KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC CHI PHÍ BÁN HÀNG VÀ CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG
Tính cấp thiết của đề tài
Trong một nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện của kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán độc lập đã trở thành một phần quan trọng đối với hoạt động kinh doanh, góp phần cải thiện chất lượng quản lý của các doanh nghiệp Thông tin kiểm toán là nguồn dữ liệu đáng tin cậy giúp nhà nước nắm bắt tình hình kinh tế để đưa ra đánh giá và xử lý kịp thời các vấn đề kinh tế phát sinh Đồng thời, thông tin kiểm toán cũng cung cấp cơ sở cho các nhà quản lý, nhà đầu tư đưa ra quyết định kinh doanh phù hợp Bên cạnh đó, bằng cách thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình, KTV cũng hỗ trợ các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế nhận biết và khắc phục những sai sót trong quản lý và đảm bảo tuân thủ chính sách, luật pháp kinh tế của Chính phủ
Khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là một khoản mục quan trọng, thường chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong bối cảnh nền kinh tế đang trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch, cùng với đó là sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, chuyển đổi số trong lĩnh vực Tài chính - Kế toán, những thay đổi về chính sách thuế, kế toán và kiểm toán thì yêu cầu kiểm toán khoản mục này càng trở nên cấp thiết Đặc biệt, việc áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu từ năm
2024 đối với những đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia theo Nghị quyết số 107/2023/QH của Quốc hội Việt Nam nhằm đảm bảo tính công bằng về thuế đã đặt ra những yêu cầu mới trong việc tuân thủ chính sách thuế, ảnh hưởng trực tiếp tới đối tượng khách hàng lớn của các công ty kiểm toán
Là một trong những công ty kiểm toán hàng đầu tại Việt Nam, Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC có vai trò quan trọng trong việc thực hiện kiểm toán BCTC, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp lớn và các tập đoàn kinh tế Việc nghiên cứu về kiểm toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp sẽ giúp cải thiện hơn nữa quy trình kiểm toán, hỗ trợ các doanh nghiệp tuân thủ quy định pháp lý, tối ưu chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và đảm bảo tính minh bạch của BCTC
Từ những lý do trên, em đã nghiên cứu sâu về quy trình kiểm toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong việc kiểm toán BCTC Dựa trên cơ sở lý luận và kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình làm việc tại Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC, em đã chọn đề tài "Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC thực hiện" để làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
Tổng quan nghiên cứu
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, khoản mục CPBH và CPQLDN luôn là chủ đề quan trọng được quan tâm đối với các doanh nghiệp, nhà nước và các công ty kiểm toán Và để đánh giá quy trình kiểm toán khoản mục này đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện
Ví dụ, luận văn của Hoàng Thị Minh Thúy (2020) từ Học viện Tài chính về
“Hoàn thiện quy trình kiểm toán chi phí hoạt động trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán Việt (VIETCPA)” đã đánh giá được thực trạng kiểm toán tại VIETCPA, đưa ra được hạn chế và giải pháp trong quy trình kiểm toán Tuy nhiên, phần phân tích quy trình kiểm toán trong thực tế còn nhiều thiếu sót, đặc biệt là thủ tục phân tích chi phí theo yếu tố, tác giả chỉ phân tích dựa trên các đầu tài khoản có sẵn của khách hàng mà không bóc tách riêng từng loại chi phí nên chưa làm rõ được thủ tục này
Khóa luận của Phạm Thị Lan Hương (2024) từ Học viện Ngân Hàng “Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH PWC Việt Nam thực hiện” đã nêu ra được cơ sở lý luận chung, phân tích thực trạng quy trình kiểm toán thực tế tại một đơn vị cụ thể, từ đó đưa ra giải pháp cho những hạn chế còn tồn tại Tuy nhiên, những giải pháp đưa ra chỉ mang tính lý thuyết, chưa áp dụng vào thực tế tại khách hàng
Một bài khóa luận khác của Hoàng Thị Thái Hậu (2018) từ Học viện Ngân Hàng
“Hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Deloitte Việt Nam thực hiện” đã khái quát được cơ sở lý luận về kiểm toán khoản mục chi phí hoạt động nhưng không đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng của một cuộc kiểm toán Trong quá trình phân tích thực trạng đã bóc tách được từng loại chi phí khi áp dụng thủ tục phân tích, so sánh số liệu giữa năm nay với năm trước cho thấy biến động Tuy nhiên chưa có sự phân tích biến động chi phí giữa các tháng để tìm ra bất thường
Do phạm vi nghiên cứu của các đề tài là thuộc các công ty kiểm toán, thời điểm kiểm toán và đơn vị khách hàng khác nhau nên việc đưa ra những đánh giá, giải pháp cũng cần có sự phù hợp với từng doanh nghiệp kiểm toán Nhận ra được những hạn chế của những nghiên cứu trước em đã chọn đề tài này để nghiên cứu Qua nghiên cứu này sẽ giúp giải quyết các vấn đề còn tồn đọng và đưa ra các giải pháp mà tác giả trước đây chưa đề cập và cũng sẽ góp phần làm phong phú thêm thủ tục phân tích trong quy trình kiểm toán Điều này nhằm bổ sung thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp hoàn thiện hơn quy trình kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN trong kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là đánh giá và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH Hãng Kiểm toán AASC thực hiện nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán khoản mục này Cụ thể, đề tài hướng tới các mục tiêu sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa lại lý thuyết, kiến thức cơ bản và các quy định pháp lý liên quan đến kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN
Thứ hai, phân tích thực trạng quy trình kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN trong BCTC của Công ty TNHH Hãng kiểm toán AASC từ đó làm rõ ưu, nhược điểm và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong kiểm toán khoản mục này tại đơn vị khách hàng của AASC
Cuối cùng, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng quy trình kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN trong BCTC của AASC.
Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể đã nêu ở trên, khóa luận tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu tương ứng như sau:
Thứ nhất, các quy định pháp lý, chuẩn mực kế toán, kiểm toán và các quy định về thuế tương ứng áp dụng hiện hành là gì? Quy trình kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN trong kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập thực hiện như nào?
Thứ hai, thực trạng quy trình kiểm toán đối với khoản mục CPBH và CPQLDN trong kiểm toán BCTC do AASC thực hiện hiện tại đơn vị khách hàng như thế nào? Ưu, nhược điểm của quy trình kiểm toán đó là gì?
Thứ ba, định hướng, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN cho AASC là gì?
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu sử dụng chủ yếu là phương pháp định tính kết hợp với xử lý số liệu Thứ nhất, phương pháp định tính là phương pháp nghiên cứu tập trung vào việc thu thập, phân tích và diễn giải dữ liệu phi số học, chủ yếu là từ việc quan sát, phỏng vấn Thứ hai, phương pháp xử lý số liệu dựa trên dữ liệu số, gồm các bước thu thập, tổng hợp, phân tích, đối chiếu và tổng hợp số liệu liên quan tới CPBH và CPQLDN để hỗ trợ việc đưa ra quyết định, kết luận một cách khách quan
Nguồn dữ liệu bao gồm:
+ Dữ liệu của công ty khách hàng ABC được lấy từ hồ sơ kiểm toán và thu thập trong quá trình làm việc tại khách hàng (sổ cái, SCT, chứng từ, các công văn, quy định được ban hành liên quan)
+ Dữ liệu tham khảo từ các thông tư, quy định, văn bản về các Chuẩn mực kế toán, kiểm toán và thuế hiện hành tại Việt Nam
+ Phỏng vấn khách hàng tại cuộc kiểm toán nhằm mục đích làm rõ những vấn đề vướng mắc trong việc thu thập bằng chứng kiểm toán (Có quy định, công văn về định mức các khoản chi không? Một bộ chứng từ chi có yêu cầu các chứng từ nào không? )
+ Phỏng vấn các KTV trong quá trình thực tập nhằm hiểu rõ cách thức thực hiện các thủ tục kiểm toán, thu thập dữ liệu, xử lý vấn đề (Dấu hiệu phát hiện sai phạm, gian lận? KTV thường áp dụng thủ tục nào trước, thủ tục nào sau? Thủ tục kiểm toán nào quan trọng nhất? Đối chiếu chứng từ như nào để đảm bảo chi phí được ghi nhận là đúng? Nếu thiếu tài liệu, thông tin thì phải tìm ở đâu? )
Bảng phỏng vấn kế toán tại khách hàng, phỏng vấn KTV trình bày trong phụ lục
+ Quan sát quá trình làm việc của các KTV (KTV thực hiện những thủ tục kiểm toán nào? Cách thu thập bằng chứng? Cách trao đổi với khách hàng? Những vấn đề hay gặp đối với khoản mục và cách xử lý?)
