1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học: Ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự biến đổi tương tác xã hội của sinh viên ngành công tác xã hội Trường Đại học Hải Phòng

51 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự biến đổi tương tác xã hội của sinh viên ngành Công tác xã hội Trường Đại học Hải Phòng
Tác giả Vũ Thị Lan, Nguyễn Thị Thảo, Bùi Thị Thúy
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Huệ
Trường học Trường Đại học Hải Phòng
Chuyên ngành Công tác xã hội
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2024-2025
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA TÂM LÝ – CHÍNH TRỊ VÀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA HỘI NGHỊ SINH VIÊN NCKH NĂM HỌC 2024-2025 ẢNH HƯỞNG VIỆC SỬ DỤNG ĐIỆN TH

Trang 1

ẢNH HƯỞNG VIỆC SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH ĐẾN

SỰ BIẾN ĐỔI TƯƠNG TÁC XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN NGÀNH CTXH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

Thuộc Tiểu ban: Khoa học xã hội

Trang 2

KHOA TÂM LÝ – CHÍNH TRỊ VÀ GIÁO DỤC THỂ CHẤT

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN THAM GIA HỘI NGHỊ SINH VIÊN NCKH NĂM HỌC 2024-2025

ẢNH HƯỞNG VIỆC SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH ĐẾN

SỰ BIẾN ĐỔI TƯƠNG TÁC XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN NGÀNH CTXH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

Thuộc Tiểu ban: Khoa học xã hội

Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Lan Nam, nữ: Nữ

Dân tộc: Kinh

Lớp, Khoa: Khoa Tâm lý - Chính trị và Giáo dục thể chất

Năm thứ: 2/ Số năm đào tạo: 3,5 năm

Ngành học: Công tác xã hội

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Huệ

Trang 3

MỤC LỤC

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

1.1 Lý do lý luận 1

1.2 Lý do thực tiễn 2

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3

7 Các phương pháp nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 7

1.1 Các khái niệm cơ bản 7

1.2 Vai trò của điện thoại thông minh với các hoạt động của sinh viên 7

1.3 Các loại tương tác xã hội 9

1.3.1 Phân loại tương tác xã hội theo cấp độ 9

1.4 Ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự thay đổi tương tác xã hội của sinh viên trong mối quan hệ giao tiếp với bạn bè và giảng viên 10

1.4.1 Ảnh hưởng tích cực 10

1.4.2 Ảnh hưởng tiêu cực 11

1.5 Đặc điểm tâm lý, nhân cách của sinh viên liên quan đến vấn đề biến đổi tương tác xã hội 13

Tiểu kết chương 1 13

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH Ở SINH VIÊN 15

2.1 Khái quát chung về đối tượng khảo sát 15

2.2.2 Lý do sử dụng điện thoại với tần suất cao 17

2.3 Vai trò của điện thoại thông minh trong đời sống sinh viên 18

2.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến tương tác xã hội của sinh viên 21

2.4.1 Sinh viên ít nói chuyện trực tiếp với bạn bè, thầy cô hơn trước 22

2.4.2 Dễ mất tập trung khi đang nói chuyện với người khác 25

2.4.3 Cảm thấy ngại ngùng, thậm chí lúng túng khi giao tiếp trực tiếp 27

2.4.4 Tham gia ít hơn vào các hoạt động tập thể 29

2.4.5 Thích kết bạn online hơn là gặp gỡ ngoài đời 31

2.4.6 Giảm khả năng duy trì sự tập trung trong học tập 32

2.5 Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng điện thoại thông minh cho sinh viên 35

Trang 4

Tiểu kết chương 2 40

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42

1 Kết luận 42

2 Kiến nghị 43

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thời gian sử dụng điện điện thoại của sinh viên 16 Bảng 2.2 Vai trò của điện thoại thông minh với sinh viên (%) 18

Trang 6

Điện thoại thông minh không còn đơn thuần là công cụ nghe gọi, mà đã trở thành một "thiết bị tổng hợp" phục vụ nhiều mục đích như: học tập, giải trí, tra cứu thông tin, kết nối mạng xã hội, giao tiếp nhanh chóng qua các ứng dụng nhắn tin và gọi điện miễn phí Với sự tiện lợi và tốc độ kết nối cao, điện thoại thông minh giúp người dùng rút ngắn khoảng cách không gian, thời gian, đồng thời mở rộng mạng lưới quan hệ và tiếp cận thế giới thông tin một cách dễ dàng

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích rõ rệt, việc sử dụng điện thoại thông minh cũng đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt là trong lĩnh vực tương tác xã hội Việc giao tiếp qua màn hình tuy nhanh và thuận tiện, nhưng lại thiếu đi cảm xúc,

sự chân thành và chiều sâu trong mối quan hệ Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước

đã chỉ ra rằng, việc sử dụng điện thoại thông minh quá mức hoặc không hợp lý có thể làm giảm thời gian và chất lượng của các cuộc trò chuyện trực tiếp, ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp, sự gắn kết xã hội cũng như khả năng thấu cảm của người sử dụng

Sinh viên – nhóm đối tượng trẻ, nhạy cảm với công nghệ, đồng thời cũng là lực lượng quan trọng trong sự phát triển của xã hội tương lai – chính là những người chịu tác động mạnh mẽ nhất từ xu hướng này Việc quá phụ thuộc vào điện thoại có thể khiến sinh viên mất dần thói quen giao tiếp trực tiếp, hạn chế khả năng xử lý tình huống trong môi trường thực tế, dẫn đến suy giảm các kỹ năng xã hội cần thiết cho học tập và nghề nghiệp Đây là vấn đề không thể bỏ qua, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục hiện đại đang hướng đến việc phát triển toàn diện kỹ năng cho sinh viên, không chỉ về chuyên môn mà còn về năng lực giao tiếp, ứng xử và hòa nhập cộng đồng

Trang 7

1.2 Lý do thực tiễn

Trong thực tế đời sống học đường, có thể dễ dàng nhận thấy hiện tượng sinh viên

sử dụng điện thoại thông minh ở mọi lúc, mọi nơi – từ hành lang lớp học, khu vực căn tin đến phòng học hay thư viện Thay vì trò chuyện trực tiếp với bạn bè, nhiều sinh viên lựa chọn việc nhắn tin, lướt mạng xã hội hay xem video trên điện thoại Hình thức giao tiếp gián tiếp này ngày càng phổ biến, làm giảm đáng kể số lượng cũng như chất lượng các mối quan hệ xã hội thực tế

Tại Trường Đại học Hải Phòng, sinh viên ngành Công tác xã hội – đặc biệt là sinh viên năm nhất - đang ở vào giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách và phát triển các mối quan hệ xã hội Đây là thời điểm mà các em cần học cách thích nghi với môi trường học tập mới, xây dựng những mối quan hệ bạn bè, thầy cô, đồng thời rèn luyện kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm và xử lý các tình huống xã hội Tuy nhiên, với sự hiện diện ngày càng "áp đảo" của điện thoại thông minh, sinh viên

có xu hướng dành nhiều thời gian hơn cho không gian mạng, dẫn đến việc ít tham gia các hoạt động giao tiếp trực tiếp hoặc gặp khó khăn khi xây dựng mối quan hệ thực sự ngoài đời

