1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Chính trị, Tâm lý và Giáo dục thể chất: Giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non An Thắng, An Lão, Thành phố Hải Phòng

112 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kỹ năng tương tác xã hội của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi thông qua hoạt động chơi .... Nhận thức của giáo viên về sử dụng các trò chơi vận động th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

KHOA CHÍNH TRỊ - TÂM LÝ – THỂ CHẤT

HOÀNG THỊ LOAN

GIÁO DỤC KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC XÃ HỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHƠI CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TỪ 3 – 4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON AN THẮNG, AN LÃO,

HẢI PHÒNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hải Phòng, năm 2025

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

KHOA CHÍNH TRỊ - TÂM LÝ – THỂ CHẤT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

GIÁO DỤC KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC XÃ HỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHƠI CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TỪ 3 – 4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON AN THẮNG, AN LÃO,

HẢI PHÒNG CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI

Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Loan

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu

và tài liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình!

Hải Phòng, ngày 10 tháng 01 năm 2025

Sinh viên

Hoàng Thị Loan

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trong khoa Chính trị, Tâm lý

và Giáo dục thể chất trường Đại học Hải Phòng đã nhiệt tình hướng dẫn, giảng dạy và cung cấp kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho em trong những năm học vừa qua, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô Đào Thị Tư Duyên đã động viên

và tận tình hướng dẫn em từng bước trong quá tình thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp này

Qua đó, bản thân em đã trau dồi thêm được cho mình những bài học quý báu của nghề, bên cạnh đó là những khó khăn, thuận lợi để em có thể rút kinh nghiệm cho bản thân mình Dù đã rất cố gắng nhưng do kiến thức của bản thân còn chưa thực sự chuyên sâu, thời gian nghiên cứu chưa nhiều nên bài khoá luận của em chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy cô để bài khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên

Hoàng Thị Loan

MỤC LỤC

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC XÃ HỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHƠI CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3 – 4 TUÔIT TẠI TRƯỜNG MNHN 11

1.1 Khái niệm, đặc điểm rối loạn phổ tự kỷ 11

1.1.1 Khái niệm 11

1.1.2 Đặc điểm trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi 13

1.2 Lý luận về kỹ năng tương tác xã hội và giáo dục kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi 15

1.2.1 Kỹ năng tương tác xã hội 15

1.2.2 Giáo dục kĩ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi 22

1.3 Lý luận về hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non hoà nhập 26

1.3.1 Xác định khả năng chơi của trẻ RLPTK 3-4 tuổi 26

1.3.2 Phát triển kỹ năng chơi ở mỗi hoạt động chơi thông qua đó giúp cho việc giáo dục KN TTXH cho trẻ RLPTK từ 3-4 tuổi tại trường mầm non hoà nhập 27

1.3.3 Giáo dục KN TTXH thông qua hoạt động chơi cho trẻ RLPTK từ 3-4 tuổi tại trường mầm non hoà nhập 28

1.3.4 Ý nghĩa, vai trò của hoạt động chơi trong giáo dục kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK từ 3-4 tuổi tại trường mầm non hoà nhập 29

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kỹ năng tương tác xã hội của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi thông qua hoạt động chơi 32

1.4.1 Các yếu tố khách quan 32

1.4.2 Các yếu tố chủ quan 35

CHƯƠNG 2: 38

Trang 6

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC kỸ NĂNG TƯƠNG TÁC XÃ HỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHƠI CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3 – 4 TUỔI TẠI

TRƯỜNG MẦM NON HÒA NHẬP 38

2.1 Giới thiệu chung về địa bàn khảo sát 38

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 38

2.2.1 Mục đích khảo sát 38

2.2.2 Nội dung khảo sát 39

2.2.3 Địa bàn và khách thể khảo sát 39

2.3 Thông tin chung về khảo sát đánh giá thực trạng 40

2.3.1 Tổ chức khảo sát mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện tiến hành, thời gian 40

2.3.2 Công cụ khảo sát 41

2.4 Thực trạng kỹ năng tương tác xã hội của trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non hòa nhập 43

2.5 Giáo dục kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non hòa nhập - Một số vấn đề về thực trạng 48

2.5.1 Nhận thức của giáo viên về sử dụng các trò chơi vận động theo nhóm nhằm phát triển kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi tại trường mầm non hòa nhập 48

2.5.2 Mục tiêu, nội dung sử dụng để giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi tại trường mầm non hòa nhập 53

2.5.3 Những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi sử dụng hoạt động chơi nhằm giáo dục kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi tại trường mầm non hòa nhập 58

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP HỖ TRỢ VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC XÃ HỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHƠI CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3-4 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON HÒA NHẬP AN THẮNG 61

3.1 Một số biện pháp hỗ trợ việc giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi tại trường mầm non hòa nhập 62

Trang 7

3.1.1 Hỗ trợ giáo viên mầm non xây dựng môi trường chơi, không gian chơi thoải mái cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi 62 3.1.2 Hỗ trợ giáo viên mầm non tạo tình huống chơi và tổ chức các hoạt động chơi nhằm phát triển kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi 64 3.1.3 Sử dụng các kỹ thuật hỗ trợ cá nhân giúp trẻ tự kỷ tham gia trò chơi nhằm phát triển kỹ năng tương tác xã hội 67 3.1.4 Phối hợp cùng gia đình để xây dựng môi trường chức năng tại gia đình nhằm phát triển kỹ năng tương tác xã hội 70 DANH MỤC THAM KHẢO 74

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Đánh giá mức độ thực hiện kỹ năng tương tác xã hội của trẻ rối loạn phổ

tự kỷ từ 3-4 tuổi 42 Bảng 2.2 KN TTXH của trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường MGHN qua đánh giá của GV

và phụ huynh 43 Bảng 2.3 Kỹ năng tương tác xã hội của trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường mầm non hoà nhập thông qua quan sát trẻ 46 Bảng 2.4 Đánh giá của GV và phụ huynh về dấu hiệu thể hiện KN TTXH của trẻ RLPTK 3-4 tuổi (tỷ lệ %) 48 Bảng 2.5 Đánh giá của giáo viên và phụ huynh về ý nghĩa của giáo dục kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi thông qua hoạt động chơi 50 Bảng 2.6 Đánh giá của giáo viên và phụ huynh về mục tiêu sử dụng hoạt động chơi

để giáo dục kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi 53 Bảng 2.7 Đánh giá của giáo viên và phụ huynh về nội dung sử dụng hoạt động chơi

để giáo dục KN TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi 56 Bảng 2.8 Thuận lợi của giáo viên khi sử dụng hoạt động chơi giáo dục kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi 58 Bảng 2.9 Khó khăn của giáo viên khi sử dụng hoạt động chơi giáo dục kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi 60

Biểu đồ 1: Đánh giá của giáo viên và phụ huynh về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi thông qua hoạt động chơi (tỷ lệ %) 52

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Rối loạn phổ tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển về nhiều mặt, trong đó

có rối loạn về KN quan hệ xã hội, giao tiếp bằng lời nói và hành vi bất thường Phát triển KN TTXH cho trẻ RLPTK là vấn đề quan trọng nhằm giúp trẻ có khả năng kết nối và hòa nhập cộng đồng Trẻ RLPTK thường gặp nhiều khó khăn trong việc tích hợp các giác quan Các bài tập trị liệu điều hòa giác quan cho trẻ RLPTK là các bài tập vận động giác quan giúp trẻ cải thiện sự thăng bằng, phối hợp cơ thể cảm thụ bản thể Kỹ năng TTXH là năng lực vận dụng

có kết quả những tri thức về phương thức hành động tương tác (lời nói, phi lời nói) phù hợp với lứa tuổi của học sinh, phù hợp với mục đích hành động trong các tình huống và điều kiện tiến hành hoạt động nhất định, giúp cá nhân học sinh hình thành, tăng cường các mối quan hệ tương tác với những học sinh khác KN TTXH có vai trò quan trọng đối với trẻ RLPTK 3-4 tuổi, nó giúp các

em thoát khỏi cảm giác cô đơn, có điều kiện hòa nhập cuộc sống và phát triển như những trẻ bình thường khác thông qua việc tham gia vào các hoạt động vui chơi cùng thầy cô, bạn bè Đặc biệt, độ tuổi 3-4 tuổi là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của mỗi trẻ, các em chuyển từ môi trường vui chơi gia đình sang môi trường học tập theo phương thức trường học, thiết lập các mối quan hệ và hình thành thái độ với GV, bạn cùng lớp, với tập thể,… Do vậy, việc trang bị

KN TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi tại trường MNHN là điều rất cần thiết giúp trẻ tự tin hòa nhập với môi trường mới, Tại Việt Nam, Theo Tổng cục Thống

kê năm 2019 nước ta có khoảng 6,2 triệu người khuyết tật từ 2 tuổi trở lên (chiếm khoảng 6,5% dân số) Trong đó có khoảng 1 triệu người RLPTK, tỉ lệ trẻ em có RLPTK ước tính là 1% số trẻ em sinh ra Trẻ RLPTK thường thiếu hụt về ngôn ngữ, giao tiếp, KN TTXH hạn chế và kèm theo một số hành vi khác

lạ do thiếu hụt giác quan; điều này gây trở ngại cho trẻ trong việc kết bạn, thiết lập các quan hệ xã hội và vui chơi, khiến trẻ khó hòa nhập cộng đồng KN TTXH giúp trẻ RLPTK biết cách chơi và sử dụng đồ chơi, tạo ra sự giao tiếp

Trang 11

với những người xung quanh để tiếp thu, lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm, thiết lập các mối liên hệ trong cộng đồng Vì vậy, quan tâm phát triển KN TTXH cho trẻ RLPTK là một 2 trong những biện pháp quan trọng giúp trẻ tăng cường tiếp nhận, tương tác với thế giới xung quanh, thực hiện hòa nhập thành công Chơi là một phương tiện trung gian nhằm giúp trẻ phát triển KN nhận thức, TTXH,… Trẻ RLPTK thường không biết cách chơi như những trẻ bình thường

do có khiếm khuyết trong giao tiếp, khả năng tập trung chú ý và KN chơi luân phiên, bắt chước, hành vi rập khuôn Những trẻ RLPTK có KN chơi tốt hơn thường tham gia nhiều hơn “vào các hoạt động với trẻ khác, từ đó phát triển

KN TTXH tốt hơn Trên thực tế đã có nhiều bằng chứng về hiệu quả của các phương pháp can thiệp thông qua các hoạt động chơi, trong đó phải kể đến các hoạt động chơi giúp trẻ RLPTK được giáo dục KN TTXH Trẻ 3-4 tuổi là giai đoạn có xu hướng tham gia vào các hoạt động chơi với các bạn trong thời gian

ở lớp nhiều hơn Ở môi trường chuyên biệt, trẻ RLPTK gặp nhiều khó khăn hơn trong hòa nhập và phát triển, do vậy trẻ rất cần được trang bị đầy đủ về các

KN, trong đó có KN TTXH để tham gia các hoạt động vui chơi thuận lợi, qua

đó giúp trẻ phát triển toàn diện Đồng thời, đây cũng là thời điểm thuận lợi để

GV tiến hành can thiệp cho trẻ RLPTK trong lớp học Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu về các vấn đề liên quan tới trẻ tự kỷ, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục KN TTXH cho trẻ RPTK 3-4 tuổi thông qua hoạt động chơi, hơn nữa trong quá trình làm việc với trẻ tại trung tâm tôi nhận thấy đây là khó khăn lớn của trẻ rất cần được quan tâm khắc phục

Xuất phát từ các lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi tại trường mầm non hòa nhập An Thắng, An Lão-Hải Phòng làm khóa luận tốt

nghiệp mình

2 Sơ lược nghiên cứu vấn đề

- Trên thế giới

Trang 12

Tự kỷ xuất phát từ chữ Hy Lạp: Autism, nghĩa là tự động, tự thân trong tâm thần học, được “Bleuler sử dụng lần đầu tiên để chỉ một triệu chứng cơ bản của bệnh tâm thần phân liệt Triệu chứng tự kỷ là nét cơ bản của các triệu chứng

âm tính trong tâm thần phân liệt Người bệnh mất đi phần lớn các chức năng giao tiếp và tương tác với môi trường xã hội Biểu hiện như là thu kín bên trong, khó giao tiếp, khó tương tác Trước đây, thuật ngữ tự kỉ không thấy xuất hiện trong y khoa, nhưng khái niệm rối loạn phổ tự kỉ được đề cập đầu tiên vào năm

1943 do bác sĩ người Mĩ gốc Áo-Leo Kanner nghiên cứu và đặt tên (Rối loạn

tự kỉ) - Autism Ông đã mô tả một nhóm 11 trẻ có những biểu hiện phát triển không bình thường như: Có những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khiếm khuyết trong quá trình phát triển ngôn ngữ, có những hành vi kỳ lạ lặp đi lặp lại nhiều lần, khởi phát sớm trước 3 tuổi Tuy nhiên, những nghiên cứu của ông ban đầu không được đón nhận, sau đó đã được chú ý và nhanh chóng trở thành vấn đề thu hút của nhiều công trình nghiên cứu tại nhiều nước” Tiếp đó là công trình nghiên cứu của bác sĩ Nhi khoa người Áo - Hans Asperger (1944) đã mô

tả một dạng tự kỉ nhẹ hơn Kanner mô tả rất nhiều Sau này, ày chỉ ra có nhiều nhóm trẻ khác nhau có các biểu hiện của tính tự kỉ, cũng có những khó khăn tương tự nhưng không hoàn toàn giống như mô tả của Kanner “Năm 1964 Bernard Rimland và một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, Tự kỷ là do những thay đổi của cấu trúc lưới trong bán cầu não trái, hoặc do những thay đổi về sinh hóa và chuyển hóa những đối tượng này Do đó, những trẻ tự kỷ không có khả năng liên kết các kích thích thành kinh nghiệm của bản thân; không giao tiếp được vì thiếu khả năng khái quát hóa những điều cụ thể Năm 1996, Từ điển bách khoa Columbia nêu rõ: Tự kỷ 7 là một khuyết tật phát triển có nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng cơ bản của não bộ

Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bình thường về kỹ năng giao tiếp,

kĩ năng tương tác xã hội và suy luận Nam nhiều gấp 4 lần nữ Trẻ có thể phát triển bình thường cho đến tận 30 tháng tuổi” Năm 1965, thuyết cấu trúc nhận thức của J.Piaget chỉ ra những tương tác với bạn đồng trang lứa rất cần thiết

Trang 13

cho sự phát triển về xã hội và nhận thức của trẻ Trong quá trình thực hiện những tương tác này, trẻ đồng thời thiết lập nên các quy tắc về hành vi xã hội, những hành vi xã hội này giúp trẻ chuyển từ phụ thuộc sang sự tự quản Thuyết này cũng chỉ ra, quá trình giáo dục KN xã hội cho trẻ sẽ giúp trẻ thích nghi với những hoàn cảnh sống khác nhau thông qua thiết lập mối quan hệ cân bằng giữa trẻ với môi trường sống Năm 1966, cuốn sách Tâm lý học hoạt động nhận thức của trẻ bình thường và trẻ có tật của nhà xuất bản giáo dục Matxcova đã nghiên cứu về trẻ em nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng Mặc dù không trực tiếp bàn đến KN TTXH nhưng công trình đã bắt đầu đặt nền tảng cho những nghiên cứu, đánh giá và giáo dục KN thích ứng nói chung và KN TTXH nói riêng cho trẻ RLPTK Năm 1969, “Kohlberg đã phát triển thứ bậc các giai đoạn phát triển, nhất là sự tương tác với bạn đồng lứa làm chuyển đổi qua các giai đoạn phát triển được thuận lợi Trẻ học được các quy ước xã hội thông qua những trải nghiệm, qua vai trò với người lớn, với những trẻ khác, thông qua phát triển nhận thức Học thuyết này chỉ ra rằng, trẻ RLPTK với hạn chế về thị giác, quá trình phát triển xã hội của trẻ RLPTK thông qua các mối quan hệ qua lại giữa trẻ và các bạn cùng trang lứa bị cản trở bởi quá trình phát triển thể chất chậm, sự phụ thuộc của trẻ vào những người xung quanh để có những kinh nghiệm xã hội tích cực” Những năm 1970, có nhiều công trình nghiên cứu với những kết quả cụ thể về KN cần có của trẻ RLPTK nhằm hòa nhập cộng đồng Trong đó, cuốn sách Đánh giá HVTƯ- cẩm nang khuyết tật trí tuệ: Lý thuyết

và nghiên cứu tâm lý của Meyers, Nihira và Zetlin Năm 1988, trong cuốn sách Đánh giá kỹ năng xã hội của tác giả Goldstein đã tập trung nghiên cứu đánh giá

về các KN xã hội, trong đó có KN TTXH của trẻ, đề ra một số phương pháp đánh giá KN TTXH cho trẻ Cuốn sách Early Communication Skills (Các kĩ năng giao tiếp sớm) của tác giả Charlottr Lynch và Julia Kidd, được xuất bản năm 1991 đề cập tới những nội dung về giao tiếp mắt mắt, sự chú 8 ý, bắt chước, sự đáp ứng,… đây là những nội dung dạy trẻ về KN tương tác Cuối thế

kỷ XX, các tác giả Lorna Wing (1966), Utah Frith (1989) và Rita Jordan (1999)

Trang 14

đã nghiên cứu và xác định được trẻ RLPTK có một cụm 3 khiếm khuyết điển hình, đó là khiếm khuyết về TTXH, khiếm khuyết về giao tiếp, hành vi và tư duy cứng nhắc Đối với khiếm khuyết về TTXH, trẻ RLPTK thường hay chơi một mình, biểu hiện thờ ơ, lãnh đạm, giống như không thấy ai ở xung quanh, không đáp ứng Trẻ RLPTK có thói quen nắm tay người khác để dắt đến lấy một vật gì đó cho mình thay vì hỏi xin Trẻ RLPTK có xu hướng gần người lớn thay vì chơi với các bạn cùng trang lứa; trẻ đáp ứng bất chợt, đôi khi thụ động trong chị đựng các tiếp xúc, giống như việc chấp nhận tham gia các hoạt động sinh hoạt đề ra Trẻ RLPTK thiếu đồng cảm, không biết cách khen người khác, không biết TTXH, nhìn một vật hay sự thể gì rất lâu, không biết tìm an ủi khi

lo âu căng thẳng Nghiên cứu của Howlin, Goode, Hutton and Rutter vào năm

2004 chỉ ra rằng, thông thường trẻ vào trường học thì môi trường nhà trường

sẽ tập trung dạy trẻ các KN học viết và KN tự phục vụ hằng ngày, nhưng ít tập trung dạy các kỹ năng xã hội cho trẻ Chính vì vậy, ngay cả đối với trẻ có ngôn ngữ như trẻ Asperger, việc TTXH hạn chế khiến trẻ dễ rơi vào căng thẳng và bùng nổ, dễ thất bại trong hòa nhập vào đời sống cũng như trong công việc học tập, sinh hoạt Trẻ RLPTK cần được quan tâm dạy dỗ về giao tiếp, TTXH ngay

từ mẫu giáo để biết cách cư xử xã hội từ trong học đường tới ngoài xã hội, nếu không trẻ sẽ rất khó hòa nhập Ngoài ra, “một số công trình nghiên cứu đề cập đến việc phát triển KN TTXH cho trẻ RLPTK như cuốn sách Teaching Social Communication to Children With Autism của tác giả Brooke Ingersoll & Anna Dvortscak xuất bản năm 2010, trong mục Các kĩ thuật dạy trẻ tương tác đã đề cập tới nội dung phát triển các KN TTXH cho trẻ RLPTK Cuốn sách Những hoạt động dạy trẻ tự kỷ của tác giả Éric Shopler, Margaret Lansing, Leslie Waters (Trần Thị Khấn - Nguyễn Thị Khước dịch và chuyển thể) được bác sĩ Phạm Ngọc Khanh hiệu đính đã trình bày các bài tập, trò chơi nhằm hình thành, phát triển và rèn luyện các KN cho trẻ RLPTK theo các nhóm KN cảm nhận,

KN bắt chước, KN phối hợp tay - mắt”

- Tại Việt Nam

Trang 15

Các nhà nghiên cứu ở trong nước đã “ứng dụng các biện pháp, các bài tập tương tác với trẻ thông qua trò chơi, như: Trò chơi vận động, trò chơi khám phá, chơi luân phiên, chơi đóng vai,… với mục đích can thiệp phát triển các quan hệ xã hội, hành vi tương tác mong muốn Tiêu biểu có một số công trình: Chương trình gây dạy ngôn ngữ ứng xử cho trẻ tự kỷ của tác giả Lê Phương Nga năm 2004; Để hiểu trẻ tự kỷ của tác giả Võ Nguyễn Tinh Vân năm 2004; Nuôi con tự kỷ, Tự kỷ và trị liệu xuất bản năm 2006 là cuốn sách rất hữu ích cho những giáo viên nuôi dạy trẻ RLPTK Năm 2007, tác giả Nguyễn Nữ Tâm

An với đề tài Sử dụng phương pháp TEACCH trong giáo dục trẻ tự kỷ tại Hà Nội đã chỉ ra cách vận dụng phương pháp TEACCH vào quá trình can thiệp sớm cho trẻ Mầm non Năm 2008, tác giả Đào Thu Thủy với đề tài Xây dựng bài tập phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ tự kỷ tuổi mầm non, đã thiết kế được

20 bài tập phát triển giao tiếp cho trẻ tự kỷ tuổi từ 24-36 tháng dành cho phụ huynh”; Đinh Nguyễn Trang Thu, 2014, Biện pháp rèn luyện kĩ năng giao tiếp

và tương tác xã hội cho trẻ tự kỉ chức năng cao hòa nhập cấp tiểu học; Đỗ Thị Thảo, 2015, Thực trạng kĩ năng thiết lập mối quan hệ xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 4 - 5 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn Hà Nội “Một số công trình nghiên cứu về KN TTXH cho trẻ RLPTK gồm tác giả Đỗ Thị Thanh Thủy, 2016, Cơ sở khoa học của giáo dục kĩ năng tương tác xã hội cho học sinh lớp 1 hòa nhập có học sinh khiếm thị; Đỗ Thị Thanh Thủy, 2016, Tiếp cận hoạt động trong giáo dục kĩ năng tương tác xã hội cho học sinh khiếm thị tiểu học hòa nhập Trẻ tự kỷ - những phương thức giáo dục của tác giả Nguyễn Văn Thành năm 2016 Tác giả Nguyễn Thị Hoa, 2017, Một số phương pháp và kĩ thuật phát triển kĩ năng xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ mức độ nhẹ; Nguyễn Phương Thảo, 2017, Phát triển kĩ năng tương tác cho trẻ tự kỷ 3-4 tuổi trong trường mầm non có lớp học hòa nhập Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu liên quan tới giáo dục KN TTXH cho trẻ, như:; Quách Thị Thu Trang,

2019, Kĩ năng tương tác với trẻ rối loạn phổ tự kỷ 6-10 tuổi của giáo viên kèm hòa nhập trong môi trường lớp học hòa nhập”, Luận văn thạc sĩ Tâm lý học lâm

Trang 16

sàng, Học viện Quản lý giáo dục, Hà Nội; Đàm Thị Kim Thu, 2021, Phát triển

kĩ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi có rối loạn phổ tự kỉ, Luận án tiến sĩ Lý luận và lịch sử giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,… Các công trình “nghiên cứu nêu trên đã nêu ra phương thức giáo dục trẻ RLPTK thông qua trị liệu về ngôn ngữ như học nói và phát triển các KN giao tiếp nghe - hiểu, phi ngôn ngữ trong giao tiếp, hành vi văn hóa KN tự phục vụ, kích thích trẻ thể hiện suy nghĩ

ra bên ngoài bằng hành động Đồng thời, các công trình trên đã thể hiện cách thức tương tác với trẻ RLPTK qua cách trao đổi, trò chuyện, giúp trẻ tự hoàn thiện về hành vi, giao tiếp, vận động, tự tin thiết lập TTXH hòa nhập với môi trường sống Tuy nhiên, chưa có công trình nào đề xuất biện pháp phát giáo dục KN TTXH thông qua hoạt động chơi cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi” ở trường MNHN

3 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, khoá luận đề xuất các biện pháp giáo dục kĩ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 3 – 4 tuổi trong trường mầm non An Thắng nhằm giúp cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 3 – 4 tuổi có được các kỹ năng tương tác xã hội tốt hơn và

có thể tham gia vào các hoạt động trong trường mầm non hoà nhập một cách tích cực, đạt kết quả mong muốn

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng:

Biện pháp giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 – 4 tuổi tại trường mầm non An Thắng, An Lão, Hải Phòng

Trang 17

Trẻ rối loạn phổ tự kỉ gặp nhiều khó khăn về kĩ năng tương tác xã hội Việc sử dụng các biện pháp giáo dục kĩ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ đã được chú trọng ở các trường mầm non hòa nhập nhưng kết quả chưa cao do giáo viên và các bên liên quan còn thiếu kiến thức, kỹ năng cũng như các biện pháp giáo dục có hiệu quả Nếu đề xuất và thực hiện các biện pháp giáo dục kĩ năng tương tác xã hội phù hợp với đặc điểm của trẻ rối loạn phổ tự

kỷ, điều kiện hiện có của nhà trường sẽ giúp trẻ tuân theo các quy tắc trường lớp, có mối quan hệ tốt đẹp với thầy cô, bạn bè và có thể tham gia chơi và các hoạt động khác trong nhà trường một cách phù hợp, đạt kết quả mong muốn, góp phần nâng cao kết quả giáo dục trẻ rối loạn phổ tự kỉ 3 - 4 tuổi học hòa nhập mầm non

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Trẻ RLPTK tại trường mầm non hòa nhập, cụ thể: Trường mầm non An Thắng - An Lão

+ Kỹ năng giao tiếp mắt (tương tác mắt - mắt);

+ Kỹ năng bày tỏ mong muốn, cảm xúc

7 Nhiệm vụ nghiên cứu

7.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng tương tác

xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi tại trường MNHN

Trang 18

7.2 Nghiên cứu “thực trạng” giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi tại trường mầm non An Thắng –

An Lão

7.3 Đề xuất biện pháp giáo dục kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi thông qua hoạt động chơi tại trường mầm non An Thắng – An Lão

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

- Sử dụng các phương pháp tìm kiếm, chọn lọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu chuyên môn, quan sát quá trình tổ chức các hoạt động trò chơi phỏng vấn, dự giờ các GV nhằm tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài, tìm hiểu các hoạt động chơi có thể sử dụng nhằm phát triển KN TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi tại trường MNHN

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát: Xây dựng các mẫu phiếu nhằm thu thập thông tin về KN chơi của trẻ RLPTK

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Xây dựng phiếu hỏi dành cho đối tượng” GV và phụ huynh có trẻ RLPTK 3-4 tuổi, sau đó phát phiếu thông qua hình thức phát trực tiếp Sau khi thu phiếu lại sẽ đưa vào xử lý cho kết quả cụ thể

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Nhằm đánh giá tính khả thi của hệ thống các biện pháp phát triển KN TTXH được đề xuất nhằm giáo dục KN TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi tại trường MNHN

- Phương pháp phỏng vấn : Trò chuyện, trao đổi, phỏng vấn sâu với giáo viên và phụ huynh về vấn đề phát triển kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi

8.3 Nhóm phương pháp xử lý dữ liệu: Dùng thống kê toán học để xử lí các kết quả nghiên cứu

9 Cấu trúc khóa luận

Trang 19

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, bao gồm:

Chương 1 Cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua

hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi tại trường MNHN;

Chương 2 Thực trạng giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi tại trường MNHN, cụ thể: Trường mầm non An Thắng – An Lão;

Chương 3 Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp hỗ trợ việc giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự

kỷ 3 - 4 tuổi tại trường MNHN

Trang 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KỸ NĂNG TƯƠNG TÁC XÃ HỘI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHƠI CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 3 – 4 TUÔIT TẠI TRƯỜNG MNHN

1.1 Khái niệm, đặc điểm rối loạn phổ tự kỷ

1.1.1 Khái niệm

Năm 1943, nhà tâm thần học người Mỹ Leo Kanner lần đầu tiên đã đưa

ra một nhận dạng và đưa ra khái niệm về “Tự kỷ” như một chứng rối loạn tâm thần hiếm gặp ở trẻ em, thường xuất hiện sau 2 tuổi rưỡi và coi đó như một đối tượng điều trị của y học Theo ông, “Rối loạn căn bản chính là sự không đủ khả năng để thiết lập các mối quan hệ bình thường với mọi người và để đáp ứng một cách bình thường các tình huống, từ lúc đầu đời của trẻ” Sau đó vào cuối những năm 50 và đặc biệt là đầu những năm 60 của thế kỷ 20, đã có những quan điểm thay đổi rõ rệt về tự kỷ Nếu như trước đây tự kỷ được xem như một loại bệnh thì ngày nay trong luật của Mỹ đã xem tự kỷ là 1 trong 13 dạng khuyết tật và được nhận sự hỗ trợ quan tâm từ Chính phủ Mỹ

Hiện nay, trên thế giới có khá nhiều định nghĩa và khái niệm về tự kỷ, nhưng khái niệm được Liên hiệp quốc đưa ra năm 2008 là tương đối đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất: “Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, thường được thể hiện ra ngoài trong 3 năm đầu đời Tự kỷ là do một rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ gây nên, chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em và người lớn ở nhiều quốc gia không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội Đặc điểm của nó là sự khó khăn trong tương tác xã hội, các vấn đề về giao tiếp bằng lời nói và không bằng lời nói, và có các hành vi, sở thích và hoạt động lặp đi lặp lại và hạn hẹp” Các khái niệm đưa ra có sự khác nhau, nhưng có đều có sự thống nhất ở các nội dung cốt lõi của khái niệm tự kỷ, tóm lại tự kỷ được xem là một dạng khuyết tật phát triển, được đặc trưng bởi ba khiếm khuyết chính về (1) giao tiếp, (2) tương tác xã hội và có hành vi, (3) sở thích mang tính hạn hẹp lặp đi lặp lại

Trang 21

Mặc dù rối loạn phổ tự kỷ có những đặc điểm chung, nhưng các triệu chứng có khác nhau về phạm vi, mức độ nặng, khởi phát và tiến triển

Tiêu chí chuẩn đoán

Các tiêu chí trong sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tinh thần (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders - DSM) của Hội Tâm thần học Mỹ được coi là “kinh thánh” của các nhà tâm thần học Cũng như rất nhiều các rối nhiễu khác, tiêu chí chẩn đoán tự kỷ cũng được thể hiện rất rõ trong sự phát triển của DSM Trước đây, trong bản DSM-I (1952), DSM (1968),

tự kỷ chỉ được coi như một dạng “tâm thần phân liệt” Đến DMSIII (1980), DSMIII-R (1987) tự kỷ được phân loại và có tiêu chí chẩn đoán rõ ràng Trong DSM-III, đề cập đến “Tự kỷ trẻ em”với 6 tiêu chí chẩn đoán, DSM-III-R phát triển thành 16 tiêu chí chia làm 3 nhóm và được gọi là “rối loạn tự kỷ” Đến DSM-IV (1994) và DSM-IV-R (2000) hoàn thiện các tiêu chí chẩn đoán tự kỷ

và xếp tự kỷ vào nhóm rối loạn phát triển lan tỏa (Pervasive Developmental Disorders - PDDs) tương đương với Autistic Spectrum Disorders Theo DSM-

IV, PDDs được chia thành 5 rối loạn:

- Rối loạn tự kỷ (Autistic Disorder)

- Rối loạn Asperger (Asperger Disorder)

- Rối loạn Rett (Rett Disorder)

- Rối loạn bất hòa nhập tuổi ấu thơ (Childhood Disintegative Disorder)

- Rối loạn phát triển lan tỏa không xác định (Pervasive Developmental Disorders - Not Otherwise Specified: PDD-NOS)

Đến DSM-5 (5.2013), những thay đổi trong quan niệm tự kỷ nhằm đáp

ứng nhu cầu thực tiễn, bao gồm:

- Thay tên gọi Rối loạn phát triển lan tỏa (PDDs) bằng Rối loạn phổ tự

kỷ (RLPTK)

Trước đây, thuật ngữ RLPTK (ASDs) thường được xem là đồng nghĩa với rối loạn phát triển diện rộng (Pervasive Developmental Disorder PDD Nhiều quan điểm cho rằng dải ASD bao gồm hội chứng Tự kỉ (AD) ở giữa, gối lên hội

Trang 22

chứng Asperger, rối loạn bất hòa tuổi ấu thơ (Childhood Disintegrative Disorder CDD) và hội chứng Rett (RTT) Khi ấn bản Sổ tay thống kê những rối nhiễu tâm thần DSM 5 ra đời vào tháng 5/2013, thuật ngữ Rối loạn phổ tự

kỉ chính thức được gọi tên và được sử dụng thống nhất Rối loạn phổ tự kỉ bao gồm: hội chứng Tự kỉ, hội chứng Asperger, rối loạn bất hòa tuổi ấu thơ, hội chứng Rett Tất cả các rối loạn thuộc phổ tự kỉ đều có thiếu hụt trong chức năng giao tiếp và xã hội, nhưng chúng khác nhau về phạm vi, mức độ nặng, khởi phát và tiến triển của triệu chứng theo thời gian Trẻ có chẩn đoán là LPPTK theo DSM - V phải thỏa mãn những điều kiện qui định trong 5 nhóm

A, B, C, D, E như sau:

Nhóm A: Khiếm khuyết về giao tiếp xã hội và tương tác xã hội

Nhóm B: Những giới hạn, lặp lại, rập khuôn về hành vi, sở thích và hoạt động

Nhóm C: Những khiếm khuyết hay những triệu chứng trên phải biểu hiện lúc trẻ còn nhỏ tuổi

Nhóm D: Những triệu chứng nêu trên có ảnh hưởng đối nghịch và hạn chế khả năng inh hoạt hàng ngày của trẻ

Nhóm E: Những triệu chứng nêu trên không thể giải thích được bởi khuyết tật trí tuệ hay sự chậm phát triển bao quát của trẻ

1.1.2 Đặc điểm trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi

Đặc điểm chung về sự phát triển tâm lý của trẻ RLPTK ở trường MNHN được khái quát trên một số nét chủ yếu sau:

Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường MNHN gặp khó khăn trong thích nghi và tiếp nhận cái mới, khó khăn trong xác định mục tiêu, dự định trong tương lai Trẻ thiếu sự tập trung trong mọi hoạt động từ sinh hoạt, học tập đến các sở thích

cá nhân; khả năng ghi nhớ của các em kém phát triển, nhạy cảm, dễ cáu gắt, có

xu hướng tách ra khỏi tập thể, bạn bè, dễ quên các công việc, hoạt động thường ngày Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường MNHN thường có những nét tính cách bất thường, khó hòa đồng, dễ cáu giận, khó chơi được cùng các bạn cùng lớp Các

Trang 23

em gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện các nhiệm vụ, yêu cầu của giáo viên, bạn bè đưa ra, ít quan tâm tới xung quanh, chỉ chú ý tới những điều các

em thực sự thích

Về tình cảm, trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường MNHN có đời sống tâm lý không ổn định, giữa nhận thức và hoạt động của các em không có sự gắn kết, thống nhất, thường hành động theo cảm tính, nhất thời, thiếu logic, không mang tính hệ thống Trẻ thường có xu hướng tình cảm tiêu cực, đời sống tình cảm nghèo nàn, khó bộc lộ ra bên ngoài Tư duy ngôn ngữ - logic của trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường MNHN kém phát triển, do vậy về mặt xúc cảm, tình cảm dễ nảy sinh tiêu cực, ảnh hưởng xấu tới quá trình học tập, hoạt động của các em

Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường mầm non hoà nhập còn bộc lộ sự khiếm khuyết trong hoạt động nhận thức, không có sự cố gắng, gặp khó khăn trong ghi nhớ và tiếp thu các kiến thức được trang bị Trẻ chậm phát triển về tư duy

và kỹ năng học tập, thiếu động lực trong học tập, gặp nhiều khó khăn trong tham gia các hoạt động Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường mầm non hoà nhập gặp nhiều khó khăn trong thích ứng với điều kiện để triển khai các hoạt động học tập và rèn luyện kỉ luật Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường mầm non hoà nhập thường bị quá tải khi có những áp lực trong học tập, rèn luyện, thiếu hụt các kĩ năng xã hội, thiếu hụt các biểu tượng trong ngôn ngữ và trong toán học Các

em cũng gặp nhiều khó khăn trong hình thành và phát triển nhận thức, trí tuệ; đặc biệt trẻ gặp rất nhiều khó khăn khi chuyển từ thao tác trí tuệ cụ thể sang thao tác trí tuệ hình thức, thao tác lí luận

Trong quan hệ với cha/mẹ, anh chị em và với giáo viên, bạn bè, Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường mầm non hoà nhập cũng gặp khó khăn về mặt tâm

lí Các em khó nhận ra sự thay đổi về vị thế, vai trò trong các quan hệ với các chủ thể khác nhau, chưa hình thành được ý thức về các mối quan hệ với thầy/cô, bạn bè

Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường mầm non hoà nhập gặp rất nhiều khó khăn trong tiếp nhận và thừa nhận những tri thức đạo đức theo yêu cầu của người

Trang 24

lớn Trẻ có xu hướng chống đối và không quan tâm tới những quy định, yêu cầu của GV, quy định của trường Đồng thời, Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường MNHN cũng khiếm khuyết trong phát triển bản thân Trẻ gặp khó khăn trong việc hình thành ý thức về hình ảnh bản thân; khó khăn trong việc hình thành tự

ý thức bản thân

Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường mầm non hoà nhập cũng gặp khó khăn trong kiểm soát cảm xúc bản thân, kiểm soát hành vi hung tính và hình thành lòng vị tha Trẻ có khuynh hướng hung hăng, cục tính, dễ nổi cáu khi không được đáp ứng yêu cầu hay đơn thuần là muốn gây sự chú ý Trẻ gặp phải khó khăn, mâu thuẫn trong hình thành lòng vị tha, với tính vị kỉ của các em Đồng thời, các em cũng gặp khó khăn trong nhận thức và ứng xử về giới Trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường mầm non hoà nhập không nhận thức và ứng xử được một cách bình thường ở cả hai phương diện sự phát triển giới của cá nhân, đó là sinh học giới và xã hội - tâm lí giới

1.2 Lý luận về kỹ năng tương tác xã hội và giáo dục kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi

1.2.1 Kỹ năng tương tác xã hội

1.2.1.1 Khái niệm tương tác xã hội

Tương tác xã hội là tác động qua lại giữa cá nhân, nhóm xã hội với tư cách là chủ thể xã hội Các nhà xã hội học thường nghiên cứu TTXH ở cấp độ

vĩ mô và vi mô Với tư cách là thành viên của nhóm xã hội, các cá nhân thực hiện tương tác của mình đồng thời trên hai cấp độ vĩ mô và vi mô

Theo nghĩa thông thường, “TTXH được hiểu là sự tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau của hai hay nhiều đối tượng

Như vậy, TTXH là sự tác động qua lại chi phối phụ thuộc lẫn nhau giữa

các chủ thể trong xã hội để thực hiện hành động nhằm thỏa mãn vì nhu cầu bản thân như giao tiếp, thông tin, hỗ trợ nhau trong các hoạt động chung của

xã hội

Trang 25

Về phân loại TTXH: Có nhiều cách phân loại TTXH khác nhau, như: Phân loại theo hình thức TTXH, gồm tương tác qua giao tiếp (ngôn ngữ/phi ngôn ngữ hay giao tiếp xã hội); tương tác qua hoạt động (hoạt động chung cùng nhau, hoạt động tiếp nối cùng nhau, hoạt động tương hỗ cùng nhau); tương tác gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng (Internet, kí hiệu)

Đối với trẻ RLPTK, TTXH diễn ra chủ yếu giữa trẻ - người thân trong gia đình, trẻ với GV dạy, trẻ với các bạn, trẻ với đồ dùng, đồ chơi

Chức năng TTXH: TTXH có những chức năng cơ bản trong hoạt động sinh hoạt, giao tiếp của con người Theo đó, một số chức năng của TTXH bao gồm:

1) TTXH là nhu cầu đặc trưng của con người, là điều kiện đảm bảo cuộc sống tâm lí của mỗi người TTXH giúp con người phát triển quan hệ với người khác, hòa nhập cuộc sống

2) TTXH giúp con người định hướng bản thân, đánh giá và điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh Giúp con người nhận thức được mọi thứ, tạo ra sự liên kết giữa mọi người, duy trì và phát triển các mối quan hệ, nâng cao tính cảm xúc

3) TTXH là KN quan trọng trong cuộc sống, tuy nhiên lại rất hạn chế ở trẻ RLPTK Chính vì vậy, cần phải dạy học phát triển TTXH cho trẻ RLPTK như một phương pháp của giáo dục cho trẻ RLPTK ở mầm non”

Tiếp cận dưới góc độ giáo dục, tác giả Nguyễn Văn Đồng cho rằng: KN

là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn quan niệm: KN là năng lực của con người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình Qua nghiên cứu, chúng tôi lấy quan niệm về KN của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng thay cho quan niệm của mình: KN được hiểu là khả năng của con người được thể hiện dưới dạng các hành động có hiệu quả nhằm đạt mục đích nhất định nhằm

Trang 26

chuyển hóa những tri thức về đối tượng thành năng lực hành động của bản thân thông qua quá trình rèn luyện

Kỹ năng TTXH được coi “là một trong số những khả năng xã hội của con người, góp phần giúp cho con người có sự điều chỉnh cuộc sống tích cực

và sự chấp nhận xã hội, góp phần giúp trẻ RLPTK có thể sống một cách độc lập hơn KN TTXH được hiểu là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức

và phương thức hành động tương tác (lời nói, ngôn ngữ cơ thể và thể hiện nét mặt) phù hợp với lứa tuổi và bối cảnh nhất định, giúp cá nhân hình thành và tăng cường các mối quan hệ tương tác với các cá nhân khác trong môi trường sống nhất định

Kỹ năng TTXH là một phần rất quan trọng và cần thiết đối với sự phát triển mặt xã hội của mỗi cá nhân Đây là một trong những kỹ năng xã hội nền tảng để hình thành và duy trì những kĩ năng bậc cao hơn (KN sống hàng ngày,

KN giải trí, KN làm việc, KN học đường); đồng thời, giúp cá nhân thích nghi tốt hơn với những hoàn cảnh khác trong môi trường sống”

Qua quan niệm về TTXH và KN, chúng tôi đưa ra quan niệm về KN

TTXH như sau: KN TTXH là một dạng hành động được thực hiện có ý thức

dựa trên tri thức, kĩ xảo đã có, dựa trên sự tác động qua lại của chủ thể trong các hoạt động cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội

Như vậy, KN TTXH là một trong những khả năng xã hội của con người,

nó giúp các cá nhân sống trong xã hội có thể phát huy được khả năng của bản thân thông qua các cách thức tương tác với mọi người, thực hiện các điều chỉnh cuộc sống tích cực và sự chấp nhận xã hội, nhằm đạt được các mục tiêu cuộc sống một cách hiệu quả

Các mức độ KN TTXH: Theo cách phân chia các mức độ của KN nói chung và KN TTXH nói riêng, chúng tôi chia KN TTXH thành các mức độ chủ yếu sau: KN TTXH ở mức độ cao; KN TTXH ở mức độ trung bình; KN TTXH

ở mức độ thấp

Trang 27

Kỹ năng TTXH ở mức độ cao: Trẻ có KN TTXH ở mức độ cao luôn chủ động trao thiết lập các qua hệ giao tiếp với bạn bè, thầy cô Trẻ sẵn sàng tham gia vào các hoạt động giao tiếp, các hoạt động học tập, vui chơi có tính tập thể; duy trì tốt các cuộc trò chuyện, giao tiếp với các đối tượng khác nhau Trẻ chủ động thiết lập cuộc trò chuyện, tích cực tương tác và biết cách duy trì cuộc trò chuyện theo mong muốn

Kỹ năng TTXH ở mức độ trung bình: Trẻ có KN TTXH ở mức trung bình ít chủ động trong các hoạt động giao tiếp, chỉ khi có tình huống đặt ra hoặc được người khác yêu cầu trẻ mới tham gia vào các hoạt động giao tiếp, tương tác Hoạt động TTXH của trẻ cũng kém linh hoạt, thường chỉ đáp ứng những yêu cầu tối thiểu của cuộc trò chuyện, không biết cách khêu gợi, duy trì cuộc trò chuyện

Kỹ năng TTXH ở mức độ thấp: Hầu như trẻ không biết cách giao tiếp, tương tác như trẻ bình thường cùng độ tuổi, không biết cách khởi xướng và duy trì cuộc trò chuyện Trẻ thường có biểu hiện nhút nhát, tự ti trong giao tiếp, sợ tham gia vào các hoạt động tập thể, luôn bị động trong giao tiếp Trẻ có KN TTXH ở mức độ thấp thường ít nói, hay thu mình vào một không gian riêng, chỉ tham gia tương tác trong một số tình huống bắt buộc, tương tác thiếu linh hoạt

Trẻ RLPTK thường có những khiếm khuyết về giác quan, cảm xúc và sự tập trung chú ý, do vậy trẻ thường ngại trong giao tiếp, tương tác với đám đông, điều này khiến cho KN TTXH của các em hạn chế Trẻ có KN TTXH ở mức

độ cao thường chủ động trong các hoạt động giao tiếp, tương tác, tích cực thiết lập các mối quan hệ giao tiếp với mọi người xung quanh Tuy nhiên, đối với những trẻ RLPTK ngại giao tiếp, không có KN TTXH cần thiết sẽ luôn bị động trong các hoạt động tương tác Nhiều trẻ RLPTK gặp khó khăn trong hoạt động TTXH khiến quá trình phát triển toàn diện của trẻ gặp khó khăn

1.2.1.2 Phân loại kỹ năng tương tác xã hội

Trang 28

Qua nghiên cứu một số cách phân loại về KN TTXH của trẻ RLPTK nêu trên, kết hợp với quá trình quan sát cách thức tương tác của trẻ RLPTK, chúng tôi đi đến nhận định rằng, có nhiều kỹ năng TTXH cụ thể mà trẻ RLPTK bị khiếm khuyết và cần trang bị cho trẻ RLPTK nhiều KN TTXH, giúp trẻ hòa nhập thành công Trong khuôn khổ có hạn của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung

đi sâu nghiên cứu một số kỹ năng TTXH cụ thể gắn liền với trẻ RLPTK, cụ thể:

Kỹ năng tương tác mắt - mắt: Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị

Thúy Hằng đề cập, phân tích về kỹ năng tương tác mắt - mắt, cho rằng: Tương tác mắt-mắt là hình thức công nhận thông tin - một yếu tố rất quan trọng đối với trẻ RLPTK Tương tác mắt-mắt tạo sự gắn kết thân mật, liên kết trạng thái cảm xúc, tạo ra sự đồng cảm Theo quan điểm của tác giả luận văn, đây là kỹ năng quan trọng của trẻ RLPTK cần được chú trọng giáo dục, rèn luyện, bởi có được KN tương tác mắt - mắt trẻ RLPTK mới có thể tham gia được vào các hoạt động tương tác khác Thông qua các hoạt động chơi cụ thể, trẻ RLPTK sẽ tập trung cao độ vào việc quan sát và có những tương tác cần thiết bằng mắt

kỹ năng tương tác mắt - mắt là kỹ năng quan trọng hàng đầu ở trẻ 19 RLPTK

để thực hiện các hoạt động giao tiếp với mọi người, tạo điều kiện thuận lợi để trẻ hòa nhập

Kỹ năng bắt chước: Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy

Hằng, kỹ năng bắt chước của trẻ RLPTK là những hành động học theo, làm theo, cách làm của người khác Tác giả Nguyễn Phương Thảo cho rằng: Bắt chước là một hiện tượng xã hội học hoàn toàn hợp lý Đối với trẻ RLPTK, việc bắt chước giúp trẻ học hỏi được những điều cần thiết giúp phát triển não bộ Theo chúng tôi, trên cơ sở quan sát các động tác, hình ảnh video làm mẫu, trẻ RLPTK sẽ bắt chước lại một cách tương tự, có sự đổi mới nhất định trong một

số tình huống kỹ năng bắt chước được trẻ RLPTK học tương đối nhanh, hỗ trợ trẻ trong quá trình TTXH Dưới sự hướng dẫn của các video làm mẫu, trẻ sẽ lặp lại các động tác từ lời nói, đến cử chỉ, điệu bộ

Trang 29

Kỹ năng giao tiếp: Qua nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phương Thảo, kỹ

năng giao tiếp là khả năng truyền đạt thông tin, lắng nghe, trao đi và nhận lại phản hồi giữa chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp nhằm đạt được mục đích giao tiếp nhất định Theo quan điểm của chúng tôi, đối với trẻ RLPTK, kỹ năng giao tiếp là kỹ năng trẻ gặp khó khăn nhất do những khiếm khuyết về ngôn ngữ

và khả năng tương tác Trẻ RLPTK tận dụng mọi khả năng hiện có của bản thân

để tham gia vào quá trình giao tiếp

Kỹ năng đáp ứng: Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng quan niệm rằng kỹ

năng đáp ứng của trẻ RLPTK là khả năng hoàn thành theo đúng đòi hỏi, yêu cầu về một vấn đề nào đó phù hợp với khả năng của trẻ Tác giả Nguyễn Phương Thảo cho rằng: kĩ năng đáp ứng của trẻ RLPTK là khả năng hoàn thành công việc của trẻ theo mục tiêu đề ra Theo chúng tôi, trẻ RLPTK thường ít chú ý tới những yêu cầu của người lớn, các em thường thích làm theo ý thích của bản thân kỹ năng đáp ứng chính là việc trẻ có thể đáp ứng được với những cử chỉ, đáp ứng với những lời nói, việc gọi tên, thực hiện được một cách cơ bản những yêu cầu đó Trang bị, củng cố và phát triển kĩ năng đáp ứng cho trẻ RLPTK giúp trẻ tự tin hơn trong tham gia các hoạt động, tích cực hòa nhập

Kỹ năng bày tỏ mong muốn, cảm xúc: Theo tác giả Nguyễn Phương

Thảo: kĩ năng bày tỏ mong muốn, cảm xúc của trẻ RLPTK được thể hiện thông qua việc tập 20 trung vào cảm xúc và cảm nhận của bản thân về vấn đề, sự kiện,

mà không tập trung vào nội dung, tính chất của vấn đề, sự kiện đó Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng cho rằng: kĩ năng bày tỏ mong muốn, cảm xúc giúp trẻ RLPTK giải tỏa cảm xúc tiêu cực một cách an toàn, lành mạnh, không ảnh hưởng tới người khác trong giao tiếp Theo chúng tôi, trẻ có khả năng bày tỏ nhu cầu, mong muốn của bản thân với mọi người xung quanh Do bị rối loạn

về trạng thái cảm xúc khiến trẻ RLPTK gặp nhiều khó khăn trong thể hiện mong muốn, cảm xúc

Kỹ năng tự điều chỉnh: Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phương

Thảo, kĩ năng tự điều chỉnh là khả năng trẻ hãm mình và duy trì hành trình theo

Trang 30

đuổi mục tiêu hoặc khi hoàn thành nhiệm vụ Đồng thời, tác giả Nguyễn Phương Thảo cũng chỉ ra rằng: phần lớn trẻ em cho thấy sự tiến bộ nhanh chóng

về các kĩ năng tự điều chỉnh hành vi trong độ tuổi từ 3-7 tuổi, và tiếp tục kéo dài trong những năm học mầm non Qua nghiên cứu chúng tôi cho rằng, trẻ RLPTK gặp nhiều khó khăn trong kiểm soát tâm trạng, cảm xúc, do vậy mà trong nhiều trường hợp các em không thể kiểm soát được những hành động của bản thân, có những hành động bất thường, khiến cho quá trình tương tác với mọi người gặp khó khăn kỹ năng tự điều chỉnh sẽ giúp trẻ RLPTK kiểm soát được cảm xúc, tâm trạng của bản thân, tự điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với hoàn cảnh, tình huống

1.2.1.3 Ý nghĩa, vai trò của kỹ năng tương tác xã hội đối với trẻ rối loạn phổ tự kỉ 3-4 tuổi

Thứ nhất, ý nghĩa của kỹ năng tương tác xã hội

Kỹ năng nói chung và kỹ năng TTXH nói riêng có ý nghĩa quan trọng đối với trẻ RLPTK 3-4 tuổi trong hòa nhập cuộc sống và sự phát triển toàn diện của các em sau trong tương lai Bản thân trẻ có RLPTK đã chịu nhiều khiếm khuyết về mặt giao tiếp, ngôn ngữ, do vậy khiến cho quá trình tiếp xúc, hòa nhập của các em với bạn bè, thầy cô rất khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả học tập, rèn luyện của trẻ Chính vì vậy, ý nghĩa quan trọng mang tính bao trùm của kỹ năng TTXH đối với “trẻ RLPTK 3-4 tuổi chính là giúp trẻ có cơ hội, điều kiện để tham gia vào các mối quan hệ xã hội, hình thành tổng hòa các mối quan hệ xã hội, tạo nên bản chất tâm lý con người theo đúng nghĩa Bởi vì, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội, con người phải tham 21 gia vào các quan hệ xã hội mới có thể phát triển toàn diện về mọi mặt Không chỉ vậy, kỹ năng TTXH còn có ý nghĩa trong việc giúp trẻ RLPTK tồn tại và phát triển nhân cách

Cùng với đó, qua các hoạt động tương tác, giao tiếp trẻ RLPTK có điều kiện trải nghiệm, tiếp thu, lĩnh hội các giá trị văn hóa tinh thần trong nền văn hóa xã hội; các giá trị tốt đẹp của đạo đức xã hội Trên cơ sở đó, góp phần hình

Trang 31

thành phẩm chất nhân cách, đạo đức, hành vi, thói quen chuẩn mực Tóm lại,

kỹ năng TTXH có ý nghĩa to lớn trong tạo nền tảng và từng bước hình thành, phát triển nhân cách cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi Ngoài ra, kỹ năng TTXH còn giúp trẻ RLPTK có khả năng đánh giá và tự điều chỉnh mọi hành vi, cảm xúc của bản thân sao cho phù hợp với hoàn cảnh”, góp phần định hướng bản thân trong mọi tình huống Nhờ kỹ năng TTXH mà trẻ RLPTK khắc phục hiệu quả những khiếm khuyết của bản thân, có thể nhận thức được các vấn đề xung quanh, tạo sự liên kết với mọi người, duy trì, phát triển các mối quan hệ, làm giàu cảm xúc, tình cảm của bản thân

Thứ hai, vai trò của kỹ năng tương tác xã hội

Đối với trẻ bình thường, kỹ năng TTXH có vai trò quan trọng giúp trẻ thành công hơn trong cuộc sống, đối với trẻ RLPTK thì kỹ năng TTXH lại càng

có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp trẻ RLPTK thuận lợi trong hòa nhập với xã hội, từ đó có điều kiện để hoàn thiện về phẩm chất nhân cách, trở thành người

có ích cho xã hội Như vậy, phải khẳng định rằng, kỹ năng TTXH có vai trò rất quan trọng đối với trẻ RLPTK, nó giúp cho trẻ RLPTK hòa nhập với xã hội

1.2.2 Giáo dục kĩ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi

1.2.2.1 Khái niệm phát triển kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi

Ở góc độ tâm lý học, tác giả Trần Trọng Thủy xem kĩ năng như kĩ thuật của hành động, là phương thức thực hiện hành động

Theo cách tiếp cận mô hình định nghĩa thành phần (Foster & Ritchey, 1979; Hersen & Bellack, 1977; McFall, 1982 và Scack, 1992), KN TTXH được hiểu là những đơn vị có thể quan sát được của hành vi lời nói và phi lời nói, có được do việc học, khi được kết hợp lại, có thể tăng cường những tương tác thành công trong những tình huống cụ thể Đây là định nghĩa được sử dụng tương đối rộng rãi, nhất là trong lĩnh vực tâm lí, tâm bệnh học và giáo dục để xây dựng các chiến lược luyện tập, hình thành KNTTXH cho học sinh

Trang 32

1.2.2.2 Mục tiêu phát triển kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ

tự kỷ 3-4 tuổi

Theo Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT về Chương trình giáo dục Mầm non ban hành ngày 13 tháng 04 năm 2021 trên cơ sở hợp nhất nội dung Chương trình giáo dục mầm non theo Thông tư 51 và Chương trình giáo dục mầm non

theo Thông tư 28 xác định mục tiêu giáo dục mầm non: “Mục tiêu của giáo dục

mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời”

Trên cơ sở mục tiêu Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định đối với giáo dục mầm non, việc phát triển kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi nhằm mục tiêu giúp trẻ nắm vững và sử dụng hiệu quả các kỹ năng TTXH trong quá trình tương tác với mọi người xung quanh để giải quyết các vấn đề đặt ra hàng ngày một cách hiệu quả, như: Chú ý, nghe, thực hiện các yêu cầu bằng lời nói,

cử chỉ, hành động, bắt chước, để giao tiếp, tương tác với những người xung quanh, tạo cơ sở nền tảng cho quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách, phát triển các kỹ năng sống, hòa nhập hiệu quả vào đời sống xã hội

1.2.2.3 Nội dung phát triển kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3-4 tuổi

Theo Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT xác định rõ yêu cầu về nội dung

giáo dục mầm non, đó là: 1) “Bảo đảm tính khoa học, tính vừa sức và nguyên

tắc đồng tâm phát triển từ dễ đến khó; bảo đảm tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn

bị cho trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống 2)Phù hợp với sự phát triển tâm

lý, sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ

Trang 33

em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ em biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn,

tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học”

Trên cơ sở nội dung giáo dục mầm non của Bộ giáo dục và Đào tạo xác định, việc xác định nội dung phát triển kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK cũng phải tuân thủ theo mục tiêu trên Theo đó, kỹ năng TTXH bao gồm nhiều nội dung cụ thể, nói cách khác kỹ năng này bao gồm các kỹ năng cụ thể giúp trẻ thuận lợi trong tương tác với mọi người xung quanh Thực tiễn cho thấy, khi tham gia vào các hoạt động ở trường, ở lớp trẻ phải tiếp xúc và giải quyết nhiều vấn đề đăt ra Đặc biệt, nhu cầu giao tiếp, tương tác với bạn bè, thầy cô là nhu cầu đặt ra trực tiếp đối với trẻ RLPTK 3-4 tuổi Các hoạt động tương tác của trẻ RLPTK diễn ra ở trường, ở lớp với các đối tượng xung quanh tương đối đa dạng; trẻ có thể tương tác với bạn bè trong lớp, tương tác với thầy cô trong những bối cảnh khác nhau Trong đó, hoạt động tương tác của trẻ RLPTK với bạn bè, thầy cô diễn ra nhiều thông qua các hoạt động chơi Trẻ RLPTK tương tác với bạn bè, thầy cô để đảm bảo các yêu cầu cơ bản của trò chơi, luật chơi, cách chơi, nhằm đạt được mục đích trong thực hiện các trò chơi Do đó, để thực hiện được các yêu cầu trên đòi hỏi trẻ RLPTK cần phải có những kỹ năng nhất định để thực hiện TTXH Đối với một hoạt động TTXH thay đổi giúp trẻ RLPTK có nhiều kỹ năng, ngược lại nhiều kỹ năng sẽ được vận dụng vào trong một hoạt động cụ thể

Thực tiễn cho thấy, dù hoạt động TTXH diễn ra với bất kỳ đối tượng nào, trong hoạt động và hoàn cảnh nào thì cũng cần trẻ có những kỹ năng cơ bản, như: Kỹ năng tương tác mắt - mắt; Kỹ năng bắt chước; Kỹ năng giao tiếp;

Kỹ năng đáp ứng; Kỹ năng bày tỏ mong muốn, cảm xúc; Kỹ năng tự điều chỉnh;

Kỹ năng lắng nghe - phản hồi

1.2.2.4 Cách thức giáo dục kỹ năng tương tác xã hội cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ

Trang 34

Giáo dục kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi cần sự quan tâm thường xuyên của GV và bậc phụ huynh, nhằm tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất

để trẻ phát triển KN này hiệu quả Tuy nhiên, để giáo dục kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK cần phải thực hiện theo cách thức khoa học, với những nội dung cụ thể Qua quá trình nghiên cứu, tham khảo các tài liệu có liên quan, chúng tôi đưa ra cách thức phát triển kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi như sau:

Tổ chức các hoạt động can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập với mục tiêu tạo sự gắn kết, khắc phục những khiếm khuyết của trẻ RLPTK, đồng thời tạo

ra cơ hội cho trẻ tương tác với môi trường xung quanh; phát huy những điểm mạnh vốn có của trẻ, 24 giúp các em tham gia vui chơi một cách tự nhiên, vui

vẻ, tửng bước hòa đồng, hòa nhập với bạn bè, thầy cô Trên cơ sở đó, xuất hiện nhu cầu tương tác ở trẻ, thông qua các hoạt động tương tác đa dạng, phong phú

sẽ giúp trẻ RLPTK có cơ hội được luyện tập và phát triển kỹ năng TTXH

Thường xuyên “tổ chức các hoạt động vui chơi thiết thực, phù hợp với trẻ RLPTK 3-4 tuổi, thông qua đó giúp trẻ có điều kiện rèn luyện, phát triển KN nhận thức, như giải quyết vấn đề, sắp xếp thứ tự, bắt chước Đặc biệt, thông qua các hoạt động vui chơi một cách tự nhiên, hấp dẫn trẻ RLPTK 3-4 tuổi sẽ có nhiều điều kiện, cơ hội để phát triển ngôn ngữ, vận động, phát triển kỹ năng TTXH, nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân về môi trường xung quanh

Chú trọng tổ chức các hoạt động trải nghiệm thực tiễn tại gia đình trong sinh hoạt hàng ngày nhằm phát triển các mối quan hệ tương tác giữa trẻ RLPTK với các thành viên trong gia đình Đồng thời, tăng cường mối quan hệ tác động giữa trẻ RLPTK với các đồ dùng, đồ chơi trong gia đình để tạo điều kiện, môi trường cho trẻ tìm hiểu, tư duy, nâng cao nhận thức và xuất hiện các nhu cầu tương tác Thực tiễn cho thấy, ngoài thời gian học tập, rèn luyện ở lớp, ở trường, thời gian ở nhà của trẻ rất nhiều; trẻ RLPTK học được rất nhiều các kỹ năng TTXH ở nhà, do vậy phụ huynh cần tạo điều kiện thuận lợi để trẻ tham gia nhiều vào các hoạt động tương tác, giúp các em phát triển kỹ năng TTXH GV

Trang 35

cần phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để tạo môi trường thuận” lợi rèn luyện kỹ năng TTXH cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi

Tổ chức nhiều các hoạt động xã hội với các nội dung, hình thức phong phú, đa dạng để phát triển kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi Các hoạt động xã hội có vai trò quan trọng trong tạo điều kiện, cơ hội giúp trẻ RLPTK xuất hiện nhu cầu giao tiếp, tương tác, đồng thời được tham gia trải nghiệm thực tiễn tương tác với nhiều đối tượng khác nhau Các hoạt động xã hội không chỉ giúp cho trẻ RLPTK được tham gia vào quá trình tương tác, giao tiếp, mà còn góp phần khắc phục hiệu quả những khiếm khuyết của trẻ về vấn đề cảm xúc, hành vi, tính cách, Nội dung trọng tâm để tổ chức hiệu quả các hoạt động

xã hội đó là nhà trường cần có cách thức tổ chức phù hợp nhằm huy động cao nhất các nguồn lực phục vụ cho mục tiêu phát triển kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi, như: Nguồn tài chính, kiến thức, kinh nghiệm trong can thiệp sớm và giáo dục hòa nhập, hệ thống cơ sở vật chất, đồ dùng, phục vụ cho phát triển kỹ năng TTXH

1.3 Lý luận về hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non hoà nhập

Trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong việc chơi, vì trẻ có khiếm khuyết trong giao tiếp, tương tác xã hội và hành vi rập khuôn Chơi là một phương tiện trung gian nhằm giúp trẻ phát triển kỹ năng nhận thức như giải quyết vấn đề, sắp xếp thứ

tự và bắt chước Chơi cũng hỗ trợ sự phát triển của ngôn ngữ, kỹ năng vận động, tương tác xã hội và hiểu biết và giao tiếp với người khác Trẻ tự kỷ thường

có các rối loạn giác quan nên chơi và đồ chơi có thể giúp cho trẻ điều hòa các giác quan

1.3.1 Xác định khả năng chơi của trẻ RLPTK 3-4 tuổi

Mức độ phát triển kỹ năng chơi

- Chơi tạo cảm giác và thăm dò: Trẻ bỏ đồ chơi vào miệng, vẫy, ném, đập đồ chơi lặp đi lặp lại hoặc dành nhiều thời gian lật úp hoặc thao tác đồ vật một cách rập khuôn

Trang 36

- Chơi quan hệ : Như đập đồ vật với nhau, xếp hàng đồ vật bên cạnh nhau, phân loại đồ vật hoặc chơi xây dựng như tập hợp hay tháo rời, hoặc nối kết các mảnh của một đồ vật

- Chơi chức năng: Trẻ dùng đồ vật với chủ đích như đẩy xe hoặc đặt tách vào miệng

- Chơi biểu tượng/tưởng tượng: Tưởng tượng đồ vật vô tri vô giác( ví dụ: búp bê và thú nhồi bông) và khả năng giả vờ (áp một khối gỗ vào tai và giả vờ

là điện thoại) Tuy nhiên, các nghiên cứu trẻ tự kỷ cho thấy trẻ kém khả năng

phát triển trò chơi biểu tượng

- Chơi hợp tác: Ở mức độ này trẻ chứng tỏ khả năng hợp tác trong một chuỗi trò chơi với các bạn Chơi xã hội phát triển từ chơi luân phiên với người lớn như chơi trốn tìm, đuổi bắt… Trẻ tự kỷ khó chơi hợp tác vì sự khiếm khuyết

xã hội và giao tiếp

1.3.2 Phát triển kỹ năng chơi ở mỗi hoạt động chơi thông qua đó giúp cho việc giáo dục KN TTXH cho trẻ RLPTK từ 3-4 tuổi tại trường mầm non hoà nhập

Đối với chơi tạo cảm giác: Động viên trẻ thám hiểm môi trường chơi bằng cách củng cố việc cầm và quan sát đồ chơi, rồi thực hiện một số thao tác đơn giản với đồ vật bằng một tay, trong khi làm một cử chỉ khác với tay kia (ví dụ: vịn tủ trong nhà búp bê trong khi mở và đóng cửa)

Trang 37

Đối với chơi quan hệ: Củng cố trò chơi nối kết hai vật hoặc những phần khác nhau của một đồ vật Ví dụ: đập các đồ vật với nhau; xếp hàng, cặp đôi hoặc tập hợp những đồ vật cùng loại

Đối với chơi chức năng: Chơi chức năng đơn giản – Dạy trẻ dùng một

đồ vật với một chủ đích (ví dụ: đẩy xe tải quanh phòng, chạm cốc để lên miệng như để uống “khà”, cho búp bê ăn…)

Chơi chức năng phức tạp – Trẻ được dạy cách thực hiện tối thiểu hai hành động để tạo một tác động (ví dụ: đẩy hộp đồ chơi, nhắm mắt và nhấn nút…)

Đối với chơi tưởng tượng: Chơi tưởng tượng đơn giản: dùng một đồ vật tượng trưng cho một vật khác, như dùng khối tượng trưng cho xe lửa, ghế tượng trưng cho ngựa…Chơi tưởng tượng đơn giản, hành động trên người khác (ví dụ: cho búp bê uống sữa…)

Chơi tiêu biểu: bằng cách dùng tối thiểu 2 hành động trên bản thân.Vd: giả vờ rót nước và uống bằng ly; đội nón và đẩy xe tải chứa đồ chơi quanh nhà,

chất khối lên xe rồi đổ khối xuống khi xe dừng lại…

1.3.3 Giáo dục KN TTXH thông qua hoạt động chơi cho trẻ RLPTK từ 3-4 tuổi tại trường mầm non hoà nhập

- Đối với chơi một mình:

Nguyên tắc chính là hỗ trợ trẻ tương tác với người khác: Người chăm sóc ngồi bên cạnh trẻ cố gắng gây sự chú ý của trẻ đang chơi bằng cách bắt chước hành động và âm thanh của trẻ, hoặc chơi với một đồ vật trẻ thích và giúp trẻ tham gia chơi khi trẻ đến gần để lấy lại món đồ chơi.Người lớn chơi ở tầm mức của trẻ với những đồ chơi trẻ thích như: Nước/cát, khối, âm nhạc…

- Đối với chơi song song: Nguyên tắc chính ở giai đoạn này là giới thiệu trò chơi khám phá và xã hội nhiều hơn Vd: Chia sẻ sự chú ý liên kết, đáp ứng với những nhu cầu cơ bản, động viên chơi luân phiên

Ví dụ: Bố trí một cặp người lớn với trẻ ngồi cạnh một cặp người lớn và trẻ khác Mỗi cặp chơi giống nhau, và người lớn kéo sự chú ý của trẻ qua cách chơi

Trang 38

của cặp kia Khuyến khích mọi cố gắng của trẻ quan tâm và chia sẻ sinh hoạt với cặp kia

- Đối với chơi hợp tác: Được phân ra nhiều bước cụ thể Một trong những nguyên tắc khi chơi với trẻ tự kỷ ở giai đoạn này là nới rộng nhu cầu tương tác với người khác; động viên sự chọn lựa; tiếp tục nhấn mạnh chia sẻ chú ý liên kết; phát triển kỹ năng đương đầu với việc thay đổi sinh hoạt/chuyển tiếp; và chờ đến phiên

Ví dụ: Giới thiệu sinh hoạt nhóm như hát/chơi nhạc, chơi nước/cát, trò chơi xây dựng chung Dùng lời nói đơn giản và/hoặc công cụ nhìn để minh họa những hành động trẻ cần thực hiện trong sinh hoạt, làm mẫu cho trẻ xem Dùng

“rổ xong rồi” để cho trẻ biết khi nào kết thúc trò chơi

*Một số đồ chơi dành cho trẻ RLPTK:

Đồ chơi hấp dẫn về thị giác: điểm mạnh của trẻ tự kỷ là học bằng thị giác, vì vậy những đồ chơi, đồ vật hấp dẫn về thị giác có kết hợp với chuyển động và âm thanh kết hợp vận động của tay đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển chú ý chung của trẻ tự kỷ Một số ví dụ về đồ chơi:

– Tranh ảnh (ánh chụp, lô tô, sách tranh, truyện, tranh chủ đề…)

1.3.4 Ý nghĩa, vai trò của hoạt động chơi trong giáo dục kỹ năng TTXH cho trẻ RLPTK từ 3-4 tuổi tại trường mầm non hoà nhập

Trang 39

- Hoạt động chơi chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của trẻ mầm non,

do đó hoạt động chơi được coi là một trong những phương tiện giáo dục quan trọng của trẻ Những hoạt động chơi được quy định bởi nội dung và luật của trò chơi, đồng thời, đạt được một mục đích cụ thể đặt ra trước khi chơi, như rèn luyện kỹ năng vận động, phát triển KN TTXH,… Hoạt động chơi có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển toàn diện của trẻ RLPTK về thể chất, tinh thần, đạo đức, tâm lý, trí tuệ, thẩm mỹ, cụ thể:

Về thể chất: Khi tham gia trò chơi, trẻ thường tăng cường vận động giúp cho các cơ quan trong toàn bộ cơ thể được vận động tích cực, thúc đẩy quá trình trao đổi chất, tăng cường hô hấp và tuần hoàn máu,… giúp trẻ tăng cường sức khỏe, phòng chống các bệnh tật một cách hiệu quả Tuy nhiên, trong tham gia các hoạt động chơi cũng cần ở mức vừa phải, tránh việc để trẻ vận động quá sức, tư thế vận động không đúng cách

Về tinh thần: Khi tham gia các trò chơi trẻ sẽ cảm nhận được sự vui vẻ, tinh thần thoải mái, sáng khoái, điều này kích thích, tạo động lực để phát triển các yếu tố khác cho trẻ như về thể chất, trí tuệ Các hoạt động chơi đều có đặc trưng bao trùm là sự vui vẻ, thoải mái, trẻ tham gia các trò chơi sẽ mang lại cho trẻ tinh thần tích cực, luôn cảm thấy thoải mái, yêu đời, tích cực tham gia các hoạt động học tập, rèn luyện bản thân

Về đạo đức: Trò chơi có ý nghĩa quan trọng đối với nâng cao nhận thức, hình thành thái độ, hành vi đạo đức đúng đắn cho trẻ Trong quá trình tham gia vào các trò chơi, trẻ được trải nghiệm những hoàn cảnh, thái độ, tình cảm đạo đức và hành vi ứng xử với mọi người xung quanh thông qua cách nhập vai của mình, qua đó trẻ học được những cách ứng xử chuẩn mực Tham gia cùng nhóm bạn chơi, trẻ biết cách sống vì tập thể, biết sẻ chia, hành động vì mục đích chung Qua tham gia các trò chơi cũng giúp trẻ hình thành hành vi xã hội, phẩm chất đạo đức quý giá, đúng đắn Qua chơi trẻ cũng được giáo viên dạy những quy tắc, hành vi ứng xử chuẩn mực; trẻ được trau dồi một số phẩm chất như: Lòng dũng cảm, tính trung thực, kiên nhẫn, tính chủ động Phải khẳng định

Trang 40

rằng, trò chơi có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp trẻ hình thành các phẩm chất đạo đức, các chuẩn mực xã hội

Về tâm lý nhận thức: Quá trình tham gia trò chơi còn giúp trẻ phát triển các quá trình tâm lý nhận thức, như: Cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ Trong quá trình tham gia vào các trò chơi, giúp trẻ củng cố

và chính xác hóa về các cảm giác hình dạng, kích thước, màu sắc, đồng thời trí tưởng tượng của trẻ cũng phát triển mạnh Với sự thay đổi đồ vật, đóng các vai khác nhau, nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng,… trong khi tham gia các trò chơi giúp trẻ có điều kiện phát triển trí tưởng tượng Qua học cách giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề đặt ra, tìm kiếm phương tiện thích hợp để thực hiện dự định giúp trẻ phát triển tư duy Ngoài ra, qua vui chơi còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ một cách thuận lợi do trẻ luôn cần sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với bạn, trao đổi các suy nghĩ của bản thân

Về trí tuệ: Các trò chơi chủ yếu phản ánh lại các hoạt động của thế giới xung quanh trẻ, gần gũi với cuộc sống đời thường, do đó qua các trò chơi mà trẻ hiểu sâu sắc hơn cuộc sống xung quanh Những điều trẻ lĩnh hội được trước đây dưới dạng hoạt động sẽ được chính xác hóa hơn, phong phú hơn Thông qua trò chơi, giúp trẻ thiết lập những mối liên hệ mới thông qua những tri thức

mà trẻ đã nắm được trước đây, trẻ cũng bắt đầu tập cách điều khiển những tri thức đó Đây cũng là điều đã được K.Đ Usinxki nhấn mạnh: Chúng tự làm chủ những điều mà chúng biết

Về thẩm mỹ: Khi tham gia vào các trò chơi, trẻ có điều kiện cảm nhận được cái đẹp ở sự phong phú, đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, âm thanh của đồ vật, đồ chơi Đặc biệt, trong quá trình tham gia trò chơi, trẻ cảm nhận được vẻ đẹp trong giao tiếp, trong hành vi, ứng xử của các mối quan hệ giữa người với người, giữa người với thế giới hiện thực Điều này góp phần bồi dưỡng tính thẩm mỹ cho trẻ trong cuộc sống

- Vai trò của hoạt động chơi trong giáo dục KN TTXH cho trẻ RLPTK 3-4 tuổi được thể hiện trên một số nội dung chủ yếu sau:

Ngày đăng: 04/09/2025, 14:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. KN TTXH của trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường MGHN qua đánh - Khóa luận tốt nghiệp Chính trị, Tâm lý và Giáo dục thể chất: Giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non An Thắng, An Lão, Thành phố Hải Phòng
Bảng 2.2. KN TTXH của trẻ RLPTK 3-4 tuổi ở trường MGHN qua đánh (Trang 52)
Bảng 2.5. Đánh giá của giáo viên và phụ huynh về ý nghĩa của giáo dục - Khóa luận tốt nghiệp Chính trị, Tâm lý và Giáo dục thể chất: Giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non An Thắng, An Lão, Thành phố Hải Phòng
Bảng 2.5. Đánh giá của giáo viên và phụ huynh về ý nghĩa của giáo dục (Trang 59)
Bảng 2.7. Đánh giá của giáo viên và phụ huynh về nội dung sử dụng hoạt - Khóa luận tốt nghiệp Chính trị, Tâm lý và Giáo dục thể chất: Giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non An Thắng, An Lão, Thành phố Hải Phòng
Bảng 2.7. Đánh giá của giáo viên và phụ huynh về nội dung sử dụng hoạt (Trang 65)
Bảng 2.8. Thuận lợi của giáo viên khi sử dụng hoạt động chơi giáo dục kỹ - Khóa luận tốt nghiệp Chính trị, Tâm lý và Giáo dục thể chất: Giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non An Thắng, An Lão, Thành phố Hải Phòng
Bảng 2.8. Thuận lợi của giáo viên khi sử dụng hoạt động chơi giáo dục kỹ (Trang 67)
Bảng 2.9. Khó khăn của giáo viên khi sử dụng hoạt động chơi giáo dục kỹ - Khóa luận tốt nghiệp Chính trị, Tâm lý và Giáo dục thể chất: Giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non An Thắng, An Lão, Thành phố Hải Phòng
Bảng 2.9. Khó khăn của giáo viên khi sử dụng hoạt động chơi giáo dục kỹ (Trang 69)
Hình thức - Khóa luận tốt nghiệp Chính trị, Tâm lý và Giáo dục thể chất: Giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non An Thắng, An Lão, Thành phố Hải Phòng
Hình th ức (Trang 97)
1. Hình thức các tiết học cá - Khóa luận tốt nghiệp Chính trị, Tâm lý và Giáo dục thể chất: Giáo dục kỹ năng tương tác xã hội thông qua hoạt động chơi cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ từ 3 - 4 tuổi tại trường mầm non An Thắng, An Lão, Thành phố Hải Phòng
1. Hình thức các tiết học cá (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w