1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp marketing nhằm Điều tiết nhu cầu của du khách Đối với sản phẩm du lịch biển hạ long

35 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp marketing nhằm điều tiết nhu cầu của du khách đối với sản phẩm du lịch biển Hạ Long
Tác giả Nguyễn Thiên Hoàng Anh, Vũ Thị Phương Thảo, Nguyễn Thuỳ Linh, Nguyễn Thị Vân
Người hướng dẫn TS. Trương Đức Thao
Trường học Trường Đại học Thăng Long
Chuyên ngành Marketing trong kinh doanh du lịch
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 571,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONGBỘ MÔN DU LỊCH ---o0o---TIỂU LUẬN MARKETING TRONG KINH DOANH DU LỊCH HỌC KỲ III NHÓM 2 NĂM 2019-2020 MỘT SỐ GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM ĐIỀU TIẾT NHU CẦU CỦA DU K

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

BỘ MÔN DU LỊCH

-o0o -TIỂU LUẬN MARKETING TRONG KINH DOANH DU LỊCH

(HỌC KỲ III NHÓM 2 NĂM 2019-2020)

MỘT SỐ GIẢI PHÁP MARKETING NHẰM ĐIỀU TIẾT NHU CẦU CỦA DU KHÁCH ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DU

LỊCH BIỂN HẠ LONG GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS TRƯƠNG ĐỨC THAO SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THIÊN HOÀNG ANH – A33033

VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO – A33011 NGUYỄN THUỲ LINH – A33169 NGUYỄN THỊ VÂN – A33249

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH DU LỊCH, NĂNG SUẤT

VÀ QUẢN LÝ NHU CẦU 3

1.1 Khái niệm về du lịch và kinh doanh du lịch 3

1.1.1 Một số khái niệm về du lịch 3

1.1.2 Khái niệm về kinh doanh du lịch 4

1.1.3 Tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch 4

1.2 Năng suất dịch vụ và quản lý nhu cầu 5

1.2.1 Công suất và năng suất dịch vụ 5

1.2.2 Điều tiết nhu cầu của khách hàng 8

PHẦN 2 PHÂN TÍCH ĐẶC DIỂM NHU CẦU CỦA KHÁCH DU LỊCH TẠI BIỂN HẠ LONG 9

2.1 Giới thiệu chung về khu du lịch biển Hạ Long 9

2.1.1 Vị trí địa lý địa lý và điều kiện tự nhiên 9

2.1.2 Tài nguyên du lịch 10

2.1.3 Các điều kiện cung ứng dịch vụ ( cơ sở hạ tầng, nhân lực, điều kiện kinh tế, ) 17

2.2 Tính mùa vụ ảnh hưởng tới năng suất phục vụ 18

2.2.1 Công suất phục vụ của điểm đến 18

2.2.2 Quy mô và đặc điểm nguồn khách 22

2.2.3 Đặc điểm mùa vụ của Hạ Long 24

2.3 Nhận xét chung 25

2.3.1 Một số mặt tích cực 25

2.3.2 Một số mặt tiêu cực 26

PHẦN 3 ĐỀ SUẤT GIẢI PHÁP NHẰM ĐIỀU TIẾT NHU CẦU CỦA DU KHÁCH ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN HẠ LONG 27

3.1 Điều tiết nhu cầu bằng chính sách sản phẩm: 27

3.2 Điều tiết nhu cầu bằng chính sách truyền thông 28

3.3 Điều tiết nhu cầu bằng một số công cụ khác 28

KẾT LUẬN

Trang 3

TÀI KIỆU KHAM KHẢO

Trang 4

MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức,ngành du lịch nổi lên như một điểm nhấn hỗ trợ cho sự phục hồi về kinh tế.Ngành “công nghiệp không khói” này tại Việt Nam trong thời gian qua đã cónhững đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc gia và thu nhập của người dân.Sự phát triển của Du lịch quốc tế đến Việt Nam không những tạo nguồn thuquan trọng của ngoại tệ, mà còn góp phần khôi phục nhiều ngành nghề thủ côngtruyền thống, phát huy hữu hiệu các giá trị văn hóa cổ truyền, giải quyết đượcbài toán việc làm, Tại một số nơi, du lịch đã làm thay đổi cơ bản diện mạo đôthị, nông thôn và đời sống nhân dân Ngành du lịch Việt Nam nói chung cũngnhư Du lịch quốc tế đến Việt Nam nói riêng cũng đã góp phần đẩy nhanh tốc độhội nhập của Việt Nam đối với xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùngmạnh mẽ trên toàn thế giới

