rèn luyện các năng lực chung và phẩm chất cốt lõi Quá trình thực hiện một dự án sân khấu hóa đòi hỏi học sinh phải phát huy cao
độ năng lực tự chủ và tự học trong việc lập kế hoạch, nghiên cứu tác phẩm và quản lý tiến độ Đồng thời, năng lực giao tiếp và hợp tác là yếu tố sống còn, được thể hiện qua mỗi buổi thảo luận nhóm, phân công nhiệm vụ và tập dượt Đặc biệt, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo được bộc lộ rõ nhất khi học sinh tìm cách biến những suy nghĩ nội tâm của nhân vật thành hành động sân khấu hay tìm kiếm, sáng tạo đạo cụ, trang phục từ những vật liệu đơn giản Thông qua quá trình hóa thân và đồng cảm với nhân vật, các phẩm chất như lòng nhân ái, sự trân trọng giá trị nghệ thuật, tinh thần trách nhiệm, tính chăm chỉ và sự đoàn kết cũng được bồi dưỡng một cách tự nhiên và sâu sắc
b Cụ thể hóa trong các bộ sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10
Năm học 2024-2025 đánh dấu năm thứ ba Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn lớp 10 được triển khai trên phạm vi toàn quốc Việc biên soạn sách giáo khoa (SGK) được thực hiện trên cơ sở bám sát các yêu cầu bắt buộc của chương trình Theo định hướng đổi mới, chương trình giữ vai trò pháp lệnh, trong khi sách giáo khoa chỉ là một nguồn tài liệu tham khảo quan trọng phục vụ hoạt động dạy và học
Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phê duyệt ba bộ sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 đang được sử dụng, bao gồm: Cánh Diều, Chân trời sáng tạo
và Kết nối tri thức với cuộc sống Mặc dù mỗi bộ sách có cách tổ chức nội dung khác nhau chẳng hạn, Chân trời sáng tạo được thiết kế theo chủ điểm, Cánh Diều theo thể loại và kiểu văn bản, còn Kết nối tri thức với cuộc sống kết hợp cả hai yếu tố tất cả đều phải bảo đảm mục tiêu cốt lõi là thực hiện đúng và đầy đủ các yêu cầu cần đạt đã được chương trình quy định
Trang 32Bảng 1.2 Nội dung chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học lớp 10
của ba bộ sách giáo khoa 2018
đề là một dự
án học tập lớn với sản phẩm cuối cùng là một vở kịch
1 Đọc: Hướng dẫn học sinh đọc và phân tích
một kịch bản văn học cụ thể để nắm vững đặc trưng thể loại (xung đột, nhân vật, lời thoại, chỉ dẫn sân khấu )
2 Viết: Hướng dẫn viết bài giới thiệu, phân tích,
đánh giá về một kịch bản văn học hoặc một bộ phim
3 Nói và Nghe: Tổ chức cho học sinh trình
bày, thảo luận về kịch bản/bộ phim đã tìm hiểu
4 Hoạt động thực hành (sân khấu hóa):
Được gợi ý như một hoạt động mở rộng, ứng dụng, nơi học sinh có thể thử chuyển thể một tác phẩm truyện và trình diễn
1 Nhận diện đặc điểm của kịch bản văn học
và nghệ thuật sân khấu: Cung cấp kiến thức
nền về các yếu tố cơ bản của kịch
2 Lựa chọn tác phẩm và xây dựng ý tưởng kịch bản: Hướng dẫn học sinh cách chọn đoạn
trích/tác phẩm phù hợp, xác định chủ đề, tư tưởng sẽ thể hiện
3 Viết kịch bản sân khấu hóa: Hướng dẫn chi
tiết các bước chuyển thể từ truyện sang kịch
4 Dàn dựng và trình diễn vở kịch: Bao gồm
các khâu phân vai, tập luyện, chuẩn bị đạo cụ, phục trang và công diễn
Trang 33cùng sau quá trình tìm hiểu
đó
5 Thảo luận, đánh giá: Tổ chức các hoạt
động chia sẻ, nhận xét, rút kinh nghiệm sau khi xem các vở diễn