Điều này càng trở nên đáng lo ngại hơn khi xét đến đặc thù của ngành Công tác

xã hội – một ngành nghề đòi hỏi cao về năng lực tương tác với con người, khả năng lắng nghe, thấu cảm, ứng xử linh hoạt và thích nghi với các môi trường xã hội đa dạng Nếu sinh viên không được rèn luyện đầy đủ kỹ năng giao tiếp thực tế, thì trong tương lai, khi bước vào môi trường làm việc, các em có thể gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, hỗ trợ và làm việc với đối tượng - vốn là trọng tâm của ngành nghề này Chính vì vậy, việc nghiên cứu "Ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự biến đổi trong tương tác xã hội của sinh viên ngành Công Tác Xã Hội Trường Đại học Hải Phòng" không chỉ mang ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc Thông qua nghiên cứu, nhóm thực hiện hy vọng có thể nhìn nhận rõ hơn thực trạng sử dụng điện thoại thông minh của sinh viên, những ảnh hưởng cụ thể đến

kỹ năng tương tác xã hội, từ đó đưa ra những đề xuất giúp sinh viên sử dụng công nghệ một cách hợp lý, hiệu quả và cân bằng hơn với việc phát triển kỹ năng xã hội – một yếu tố nền tảng cho sự phát triển cá nhân và nghề nghiệp lâu dài

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực trạng về ảnh hưởng của điện thoại thông minh đối với sự biến đổi tương tác xã hội của sinh viên năm nhất ngành CTXH, trường Đại học Hải Phòng; Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả của việc sử dụng điện thoại thông minh đối với tương tác xã hội trong hoạt động học tập của sinh viên

3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong những năm gần đây, việc sử dụng điện thoại thông minh (ĐTTM) đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của sinh viên đại học Việc sử dụng thiết bị này không chỉ phục vụ nhu cầu học tập mà còn chiếm phần lớn thời gian cho việc giải trí và giao tiếp hàng ngày Chính vì vậy, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của điện thoại thông minh đến sự biến đổi tương tác xã hội trong cộng đồng sinh viên

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phan Thị Minh Phương (2019), trong luận văn Thạc sĩ “Ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến quan hệ xã hội của sinh viên Đại học Mở TP.HCM”, chỉ ra rằng sinh viên dành trung bình hơn 4 giờ mỗi ngày cho điện thoại, trong khi thời gian dành cho việc trò chuyện trực tiếp với gia đình

và bạn bè lại khá hạn chế Nghiên cứu này đã cảnh báo về nguy cơ giảm chất lượng tương tác xã hội giữa sinh viên và những người xung quanh

Tương tự, một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Trần Thị Lan Phương và Nguyễn Tiến Dũng, được công bố trên Tạp chí Y học Dự phòng năm 2024, khảo sát ảnh hưởng của điện thoại thông minh đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên ngành y tại Trường Đại học Y Dược Hải Phòng Kết quả cho thấy việc sử dụng điện thoại thông minh quá mức đã làm giảm khả năng giao tiếp trực tiếp và ảnh hưởng đến sự gắn kết

xã hội của sinh viên

Những nghiên cứu trên đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc sử dụng điện thoại thông minh với sự thay đổi trong cách sinh viên tương tác xã hội Điều này đặt ra nhu cầu nghiên cứu để hiểu rõ hơn về tác động của điện thoại thông minh đối với các mối quan

hệ xã hội trong môi trường đại học, khi mà công nghệ ngày càng ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống sinh viên

Điểm khác biệt trong đề tài của chúng tôi là tập trung vào sinh viên ngành Công tác xã hội K25 – những người vốn yêu cầu kỹ năng giao tiếp trực tiếp phải thật tốt để phục vụ công việc sau này Thế nhưng, thực tế lại cho thấy nhiều sinh viên ngày càng

Trang 9

phụ thuộc vào điện thoại, dẫn đến khả năng giao tiếp trực tiếp giảm sút Đây là một vấn đề cần được quan tâm đặc biệt vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nghề nghiệp tương lai của các bạn

4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Khách thể của đề tài là sinh viên năm nhất ngành Công tác Xã hội Trong khuôn khổ nghiên cứu, nhóm thực hiện lựa chọn khảo sát 97 sinh viên năm nhất của ngành này Việc chọn số lượng như vậy nhằm phản ánh đúng số lượng sinh viên thực tế, đảm bảo

độ tin cậy trong thu thập dữ liệu và tránh tính hình thức khi sử dụng con số tròn

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là ảnh hưởng của điện thoại thông minh đến sự biến đổi trong tương tác xã hội của sinh viên Đề tài tập trung làm rõ mối liên hệ giữa việc sử dụng điện thoại thông minh và những thay đổi trong:

• Quá trình học tập: như khả năng tập trung, thái độ học tập, mức độ tham gia vào hoạt động nhóm

• Giao tiếp và tương tác xã hội: như tần suất trò chuyện trực tiếp, chất lượng các mối quan hệ, mức độ kết nối với bạn bè và cộng đồng xung quanh

4.3 Phạm vi nghiên cứu

• Về đối tượng: Sinh viên khóa 25 ngành Công tác Xã hội, Đại học Hải Phòng

• Về số lượng: Gồm 97 sinh viên được chọn từ tổng số sinh viên năm nhất, nhằm đảm bảo tính đại diện và phù hợp với quy mô thực tế của lớp

• Về nội dung: Nghiên cứu được triển khai trên cơ sở chia sinh viên thành hai nhóm dựa theo thời lượng sử dụng điện thoại thông minh mỗi ngày:

- Nhóm sử dụng nhiều: trên 4 giờ/ngày

- Nhóm sử dụng ít: dưới 4 giờ/ngày

Từ đó tiến hành so sánh sự khác biệt trong cách thức giao tiếp, mức độ tham gia hoạt động xã hội, khả năng tương tác và kết nối giữa hai nhóm sinh viên

5 Giả thuyết khoa học

Sinh viên có tần suất và mục đích sử dụng điện thoại không giống nhau Việc sử dụng điện thoại quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự biến đổi trong tương tác xã hội Nếu sinh viên có biện pháp sử dụng điện thoại thông minh một cách hợp lý thì sẽ phát huy được hiệu quả trong học tập và giao tiếp

Trang 10

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu có liên quan đến ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự biến đổi tương tác xã hội của sinh viên ngành CTXH trường Đại học Hải Phòng

- Tìm hiểu thực trạng và ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự biến đổi tương tác xã hội của sinh viên ngành CTXH trường Đại học Hải Phòng

