1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ và dấu hiêu cảnh báo Đột quỵ trên người chăm sóc bênh nhân nhập viên tại khoa nội thần kinh bênh viên trưng vương từ 092025 Đến 012026

37 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ trên người chăm sóc bệnh nhân nhập viện tại khoa nội thần kinh bệnh viện Trưng Vương từ 09/2025 đến 01/2026
Tác giả Ngô Lê Diễm Quỳnh, Võ Duy Long, Lê Hoàng Phúc, Võ Hoàng Anh Thư
Người hướng dẫn TS.BS. Nguyễn Văn Tuấn
Trường học Đại học Nguyễn Tất Thành
Chuyên ngành Y đa khoa
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 215,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm khảo sát kiếnthức về yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ ở người chăm sóc bệnh nhân nhậpviện tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Trưng Vương với

Trang 1

KHOA Y

HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN

1 NGÔ LÊ DIỄM QUỲNH - 2000000734

2 VÕ DUY LONG - 2000000567

3 LÊ HOÀNG PHÚC - 2000000014

4 VÕ HOÀNG ANH THƯ- 2000000627

KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VỀ YẾU TỐ NGUY CƠ

VÀ DẤU HIÊU CẢNH BÁO ĐỘT QUỴ

TRÊN NGƯỜI CHĂM SÓC BÊNH NHÂN

NHẬP VIÊN TẠI KHOA NỘI THẦN KINH

BÊNH VIÊN TRƯNG VƯƠNG TỪ 09/2025 ĐẾN 01/2026.

ĐỀ CƯƠNG TIỂU LUẬN GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.BS NGUYỄN VĂN TUẤN

TP.HỒ CHÍ MINH, Năm 2025

Trang 2

KHOA Y

HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN

1 NGÔ LÊ DIỄM QUỲNH - 2000000734

2 VÕ DUY LONG - 2000000567

3 LÊ HOÀNG PHÚC - 2000000014

4 VÕ HOÀNG ANH THƯ- 2000000627

KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VỀ YẾU TỐ NGUY CƠ

VÀ DẤU HIÊU CẢNH BÁO ĐỘT QUỴ

TRÊN NGƯỜI CHĂM SÓC BÊNH NHÂN

NHẬP VIÊN TẠI KHOA NỘI THẦN KINH

BÊNH VIÊN TRƯNG VƯƠNG TỪ 09/2025 ĐẾN 01/2026.

NGÀNH: Y ĐA KHOA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS.BS NGUYỄN VĂN TUẤN