1 Kiến thức ngữ văn: Giới thiệu về các loại
hình sân khấu, đặc trưng của kịch bản
2 Đọc hiểu văn bản: Phân tích một số văn bản
kịch tiêu biểu
3 Thực hành: Hướng dẫn các bước để học
sinh có thể chuyển thể một tác phẩm truyện thành kịch bản và gợi ý các bước dàn dựng, biểu diễn Phần này được trình bày khá chi tiết
Do đó, dù có sự khác biệt trong cấu trúc chi tiết, tiến trình sư phạm nòng cốt mà các bộ sách hướng đến đều có cấu trúc tương đồng Tiến trình này bao gồm các giai đoạn cơ bản: bắt đầu từ khâu phân tích, giải mã tác phẩm văn học gốc, tiếp nối bằng hoạt động chuyển thể kịch bản, sau đó là tổ chức dàn dựng, tập luyện, và kết thúc bằng giai đoạn công diễn, thảo luận và đánh giá sản phẩm học tập
Trang 341.2.2 Thực trạng tổ chức các hoạt động học tập trong dạy học chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học nhìn từ yêu cầu phát triển năng lực học sinh của chương trình môn Ngữ văn 2018
Để đánh giá khách quan và toàn diện về thực trạng tổ chức hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát thực tế Kết quả khảo sát là cơ
sở quan trọng để đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm phát huy hiệu quả của hoạt động này theo định hướng phát triển năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông 2018
1.2.2.1 Những vấn đề chung về khảo sát thực trạng
a) Mục đích khảo sát thực trạng
Mục đích của hoạt động khảo sát là thu thập những dữ liệu khách quan, khoa học về thực trạng triển khai phương pháp sân khấu hóa tác phẩm văn học trong dạy học Ngữ văn lớp 10 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Khảo sát tập trung làm rõ mức độ áp dụng, các thuận lợi, khó khăn mà giáo viên và học sinh gặp phải, cũng như phân tích nhận thức của họ về hiệu quả phát triển năng lực Từ đó, kết quả thu được sẽ là cơ sở thực tiễn vững chắc, khẳng định tính cấp thiết của đề tài và sự cần thiết phải đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động này
b) Đối tượng và số lượng khảo sát thực trạng
Để tiến hành khảo sát, chúng tôi đã sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Địa bàn khảo sát được thực hiện tại 03 đơn vị giáo dục tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, bao gồm: Trung tâm GDNN - GDTX Quảng Xương (miền biển), THPT Lý Thường Kiệt (Thành phố), trường THPT Lê Lai-Ngọc Lặc (miền núi),
Đối tượng khảo sát: Chúng tôi thực hiện khảo sát tại trường THPT đại
diện cho 3 vùng miền núi, miền biển và thành phố trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn khối 10 và các em học sinh thuộc khối 10 tại các trường đã nêu
Về số lượng khảo sát:
Tổng số phiếu khảo sát đã phát ra: 250 phiếu
Trang 35Tổng số phiếu thu về hợp lệ: 245 phiếu (trên tổng số 250 phiếu phát ra), đạt tỉ lệ 98%
Trong đó:
Giáo viên: 15 giáo viên
Học sinh: 230 học sinh
c) Nội dung và phiếu khảo sát thực trạng
Nội dung: Nội dung khảo sát được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu, tập trung vào các khía cạnh của việc tổ chức hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học Chúng tôi đã thiết kế 3 mẫu phiếu khảo sát: Trong đó 1 phiếu
khảo sát giờ dạy (Dùng cho giáo viên quan sát dự giờ dạy thực tế) và 2 phiếu