- Đề xuất các biện pháp nhằm giúp cho sinh viên cân bằng việc sử dụng điện thoại thông minh, tăng cường kĩ năng giao tiếp trực tiếp và xây dựng thói quen tương tác xã hội lành mạnh

7 Các phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp trưng cầu ý kiến:

- Sử dụng phiếu khảo sát (dạng câu hỏi mở và câu hỏi đóng) để thu thập thông tin từ sinh viên và giảng viên đang giảng dạy tại ngành CTXH trường đại học Hải Phòng

- Các phiếu khảo sát tập trung vào các nội dung như: tần suất sử dụng điện thoại, mục đích sử dụng, và cảm nhận của người sử dụng về sự thay đổi trong tương tác xã hội

- Đối tượng khảo sát được chọn ngẫu nhiên từ ngành CTXH để đảm bảo tính đại diện

* Phương pháp phỏng vấn:

Nhằm hỗ trợ phương pháp trưng cầu ý kiến, chúng tôi tiến hành phỏng vấn hai đối tượng trên là sinh viên năm nhất ngành CTXH và các giảng viên đang giảng dạy tại trường về các vấn đề của nội dung khảo sát, làm rõ các vấn đề như: Ảnh hưởng của điện thoại thông minh đến việc giao tiếp trực tiếp; quan điểm của các cá nhân về sự khác biệt trong tương tác xã hội trước và sau khi sử dụng điện thoại thông minh

Việc phỏng vấn được thực hiện dưới hình thức trao đổi thân thiện nhằm tạo không khí thoải mái, để từ đó thu thập thông tin chính xác, chi tiết và hiệu quả hơn từ đối tượng phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn giúp hiểu rõ hơn quan điểmvà thái độ của sinh viên về việc sử dụng điện thoại thông minh và ảnh hưởng của nó đến tương tác xã hội Phỏng vấn giúp làm rõ các yếu tố như gia đình, văn hóa, giáo dục tác động đến nhận thức của sinh viên Đồng thời, qua phỏng vấn, chúng tôi khám phá sự khác biệt giữa các nhóm

Trang 11

sinh viên, như nam và nữ, hoặc sinh viên từ các ngành học khác nhau, để có cái nhìn đầy đủ và cụ thể hơn

* Phương pháp quan sát:

Phương pháp quan sát được thực hiện nhằm ghi lại trực tiếp thái độ, cảm xúc và hành vi của sinh viên trong các môi trường thực tế như lớp học, khuôn viên trường, hoặc các sự kiện, hoạt động trong tập thể Cụ thể:

- Quan sát trong lớp học: đánh giá mức độ tập trung của sinh viên trong giờ học, đặc biệt là trong những tình huống yêu cầu cao về sự chú ý, như khi giảng viên giảng bài hoặc thảo luận, làm bài tập nhóm Quan sát cách sinh viên sử dụng điện thoại trong lớp, ví dụ: sử dụng để làm gì? Để tìm kiếm tài liệu học tập, lướt mạng xã hội, nhắn tin, chơi game,

- Quan sát trong khuôn viên trường: quan sát cách sinh viên tương tác với bạn bè của mình, như trò chuyện trực tiếp, vừa nói chuyện vừa sử dụng điệnthoại, hay tập trung hoàn toàn vào điện thoại Quan sát hành vi khi sinh viên tham gia vào các hoạt động chung, như nghỉ giải lao, ăn uống, hoặc di chuyển giữa các khu vực trong khuôn viên trường học

- Quan sát tại các sự kiện, hoạt động trong tập thể: quan sát, đánh giá sự tham gia của sinh viên trong các hoạt động của lớp, khoa hay của nhà trường, như tham gia trò chơi, sinh hoạt tập thể, tham dự các hội thảo, hội nghị hoặc tham gia hoạt động câu lạc bộ ghi nhận mức độ tích cực trong giao tiếp trực tiếp, như trao đổi ý kiến, tham gia xây dựng ý tưởng, hay chỉ tương tác qua điện thoại

Phương pháp quan sát cung cấp cái nhìn trực quan và khách quan hơn về ảnh hưởng của điện thoại thông minh đến sự biến đổi tương tác xã hội của sinh viên

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm cơ bản

- Khái niệm điện thoại thông minh: Điện thoại thông minh hay còn được gọi là smartphone là khái niệm để chỉ chiếc điện thoại được tích hợp một nền tảng hệ điều hành di động với nhiều tính năng hỗ trợ tiên tiến về mặt điện toán và kết nối dựa trên nền tảng cơ bản của chiếc điện thoại di động thông thường

Hành động xã hội là cơ sở, tiền đề của tương tác xã hội, không có hành động xã hội thì không có tương tác xã hội

Tương tác xã hội được xem là quá tình tiến hành các hành vi và hành động trong quá trình trao đổi giữachủ thể này với chủ thể khác

- Khái niệm tương tác xã hội :Tương tác xã hội được dùng để chỉ quá trình liên

hệ và tác động lẫn nhau giữa hai hay nhiều hơn hai cá nhân, nhóm người

- Khái niệm biến đổi xã hội: Biến đổi xã hội là một quá trình, qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian

- Giao tiếp là gồm hàng loạt những yếu tố như trao đổi thông tin, kiến thiết xây dựng kế hoạch hoạt động giải trí phối hợp, tri giác và khám phá người khác Tương ứng với những yếu tố trên thì giao tiếp có 3 góc nhìn chính: giao lưu, ảnh hưởng tác động qua lạivà tri giác

- Mạng xã hội là gì? Theo khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP nêu rõ: Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnhvà các hình thức dịch

vụ tương tự khác

- Ứng dụng tin nhắn: là một phần mềm cho phép bạn giao tiếp với người khác qua mạng internet Thay vì gửi tin nhắn SMS truyền thống, bạn có thể sử dụng ứng dụng để gửi tin nhắn văn bản, hình ảnh, video, thậm chí cả thực hiện cuộc gọi thoại và video

1.2 Vai trò của điện thoại thông minh với các hoạt động của sinh viên

- Ghi lại kỷ niệm và chia sẻ cuộc sống: Dùng điện thoại để chụp ảnh, quay video các hoạt động học tập, dã ngoại, vui chơi cùng bạn bè

Trang 13

+ Chia sẻ khoảnh khắc trên mạng xã hội giúp kết nối cảm xúc, giữ gìn kỷ niệm thời sinh viên

- Mua sắm, thanh toán và quản lý tài chính: Mua sách vở, đồ dùng học tập, đồ ăn qua các app như Shopee, Tiki, Grab, Baemin

+ Thanh toán học phí, đóng tiền trọ, tiền điện nước dễ dàng qua internet banking, ví điện tử (Momo, ZaloPay, VNPay

+ Theo dõi chi tiêu, lập kế hoạch tiết kiệm qua các app quản lý tài chính đơn giản