Việt Nam dù được đánh giá là một quốc gia có tiềm năng về du lịch, nhưnglại phát triển khá chậm so với nhiều quốc gia trong khu vực, đặc biệt là trongviệc thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam thưởng ngoạn Đó là bởi Việt Nam

ta chưa có một chiến lược marketing du lịch hiệu quả, có thể tạo bước đột phávà duy trì sự phát triển bền vững cho toàn ngành du lịch

Trang 5

PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH DU LỊCH, NĂNG SUẤT

VÀ QUẢN LÝ NHU CẦU

1.1 Khái niệm về du lịch và kinh doanh du lịch

1.1.1 Một số khái niệm về du lịch

Khái niệm du lịch: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyền đicủa con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầutham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhấtđịnh (Điểm 1 khoản 4 Luật Du lịch Việt Nam 2005)

Khái niệm khách du lịch: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kếthợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhậpở nơi đến

 Khách du lịch quốc tế (International tourism): Khách du lịch quốctế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào ViệtNam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại ViệtNam ra nước ngoài du lịch (Điểm 2 điều 4 Luật Du lịch Việt Nam2005)

+ Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourism): là người nước ngoài,người của một quốc gia nào đó định cư ở nước khác vào một quốc giađể du lịch

+ Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourism): là công dâncủa một quốc gia và người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi

ra nước khác du lịch

 Khách du lịch trong nước (Internal tourism): là công dân Việt Nam,người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnhthổ Việt Nam

 Khách du lịch nội địa (Domestic tourism): là tất cả những người kháchđang đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia (bao gồm khách

du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế đi vào)

 Khách du lịch quốc gia (National tourism): là tất cả công dân của mộtquốc gia nào đó đi du lịch (bao gồm đi du lịch trong nước và nướcngoài)

a Theo Tổ chức Du lịch thế giới, có các dạng du lịch là:

Trang 6

 Du lịch làm ăn

 Du lịch giải trí, năng động và đặc biệt

 Du lịch nội quốc, quá biên

 Du lịch tham quan trong thành phố

 Du lịch trên những miền quê (du lịch sinh thái)

 Du lịch khám phá, mạo hiểm, trải nghiệm

 Du lịch hội thảo, triển lãm MICE

 Du lịch giảm stress; du lịch balo

 Du lịch bụi, du lịch tự túc

1.1.2 Khái niệm về kinh doanh du lịch

Về bản chất, hoạt động kinh doanh du lịch là tổng hòa mối quan hệ giữacác hiện tượng kinh tế với kinh tế của hoạt động du lịch, hình thành trên cơ sởphát triển đầy đủ sản phẩm hàng hóa du lịch và quá trình trao đổi mua và bánhàng hóa du lịch trên thị trường

Sự vận hành kinh doanh du lịch là lấy tiền tệ làm môi giới, tiến hành traođổi sản phẩm du lịch giữa người mua (du khách) và người bán (nhà kinh doanh

du lịch), sự vận hành này lấy vận động mâu thuẫn giữa hai mặt cung cấp và nhucầu du lịch làm đặc trưng chủ yếu

Trong điều kiện thị trường , việc thực hiện thông suốt hoạt động kinhdoanh du lịch được quyết định bởi sự điều hòa nhịp nhàng giữa hai đại lượngcung và cầu du lịch

Khác với các loại hàng hóa thông thường sản phẩm hàng hóa trao đổi giữahai bên cung cầu trong du lịch không phải là vật cụ thể, cái mà du khách cóđược là sự cảm giác, thể nghiệm hoặc hưởng thụ, vì thế trong quá trình trao đổisản phẩm du lịch, giao lưu hàng hóa và giao lưu vật là tách rời nhau Sự trao đổisản phẩm du lịch và tiền tệ do hai bên cung cầu du lịch tiến hành không làm thayđổi quyền sở hữu sản phẩm du lịch, trong quá trình chuyển đổi cũng không xảy

ra sự chuyển dịch sản phẩm, du khách chỉ có quyền chiếm hữu tạm thời sảnphẩm du lịch tại nơi du lịch Cùng một sản phẩm du lịch vẫn bán được nhiều lầncho nhiều du khách khác nhau sử dụng, sản phẩm du lịch chỉ tạm thời chuyểndịch quyền sử dụng, còn quyền sở hữu vẫn nằm trong tay người kinh doanh, đâychính là đặc điểm cơ bản của kinh doanh du lịch