+ Quan sát khách hàng để hiểu rõ về quy trình làm việc của cuộc kiểm toán, quy trình làm việc của khách hàng (Cách khách hàng phản hồi yêu cầu và cung cấp tài liệu kiểm toán? Quy trình hạch toán đúng quy định không? Cách họ giải thích về số liệu, chứng từ và các vấn đề phát sinh khác?).
Kết cấu bài khóa luận
Ngoài phần lời cam đoan, lời cảm ơn, lời mở đầu, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN trong kiểm toán báo cáo tài chính
Chương 2: Phân tích thực trạng kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN trong BCTC do Công ty TNHH Hãng kiểm toán AASC thực hiện
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN do Công ty TNHH Hãng kiểm toán AASC thực hiện.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC CHI PHÍ BÁN HÀNG VÀ CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Khái niệm về chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng: Theo khoản 1 điều 91 Thông tư 200/2014/TT-BTC (Bộ Tài
Chính, 2014), “Chi phí bán hàng là chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ, bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá (trừ hoạt động xây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển ”
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Theo khoản 1 điều 92 Thông tư 200/2014/TT-
BTC (Bộ Tài Chính, 2014), “Chi phí quản lý doanh nghiệp là chi phí quản lý chung của doanh nghiệp, gồm các chi phí về lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, ); bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; khoản lập dự phòng phải thu khó đòi; dịch vụ mua ngoài (điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản, cháy nổ ); chi phí bằng tiền khác (tiếp khách, hội nghị khách hàng ).”
Kế toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
1.2.1 Nguyên tắc hạch toán chi phí bán hàng
Theo điều 91 Thông tư 200/2014/TT-BTC (Bộ Tài Chính, 2014), nguyên tắc kế toán chi phí bán hàng như sau:
“Bên nợ: Các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ.
- Khoản được ghi giảm chi phí bán hàng trong kỳ;
- Kết chuyển chi phí bán hàng vào tài khoản 911 "Xác định kết quả kinh doanh" để tính kết quả kinh doanh trong kỳ
Tài khoản 641 không có số dư cuối kỳ
Tài khoản 641 – chi phí bán hàng có 7 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 6411 - Chi phí nhân viên: Phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hoá, bao gồm tiền lương, tiền ăn giữa ca, tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp,
- Tài khoản 6412 - Chi phí vật liệu, bao bì: Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, như chi phí vật liệu đóng gói sản phẩm, hàng hoá, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo quản TSCĐ, dùng cho bộ phận bán hàng
- Tài khoản 6413 - Chi phí dụng cụ, đồ dùng: Phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá như dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện làm việc,
- Tài khoản 6414 - Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán hàng, như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ, vận chuyển, phương tiện tính toán, đo lường, kiểm nghiệm chất lượng,
- Tài khoản 6415 - Chi phí bảo hành: Dùng để phản ánh khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá Riêng chi phí sửa chữa và bảo hành công trình xây lắp phản ánh ở TK 627 “Chi phí sản xuất chung” mà không phản ánh ở TK này
- Tài khoản 6417 - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bán hàng như chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ phục vụ trực tiếp cho khâu bán hàng, tiền thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá đi bán, tiền trả hoa hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu,
- Tài khoản 6418 - Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong khâu bán hàng ngoài các chi phí đã kể trên như chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu sản phẩm, hàng hoá, quảng cáo, chào hàng, chi phí hội nghị khách hàng ”
Sơ đồ 1.1: Phương pháp kế toán tài khoản 641 – Chi phí bán hàng
(Nguồn: Thông tư 200/2014/TT-BTC)
1.2.2 Nguyên tắc hạch toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Theo điều 91 Thông tư 200/2014/TT-BTC (Bộ Tài Chính, 2014), nguyên tắc kế toán chi phí quản lý doanh nghiệp như sau:
- Các chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh trong kỳ;
- Số dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả (chênh lệch giữa số dự phòng phải lập kỳ này lớn hơn số dự phòng đã lập kỳ trước chưa sử dụng hết);