- Cập nhật tin tức - mở rộng kiến thức xã hội

+ Đọc báo, xem thời sự qua Báo Mới, VnExpress, Tuổi Trẻ Online giúp sinh viên nắm bắt thông tin nhanh chóng

+ Theo dõi các vấn đề xã hội, giáo dục, thời tiết, giao thông để ứng phó kịp thời trong học tập và sinh hoạt

- Hỗ trợ khi khẩn cấp hoặc khó khăn

+ Trong tình huống nguy hiểm hay cần giúp đỡ, điện thoại giúp sinh viên liên hệ ngay với người thân, công an, bệnh viện,

+ Tìm đường, định vị vị trí khi đi lạc hoặc di chuyển đến nơi mới nhờ Google Maps, Zalo Map

- Tham gia hoạt động cộng đồng, thiện nguyện

+ Tham gia các chiến dịch, hoạt động thiện nguyện online, quyên góp ủng hộ qua điện thoại

+ Kết nối với các nhóm thiện nguyện, các dự án xã hội do trường hoặc các tổ chức khởi xướng

- Tạo động lực và chăm sóc tinh thần

+ Nhiều sinh viên sử dụng điện thoại để nghe podcast chữa lành, truyền cảm hứng, đọc sách self-help, theo dõi các trang tâm lý trị liệu

+ Viết nhật kí số, theo dõi tâm trạng qua app như Jour, Moodpath, giúp tự chăm sóc sức khỏe tinh thần

- Tự học và làm những sản phẩm sáng tạo

+ Làm video, thiết kế poster, dựng slide thuyết trình ngay trên điện thoại với các app như Canva, Capcut, PowerPoint Mobile

Trang 14

+ Ghi âm bài giảng, chỉnh sửa âm thanh, quay vlog cá nhân phục vụ học tập và giải trí

1.3 Các loại tương tác xã hội

1.3.1 Phân loại tương tác xã hội theo cấp độ

- Tương tác cá nhân: Xảy ra giữa hai cá nhân, chẳng hạn như bạn bè, đồng nghiệp trao đổi thông tin hoặc trò chuyện

- Tương tác nhóm: Diễn ra trong phạm vi một nhóm, ví dụ như sinh viên làm việc nhóm hoặc tham gia các câu lạc bộ

- Tương tác giữa cá nhân với nhóm: Một cá nhân giao tiếp với cả tập thể, chẳng hạn như sinh viên phát biểu trong lớp hoặc thảo luận trên diễn đàn học thuật

1.3.2 Phân loại tương tác xã hội theo tính chất, mục tiêu và ý nghĩa

-Tương tác hợp tác: Các cá nhân hoặc nhóm cùng phối hợp để đạt mục tiêu chung, như làm bài tập nhóm, tổ chức sự kiện học thuật

- Tương tác cạnh tranh: Các cá nhân hoặc nhóm ganh đua để đạt lợi ích riêng, chẳng hạn như cạnh tranh điểm số hoặc vị trí học bổng

- Tương tác xung đột: Xảy ra khi có mâu thuẫn về quan điểm hoặc lợi ích, chẳng hạn như tranh luận căng thẳng trong lớp học hoặc xung đột trong các nhóm bạn bè

1.3.3 Phân loại tương tác theo mức độ trực tiếp hay gián tiếp

Tương tác trực tiếp: Giao tiếp mặt đối mặt, có sự phản hồi ngay lập tức, như trò chuyện trực tiếp, tranh luận trong lớp

Tương tác gián tiếp: Thông qua các phương tiện trung gian như điện thoại, mạng

xã hội, tin nhắn, email, làm giảm yếu tố phi ngôn ngữ trong giao tiếp

=> Trong cuộc sống, con người luôn có sự tương tác xã hội Tương tác xã hội không chỉ giúp cá nhân thực hiện các mục tiêu cá nhân mà còn tạo ra các mối quan hệ

xã hội, góp phần duy trì sự ổn định và trật tự xã hội Thông qua tương tác, con người hình thành khuôn mẫu hành vi, hệ giá trị, chuẩn mực và quy tắc ứng xử

Trong bối cảnh sinh viên ngày càng phụ thuộc vào điện thoại thông minh để giao tiếp, hình thức và bản chất của tương tác xã hội có sự thay đổi đáng kể Việc nghiên cứu những tác động này giúp đánh giá sự chuyển đổi từ giao tiếp trực tiếp sang gián tiếp, từ đó làm rõ ảnh hưởng của công nghệ đến các mối quan hệ xã hội trong môi trường đại học

Trang 15

Mặc dù có nhiều loại tương tác xã hội như đã trình bày ở trên, trong khuôn khổ

đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn tập trung tìm hiểu về tương tác xã hội của sinh viên trong mối quan hệ với thầy cô và bạn bè cùng lớp Đây là hai nhóm đối tượng gắn bó mật thiết với sinh viên trong giao tiếp, học tập và đời sống hằng ngày, có ảnh hưởng sâu sắc đến giao tiếp trực tiếp và chất lượng học tập cũng như sự phát triển

cá nhân của sinh viên

1.4 Ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự thay đổi tương tác xã hội của sinh viên trong mối quan hệ giao tiếp với bạn bè và giảng viên

Điện thoại thông minh (ĐTTM) đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của sinh viên, nó tác động trực tiếp đến cách họ tương tác với bạn bè và giảng viên.Trong bối cảnh công nghệ phát triển mạnh mẽ, ĐTTM không chỉ

là công cụ hỗ trợ học tập mà nó còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến các mối quan hệ xã hội của sinh viên như trong mối quan hệ với bạn bè, với giảng viên theo cả chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực

1.4.1 Ảnh hưởng tích cực

* Trong mối quan hệ với bạn bè:

- Một trong những lợi ích rõ rệt nhất của ĐTTM chính là khả năng kết nối nhanh chóng và thuận tiện Các ứng dụng nhắn tin như Zalo, Messenger, WhatsApp, giúp sinh viên duy trì liên lạc thường xuyên với bạn bè, ngay cả khi không thể gặp mặt trực tiếp Điều này đặc biệt quan trọng đối với những sinh viên ở xa hoặc có lịch trình học tập bận rộn, giúp cho họ giữ vững mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè, ngay cả khi không

có nhiều cơ hội gặp gỡ nhau Bên cạnh đó, các hội, nhóm học tập trực tuyến trên mạng

xã hội ngày càng phổ biến, giúp sinh viên trao đổi bài tập, tình hình học tập với nhau,

hỗ trợ tìm kiếm, tham khảo tài liệu một cách nhanh chóng, hiệu quả, từ đó nâng cao tinh thần hợp tác và giúp nhau tiến bộ trong học tập