riêng biệt dành cho giáo viên và học sinh Nội dung phiếu tập trung vào các vấn đề như tần suất, hình thức tổ chức, những thuận lợi, khó khăn và hiệu quả phát triển năng lực qua hoạt động sân khấu hóa
Phiếu khảo sát giờ dạy CĐ sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10
(Dùng cho giáo viên quan sát dự giờ dạy thực tế)
Họ và tên người dạy: Trường: Môn: Tên bài dạy: Tiết: Lớp:
Họ và tên người dự giờ: Chuyên môn: Đơn vị công tác:
1 Mức độ phù hợp của chuỗi hoạt động
học với mục tiêu, nội dung và phương pháp
Trang 364 Mức độ hợp lí của phương án kiểm tra, đánh
giá trong quá trình tổ chức hoạt động học của HS 1
2 Tổ chức
hoạt động
học tập cho
HS
5 Mức độ sinh động, hấp dẫn HS của phương
pháp và hình thức chuyển giao nhiệm vụ học tập 1
6 Khả năng theo dõi, quan sát, phát hiện kịp
7 Mức độ phù hợp, hiệu quả của các biện
nhiệm vụ học tập của tất cả học sinh trong lớp 2
10 Mức độ sáng tạo – Học sinh có thể hiện sự sáng tạo trong cách diễn xuất, lời thoại, trang phục và đạo cụ
2
11 Mức độ tham gia tích cực của HS
trong trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả
Loại Giỏi: từ 17 đến 20 điểm, các tiêu chí 6, 7, 10, 11 phải đạt điểm tối
đa, các tiêu chí còn lại không có tiêu chí nào dưới 0,5 điểm
Loại Khá: từ 14 đến dưới 17,0 điểm, các tiêu chí 7,10,11 phải đạt điểm tối đa, các tiêu chí còn lại không có tiêu chí nào dưới 0,5 điểm
Loại Trung bình: từ 10 đến dưới 14 điểm và không có tiêu chí nào dưới 0,5 điểm
Loại Yếu: dưới 10,0 điểm
Trang 37Cho điểm lẻ đến 0,25 đối với mỗi tiêu chí
(Theo sở Giáo dục & Đào tạo Thanh Hóa (2017), Công văn số 572 về Hướng dẫn đánh giá, xếp loại giờ dạy GV Trung học theo công văn 5555/2014/BGDĐT-GDTrH của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
PHIẾU KHẢO SÁT DÀNH CHO GIÁO VIÊN
1 Họ tên: Giới tính: ☐ Nam ☐ Nữ
2 Trường THPT:
3 Thâm niên giảng dạy môn Ngữ văn: năm
4 Anh/chị đã từng tổ chức hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học trong môn Ngữ văn lớp 10 chưa? ☐ Có ☐ Không
5 Tần suất tổ chức mỗi học kỳ: ☐ 1 lần ☐ 2 lần ☐ Nhiều hơn
☐ Không tổ chức
6 Các tác phẩm đã từng tổ chức sân khấu hóa:
7 Hình thức tổ chức: ☐ Nhóm nhỏ ☐ Cả lớp ☐ Câu lạc bộ ☐ Khác:
8 Thời lượng chuẩn bị cho một chuyên đề sân khấu hóa (số tiết):
9 Anh/chị thường hướng dẫn học sinh ở những khâu nào? (có thể chọn nhiều):
☐ Viết kịch bản ☐ Phân vai ☐ Dàn dựng ☐ Tập luyện ☐ Đánh giá
10 Học sinh có tích cực tham gia hoạt động không?
☐ Rất tích cực ☐ Tương đối ☐ Ít tham gia
11 Khó khăn trong tổ chức hoạt động (chọn tối đa 3 ý):
☐ Thiếu thời gian ☐ Thiếu kinh phí ☐ Thiếu cơ sở vật chất ☐ Học sinh thiếu kĩ năng ☐ Thiếu tài liệu hướng dẫn
12 Anh/chị sử dụng hình thức đánh giá nào? ☐ Điểm số ☐ Nhận xét
☐ Đánh giá quá trình ☐ Kết hợp nhiều hình thức
13 Những năng lực học sinh phát triển được qua hoạt động sân khấu hóa:
☐ Cảm thụ văn học ☐ Giao tiếp ☐ Hợp tác ☐ Thẩm mĩ ☐ Sáng tạo
14 Đề xuất của anh/chị để nâng cao hiệu quả hoạt động sân khấu hóa trong dạy học Ngữ văn:
Trang 38PHIẾU KHẢO SÁT DÀNH CHO HỌC SINH
1 Họ tên: Giới tính: ☐ Nam ☐ Nữ
5 Em tham gia vào các vai trò nào? ☐ Diễn viên ☐ Viết kịch bản
☐ Nhận xét, chỉnh sửa kịch bản ☐ Thiết kế trang phục, đạo cụ biểu diễn
☐ Vai trò khác:
6 Em thấy mình phát triển được những năng lực nào qua hoạt động này?
☐ Giao tiếp ☐ Cảm thụ văn học ☐ Hợp tác nhóm
☐ Sáng tạo ☐ Diễn đạt cảm xúc
7 Mức độ yêu thích hoạt động sân khấu hóa:
☐ Rất thích ☐ Bình thường ☐ Không thích
8 Em thấy giáo viên hướng dẫn như thế nào?
☐ Cụ thể, dễ hiểu ☐ Hướng dẫn chung chung ☐ Khó hiểu ☐ Không hướng dẫn
9 Em gặp những khó khăn nào khi tham gia sân khấu hóa?
☐ Ngại diễn ☐ Không biết viết kịch bản ☐ Thiếu thời gian ☐ Khó phối hợp nhóm ☐ Thiếu trang phục/đạo cụ
10 Em mong muốn điều gì để hoạt động sân khấu hóa thú vị hơn?
Trang 39Bảng 1.3 Tổng hợp kết quả khảo sát, đánh giá giờ dạy chuyên đề sân khấu hóa tác phẩm văn học ở lớp 10 tại các trường THPT trên địa bàn
giỏi Loại Khá Loại TB Loại yếu
Bộ Giáo dục, tài liệu dạy học đầy đủ, tổ chức được các hoạt động học cho HS đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của bài học, HS sôi nổi, hứng thú học tập tích cực trả lời câu hỏi, thảo luận, nhận xét tương tác với các bạn trong suốt giờ tìm hiểu lí thuyết về CĐ Tuy nhiên, về chiều sâu sáng tạo: Vở diễn của học sinh chủ yếu dừng ở mức "diễn lại" văn bản Cần có thêm những gợi mở, khuyến khích để các em thực sự sáng tạo trong lời thoại, cách diễn xuất nội tâm nhân vật để làm nổi bật chủ đề tác phẩm, thay vì chỉ thuộc kịch bản Đây là điểm mấu chốt để đưa giờ dạy từ mức "Khá" lên "Giỏi" Còn về chiều sâu kiến thức: Phần thảo luận, nhận xét sau khi các nhóm biểu diễn cần được đầu tư sâu hơn Cần đặt những câu hỏi sắc sảo để từ vở diễn, học sinh tự rút ra được những giá trị cốt lõi về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học, tránh việc hoạt động kết thúc mà bài học chưa đọng lại
Trang 40Bảng 1.4 Kết quả về thực trạng mức độ phổ biến và tần suất tổ chức
hoạt động sân khấu hóa
Nội dung khảo sát Số lượng
GV (N=15)
Tỷ lệ (%)
Số lượng HS (N=230)
Tỷ lệ (%)
1 Mức độ phổ biến
Đã từng tổ chức/tham gia 12 80,0% 190 82,6% Chưa từng tổ chức/tham gia 3 20,0% 40 17,4%
Một mặt, hoạt động này tỏ ra rất phổ biến và có sức hấp dẫn lớn, khi có đến 80% giáo viên và 82,6% học sinh cho biết đã từng tổ chức hoặc tham gia Những con số này khẳng định rằng sân khấu hóa không phải là một phương pháp xa lạ mà đã được đông đảo giáo viên, học sinh biết đến và đón nhận như một hình thức học tập mới mẻ, thú vị
Mặt khác, dữ liệu về tần suất lại cho thấy một bức tranh hoàn toàn trái ngược Có một sự chênh lệch rất lớn giữa việc "đã từng làm" và "thường xuyên làm" Trong số những giáo viên đã áp dụng, có đến 66,7% chỉ tổ chức được 1 lần/học kỳ, và chỉ một tỉ lệ rất nhỏ (8,3%) thực hiện hoạt động này một cách thường xuyên (hơn 2 lần/học kỳ)
Sự vênh giữa mức độ phổ biến rộng rãi và tần suất áp dụng thấp cho thấy một bản chất quan trọng: hoạt động sân khấu hóa hiện nay vẫn mang tính
tự phát, thiên về hình thức 'ngoại khóa' hơn là một phương pháp dạy học được tích hợp sâu và có hệ thống vào chương trình giảng dạy Nó thường được nhìn nhận như một "sự kiện" để thay đổi không khí, một "gia vị" thêm vào cho môn học, chứ chưa thực sự trở thành một công cụ sư phạm cốt lõi, được đầu