- Các khoản được ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp;
- Hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả (chênh lệch giữa số dự phòng phải lập kỳ này nhỏ hơn số dự phòng đã lập kỳ trước chưa sử dụng hết);
- Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp vào tài khoản 911 "Xác định kết quả kinh doanh"
Tài khoản 642 không có số dư cuối kỳ
Tài khoản 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp có 8 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 6421 - Chi phí nhân viên quản lý: Phản ánh các khoản phải trả cho cán bộ nhân viên quản lý doanh nghiệp, như tiền lương, các khoản phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp của BGĐ, nhân viên quản lý ở các phòng, ban của doanh nghiệp
- Tài khoản 6422 - Chi phí vật liệu quản lý: Phản ánh chi phí vật liệu xuất dùng cho công tác quản lý doanh nghiệp như văn phòng phẩm vật liệu sử dụng cho việc sửa chữa TSCĐ, công cụ, dụng cụ, (giá có thuế, hoặc chưa có thuế GTGT)
- Tài khoản 6423 - Chi phí đồ dùng văn phòng: Phản ánh chi phí dụng cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho công tác quản lý (giá có thuế, hoặc chưa có thuế GTGT)
- Tài khoản 6424 - Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp như: Nhà cửa làm việc của các phòng ban, kho tàng, vật kiến trúc, phương tiện vận tải truyền dẫn, máy móc thiết bị quản lý dùng trên văn phòng,
- Tài khoản 6425 - Thuế, phí và lệ phí: Phản ánh chi phí về thuế, phí và lệ phí như: thuế môn bài, tiền thuê đất, và các khoản phí, lệ phí khác
- Tài khoản 6426 - Chi phí dự phòng: Phản ánh các khoản dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
Quy trình kiểm toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán (Bộ Tài Chính,
2012), yêu cầu kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải lập kế hoạch kiểm toán để đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách có hiệu quả Ngoài ra, “nội dung và phạm vi công việc lập kế hoạch kiểm toán có thể khác nhau tùy theo quy mô và sự phức tạp của đơn vị được kiểm toán cũng như kinh nghiệm trước đây của nhóm kiểm toán đối với đơn vị đó, và những thay đổi phát sinh trong cuộc kiểm toán”
Việc xây dựng kế hoạch kiểm toán một cách hợp lý sẽ giúp KTV tập trung nguồn lực vào các phần hành trọng yếu của cuộc kiểm toán, đồng thời nhận diện và xử lý các vấn đề phát sinh một cách kịp thời Kế hoạch kiểm toán còn giúp tổ chức và quản lý cuộc kiểm toán một cách khoa học, hiệu quả; hỗ trợ lựa chọn nhóm kiểm toán có đủ năng lực chuyên môn để đảm nhận các công việc phù hợp; đảm bảo phân bổ nhân sự hợp lý với từng phần hành; tạo điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, giám sát tiến độ thực hiện của nhóm;
1.4.1 Giai đoạn 1 - lập kế hoạch kiểm toán
1.4.1.1 Chấp nhận khách hàng và lập kế hoạch kiểm toán ban đầu
Khi tiến hành một cuộc kiểm toán, KTV phải thực hiện các thủ tục ban đầu của cuộc kiểm toán bao gồm việc thực hiện các thủ tục đối với việc chấp nhận, duy trì khách hàng và hợp đồng kiểm toán, đánh giá sự tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán cũng như đạo đức nghề nghiệp của KTV, hiểu về các điều khoản có trong hợp đồng kiểm toán
Trước khi chấp nhận khách hàng, KTV cần xác định liệu việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng có đảm bảo duy trì tính độc lập của KTV và KTV có đủ năng lực thực hiện cuộc kiểm toán hay không Thứ hai, xác minh rằng BGĐ của đơn vị được kiểm toán không tồn tại vấn đề nào về tính chính trực có thể ảnh hưởng tới việc chấp thuận hợp đồng kiểm toán của hai bên Thứ ba, hai bên phải hiểu rõ các điều khoản, nghĩa vụ trong hợp đồng kiểm toán nhằm tránh bất kỳ sự hiểu lầm nào trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán
Nếu phát sinh những vấn đề mới liên quan tới việc duy trì khách hàng, theo Chuẩn mực kiểm toán số 300 - Lập kế hoạch kiểm toán (Bộ Tài Chính, 2012), “Trong suốt cuộc kiểm toán, khi có sự thay đổi hay phát sinh các điều kiện mới, kiểm toán viên cần cân nhắc về việc tiếp tục duy trì khách hàng và chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp, bao gồm tính độc lập Các thủ tục ban đầu về việc tiếp tục chấp nhận khách hàng và đánh giá các yêu cầu về đạo đức, tính độc lập, cần được hoàn thành trước khi thực hiện các thủ tục kiểm toán quan trọng khác cho cuộc kiểm toán hiện tại.”
1.4.1.2 Lập hợp đồng kiểm toán và phân công nhóm kiểm toán
Sau khi đánh giá chấp nhận khách hàng, công ty kiểm toán sẽ ký kết hợp đồng kiểm toán với đơn vị được kiểm toán Tiếp đó, Giám đốc kiểm toán sẽ lựa chọn nhóm KTV phù hợp, đủ năng lực chuyên môn, đáp ứng tính độc lập và chính trực phụ trách cuộc kiểm toán Tuy nhiên, Giám đốc kiểm toán vẫn là người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ cuộc kiểm toán
1.4.1.3 Tìm hiểu đặc điểm kinh doanh và ngành nghề của khách hàng
Theo Chuẩn mực kiểm toán số 315 (Bộ Tài Chính, 2012), KTV cần có những hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị Theo đó KTV phải tìm hiểu những thông tin sau:
“(a) Ngành nghề kinh doanh, các quy định pháp lý và các yếu tố bên ngoài khác, bao gồm cả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng (xem hướng dẫn tại đoạn A17 - A22 Chuẩn mực này);
(b) Đặc điểm của đơn vị, bao gồm:
(ii) Loại hình sở hữu và bộ máy quản trị;
(iii) Các hình thức đầu tư mà đơn vị đang và sẽ tham gia, kể cả đầu tư vào các đơn vị có mục đích đặc biệt;
(iv) Cơ cấu tổ chức, sản xuất kinh doanh và quản lý và cơ cấu nguồn vốn của đơn vị
Các thông tin này giúp kiểm toán viên hiểu được các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh cần được trình bày trên báo cáo tài chính của đơn vị (xem hướng dẫn tại đoạn A23 - A27 Chuẩn mực này)
(c) Các chính sách kế toán mà đơn vị lựa chọn áp dụng và lý do thay đổi (nếu có) Kiểm toán viên phải đánh giá các chính sách kế toán mà đơn vị đang áp dụng có phù hợp với lĩnh vực hoạt động kinh doanh của đơn vị, có nhất quán với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính và các chính sách kế toán mà các đơn vị trong cùng lĩnh vực hoạt động đang áp dụng hay không (xem hướng dẫn tại đoạn A28 Chuẩn mực này)
(d) Mục tiêu, chiến lược của đơn vị và những rủi ro kinh doanh có liên quan mà có thể dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu (xem hướng dẫn tại đoạn A29 - A35 Chuẩn mực này);
(e) Việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị (xem hướng dẫn tại đoạn A36 - A41 Chuẩn mực này).” Đối với việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị, KTV cần nắm rõ việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị như cách thức xây dựng KPI, khen thưởng trả lương, quy chế chi tiêu nội bộ, doanh thu theo khu vực, lợi nhuận biên, tỷ suất sinh lời, mức độ hoàn thành so với mục tiêu, tính khả thi các mục tiêu và đánh giá nguy cơ gian lận, Ngoài ra, KTV cũng cần nắm rõ điều kiện ghi nhận CPBH và CPQLDN là gì? Quy trình hạch toán khoản mục này như thế nào? (thông qua quá trình phỏng vấn kế toán, quan sát cách hạch toán của đơn vị)
Từ những thông tin thu thập được, KTV xác định rủi ro tiềm tàng đối với các khoản mục trên BCTC nói chung cũng như khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp nói riêng
1.4.1.4 Tìm hiểu chính sách kế toán và chu trình kinh doanh Để có thể hiểu rõ cách doanh nghiệp hạch toán và tránh xảy ra sai sót đối với khoản mục CPBH và CPQLDN, kiểm toán viên cần tìm hiểu chính sách kế toán mà doanh nghiệp đang áp dụng là gì? Chứng từ có phù hợp, đầy đủ chữ ký, phê duyệt của người có thẩm quyền không? Việc hạch toán có tuân thủ theo chính sách, chuẩn mực kế toán của Việt Nam không?
1.4.1.5 Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ
Tiếp theo, KTV thực hiện phân tích sơ bộ BCTC của đơn vị để có cái nhìn khái quát về tình hình hoạt động tại đơn vị Theo chuẩn mực kiểm toán số 520 - Thủ tục phân tích (Bộ Tài Chính, 2012), “Thủ tục phân tích được hiểu là việc đánh giá thông tin tài chính qua việc phân tích các mối quan hệ hợp lý giữa dữ liệu tài chính và phi tài chính Thủ tục phân tích cũng bao gồm việc điều tra, khi cần thiết, về các biến động hoặc các mối quan hệ được xác định là không nhất quán với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch đáng kể so với các giá trị dự tính” Qua đó, KTV có thể phát hiện các vấn đề bất thường, tìm ra nguyên nhân Các thủ tục phân tích sơ bộ đối với khoản mục CPBH và CPQLDN được trình bày dưới bảng sau:
Bảng 1.1: Thủ tục phân tích sơ bộ
Phân tích ngang Phân tích dọc
Khái niệm So sánh CPBH, CPQLDN qua nhiều kỳ kế toán giúp nhận diện xu hướng biến động tăng, giảm của chi phí theo thời gian
Một số nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động kiểm toán
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2023) đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán: Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh”, đăng trên báo Tài chính Công thương ngày 05 tháng 07 năm 2023, chỉ ra rằng yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán là năng lực chuyên môn của kiểm toán viên, tính độc lập của kiểm toán viên và hệ thống kiểm soát chất lượng của công ty kiểm toán Cụ thể:
Tính độc lập của KTV
“Sự độc lập của kiểm toán viên là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán Sự độc lập của kiểm toán viên bao gồm độc lập về tư tưởng và độc lập về hình thức (IFAC, 2022).” Để duy trì tính độc lập, kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần có những biện pháp giảm thiểu những nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập, bao gồm nguy cơ tư lợi, nguy cơ tự kiểm tra, nguy cơ về sự bào chữa, nguy cơ từ sự thân quen và nguy cơ bị đe dọa
Năng lực chuyên môn của kiểm toán viên
“Năng lực chuyên môn thể hiện ở kiến thức và trình độ chuyên môn của kiểm toán viên bao hàm cả khả năng xét đoán chuyên môn và sự hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán Năng lực chuyên môn đòi hỏi kiểm toán viên phải được đào tạo chính quy về kiểm toán, kế toán và thực hành đủ kinh nghiệm trong nghề kiểm toán cũng như giáo dục chuyên nghiệp liên tục (Arens, 2014) Theo Mulyadi
(2009), kiểm toán viên có thể đạt được năng lực chuyên môn thông qua việc giáo dục kinh nghiệm Mỗi cá nhân phải cố gắng đạt được mức năng lực cao nhất để đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp đạt yêu cầu cao và có tính chuyên nghiệp, phù hợp với các nguyên tắc đạo đức hiện hành Năng lực chuyên môn ở đây không chỉ trong lĩnh vực kiểm toán, mà còn là sự am hiểu trong những lĩnh vực hoạt động của khách hàng Những am hiểu này sẽ làm tăng cường khả năng phát hiện sai sót, qua đó ảnh hưởng đến khả năng báo cáo các sai sót và làm tăng chất lượng kiểm toán (Hammersley, 2006).”
Hệ thống kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp kiểm toán
“So với các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán khác, kiểm soát chất lượng (KSCL) từ bên trong vẫn được xem là một hoạt động không thể thiếu đối với các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) Nội dung nghiên cứu về nhân tố này có phạm vi khá rộng, liên quan đến tất cả các khía cạnh khác nhau trong quá trình hoạt động của DNKT Theo chuẩn mực KSCL số 1 Việt Nam (VSQC1), công ty kiểm toán cần xây dựng và duy trì hệ thống KSCL bao gồm các chính sách và thủ tục cho từng yếu tố: Trách nhiệm của Ban Giám đốc về chất lượng; Quy định về đạo đức nghề nghiệp; Chấp nhận và duy trì quan hệ khách hàng; Nguồn lực; Thực hiện hợp đồng và Giám sát Nếu Công ty kiểm toán thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát chất lượng tốt thì các sai sót trọng yếu trên BCTC dễ dàng được phát hiện hơn Như vậy, KSCL từ bên trong tốt sẽ thúc đẩy việc tuân thủ của kiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán, từ đó giúp nâng cao chất lượng kiểm toán.”
Ngoài ra, theo Ths Nguyễn Thị Thanh Phương (n.d.) trong bài viết “Ảnh hưởng của các nhân tố tới tổ chức Kiểm toán Báo cáo tài chính do Kiểm toán viên Độc lập thực hiện” cũng chỉ ra một số nhân tố liên quan tới doanh nghiệp kiểm toán ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán Cụ thể:
“Một DNKT có quy mô lớn sẽ có số lượng KTV hành nghề và nhân viên chuyên nghiệp lớn, vì vậy DNKT sẽ dễ dàng trong việc sắp xếp và bố trí nhân sự cho cuộc kiểm toán Ngược lại, đối với những DNKT có quy mô nhỏ và vừa, số lượng nhân sự không đáp ứng đủ, dẫn tới một chủ nhiệm kiểm toán hoặc một KTV có thể đảm nhiệm nhiều khách hàng cùng một lúc, hoặc không đủ KTV có kinh nghiệm giám sát công việc của các thành viên khác Do vậy, sẽ gặp khó khăn trong việc tổ chức nhân sự cho cuộc kiểm toán.”
Nhận thức, quan điểm của nhà quản lý doanh nghiệp kiểm toán
“Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới tổ chức cuộc kiểm toán BCTC Quan điểm nhận thức của Ban giám đốc có ảnh hưởng và chi phối nhiều đến việc tổ chức vận dụng phương pháp thủ tục kiểm toán trong cuộc kiểm toán BCTC Nếu Ban giám đốc DNKT chú trọng đến chất lượng của kiểm toán thì thường tổ chức triển khai một cuộc kiểm toán BCTC, phù hợp với quy định pháp lý hiện hành Nếu Ban giám đốc DNKT có quan điểm vì lợi nhuận thì họ có thể lơ là hoặc cắt bớt các thủ tục kiểm toán, không chú trọng phương pháp kiểm toán mà thường chỉ tập trung kiểm tra chi tiết những khoản mục có giá trị lớn.”
Ths Nguyễn Thị Thanh Phương (n.d.) đã chỉ ra một số nhân tố khách quan tác động tới chất lượng kiểm toán Cụ thể:
“Các nhân tố thuộc về môi trường pháp lý như quản lý của Nhà nước có ảnh hưởng tới tổ chức công tác kiểm toán BCTC bao gồm: Các quy định pháp lý và công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát của cơ quan Nhà nước và Hiệp hội nghề nghiệp Ở Việt Nam chưa có các quy định và hướng dẫn cụ thể về tổ chức công tác kiểm toán BCTC, mà chỉ có một hệ thống các văn bản pháp quy chi phối ảnh hưởng đến nội dung, phương pháp và nguồn nhân lực thực hiện tổ chức công tác kiểm toán BCTC Các quy định pháp lý bao gồm Luật Kiểm toán độc lập, Chuẩn mực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp và các quy định pháp lý khác có liên quan Các quy định này, ảnh hưởng tới tổ chức công tác kiểm toán BCTC của DNKT trên các khía cạnh cụ thể.”
Người sử dụng thông tin
“Mối quan tâm của người sử dụng thông tin đối với BCTC có sự khác nhau, tùy thuộc vào mục đích sử dụng thông tin Tuy nhiên, người sử dụng thông tin đều cần một BCTC trung thực hợp lý Chính vì vậy, khi tổ chức cuộc kiểm toán BCTC, KTV và doanh nghiệp kiểm toán cần chú ý lựa chọn những nhân sự có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp phù hợp, để tiến hành cuộc kiểm toán khoa học, hợp lý, đảm bảo nâng cao chất lượng dịch vụ.”
Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát của đơn vị được kiểm toán
“Rủi ro tiềm tàng: phụ thuộc vào đặc điểm của đơn vị được kiểm toán như: Khu vực hoạt động, loại hình sở hữu và bộ máy quản trị, cơ cấu tổ chức, đặc điểm sản xuất kinh doanh, bản chất của hệ thống kế toán, Mức rủi ro tiềm tàng mà KTV dự kiến cao hay thấp sẽ chi phối tới tổ chức nhân sự và phương pháp, nội dung của kiểm toán Thông thường, các DNKT sẽ lựa chọn các KTV có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao, đối với những khách hàng có mức rủi ro tiềm tàng cao Phạm vi kiểm toán cũng phụ thuộc vào đánh giá của KTV về rủi ro tiềm tàng Nếu rủi ro tiềm tàng được đánh giá cao, KTV sẽ tập trung vào các thử nghiệm cơ bản Ngược lại, nếu rủi ro tiềm tàng được đánh giá là thấp thì KTV sẽ tập trung vào các thử nghiệm kiểm soát, để thu thập các bằng chứng về tính hữu hiệu của KSNB
Rủi ro kiểm soát: Tính thích hợp và hiệu quả của kiểm soát nội bộ càng yếu kém thì rủi ro kiểm soát càng cao, mức độ gian lận và sai sót trên BCTC là lớn Vì vậy, trên cơ sở đánh giá về rủi ro kiểm soát, KTV phải thực hiện cuộc kiểm toán sao cho có thể phát hiện được các sai sót trọng yếu, từ đó đảm bảo rủi ro kiểm toán ở mức chấp nhận được Cũng như rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát cao hay thấp sẽ là cơ sở để KTV tổ chức nhân sự, phương pháp và nội dung công việc kiểm toán cần thực hiện Nếu KTV đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức cao, thì cuộc kiểm toán cần các KTV có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao, đồng thời tăng cường các thử nghiệm cơ bản.”
Theo TS Trần Khánh Lâm (2015), giá phí kiểm toán cũng ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán:
“Hạ thấp chi phí (lowballing) có thể dẫn đến quỹ thời gian và chi phí dự trù cho cuộc kiểm toán bị hạ thấp và điều này tạo nên áp lực và khó khăn cho KTV trong việc phát hiện các sai phạm trọng yếu do sợ bị mất khách hàng.”
Có thể thấy, các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán bao gồm các yếu tố được phân thành 3 nhóm sau: (1) Nhóm yếu tố thuộc KTV (năng lực và tính độc lập của KTV); (2) Nhóm yếu tố thuộc về DNKT (Quy mô, hệ thống KSCL và nhận thức, quan điểm của nhà quản lý); (3) Nhóm yếu tố khác (khách hàng, người sử dụng thông tin, môi trường pháp lý, rủi ro của đơn vị được kiểm toán và giá phí kiểm toán) Do đó, khi tổ chức thực hiện kiểm toán BCTC, các KTV và DNKT phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố có thể ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán để tổ chức công tác kiểm toán BCTC một cách khoa học, hợp lý và tuân thủ pháp luật
Chương 1 đã chỉ ra những cơ sở lý luận, vai trò, mục tiêu của kiểm toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Đồng thời cũng đưa ra được quy trình kiểm toán tổng quát khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong kiểm toán BCTC do các công ty kiểm toán thực hiện Bên cạnh đó, chương 1 cũng đã đề cập tới một số nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán trong công tác kiểm toán BCTC mà DNKT cần lưu ý Đây là nền tảng cho chương 2 của khóa luận, đi sâu vào phân tích thực trạng kiểm toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp do công ty TNHH Hãng kiểm toán AASC thực hiện, từ đó đưa ra những đánh giá về ưu, nhược điểm của quy trình kiểm toán đó.