- Ngoài ra, đối với những sinh viên có tính cách hướng nội, nhút nhát, ngại giao tiếp với mọi người xung quanh thì ĐTTM đóng vai trò như một phương tiện giúp họ giao tiếp dễ dàng hơn Việc trò chuyện qua tin nhắn hoặc bình luận trên các trang mạng xã hội giúp họ cảm thấy thoải mái hơn so với giao tiếp trực tiếp, tạo điều kiện để

họ mở rộng các mối quan hệ và nâng cao sự tự tin trong giao tiếp xã hội

* Trong mối quan hệ với giảng viên:

Trang 16

- Trong môi trường đại học, ĐTTM giúp sinh viên kết nối, trò chuyện, trao đổi với giảng viên một cách thuận tiện hơn Thông qua email, tin nhắn hoặc qua các nền tảng học tập trực tuyến phổ biến như Google Meet, Zoom, Microsoft Teams, sinh viên có thể dễ dàng trao đổi với giảng viên về nội dung bài giảng, tài liệu học tập, tình hình trên lớp, những khó khăn gặp phải trong quá trình học tập mà không thể trao đổi trực tiếp, cũng như các vấn đề học thuật khác Điều này giúp sinh viên tiếp cận kiến thức, thông tin một cách linh hoạt hơn, đặc biệt là trong bối cảnh giáo dục hiện đại, khi nhiều giảng viên cũng đã sử dụng các công nghệ để hỗ trợ giảng dạy, nâng cao chất lượng cho buổi học

- Hơn nữa, các buổi hội thảo, buổi thuyết trình trực tuyến thông qua Zoom, Microsoft Teams, cũng giúp sinh viên và giảng viên tương tác hiệu quả, thoải mái

mà không bị giới hạn bởi không gian và thời gian Nhờ đó, sinh viên có thể tham gia nhiều hoạt động học thuật hơn, mở rộng thêm kiến thức chuyên môn, các kỹ năng cần thiết và tăng cường khả năng học tập một cách chủ động

1.4.2 Ảnh hưởng tiêu cực

* Trong mối quan hệ với bạn bè:

- Bên cạnh những lợi ích thì việc lạm dụng ĐTTM cũng gây ra nhiều hệ lụy trong mối quan hệ giữa sinh viên và bạn bè Một trong những vấn đề đáng lo ngại là sự suy giảm chất lượng tương tác trực tiếp Nhiều sinh viên đang có thói quen sử dụng điện thoại ngay cả khi đang gặp gỡ trực tiếp với bạn bè, khiến cuộc trò chuyện trở nên rời rạc, thiếu kết nối Việc liên tục kiểm tra điện thoại như tin nhắn, cuộc gọi hay thậm chí chơi game, lướt mạng xã hội, trong các cuộc gặp gỡ có thể tạo cảm giác thiếu tôn trọng đối với đối phương, lâu dần gây ra sự xa cách trong mối quan hệ bạn bè

- Hơn nữa, sự phụ thuộc vào việc giao tiếp qua các trang mạng xã hội có thể làm giảm kỹ năng giao tiếp trực tiếp Thay vì trò chuyện và chia sẻ cảm xúc một cách chân thành, nhiều sinh viên chọn cách tương tác thông qua tin nhắn, biểu tượng cảm xúc, dẫn đến tình trạng giao tiếp hời hợt, thiếu sự gắn kết thực sự, sự đồng cảm với vấn đề đang gặp phải Ngoài ra, việc dành quá nhiều thời gian cho điện thoại có thể khiến sinh viên ít tham gia các hoạt động ngoại khóa, làm giảm cơ hội phát triển kỹ năng chuyên môn và khả năng hòa nhập với cộng đồng

* Hiện tượng FOMO và mạng xã hội

Trang 17

FOMO (viết tắt của cụm từ Fear Of Missing Out), tạm dịch là “Hội chứng sợ bỏ lỡ” Đây là hội chứng sợ bản thân bị bỏ lỡ những điều thú vị, hay ho trong cuộc sống

mà người khác đang được trải nghiệm; nó cũng chính là một tình trạng phổ biến đặc biệt của giới trẻ hiện nay Và có thể thấy, hành vi kiểm tra điện thoại thường xuyên, liên tục trong khi trò chuyện của sinh viên có mối liên hệ chặt chẽ với FOMO Theo khảo sát của Deloitte (2023), có đến 73% người trẻ Việt Nam thừa nhận rằng họ cảm thấy lo lắng nếu điện thoại không ở gần bên mình và gần 60% kiểm tra điện thoại ít nhất mỗi 10 phút

FOMO khiến cho sinh viên luôn cảm thấy bứt rứt, suy nghĩ bồn chồn, khó chịu không yên nếu không được cập nhật mạng xã hội thường xuyên, từ đó họ xem việc cầm điện thoại như là một phản xạ tự nhiên, ngay cả khi đang trong cuộc trò chuyện với người khác

* Trong mối quan hệ với giảng viên:

- Việc sử dụng ĐTTM không hợp lý cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên Một trong những vấn đề phổ biến là tình trạng sinh viên lạm dụng ĐTTM trong giờ học, dẫn đến mất tập trung, giảm sự hứng thú với bài học Nhiều sinh viên có thói quen sử dụng điện thoại để lướt mạng xã hội, nhắn tin hoặc chơi game trong lúc giảng viên giảng bài, không những không tiếp thu được kiến thức mà còn ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn học đó

- Ngoài ra, việc quá phụ thuộc vào giao tiếp qua tin nhắn có thể khiến sinh viên ngại gặp giảng viên trực tiếp để thảo luận bài học Thay vì chủ động trao đổi trực tiếp

để hiểu rõ hơn về bài giảng, sinh viên có xu hướng gửi tin nhắn hoặc email để hỏi bài, dẫn đến tình trạng thiếu chủ động trong học tập Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả tiếp thu kiến thức mà còn hạn chế sự phát triển của kỹ năng giao tiếp học thuật và

tư duy phản biện Một hệ lụy khác là việc sinh viên có thể bị chi phối bởi những thông tin không chính thống xuất hiện ngày càng nhiều và dễ tiếp cận trên mạng xã hội thay

vì tập trung vào những nguồn tài liệu chính thống do giảng viên cung cấp Điều này có thể dẫn đến việc tiếp thu, hiểu sai kiến thức, ảnh hưởng đến chất lượng học tập cũng như khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của sinh viên

Trang 18

1.5 Đặc điểm tâm lý, nhân cách của sinh viên liên quan đến vấn đề biến đổi

tương tác xã hội

Sinh viên ở độ tuổi từ 18 đến 25, đang trong giai đoạn định hình nhân cách và phát triển bản thân Họ có khát vọng khám phá, học hỏi và mong muốn khẳng định mình trong xã hội Tuy nhiên, áp lực học tập và biến động xã hội có thể khiến họ dễ dao động Trong quá trình này, sinh viên thường:

- Phát triển tự ý thức và khát vọng cá nhân: Sinh viên thường sử dụng ĐTTM để

thể hiện bản thân như việc đăng tải nhiều về hình ảnh cuộc sống cá nhân, thành quả đạt được, chia sẻ trạng thái, những ý tưởng và tìm kiếm sự công nhận từ xã hội Tuy nhiên, việc này có thể dẫn đến sự so sánh với người khác, ảnh hưởng đến lòng tự trọng

và mức độ hài lòng với bản thân

- Sự độc lập và xu hướng tìm kiếm cộng đồng: ĐTTM giúp sinh viên duy trì kết

nối với bạn bè và gia đình, đáp ứng nhu cầu cao về giao tiếp và nắm bắt thông tin nhanh chóng Tuy nhiên, việc quá phụ thuộc vào ĐTTM có thể dẫn đến chứng sợ thiếu điện thoại, gây căng thẳng, mệt mỏi và ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần

- Sự dễ bị tác động và ảnh hưởng từ môi trường không gian mạng: Sinh viên

trong độ tuổi này dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố xã hội và môi trường trên mạng Mạng xã hội trên điện thoại thông minh cung cấp một không gian để họ thể hiện bản thân, nhưng cũng dễ khiến họ cảm thấy phụ thuộc và thiếu sự chú ý khi không nhận được tương tác hay phản hồi kịp thời từ bạn bè hoặc cộng đồng Cảm giác này có thể khiến họ lo lắng, và ảnh hưởng đến tâm lý của họ Hậu quả là cách họ tương tác với người xung quanh có thể thay đổi, trở nên ít chủ động hoặc thiếu sự chân thành trong các cuộc giao tiếp trực tiếp

Trang 19

Từ những cơ sở lý luận trên chương 2 sẽ tiến hành khảo sát thực tế nhằm làm rõ mức độ sử dụng điện thoại và những biểu hiện cụ thể của sự biến đổi trong tương tác

xã hội của sinh viên Trường Đại học Hải Phòng

Trang 20

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH Ở

SINH VIÊN 2.1 Khái quát chung về đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát trong đề tài là 97 sinh viên năm nhất ngành Công tác xã hội của Trường Đại học Hải Phòng, được chọn ngẫu nhiên từ hai lớp khác nhau để đảm bảo tính đại diện và đa dạng Tất cả sinh viên tham gia khảo sát đều sử dụng điện thoại thông minh hàng ngày, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu ảnh hưởng của điện thoại thông minh đến sự biến đổi trong tương tác xã hội của sinh viên

Khảo sát được thực hiện trực tuyến, nội dung tập trung vào: tần suất sử dụng, mục đích sử dụng và tác động của điện thoại đến học tập, giao tiếp và các mối quan hệ

xã hội Việc chọn sinh viên ngành Công tác xã hội giúp đảm bảo tính phản ánh thực tế

và phân tích sâu hơn về hành vi xã hội, nhờ vào nền tảng kiến thức của nhóm đối tượng này

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng

2.2.1 Tần suất sử dụng điện thoại mỗi ngày

Trong thời đại công nghệ số hiện nay, điện thoại thông minh đã trở thành một vật dụng không thể thiếu đối với hầu hết sinh viên đại học, đặc biệt là sinh viên năm nhất – những người đang bước vào một giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ môi trường học tập phổ thông sang môi trường học thuật và xã hội rộng mở hơn Với sự tiện lợi, nhỏ gọn và tính đa chức năng, điện thoại không chỉ là công cụ phục vụ học tập, giải trí mà còn là phương tiện chính để duy trì các mối quan hệ xã hội và kết nối thông tin

Tuy nhiên, chính sự "đa năng" này lại trở thành con dao hai lưỡi, khiến nhiều sinh viên dần hình thành thói quen lệ thuộc và sử dụng điện thoại với tần suất ngày càng cao, có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất, tinh thần và đặc biệt là kỹ năng giao tiếp trực tiếp – một trong những năng lực quan trọng đối với sinh viên ngành Công tác xã hội

Để làm rõ mức độ phổ biến cũng như thời lượng sử dụng điện thoại mỗi ngày, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 97 sinh viên năm nhất ngành Công tác xã hội tại Trường Đại học Hải Phòng Kết quả được trình bày trong bảng sau:

Trang 21

Bảng 2.1 Thời gian sử dụng điện điện thoại của sinh viên

Thời gian sử dụng mỗi ngày Số lượng sinh viên Tỷ lệ (%)

Việc sử dụng điện thoại quá nhiều trong ngày không chỉ gây ra các hệ quả về sức khỏe như mỏi mắt, đau cổ – vai – gáy, rối loạn giấc ngủ, mà còn kéo theo nguy cơ suy giảm các kỹ năng tương tác xã hội trực tiếp Điều này đặc biệt đáng lo ngại đối với sinh viên ngành Công tác xã hội – những người sau này sẽ cần thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe, tư vấn và hỗ trợ con người trong môi trường thực tế Khi các em dành phần lớn thời gian cho thế giới ảo, kỹ năng lắng nghe, thấu cảm, giao tiếp và làm việc nhóm

có thể bị thui chột theo thời gian

Không những vậy, mức độ sử dụng điện thoại cao còn có mối liên hệ với khả năng tập trung kém, suy giảm hiệu suất học tập và nguy cơ hình thành thói quen trì hoãn công việc Thực tế này cho thấy cần có những can thiệp phù hợp từ phía nhà trường, gia đình cũng như chính bản thân sinh viên để thiết lập một giới hạn hợp lý trong việc sử dụng điện thoại, hướng tới một lối sống cân bằng hơn giữa công nghệ và tương tác thực tế

Trong phần tiếp theo, các nguyên nhân cụ thể dẫn đến việc sử dụng điện thoại với tần suất cao sẽ được phân tích để làm rõ động cơ và hành vi của sinh viên, từ đó đưa ra những định hướng điều chỉnh hợp lý hơn

Trang 22

2.2.2 Lý do sử dụng điện thoại với tần suất cao

Kết quả khảo sát cho thấy có bốn nhóm nguyên nhân chính khiến sinh viên sử dụng điện thoại thường xuyên:

1 Phục vụ học tập

Trong môi trường học tập hiện đại, điện thoại thông minh là công cụ hỗ trợ hữu hiệu Sinh viên thường dùng để tra cứu tài liệu, học online, làm bài tập nhóm qua các ứng dụng như Zalo, Telegram, Zoom Với tính linh hoạt và nhỏ gọn, điện thoại thường được sử dụng thay thế cho máy tính trong nhiều tình huống

2 Giải trí cá nhân

Sau giờ học, nhiều sinh viên tìm đến điện thoại như một cách để xả stress Các nền tảng như TikTok, YouTube, Facebook, cùng các trò chơi điện tử là lựa chọn phổ biến Tuy nhiên, sự hấp dẫn của nội dung trên các nền tảng này khiến người dùng dễ bị cuốn vào và mất kiểm soát thời gian