Trang 7

1.1.3 Tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch

Dưới góc độ xã hội, hoạt động du lịch mang tính nhịp điệu khá rõ nét.Cường độ của hoạt động du lịch không đồng đều theo thời gian Có những lúchầu như không có khách đến, ngược lại, có những giai đoạn nhất định lượngkhách du lịch đến quá đông và vượt quá sức chịu đựng cúa khu vực

Dưới góc độ kinh tế, thời vụ du lịch được hiểu là những biến động lặp đilặp lại hàng nă của cung và cầu du lịch, xảy ra dứoi tác động của một số nhân tốxác định Ttong hực tế thời vụ du lịch của một vùng là tập hợp hàng loạt cácbiến dộng theo mùa của cung và cầu cũng như tác động tương hôc giưã chúngtrong mục tiêu du lịch

Như vậy, tính thời vụ trong du lịch là những dao động được lặp đi lặp lạitheo thời gian của cung và cầu các dịch vụ hàng hoá du lịch xảy ra dưới tác độngcủa một số nhân tố xác định

a Tính thời vụ du lịch tạo ra các mùa trong du lịch các mùa trong du lịchbao gồm:

 Mùa chính du lịch: là khoảng thời gian có cường độ thu hút khách dulịch cao nhát

 Mùa trái du lịch: là khoảng thời gian có cường độ thu hút khách du lịchtháp nhất (còn gọi là mùa chết)

 Trước mùa du lịch: là khoảng thời gian có cường độ thấp hơn mùachính,, xảy ra trước mùa du lịch chính

 Sau mùa du lịch: là khoảng thời gian có cường độ thấp hơn mùa chính

du lịch

a Các đặc điểm của tính thời vụ du lịch

 Tính thời vụ trong du lịch là một hiện tượng phổ biến khách quan ở hầuhết các nước, các vùng có hoạt động du lịch

 Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch có sự khác biệt phụthuộc vào mức độ khai thác tài nguyên du lịch và điều kiện đón tiếp,phục vụ khách du lịch

 Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoạc nhiều mù vụ dulịch, tùu thuộc vào các loại hình du lịch đang phát triển ở đó

 Độ dài và cường độ của thời vụ du lịch có sự khách biệt theo từng loạihình du lịch

Trang 8

 Độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ du lịch phụ thuộc vào mứcđộ phát triển kinh nghiệm kinh doanh du lịch của quốc gia du lịch, điểm

du lịch và các nhà kinh doanh du lịch

 Cường độ và độ dài phụ thuộc vào thời vụ du lịch phụ thuộc vào cơ cấucủa khách đến vùng du lịch

 Cường độ và độ dài thời vụ du lịch phụ thuộc vào số lượng các cơ sở lưutrú chính

1.2 Năng suất dịch vụ và quản lý nhu cầu

1.2.1 Công suất và năng suất dịch vụ

Trước khi tìm hiểu về năng suất dịch vụ thì ta cần phải hiểu thế nào là côngsuất dịch vụ Công suất luôn là một trong những nội dung quan trọng nhất ảnhhưởng tới kết quả hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp.Những quyết định về công suất vừa mang tính chiến lược vừa mang tính tácnghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng duy trì hoạt động và phương pháp pháttriển của các doanh nghiệp Bởi vậy, để có thể xây dựng được hoạt động sảnxuất cung ứng dịch vụ thật tốt thì bản than mỗi doanh nghiệp dịch vụ cần hiểu rõkhái niệm về công suất và công suất phục vụ

Công suất phục vụ:

Công suất sản xuất là khả năng sản xuất của máy móc, thiết bị, lao động vàcác bộ phận của doanh nghiệp trong một đơn vị thời gian nhất định (tháng, quý,năm …) trong điều kiện xác định

Công suất là một đại lượng động, có thể thay đổi theo thời gian và điềukiện sản xuất Nếu thay đổi số lượng thiết bị, diện tích sản xuất, bố trí phân cônggiao công việc cho nhân viên hợp lý, cải tiến quản lý … thì công suất cũng cóthể thay đổi

Có nhiều loại công suất khác nhau Sự phân loại và nghiên cứu đồng thờicác loại công suất đó cho phép đánh giá trình độ quản trị, sử dụng công suất mộtcách toàn diện và có hiệu quả hơn đối với doanh nghiệp

 Công suất thiết kế:

là công suất tối đa mà doanh nghiệp có thể thực hiện được trong nhữngđiều kiện thiết kế có thể kể đến như:

+ Máy móc thiết bị hoạt động bình thường, không bị gián đoạn không bịhỏng hóc hoặc bị mất điện

Trang 9

+ Những yếu tố đầu vào được đảm bảo đầy đủ như nguyên liệu, nhiênliệu,…

+ Thời gian làm việc của doanh nghiệp hợp với chế độ làm việc theoquy định hiện hành

Đây là giới hạn tối đa về năng lực sản xuất mà doanh nghiệp có thể đạtđược Tuy nhiên trong thực tế, rất có để có thể đạt được điều này mà thườngcông suất thiết kế có vai trò quan trọng, được sử dụng để đánh giá mức độ sửdụng và hiệu quả sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp

Công suất hiệu quả: là tổng đầu ra tối đa mà doanh nghiệp mong muốn cóthể đạt được trong những điều kiện cụ thể về cơ cấu sản phẩm hay dịch vụ, tuânthủ các quy chuẩn, quy trình công nghệ, khả năng điều hành sản xuất, kế hoạchduy trì, bảo dưỡng định kỳ, … Công suất hiệu quả giúp doanh nghiệp có độnglực phấn đấu để đạt được mục tiêu mong muốn

Công suất thực tế: Là công suất mà doanh nghiệp kỳ vọng đạt được Trongthực tế hoạt động, doanh nghiệp có thể gặp những trục trặc bất thường khiên choquá trình sản xuất không đạt được quy định, quy chuẩn đã đề ra làm khối lượngsản xuất ra sẽ thấp hơn nhiều so với thực tế Phần lớn các doanh nghiệp hiện nayquan niệm khối lượng sản phẩm mà doanh nghiệp đạt được trong thực tế chínhlà công suất thực tế

Ba khái niệm công suất trên được dùng để xây dựng hai chỉ tiêu mức độhiệu quả và mức độ sử dụng của công suất:

Mức hiệu quả = ( Công suất thực tế/ Công suất hiệu quả) * 100%

Mức độ sử dụng = ( Công suất thực tế/ Công suất thiết kế) *100%

Dựa trên việc tính toán, phân tích hai chỉ tiêu trên, các doanh nghiệp có thểđánh giá được mức độ hiệu quả trong hoạt động quản lý công suất của mình để

từ đó xây dựng các kế hoạch, chiến lược điều chỉnh công suất phù hợp hơn Đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, công suất được hiểu là côngsuất phục vụ và được định nghĩa là “khả năng cung ứng sản phẩm dịch vụ củadoanh nghiệp trong một đơn vị thời gian” Do tính chất đặc thù của dịch vụ,khách hàng luôn tham gia vào mọi hoạt động cung ứng dịch vụ của doanhnghiệp Bởi vậy nên công suất phục vụ cũng chịu ảnh hưởng lớn từ phía kháchhàng mà đặc biệt là nhu cầu về sử dụng dịch vụ

Trang 10

Nhu cầu sử dụng dịch vụ của khách hàng là yếu tố hàng đầu quyết định tớicông suất phục vụ của một doanh nghiệp Các nhà cung cấp cần phải phân tíchđược khối lượng dịch vụ cần đáp ứng, thời điểm cần cung cấp dịch vụ Nếu nhưđối với hoạt động sản xuất hàng hóa thông thường thì các doanh nghiệp sẽ rấtthuận lợi trong việc lựa chọn công suất Việc sản xuất các sản phẩm giống nhaumột các đồng loạt sẽ giúp doanh nghiệp đạt được công suất cao

Ngược lại, đối với hoạt động cung cấp dịch vụ mà nhu cầu của thị trườngluôn luôn thay đổi, các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để lựa chọn,xây dựng mức công suất phục vụ cho phù hợp Nhu cầu sử dụng dịch vụ củakhách hàng thường thay đổi theo thời gian hay chu kỳ thời gian, có thể thay đổitheo ngày, theo tuần, theo quý, …

Đứng trước lượng nhu cầu thay đổi bất thường như vậy, nếu hoạt độngquản lý công suất của doanh nghiệp không được chú trọng sẽ gây hậu quả lớntới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nếu nhu cầu thị trường tăng cao độtbiến nhưng doanh nghiệp không có sự điều chỉnh để nâng cao mức công suất tối

đa tăng theo thì doanh nghiệp sẽ bỏ lỡ cơ hội lớn để đáp ứng nhu cầu của kháchhàng Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Ngược lại, nếu các doanh nghiệp không có sự điều chỉnh côngsuất hợp lí trong giai đoạn khách hàng ít có nhu cầu sẽ khiến cho chất lượngdịch vụ của doanh nghiệp kém hơn và dư thừa công suất

Năng suất dịch vụ:

Năng suất dịch vụ được định nghĩa là số lượng sản phẩm dịch vụ đượcdoanh nghiệp tạo ra trong một đơn vị thời gian và cung ứng cho khách hàng.Năng suất dịch vụ gắn liền với sức sản xuất Sức sản xuất chịu sự chi phối bởicác yếu tố như lực lượng lao động trực tiếp với sự thuần thục các hoạt động kỹnăng tạo dịch vụ Tiếp đến là những yếu tố khoa học công nghệ được áp dụngtrong hoạt động sản xuất dịch vụ bao gồm các máy móc, trang thiết bị hay cácphần mềm hỗ trợ quản lý doanh nghiệp

Ngoài các yếu tố trên, do đặc thù riêng của dịch vụ mà khách hàng thamgia vào mọi hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp Khách hàngvừa là đối tượng thụ hưởng, sử dụng dịch vụ và vừa đánh giá giá trị sử dụngcũng như chất lượng của dịch vụ Vậy nên nếu không có khách hàng sẽ khôngcó dịch vụ Cũng bởi vậy nên năng suất dịch vụ cũng chịu sự chi phối của kháchhàng, đối tượng khách hàng khác nhau sẽ tạo ra năng suất dịch vụ khác nhau

Trang 11

Ngoài ra, do sản phẩm dịch vụ có tính không thể lưu kho nên để hoạt độngsản xuất cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp luôn ở mức công suất tối ưu phụthuộc lớn vào hoạt động quản lý nhu cầu khách hàng Đối với các sản phẩmhàng hóa khác được sản xuất hàng loạt, doanh nghiệp chỉ cần tập trung vào việclàm sao để bán hết hàng hóa thật nhanh Các doanh nghiệp dịch vụ thì khôngnhư vậy, các nhà quản lý cần có những chiến lược quảng cáo, kinh doanh khácnhau để duy trì mức nhu cầu của khách hàng ổn định tương ứng với công suấtphục vụ tối ưu của doanh nghiệp Lượng khách hàng đến với dịch vụ của doanhnghiệp quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng tới chất lượng và hiệu quả hoạtđộng cung ứng dịch vụ của các doanh nghiệp. 

1.2.2 Điều tiết nhu cầu của khách hàng

Nhu cầu của khách hàng là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con ngườicảm nhận được và mong muốn được đáp ứng Nhu cầu này được hình thành là

do trạng thái ý thức của con người về việc thấy thiếu một cái gì đó để phục vụ.Chẳng hạn như khi ta cảm thấy thể trạng cơ thể không tốt thì ta hình thành nhucầu khám bệnh Các doanh nghiệp dịch vụ chỉ có thể phát hiện ra trạng tháithiếu hụt này để từ đó đáp ứng, thỏa mãn khách hàng chứ không thể tạo ra trạngthái này ở khách hàng được

Nhu cầu của khách hàng còn gọi là mong muốn hay kỳ vọng của kháchhàng, là nhu cầu tự nhiên có dạng đặc thù Vì vậy, đối vói mỗi một loại nhu cầunhưng ở đối tượng khách hàng khác nhau thì lại khách nhau Ví dụ như cùng làmột người có nhu cầu về giải trí, nhưng có khách hàng lại mong muốn đi du lịchthay vì xem phim như những khách hàng khác Chính vì nhu cầu của kháchhàng rất đa dạng, phong phú nên việc tìm hiểu nhu cầu của khách hàng là vôcùng quan trọng đối với bất kì doanh nghiệp nào