TP.HỒ CHÍ MINH, Năm 2025

Trang 3

Danh mục các bảng ii

Danh mục các hình ii

Danh mục các sơ đồ ii

ĐẶT VẤN ĐỀ i

Chương 1 TỔNG QUAN 1

1.1 Đại cương đột quỵ 1

1.2 Các yếu tố nguy cơ đột quỵ 2

1.3 Dấu hiệu đột quỵ và xử trí ban đầu 3

1.4 Một số nghiên cứu liên quan 4

1.4.1 Một số nghiên cứu ngoài nước 4

1.4.2 Một số nghiên cứu trong nước 6

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

2.1 Thiết kế nghiên cứu 9

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 9

2.3 Đối tượng nghiên cứu 9

2.4 Cỡ mẫu và ước tính 9

2.5 Biến số độc lập và phụ thuộc 10

2.5.1 Đặc điểm nhân khẩu học (biến độc lập) 10

2.5.2 Kiến thức về yếu tố nguy cơ đột quỵ (biến phụ thuộc, đo lường bằng biết/không biết) 10

Trang 4

2.6 Phương pháp và công cụ đo lường, thu thập số liệu 11

2.6.1 Công cụ đo lường 11

2.6.2 Thu thập số liệu 12

2.7 Phương pháp phân tích dữ liệu 12

2.7.1 Công cụ phân tích 12

2.7.2 Phương pháp thống kê 13

2.8 Quy trình nghiên cứu 13

2.8.1 Sơ đồ luồng 13

2.8.2 Mô tả từng bước 14

2.8.3 Phân công & giám sát 16

2.8.4 Bảo mật & lưu trữ 16

2.8.5 Tiến độ dự kiến (Gantt rút gọn) 16

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu 17

Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ 18

3.1 Mục tiêu 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 18

3.2 Mục tiêu 2: Khảo sát kiến thức về yếu tố nguy cơ đột quỵ của người chăm sóc .19

3.3 Mục tiêu 3: Khảo sát kiến thức về dấu hiệu cảnh báo đột quỵ 19

3.4 So sánh 2 nhóm người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ và bệnh nhân không đột quỵ 20

Trang 5

4.2 Phương tiện thực hiện 22

4.3 Dự trù kinh phí 22

4.4 Thời gian biểu 23

4.5 Dự trù những khó khăn và cách giải quyết 23

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AHA American Heart Association Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ

ASA American Stroke Association Hiệp hội Đột quỵ Hoa Kỳ

DALYs Disability-Adjusted Life Years Chỉ số năm sống bị mất đi sau khi

điều chỉnh theo mức độ bệnh tật

GBD Global Burden of Disease Nghiên cứu Gánh nặng Bệnh tật

Toàn cầu

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới

WSO World Stroke Organization Tổ chức Đột quỵ Thế giới

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n =…) 18

Bảng 3.2 Kiến thức về yếu tố nguy cơ đột quỵ của người chăm sóc 19

Bảng 3.3 Kiến thức về dấu hiệu cảnh báo 19

Bảng 3.4 So sánh kiến thức về yếu tố nguy cơ giữa 2 nhóm 20

Bảng 3.5 So sánh kiến thức về dấu hiệu cảnh báo đột quỵ giữa 2 nhóm 21

DANH MỤC CÁC HÌNH DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tiến độ dự kiến 16

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo báo cáo năm 2025 của Tổ chức Đột quỵ Thế giới (World StrokeOrganization – WSO), đột quỵ hiện là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai trên toàn cầu,đồng thời xếp thứ ba trong các nguyên nhân gây tử vong và tàn tật do bệnh không lâynhiễm[1] Gánh nặng bệnh tật được phản ánh qua chỉ số năm sống bị mất đi sau khiđiều chỉnh theo mức độ bệnh tật (DALYs), ước tính vượt quá 160 triệu năm , điều nàykhẳng định đột quỵ là một vấn đề y tế toàn cầu nghiêm trọng Bệnh đặc trưng bởi tìnhtrạng mất chức năng, khởi phát đột ngột; nếu không được can thiệp kịp thời, ngườibệnh có nguy cơ cao để lại di chứng nặng nề hoặc tử vong

Tại Việt Nam, đột quỵ đã vượt qua bệnh tim mạch, trở thành nguyên nhân tửvong hàng đầu, chiếm 15,54% tổng số ca tử vong, tương đương khoảng 167.000 trườnghợp mỗi năm Ước tính gánh nặng bệnh tật do đột quỵ lên tới 3,7 triệu năm sống bị mấtđi[2- 4] Bên cạnh đó, dữ liệu dịch tễ học ghi nhận xu hướng gia tăng rõ rệt: tỷ lệ hiệnmắc và mới mắc từ 161 và 415 ca trên 100.000 dân năm 1995 đã tăng lên 195 và 1.272

ca trên

100.000 dân vào năm 2021 Những số liệu này phản ánh gánh nặng ngày càng lớn củađột quỵ tại Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về chiến lược dự phòng, chẩnđoán sớm và điều trị kịp thời[2, 3, 5, 6]

Tuy nhiên, một trong những rào cản lớn nhất là sự chậm trễ trong giai đoạn trướcnhập viện, chủ yếu do thiếu nhận thức về dấu hiệu đột quỵ và tầm quan trọng của cấpcứu khẩn cấp[7, 8] Mặc dù là bệnh lý nguy hiểm, đột quỵ vẫn thuộc nhóm các vấn đềsức khỏe có thể dự phòng được Bên cạnh việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ ở từng cánhân, nhận thức cộng đồng đóng vai trò then chốt trong việc nhận diện sớm các dấuhiệu cảnh báo, từ đó rút ngắn thời gian đưa bệnh nhân đến bệnh viện, tăng khả năngđược điều trị tái thông trong “thời gian vàng” và góp phần giảm tỷ lệ tử vong cũng như

di chứng Đồng thời, hiểu biết đúng đắn về yếu tố nguy cơ còn giúp phòng ngừa độtquỵ,

Trang 9

đồng thời cung cấp cơ sở cho việc xây dựng các chiến lược y tế công cộng hướng đếnnhóm dân số có nguy cơ cao.

Trong đó, người nhà và người chăm sóc bệnh nhân giữ vai trò đặc biệt quantrọng, không chỉ trong nhận diện sớm triệu chứng mà còn trong dự phòng tái phát sauđột quỵ Họ là những người đầu tiên tiếp xúc với bệnh nhân khi khởi phát triệu chứng,chịu trách nhiệm nhận diện các dấu hiệu, thực hiện sơ cứu ban đầu và đưa bệnh nhânđến cơ sở y tế gần nhất Sự hiểu biết và hành động đúng đắn của họ có thể trực tiếp rútngắn thời gian cấp cứu, giảm thiểu di chứng và nâng cao cơ hội sống sót cho ngườibệnh[7, 9]

Tại Việt Nam, hiện tại có khá ít nghiên cứu tập trung vào nhóm đối tượng này, một

số dữ liệu hiện có cho thấy mức độ hiểu biết của nhóm đối tượng này vẫn còn hạn chế

và các nghiên cứu về lĩnh vực này chỉ mới được triển khai tại một số bệnh viện lớn TạiBệnh viện Trưng Vương, hiện chưa có nghiên cứu nào hệ thống về vấn đề hiểu biết củangười chăm sóc bệnh nhân đột quỵ Nghiên cứu này được tiến hành nhằm khảo sát kiếnthức về yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ ở người chăm sóc bệnh nhân nhậpviện tại Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện Trưng Vương với mục đích bổ sung bằngchứng khoa học và phục vụ thực tiễn điều trị

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài này bao gồm:

1 Mô tả mức độ kiến thức của người chăm sóc về các yếu tố nguy cơ của đột quỵ;

2 Mô tả mức độ kiến thức của người chăm sóc về các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ;

3 Phân tích mối liên quan giữa kiến thức của người chăm sóc với một số đặc điểm

cá nhân, bao gồm tuổi, trình độ học vấn, giới tính và mối quan hệ với bệnh nhân

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đại cương đột quỵ

Đột quỵ (Stroke), hay còn gọi là Tai biến mạch máu não (CerebrovascularAccident), được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa từ năm 1970 và vẫn sử dụngcho đến nay, là tình trạng xuất hiện đột ngột các khiếm khuyết thần kinh, gây mất chứcnăng khu trú (có thể lan rộng), kéo dài tối thiểu 24 giờ hoặc dẫn đến tử vong, mà khôngtìm thấy nguyên nhân nào khác ngoài nguồn gốc mạch máu

Về mặt lâm sàng, đột quỵ được chia thành hai nhóm chính: xuất huyết nội sọ (baogồm xuất huyết não và xuất huyết dưới nhện) và thiếu máu não cục bộ (bao gồm nhồimáu não và cơn thiếu máu não thoáng qua)

Theo số liệu được báo cáo từ Nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2019(Global Burden of Disease – GBD 2019), tại Việt Nam, đột quỵ là nguyên nhân tửvong hàng đầu trong nhóm bệnh tim mạch, với tỷ lệ mắc mới khoảng 222/100.000dân/năm (95% UI: 206–242), tỷ lệ tử vong khoảng 170/100.000 dân/năm (95% UI:139–199), và tỷ lệ hiện mắc (prevalence) đạt 1.541/100.000 dân (95% UI: 1.431–1.679)[10] Ở phạm vi toàn cầu, đột quỵ vẫn là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai, gây

ra khoảng 6,6 triệu ca tử vong mỗi năm, và hơn 143 triệu người sống sót với di chứngthần kinh kéo dài (GBD 2019)