3 Kết nối xã hội

Điện thoại giúp sinh viên duy trì liên lạc với bạn bè, người thân, thầy cô thông qua các nền tảng mạng xã hội và ứng dụng nhắn tin Đặc biệt với sinh viên sống xa nhà hoặc học online, việc giữ kết nối thông qua điện thoại trở nên càng quan trọng

4 Thói quen và cảm xúc cá nhân

Nhiều sinh viên cho biết họ thường xuyên sử dụng điện thoại mà không có mục đích rõ ràng – đơn giản vì đã quen Một số còn cảm thấy bất an nếu không cầm điện thoại trong tay Điều này cho thấy một mức độ lệ thuộc tâm lý đang hình thành, ảnh hưởng tới khả năng kiểm soát hành vi cá nhân

2.2.3 Mục đích và thời điểm sử dụng điện thoại

Ngoài việc phân tích lý do và tần suất, khảo sát cũng chỉ ra các thời điểm trong ngày sinh viên sử dụng điện thoại nhiều nhất, phản ánh rõ nét thói quen và tác động đến lối sống:

• Sử dụng trước khi ngủ

Có đến 68% sinh viên cho biết họ sử dụng điện thoại vào buổi tối trước khi đi ngủ Đây là thời điểm riêng tư, dễ buông lỏng kiểm soát và dễ bị cuốn vào các nội dung giải trí Tuy nhiên, việc sử dụng điện thoại sát giờ ngủ có thể gây rối loạn giấc ngủ, giảm chất lượng nghỉ ngơi và khiến cơ thể mệt mỏi vào ngày hôm sau

• Sử dụng trong giờ học và giờ ra chơi

Trang 23

Khoảng 60% sinh viên thừa nhận họ có sử dụng điện thoại trong lớp học hoặc giờ giải lao Dù một số ít dùng cho việc học, phần lớn lại dành thời gian để lướt mạng

xã hội, xem video hoặc nhắn tin – điều này gây mất tập trung và ảnh hưởng đến hiệu quả học tập

• Sử dụng khi ăn uống hoặc tham gia hoạt động xã hội

Có khoảng 35% sinh viên thường xuyên sử dụng điện thoại trong lúc ăn cơm, đi chơi hoặc tham gia hoạt động nhóm Điều này khiến các cuộc trò chuyện thực tế trở nên hời hợt, làm giảm sự kết nối giữa người với người, và dần hình thành xu hướng

"sống ảo", thu hẹp các kỹ năng giao tiếp xã hội

2.3 Vai trò của điện thoại thông minh trong đời sống sinh viên

Trong thời đại công nghệ số phát triển mạnh mẽ như hiện nay, điện thoại thông minh đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người, đặc biệt là với sinh viên - những người trẻ đang sống và học tập trong môi trường đòi hỏi sự năng động, linh hoạt và khả năng thích ứng cao Không chỉ đơn thuần là thiết bị liên lạc, chiếc điện thoại thông minh nhỏ gọn còn đóng vai trò như một “người bạn đồng hành” đa năng trong mọi mặt của đời sống sinh viên, từ học tập, giải trí, kết nối xã hội cho đến cả việc mua sắm trực tuyến

Bảng 2.2 Vai trò của điện thoại thông minh với sinh viên (%)

Trang 24

hoạt và không thể thiếu Các hoạt động như tra cứu tài liệu, học online, làm bài tập nhóm qua các nền tảng như Google Meet, Zoom hay đơn giản là đọc thêm kiến thức mới qua YouTube, TikTok học thuật, các app từ điển, sách điện tử, đều có thể thực hiện dễ dàng chỉ bằng vài thao tác chạm trên màn hình điện thoại

Nhờ vào sự tiện lợi này, sinh viên có thể học ở bất kỳ đâu – trên giường, ở thư viện, quán cà phê hay thậm chí là khi đang di chuyển Việc học không còn gò bó trong không gian lớp học hay bàn học truyền thống mà trở nên linh hoạt, chủ động và cá nhân hóa hơn bao giờ hết

Tuy nhiên, không phải sinh viên nào cũng tận dụng được hết những lợi ích này Vẫn còn 22% sinh viên chỉ thỉnh thoảng sử dụng điện thoại để học và 7% gần như không dùng đến cho mục đích học tập Nguyên nhân có thể đến từ việc họ quen học theo cách truyền thống, hoặc do hạn chế về thiết bị, mạng internet không ổn định, hoặc đơn giản là chưa biết cách khai thác các tiện ích học tập một cách tối ưu

Dù vậy, nhìn chung, điện thoại thông minh vẫn đang góp phần làm thay đổi cách học của sinh viên theo hướng tích cực hơn, mang lại cơ hội tiếp cận tri thức mọi lúc, mọi nơi - điều mà trước đây từng là giới hạn

Về kết nối - Giữ chặt những mối quan hệ giữa cuộc sống bận rộn Đối với sinh viên - những người trẻ đang trong giai đoạn xây dựng và mở rộng các mối quan hệ xã hội - việc kết nối với người thân, bạn bè, người yêu, thầy cô hay cộng đồng bên ngoài

là điều vô cùng quan trọng Theo kết quả khảo sát, có đến 71% sinh viên thường xuyên

sử dụng điện thoại để kết nối - thông qua nhắn tin, gọi điện, sử dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, Instagram, Messenger,…

Không còn khoảng cách địa lý, không còn giới hạn thời gian - chỉ cần vài giây là một tin nhắn có thể được gửi đi từ ký túc xá đến nhà, từ thành phố này đến thành phố khác Việc cập nhật tin tức bạn bè, chia sẻ trạng thái cá nhân hay tương tác trong các nhóm học tập, câu lạc bộ, hoạt động xã hội,… đều được thực hiện một cách nhanh chóng, tiện lợi nhờ chiếc điện thoại trong tay

Khoảng 21% sinh viên cho biết họ chỉ thỉnh thoảng sử dụng điện thoại để kết nối, trong khi 8% còn lại hiếm khi dùng đến chức năng này Điều đó có thể đến từ lối sống riêng tư hơn, ít dùng mạng xã hội hoặc chỉ sử dụng điện thoại cho mục đích cá nhân Tuy nhiên, phần đông sinh viên vẫn xem điện thoại như một “sợi dây” giữ chặt các

Trang 25

mối quan hệ, nhất là trong những giai đoạn như học online kéo dài, hoặc khi phải sống

xa nhà, xa người thân

Về giải trí - Giải tỏa căng thẳng sau những giờ học căng thẳng Với lượng bài tập, deadline và áp lực học hành ngày càng tăng, sinh viên rất cần những khoảng thời gian nghỉ ngơi và thư giãn để cân bằng lại tâm trạng Không khó hiểu khi có tới 67% sinh viên cho biết họ thường xuyên dùng điện thoại để giải trí - như xem phim, nghe nhạc, chơi game, đọc truyện, lướt TikTok, Facebook, Những giây phút ngồi xem một

bộ phim yêu thích, cười với một video giải trí ngắn hay đắm chìm trong giai điệu yêu thích đều là cách giúp đầu óc “xả stress”, lấy lại năng lượng cho ngày hôm sau