Tuy nhiên, việc nắm bắt được nhu cầu của khách hàng của doanh nghiệpthường gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh sự đa dạng về nhu cầu hay hoạt độngcủa khách hàng trong việc thể hiện nhu cầu của mình thì vấn đề thực sự đối vớicác doanh nghiệp dịch vụ là việc quản lý nhu cầu dịch vụ vốn thường xuyênthay đổi của khách hàng

Trang 12

PHẦN 2 PHÂN TÍCH ĐẶC DIỂM NHU CẦU CỦA KHÁCH DU LỊCH

TẠI BIỂN HẠ LONG

2.1 Giới thiệu chung

Vịnh Hạ Long

thuộc tỉnh Quảng Ninh,

nằm ở phía Đông Bắc

Việt Nam, cách thủ đô

Hà Nội 165km, giáp

vịnh Bái Tử Long; phía Tây Nam giáp quần đảo Cát Bà; phía Tây và Tây Bắcgiáp đất liền bằng đường bờ biển khoảng 120 km kéo dài từ thị xã Quảng Yên,qua thành phố Hạ Long, Thành phố Cẩm Phả đến hết huyện đảo Vân Đồn; phíaĐông Nam và phía Nam hướng ra vịnh Bắc Bộ Trong diện tích 1.553 km² gồmvùng lõi và vùng đệm, nằm tại các tọa độ từ 106°58'-107°22' Đông và 20°45'-20°50' Bắc, vịnh Hạ Long bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo cótên và 980 đảo chưa được đặt tên

a Địa hình

Địa hình Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, là một trongnhững khu vực hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồinúi, vùng ven biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt:

Vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đông bắc ( phía bắc quốc lộ 18A) chiếm70% diện tích đất của Thành phố, có độ cao trung bình từ 150m đến 250m, chạydài từ Yên Lập đến Hà Tu, đỉnh cao nhất là 504m Vùng ven biển ở phía namquốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0,5 đến 5m Vùng hải đảo là toàn bộ vùngvịnh, với gần 1960 hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đảo đá Riêng đảo Tuần Châu,rộng trên 400 ha nay đã có đường nối với quốc lộ 18A dài khoảng 2km

a Khí hậu

Trang 13

Thành phố Hạ Long có khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt,mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10.Nhiệt độ trung bình hằng năm là 230 C Độ ẩm không khí trung bình hằng nămlà 84%

Sông ngòi và chế độ thủy triều: Các sông chính chảy qua địa phận thànhphố gồm có các sông Diễn Vọng, Vũ Oai, Man, Trới, cả 4 sông này đều đổ vàovịnh Cửa Lục rồi chảy ra vịnh Hạ Long Riêng sông Míp đổ vào hồ Yên Lập.Các con suối chảy dọc sườn núi phía nam thuộc phường Hồng Gai, Hà Tu, HàPhong Cả sông và suối ở thành phố Hạ Long đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nướckhông nhiều Chế độ thuỷ triều của vùng biển Hạ Long, chịu ảnh hưởng trựctiếp của chế độ nhật triều vịnh Bắc Bộ, biên độ dao động thuỷ triều trung bình là3,6m Nhiệt độ nước biển ở lớp bề mặt trung bình là 180C đến 30,80C, độ mặnnước biển trung bình là 21,6% (vào tháng7) cao nhất là 32,4% (vào tháng 2 và 3hằng năm)

Quảng Ninh là

tỉnh miền núi duyên

hải với hơn 80% đất

đai là đồi núi Địa hình tương đối phức tạp với vùng núi, vùng trung du và đồngbằng ven biển, vùng ven biển và hải đảo

Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh, đặc biệt là vùng vịnh Hạ Long làmột vùng địa hình độc đáo với 1969 hòn đảo đá vôi lớn nhỏ, là vùng địa hìnhKarst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng lànhững hang động kỳ thú, chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước Các đảo trải dài theođường ven biển hơn 250km chia thành nhiều lớp Trong đó có nhiều đảo rất lớnnhư đảo Cái Bầu, Bản Sen, nhưng lại có đảo lại chỉ như hòn non bộ Và haihuyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô Địa hình đáy biển

Trang 14

không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20m Có những lạch sâu và dải đá ngầmlàm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng

Đặc trưng địa hình vùng vịnh Hạ Long là địa hình Karst bị nước bào mòn.Là một quá trình tiến hoá Karst đầy đủ trải qua 20 triệu năm nhờ sự kết hợpđồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trìnhnâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều dạng địahình Karst kiểu Phong Tùng, Phong Linh

- Địa hình Karst kiểu Phong Tùng: gồm một cụm đá vôi thường có hìnhchóp nằm kề nhau có đỉnh cao trên dưới 100m, đỉnh cao nhất khoảng 200m

- Địa hình Karst kiểu Phong Linh: Đặc trưng bởi các đỉnh tách rời nhautạo thành các tháp có vách dốc đứng Phần lớn các tháp có độ cao từ 50 – 100m

Tỷ lệ giữa các chiều cao và rộng khoảng 6m

Cánh đồng Karst là lòng chảo rộng phát triển trong các vùng Karst có bềmặt tương đối bằng phẳng Cánh đồng Karst được tạo thành theo phương thứckhác nhau như: do kiến tạo liên quan các hố sụt địa hào; do sụt trần của cácthung lũng sông ngầm, hang động ngầm; do tồn tại các tầng đá không hoà tannhư bị xói mòn mạnh mẽ nằm giữa vùng địa hình Karst cao hơn vây quanh tạothành…Cánh đồng Karst Hạ Long thường xuyên ngập nước

- Địa hình Karst ngầm: Là hệ thống các hang động đa dạng trên vùng vịnhHạ Long, được chia thành 3 nhóm chính:

Nhóm thứ nhất là di tích các hang động cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt,động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long…

Nhóm thứ hai là các hang nền Karst tiêu biểu là hang Trinh Nữ, Bồ Nâu,Tiên Ông, Hang Trống…

Trang 15

Nhóm thứ ba là hệ thống các hàm ếch biến, tiêu biểu là 3 hang thông nhauở cụm hồ Ba Hầm, hang Luồn, Ba Hang…

Karst trên vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng chokhoa học địa mạo Môi trường địa chất còn là nền tảng phát sinh các giá trị kháccủa Vịnh Hạ Long như đa dạng sinh học, văn hoá khảo cổ và các giá trị khác.Đây là một trong những tài nguyên du lịch đầy tiềm năng của Vịnh Hạ Long

Lượng mưa trung bình hàng năm lên đến 2.000 - 2200mm, với trên300mm vào mùa nóng nhất trong năm (tháng sáu, tháng bảy, tháng tám) và dưới300mm vào mùa khô nhất trong năm (tháng mười hai, tháng một, tháng hai).Đây là điều kiện thuận lợi cho hệ sinh thái phát triển

a Hệ sinh thái

Vịnh Hạ Long được xem như một khu hệ sinh thái đa dạng với những hệsinh thái điểm hình như: hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệsinh thái tùng áng và hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới Bên cạnh những thảm thựcvật xanh phủ khắp các đỉnh núi cheo leo, các vách đá và các vách hang trên cácđảo là nhiều loài động vật quý hiếm

Trên thực tế, các hòn đảo ở đây là nơi trú ngụ của rất nhiều loại thực vật,bao gồm cả những loại quý hiếm, đặc hữu và tuyệt đẹp Cùng với đó là sự đadạng và phong phú về các loài với nhiều hình dáng, kích thước, sự thích nghivới môi trường sống

Trang 16

Tổng số các loài thực vật có mặt trên các đảo thuộc vịnh Hạ Long đến nay vẫnchưa được xác định Tuy vậy có thể xác định sự hệ thực vật đa dạng này gồm:

+ Rừng ngập mặn

+ Thực vật bờ cát ven đảo

+Thảm thực vật trên các sườn núi

+ Thực vật vách đá

+ Thực vật trên đỉnh núi

+ Thực vật ở cửa hang và khe đá

Bên cạnh đó là hệ động vật phong phú gồm khoảng 1.000 loài cá biển,trong đó có 730 loài đã định tên; 140 loài động vật phù du; gần 500 loài độngvật đáy; 326 loài động vật tự du; 130 loài động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ; hơn

230 loài san hô và một số loài linh trưởng quý hiếm cùng nhiều thực vật đặchữu

Hiện nay hệ sinh thái ở vịnh Hạ Long còn khá nguyên vẹn, thảm thực vậthầu như không có dấu hiệu của sự đốt cháy hay chặt phá Tuy nhiên là Di sảnthiên nhiên thế giới, sự đa dạng phong phú sinh học ở đây cần được bảo vệ nhưmột phần di sản thiên nhiên Việt Nam

a Tài nguyên du lịch nhân văn

- Dân cư và dân tộc

Hiện nay tại khu vực Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, có một bộphận dân cư sinh sống, chủ yếu tập trung tại các làng chài : Cửa Vạn, VôngVênh, Cống Tàu, Ba Hang…Họ sống trên các nhà thuyền, bè và sinh sống dựavào nghề đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản

Vịnh Hạ Long là nơi cư trú của 21 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại cónhững đặc trưng văn hoá, phong tục tập quán riêng Đây cũng là yếu tố chủ đạohình thành nên nền văn hoá của vùng Hạ Long và là một nguồn tài nguyên nhânvăn giàu tiềm năng trong khai thác phục vụ du lịch

- Di tích lịch sử văn hoá và kiến trúc mỹ thuật

Trang 17

Nền văn hoá Hạ Long tồn tại qua hàng nghìn năm, từ lâu được biết đến lànền văn hoá mang đặc trưng của người tiền sử sinh sống ven biển và hải đảo.Cùng với sự tồn tại và phát triển của những giá trị văn hoá truyền thống , VịnhHạ Long đã hình thành theo thời gian những công trình kiến trúc và di tích lịch

sử có giá trị như: Thương cảng Vân Đồn tồn tại dưới thời vua Lý Anh Tông(Thế kỷ XII), là nơi thông thương, giao lưu trao đổi buôn bán hang hoá, giao lưuvăn hoá…kéo dài từ thời thời Lý tới thời Trần, Lê Ngoài ra còn rất nhiều di tíchlịch sử khác như: đình Quan Lạn trên đảo Quan Lạn thuộc quần đảo Vàm Thư( thị xã Cẩm Phả), đền Cửa Ông…

Đáng chú ý trong khu vực Vịnh Hạ Long là di tích lịch sử bãi cọc BạchĐằng, nơi ghi dấu ba trận đánh lớn trên sông Bạch Đằng của quân dân ta dưới sựchỉ huy của ba vị anh hung Ngô Quyền (năm 983), Lê Hoàn (năm981), TrầnHưng Đạo (năm1288) Đây cũng là nơi ghi dấu những chiến công oanh liệt củanhân dân Quảng Ninh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

- Di chỉ khảo cổ

Hạ Long được biết đến là một trong những cái nôi của người Việt cổ, tồntại qua trên dưới 4.000 năm, Vịnh Hạ Long trở thành một kho tàng địa chất khảocổ khổng lồ với hàng ngàn di chỉ khảo cổ được tìm thấy Cho tới nay đã cókhoảng 40 di tích khảo cổ về văn hoá Hạ Long được xác lập trên các đảo và venbờ Vịnh Hạ Long Những di chỉ khảo cổ cho thấy Vịnh Hạ Long đã trải qua quátrình kiến tạo địa chất vĩ đại của trái đất, có cấu tạo địa luỹ, địa hào cổ Và VịnhHạ Long đã trải qua ba nền văn hoá kế tiếp:

Văn hoá Soi Nhụ (cách ngày nay 18.000 – 7000 năm) phân bố chủ yếu ởkhu vực Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long

Văn hoá Cái Bèo (cách ngày nay 7.000 – 5.000 năm), di chỉ văn hoá nàyđược tìm thấy ở khu vực Vịnh Hạ Long là Giáp Khẩu và Hà Gián

Văn hoá Hạ Long (cách ngày nay 4500 – 3500 năm), chia làm 2 giaiđoạn: Giai đoạn Sớm và giai đoạn Muộn Giai đoạn muộn, nền văn hoá phát

Ngày đăng: 02/09/2025, 16:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w