Tại Việt Nam, hậu quả của đột quỵ vẫn còn rất nghiêm trọng Một nghiên cứutiền cứu (prospective cohort) tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng cho thấy tỷ lệ tử vongsớm và mức độ tàn tật nặng ở bệnh nhân đột quỵ vẫn ở mức cao, chủ yếu liên quan đến

tỷ lệ đột quỵ xuất huyết não (hemorrhagic stroke) tương đối lớn, đồng thời chịu ảnhhưởng của tình trạng nhận thức hạn chế và sự chậm trễ trong tiếp cận điều trị cấp cứu

do chăm sóc chưa đáp ứng theo tiêu chuẩn[11]

Trang 11

Ngoài ra, một nghiên cứu phối hợp (cohort study) năm 2025 tại Bệnh viện BắcGiang ghi nhận rằng 62,8% bệnh nhân ≥ 60 tuổi đã ở trạng thái “suy nhược” hoặc “rấtsuy nhược” trước khi khởi phát đột quỵ; trong đó, nhóm “rất suy nhược” có nguy cơsuy giảm chức năng sau 30 ngày cao hơn rõ rệt so với các nhóm khác.

1.2 Các yếu tố nguy cơ đột quỵ

Đột quỵ là bệnh lý mạch máu não có gánh nặng lớn trên phạm vi toàn cầu Cácyếu tố nguy cơ của đột quỵ được phân thành hai nhóm: không thay đổi được và có thểthay đổi được Trong đó, nhóm yếu tố có thể thay đổi (modifiable) chiếm tỷ trọng lớn,

có ý nghĩa đặc biệt trong việc dự phòng bệnh Theo một phân tích tổng hợp được công

bố trên Journal of Neurology, Neurosurgery & Psychiatry (2025) đã xác định 17 yếu tố

nguy cơ có thể điều chỉnh, trong đó quan trọng nhất là: tăng huyết áp, đái tháo đường,rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, lạm dụng rượu, béo phì, chế độ ăn không lành mạnh,lối sống ít vận động, rối loạn giấc ngủ và stress tâm lý

Bên cạnh các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi, tồn tại nhóm yếu tố không thể thayđổi được Nhiều bằng chứng về dịch tễ cho thấy nguy cơ đột quỵ từ sau tuổi 55 tănggấp đôi sau mỗi thập kỷ[12] Về giới tính, nam giới có nguy cơ cao hơn ở độ tuổi trẻ,trong khi phụ nữ lại ghi nhận tỷ lệ tử vong và tàn phế cao hơn sau đột quỵ ở tuổigià[13] Tiền sử gia đình dương tính với đột quỵ làm tăng nguy cơ mắc bệnh gấp đôi,độc lập với các yếu tố mạch máu khác[14], và có ý nghĩa đặc biệt ở nhóm tuổi trẻ (25–

49 tuổi) Chủng tộc cũng là một yếu tố quan trọng: người da đen có nguy cơ mắc độtquỵ lần đầu gấp đôi so với các nhóm chủng tộc khác[15]: Tại Hoa Kỳ, người Mỹ gốcPhi dưới 75 tuổi có nguy cơ tử vong do đột quỵ cao gấp đôi so với người da trắng[16].Những yếu tố không thể thay đổi này, khi kết hợp với các yếu tố nguy cơ có thểđiều chỉnh, là cơ sở quan trọng cho việc phân tầng nguy cơ và xây dựng chiến lược dựphòng cá thể hóa nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa đột quỵ

Trang 12

1.3 Dấu hiệu đột quỵ và xử trí ban đầu

Đột quỵ não thường khởi phát đột ngột với các dấu hiệu thần kinh khu trú Theo

hướng dẫn của AHA/ASA 2019, thang điểm F.A.S.T được khuyến cáo trong cộng đồng để nhận biết sớm[17, 18]: Face – méo miệng, yếu mặt; Arm – yếu hoặc liệt tay chân một bên; Speech – nói khó, nói ngọng; Time – cần ghi nhận thời điểm khởi phát

và đưa đến bệnh viện ngay lập tức

Tại Việt Nam, Bộ Y tế cũng nhấn mạnh các biểu hiện khởi phát hay gặp của nhồi máunão thường đột ngột với sự xuất hiện đơn độc hoặc phối hợp của các dấu hiệu và triệuchứng hay gặp sau:

 Liệt nửa người, liệt một chi hoặc liệt tứ chi (hiếm gặp)

 Mất hoặc giảm cảm giác nửa người

 Rối loạn tri giác đột ngột

Tầm quan trọng của việc đưa bệnh nhân đột quỵ đến cơ sở y tế sớm đã được chứngminh rõ rệt Đột quỵ khiến vô số tế bào thần kinh bị mất đi vĩnh viễn Trong đột quỵthiếu máu não do tắc mạch lớn, mỗi phút chậm trễ điều trị có thể dẫn đến mất trungbình 1,9 triệu tế bào thần kinh, 13,8 tỷ synap và 12 km (7 dặm) sợi trục thần kinh, tươngđương với quá trình lão hóa sinh lý của não bộ trong gần 3,6 năm cho mỗi giờ trìhoãn[19]

Trang 13

Việc nhập viện muộn làm nhiều bệnh nhân mất cơ hội tiếp cận các phương pháp táitưới máu hiệu quả: thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch chỉ có hiệu quả tối ưu trongvòng 4,5 giờ, trong khi lấy huyết khối cơ học chỉ có thể thực hiện trong khoảng 6–24giờ ở những trường hợp đáp ứng tiêu chuẩn hình ảnh học[17].

Tại Việt Nam, một nghiên cứu tiến cứu tại Thanh Hóa cho thấy 55,4% bệnh nhânnhập viện muộn hơn 4,5 giờ, và 91,4% người bệnh hoặc người chăm sóc không nhận

biết dấu hiệu F.A.S.T, dẫn đến bỏ lỡ “thời gian vàng” cho điều trị tái tưới máu[20].

Thực trạng này còn trầm trọng hơn do thói quen áp dụng các biện pháp dân gian nhưcạo gió, chích lể,… trước khi đưa bệnh nhân đi cấp cứu, gây trì hoãn đáng kể thời giancan thiệp y tế

1.4 Một số nghiên cứu liên quan

Trong những năm gần đây, vấn đề kiến thức về yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnhbáo của người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ đã được nhiều tác giả trong và ngoài nướcquan tâm nghiên cứu

1.4.1 Một số nghiên cứu ngoài nước

Một số nghiên cứu điển hình có thể kể đến như một nghiên cứu cắt ngang trựctuyến trên 205 sinh viên ngành chăm sóc sức khỏe tại Đại học King Saudi (Ả Rập XêÚt) cho thấy phần lớn sinh viên nhận biết được các yếu tố nguy cơ chính của đột quỵnhư tăng huyết áp (88,8%), bệnh tim (85,4%) và tuổi cao (80%), cũng như các dấu hiệucảnh báo như khó nói (80%) và chóng mặt/mất thăng bằng (79,5%) Ngoài ra, đa sốsinh viên xác định đúng cách xử trí khi nghi ngờ đột quỵ là gọi cấp cứu ngay lập tức,thể hiện kiến thức thực hành khẩn cấp khá tốt Tuy nhiên, chỉ có 32,2% sinh viên đượcđánh giá là có kiến thức tổng thể tốt, và kết quả cho thấy có sự khác biệt giữa cácngành học, trong đó sinh viên dược có điểm số cao hơn sinh viên điều dưỡng và cấpcứu[21] Từ nghiên cứu này có thể rút ra rằng, mặc dù kiến thức cơ bản về yếu tố nguy

cơ và dấu hiệu cảnh

Trang 14

báo đột quỵ được nhiều đối tượng nhận diện đúng, nhưng mức độ kiến thức tổng thểcòn hạn chế Điều này nhấn mạnh nhu cầu cần thiết phải triển khai các khảo sát tương

tự ở các nhóm dân số khác (ví dụ: người chăm sóc bệnh nhân, cộng đồng), cũng nhưxây dựng chương trình giáo dục sức khỏe có hệ thống nhằm nâng cao nhận thức và kỹnăng ứng phó với đột quỵ

Ngoài ra, một nghiên cứu cắt ngang đã được thực hiện với những người chăm sócbệnh nhân đột quỵ tại Bệnh viện Ibrahim Malik và Bệnh viện Soba ở Khartoum, Sudancho thấy trong số 200 người chăm sóc được khảo sát, 57,5% có nhận thức thấp, 42,0%

có nhận thức trung bình và chỉ 0,5% có nhận thức cao Trình độ học vấn, việc làm vànơi cư trú tại thành thị có liên quan đáng kể đến mức độ nhận thức cao hơn (giá trị p <0,001) Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ được nhận biết nhiều nhất (55,5%), trong khiđau đầu là dấu hiệu cảnh báo phổ biến nhất (41,5%) Các rào cản đối với việc tìm kiếmchăm sóc sức khỏe kịp thời bao gồm khó khăn về tài chính (67,5%) và khó khăn vềphương tiện đi lại (53,0%) Từ đó thấy được sự chênh lệch đáng kể về nhân khẩu học

và các rào cản hệ thống góp phần vào trình độ hiểu biết thấp và việc điều trị chậm trễ,dựa vào đó đưa ra các chương trình giáo dục có mục tiêu và cải thiện khả năng tiếp cậndịch vụ chăm sóc sức khỏe là rất cần thiết để giảm gánh nặng đột quỵ ở Sudan[22].Một nghiên cứu khảo sát cắt ngang bằng bảng câu hỏi với 11 nhóm hỗ trợ đột quỵtại Đức, yêu cầu đối tượng nghiên cứu cung cấp kiến thức về đột quỵ, dữ liệu nhânkhẩu học, xã hội và y tế Trong đó, kiến thức về đột quỵ được coi là tốt nếu người thamgia biết ít nhất 2 triệu chứng, 2 yếu tố nguy cơ và biết cần gọi cấp cứu ngay lập tức.Tuy nhiên, chỉ 44% số người tham gia khảo sát đạt được mức kiến thức này[23] Sựthiếu hụt kiến thức này là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự chậm trễ trongviệc tìm kiếm sự chăm sóc y tế, đặc biệt ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình,nơi có tới 48,4% bệnh nhân đến bệnh viện sau 24 giờ kể từ khi khởi phát triệuchứng[7]

Trang 15

Các nghiên cứu ngoài nước đã làm sáng tỏ nhiều khoảng trống trong nhận thứccủa người dân về đột quỵ Ngoài ra, một vấn đề quan trọng khác được nêu bật trongmột nghiên cứu là sự thiếu chuẩn hóa trong các công cụ đánh giá kiến thức đột quỵ.Nhiều công cụ khảo sát thiếu tính hợp lệ và không được xây dựng dựa trên phươngpháp luận chặt chẽ, dẫn đến sự thiếu đồng nhất trong kết quả giữa các nghiên cứu khácnhau Điều này khiến việc so sánh và đưa ra các kết luận tổng quát về mức độ nhậnthức của cộng đồng trên toàn cầu trở nên khó khăn[24].

1.4.2 Một số nghiên cứu trong nước

Trong các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy nhận thức của người thân về đột quỵcòn chưa cao, đặc biệt là ở cộng đồng chung, dù có những tín hiệu tích cực ở các đốitượng đã có kinh nghiệm hoặc được giáo dục[25, 26]

Trong một nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, có

53 người thân bệnh nhân (chiếm 70,7%) biết được ít nhất 1 yếu tố nguy cơ của đột quỵ,trong đó chủ yếu là tăng huyết áp (30,7%), hút thuốc lá (22,7%) và lạm dụng rượu(20%) Những hiểu biết về các yếu tố nguy cơ khác chiếm tỷ lệ khá thấp Đa phầnngười thân bệnh nhân đột quỵ biết được dấu hiệu khởi phát của bệnh là liệt tay(46,7%), nói khó (30,7%), kế đến là liệt mặt (28,0%) Tuy nhiên, có đến 32% ngườithân bệnh nhân không biết các dấu hiệu của đột quỵ và 25,3% không thấy được sựkhẩn trương của việc cấp cứu đột quỵ Tỷ lệ người thân bệnh nhân đột quỵ hoàn toànkhông biết xử trí khi gặp người bệnh đột quỵ còn khá cao, chiếm 53,3% Thông tin vềđột quỵ được đưa đến cộng đồng chủ yếu thông qua các phương tiện truyền miệng từngười thân (76%), tivi (70,7%), đài (60%), báo (53,3%) Sự phổ biến kiến thức cộngđồng về đột quỵ từ nhân viên y tế còn hạn chế (48%), có đến gần 20% người thân bệnhnhân chưa được giáo dục về những kiến thức cơ bản của đột quỵ Điều này dẫn đến kếtluận rằng nhận thức của người thân bệnh nhân về đột quỵ còn chưa cao và cần phảicung cấp thông tin về đột quỵ não đến cộng đồng tích cực hơn, nhất là cần thêm sựđóng góp của nhân viên y tế[25] Bên cạnh

Trang 16

đó, một nghiên cứu khác được thực hiện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa chothấy 42,8% người tham gia có nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ đột quỵ, yếu

tố tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ được kể đến nhiều nhất (64,9%) Nhận thức khôngđạt về dấu hiệu sớm đột quỵ là 51,5%, dấu hiệu tê và yếu liệt vận động nửa người được

kể đến nhiều nhất 51%[27] Điều này cho thấy một khoảng trống đáng kể trong kiếnthức

Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho thấy những tín hiệu tích cực hơn Mộtnghiên cứu tại Trung tâm Đột quỵ - Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên, thấy kiếnthức, thái độ của bệnh nhân và người nhà chăm sóc bệnh nhân đột quỵ chiếm tỷ lệcao, đa số các đối tượng có kiến thức về bệnh đột quỵ và các yếu tố liên quan đếnđột quỵ (97%), nguồn thông tin biết về bệnh đột quỵ não chủ yếu là qua nhân viên y

tế chiếm tỷ lệ 89% và biết được lứa tuổi thường bị đột quỵ não là ở người cao tuổichiếm tỷ lệ 96% Tuy nhiên, mặc dù có nhận biết về bệnh đột quỵ não nhưng nhiềungười có kiến thức hiểu biết chưa đầy đủ về bệnh như là không xác định được cácdấu hiệu khi xảy ra đột quỵ, do vậy việc đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế có khả năngcấp cứu đúng chưa kịp thời Thái độ của đối tượng nghiên cứu nhận định về bệnhđột quỵ não là nguy hiểm (92%), và đều cho rằng bệnh có thể dự phòng được và rấtcần được tư vấn truyền thông để nâng cao hiểu biết về bệnh đột quỵ[28] Tương tự,một nghiên cứu khác được thực hiện tại Khoa Nội tâm thần kinh, Bệnh viện Quân y

354 cũng ghi nhận tỷ lệ đối tượng có kiến thức đúng về nguyên nhân đột quỵ là90,0%, 79,2% có kiến thức đúng về khả năng dự phòng bệnh đột quỵ và có kiến thứcđúng về triệu chứng "đau đầu dữ dội" đạt 98,8%, tê bì, méo miệng (75,6%), choángváng, mất thăng bằng, yếu, liệt (62,4%)[29]

Sự khác biệt trong các kết quả này không hẳn là mâu thuẫn Thay vào đó, nó phảnánh tính đặc thù của từng mẫu nghiên cứu Các đối tượng được khảo sát tại bệnh viện,những người đang trực tiếp chăm sóc bệnh nhân đột quỵ, có thể đã được tiếp cận thôngtin hoặc có kinh nghiệm thực tế, do đó kiến thức của họ thường cao hơn so với cộng

Trang 17

đồng chung[28] Điều này nhấn mạnh rằng, mặc dù kiến thức nền tảng có thể đã đượccải thiện ở một số nhóm, nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống đáng kể trong nhận thứccủa toàn bộ cộng đồng, đặc biệt là những người chưa có kinh nghiệm trực tiếp về bệnh.Các nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy nhận thức của người chăm sóc bệnhnhân về đột quỵ vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc nhận diện tính chất nguyhiểm và thực hiện các hành động sơ cứu đúng đắn Mặc dù kiến thức về một số triệuchứng phổ biến có thể đạt tỷ lệ cao, nhưng sự đứt gãy giữa kiến thức và hành độngthực tế là một rào cản lớn đối với việc cấp cứu kịp thời.

Trang 18

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu

 Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

 Địa điểm: Khoa Nội Thần kinh bệnh viện Trưng Vương, TP.HCM

 Thời gian: Từ ngày 06/10/2025 – 06/01/2026

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Người nhà chăm sóc bệnh nhân đột quỵ và bệnh nhân không đột quỵ nhập viện tại bệnh viện Trưng Vương trong khoảng thời gian thực hiện nghiên cứu

 Tiêu chuẩn chọn vào: Người chăm sóc đồng ý tham gia và có khả năng hoàn thành bảng khảo sát

 Tiêu chuẩn loại ra: Người chăm sóc có vai trò y tá/bác sĩ chuyên môn, từ chối tham gia

2.4 Cỡ mẫu và ước tính

Nghiên cứu sẽ áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ: Tất cả người chăm sócbệnh nhân thỏa tiêu chí vào thời điểm khảo sát tại khoa Nội Thần kinh, bệnh việnTrưng Vương trong khoảng thời gian thu thập số liệu

Căn cứ lượng bệnh nhân trung bình hàng tháng và tỷ lệ người chăm sóc, ước tínhkhoảng 150 người Nếu số người chăm sóc thực tế trong thời gian khảo sát nhỏ hơn cỡmẫu lý thuyết, nghiên cứu vẫn ghi nhận và phân tích với toàn bộ số mẫu thu thập được;nếu lớn hơn, toàn bộ người tỏa tiêu chuẩn vẫn được mời tham gia

Ngày đăng: 04/09/2025, 20:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tiến độ dự kiến - Khảo sát sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ và dấu hiêu cảnh báo Đột quỵ trên người chăm sóc bênh nhân nhập viên tại khoa nội thần kinh bênh viên trưng vương từ 092025 Đến 012026
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tiến độ dự kiến (Trang 25)
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n =…) - Khảo sát sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ và dấu hiêu cảnh báo Đột quỵ trên người chăm sóc bênh nhân nhập viên tại khoa nội thần kinh bênh viên trưng vương từ 092025 Đến 012026
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n =…) (Trang 27)
Bảng 3.2. Kiến thức về yếu tố nguy cơ đột quỵ của người chăm sóc - Khảo sát sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ và dấu hiêu cảnh báo Đột quỵ trên người chăm sóc bênh nhân nhập viên tại khoa nội thần kinh bênh viên trưng vương từ 092025 Đến 012026
Bảng 3.2. Kiến thức về yếu tố nguy cơ đột quỵ của người chăm sóc (Trang 28)
Bảng 3.3. Kiến thức về dấu hiệu cảnh báo - Khảo sát sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ và dấu hiêu cảnh báo Đột quỵ trên người chăm sóc bênh nhân nhập viên tại khoa nội thần kinh bênh viên trưng vương từ 092025 Đến 012026
Bảng 3.3. Kiến thức về dấu hiệu cảnh báo (Trang 28)
Bảng 3.4. So sánh kiến thức về yếu tố nguy cơ giữa 2 nhóm - Khảo sát sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ và dấu hiêu cảnh báo Đột quỵ trên người chăm sóc bênh nhân nhập viên tại khoa nội thần kinh bênh viên trưng vương từ 092025 Đến 012026
Bảng 3.4. So sánh kiến thức về yếu tố nguy cơ giữa 2 nhóm (Trang 29)
Bảng 3.5. So sánh kiến thức về dấu hiệu cảnh báo đột quỵ giữa 2 nhóm - Khảo sát sự hiểu biết về yếu tố nguy cơ và dấu hiêu cảnh báo Đột quỵ trên người chăm sóc bênh nhân nhập viên tại khoa nội thần kinh bênh viên trưng vương từ 092025 Đến 012026
Bảng 3.5. So sánh kiến thức về dấu hiệu cảnh báo đột quỵ giữa 2 nhóm (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w