Ngoài ra, có 25% sinh viên thỉnh thoảng dùng điện thoại để giải trí và chỉ 8% hiếm khi làm vậy - có thể do họ có sở thích giải trí khác (như đọc sách giấy, chơi thể thao), hoặc do muốn hạn chế thời gian sử dụng điện thoại vì lo ngại ảnh hưởng đến mắt, giấc ngủ, hay hiệu quả học tập

Dù là hình thức nào, điều quan trọng vẫn là giữ được sự cân bằng Điện thoại có thể là một công cụ giải trí tuyệt vời, miễn là chúng ta sử dụng đúng lúc, đúng cách và

có kiểm soát Việc để bản thân “nghiện” điện thoại có thể khiến sinh viên mất tập trung, ảnh hưởng đến giấc ngủ và khả năng học tập, vì vậy cần có thời gian biểu hợp lý giữa học và chơi

Về Mua sắm - Tiện lợi trong từng cú chạm Không chỉ dừng lại ở học tập hay giải trí, điện thoại thông minh còn là công cụ mua sắm vô cùng tiện lợi cho sinh viên - nhất là trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ như hiện nay Theo khảo sát, có đến 40% sinh viên thường xuyên đặt hàng online qua điện thoại, 37% thỉnh thoảng mua sắm và 23% hiếm khi làm điều này

Việc đặt đồ ăn, sách vở, quần áo, đồ dùng học tập, trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết với sự hỗ trợ của các ứng dụng như Shopee, Lazada, Tiki, GrabFood, Beamin,… Không cần ra khỏi nhà, chỉ cần vài cú chạm là món đồ mong muốn đã có thể đến tận cửa phòng

Ngoài tính tiện lợi, việc mua sắm online còn giúp sinh viên dễ so sánh giá cả, lựa chọn nhiều mặt hàng và tận dụng được các chương trình giảm giá, miễn phí vận chuyển Tuy nhiên, sinh viên cũng cần có sự tỉnh táo và quản lý tài chính hợp lý, tránh mua sắm quá đà, chạy theo xu hướng mà ảnh hưởng đến ngân sách học tập và sinh hoạt cá nhân

Ngày đăng: 04/09/2025, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Thị Minh Phương. (2019). Ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến quan hệ xã hội của sinh viên Đại học Mở TP.HCM. Luận văn Thạc sĩ, Đại học Mở TP.HCM Khác
2. Đặng Hoàng Minh. (2020). Ảnh hưởng của việc sử dụng điện thoại thông minh đến hành vi tương tác xã hội của sinh viên. Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, (6), 56–64 Khác
3. Hoàng Văn Thái. (2019). Tác động của mạng xã hội đến sự phát triển kỹ năng giao tiếp của sinh viên. Tạp chí Công tác Xã hội, (23), 45–52 Khác
4. Nguyễn Thị Mai Hương. (2021). Mối liên hệ giữa nghiện smartphone và sự suy giảm tương tác trực tiếp trong đời sống sinh viên. Tạp chí Tâm lý học, 2 (236), 23–31 Khác
5. Nguyễn Văn Phúc, & Trần Thị Lan Anh. (2022). Sử dụng điện thoại thông minh và ảnh hưởng đến mối quan hệ xã hội của sinh viên tại các trường đại học ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, 8(1), 87–97 Khác
6. Phạm Minh Tâm. (2020). Nghiện điện thoại thông minh ở sinh viên và các vấn đề sức khỏe tâm thần. Tạp chí Tâm lý học ứng dụng, (4), 12–20 Khác
7. Trần Thị Thảo. (2022). Mối quan hệ giữa thời gian sử dụng điện thoại và sự hài lòng trong các mối quan hệ xã hội của sinh viên. Tạp chí Công tác Xã hội và Phát triển Cộng đồng, 6(3), 102–111 Khác
9. Nguyễn Thị Thu Hương. (2017). Sinh viên và điện thoại thông minh (smartphone): Việc sử dụng và những ảnh hưởng đến học tập và quan hệ xã hội. Tạp chí Khoa học Xã hội, 2(222), 13–20 Khác
10. Hoàng Thị Thuận và cộng sự. (2024). Thực trạng và ảnh hưởng của việc nghiện điện thoại thông minh đến sự tương tác xã hội của sinh viên y đa Khác
11. Vũ Xuân Anh, Nguyễn Hà Trang, & Phạm Huyền Trang. (2024). Thực trạng chứng sợ thiếu điện thoại di động ở sinh viên. Báo Giáo Dục & Thời Đại Khác
12. Tổ chức Y tế Thế giới. (2019). Hướng dẫn sử dụng thiết bị điện tử cho trẻ em và thanh thiếu niên. WHO Việt Nam Khác
13. Deloitte. (2023). Khảo sát về hành vi sử dụng điện thoại thông minh của giới trẻ Việt Nam Khác
14. Q&Me. (2022). Khảo sát về thói quen sử dụng điện thoại khi giao tiếp Khác
15. Turkle, S. (2011). Alone together: Why we expect more from technology and less from each other. Basic Books Khác
16. Kuss, D. J., & Griffiths, M. D. (2015). Social Networking Sites and Addiction: Ten Lessons Learned. International Journal of Environmental Research and Public Health, 12(3), 1286-1306 Khác
17. World Health Organization. (2015). Public health implications of excessive use of the internet, computers, smartphones and similar electronic devices: Meeting report. Geneva: WHO Press Khác
18. Twenge, J. M. (2017). iGen: Why today’s super-connected kids are growing up less rebellious, more tolerant, less happy and completely unprepared for adulthood. Atria Books Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Thời gian sử dụng điện điện thoại của sinh viên - Đề tài nghiên cứu khoa học: Ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự biến đổi tương tác xã hội của sinh viên ngành công tác xã hội Trường Đại học Hải Phòng
Bảng 2.1. Thời gian sử dụng điện điện thoại của sinh viên (Trang 21)
Bảng 2.2. Vai trò của điện thoại thông minh với sinh viên (%) - Đề tài nghiên cứu khoa học: Ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự biến đổi tương tác xã hội của sinh viên ngành công tác xã hội Trường Đại học Hải Phòng
Bảng 2.2. Vai trò của điện thoại thông minh với sinh viên (%) (Trang 23)
Bảng 2.3, Ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại điện thoại thông minh của sinh viên (%) - Đề tài nghiên cứu khoa học: Ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại thông minh đến sự biến đổi tương tác xã hội của sinh viên ngành công tác xã hội Trường Đại học Hải Phòng
Bảng 2.3 Ảnh hưởng việc sử dụng điện thoại điện thoại thông minh của sinh viên (%) (Trang 27)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm