1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xu thế vận Động lớn của nền kinh tế thế giới & tác Động Đến hoạch Định chính sách kinh tế Đối ngoại Ở việt nam trong bối cảnh covid 19 cùng giải pháp nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá việt nam

23 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xu thế vận động lớn của nền kinh tế thế giới & tác động đến hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại ở Việt Nam trong bối cảnh Covid-19 cùng giải pháp nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá Việt Nam
Tác giả Nhóm 1
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Xuân Hưng
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên các cơ sở đó, nhóm chúc em thực hiện đề tài: “Xu thế vận động lớn của nền kinh tế thế giới và tác động đến hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại ở Việt Nam trong bối cảnh COV

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KTQT – KHOA LUẬT

&œ

MÔN: KINH TẾ QUỐC TẾ

XU THẾ VẬN ĐỘNG LỚN CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI & TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH COVID-19 CÙNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH HÀNG HOÁ VIỆT

NAM KHI LÀ THÀNH VIÊN CỦA CPTPP, EVFTA

Nhóm sinh viên thực hiện : Nhóm 1 Lớp học phần : TMKQ1123(123)_12 Lớp chuyên ngành : Luật Kinh tế 64A

Giảng viên giảng dạy : PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng

Hà Nội, 2023

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU

PHẦN 1 – CÁC XU THẾ VẬN ĐỘNG CỦA NỀN KTTG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM 1

1 Xu thế phát triển mang tính bùng nổ của cuộc cách mạng KHCN 1

1.1 Biểu hiện của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ trên thế giới 1

1.2 Biểu hiện của cách mạng khoa học công nghệ trong nền kinh tế VN 2

1.3 Tác động của xu thế đối với các chính sách kinh tế đối ngoại của VN 3

2 Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, quốc tế hoá nền kinh tế 4

2.1 Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế trên thế giới 4

2.2 Biểu hiện của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, quốc tế hoá ở VN 5

2.3 Tác động của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, quốc tế hoá với VN 5

3 Xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại 6

3.1 Xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại trên thế giới 6

3.2 Biểu hiện của xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại tại Việt Nam 7

3.3 Tác động của xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại đến chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam 8

4 Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương trở thành trung tâm của nền KTTG 9

PHẦN 2: NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH DỊCH COVID-19 10

1 Ảnh hưởng của dịch COVID-19 đối với nền kinh tế 10

2 Chính sách phục hồi nền kinh tế sau đại dịch 12

PHẦN 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM 14

1 Nâng cao chất lượng hàng hóa của Việt Nam 15

2 Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển 16

3 Hoàn thiện khung pháp luật trong nước 16

4 Hoàn thiện khung pháp luật trong nước 17

KẾT LUẬN 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 19

Trang 3

Agreement for Trans-Pacific Partnership

EU -Vietnam Free Trade Agreement

World Trade Organization

Regional Comprehensive Economic Partnership

ৡ========================================================ৡ

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Xu hướng toàn cầu hóa đã và đang là xu hướng tất yếu trên thế giới, các quốc gia tạo mối liên hệ lẫn nhau, các nền kinh tế có thể phát triển vượt bậc, mạnh mẽ, phát huy những điểm mạnh, hạn chế những khuyết tật của thị trường Toàn cầu hóa bắt đầu từ việc buôn bán hàng hóa, dịch chuyển con người và nguồn vốn lưu động, điều này vô hình chung khiến các

xu hướng có sự chuyển dịch, mục tiêu phát triển cũng có sự thay đổi nhất định dẫn đến các quốc gia phải điều chỉnh chính sách thương mại quốc tế phù hợp với yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới

Trong bối cảnh cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo hướng đa cực, đa trung tâm, trọng tâm địa - chính trị - kinh tế thế giới chuyển dịch về khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, và và đặc biệt hơn là trong bối cảnh đại dịch COVID-19, nằm trong tâm điểm giao thoa chiến lược, giá trị địa - chiến lược của Việt Nam gia tăng, là đối tác quan trọng cần tranh thủ của nhiều nước, mở ra cơ hội để Việt Nam phát huy vị thế ở khu vực và toàn cầu Dựa

trên các cơ sở đó, nhóm chúc em thực hiện đề tài: “Xu thế vận động lớn của nền kinh tế thế

giới và tác động đến hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại ở Việt Nam trong bối cảnh COVID-19 cùng giải pháp nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá Việt Nam khi là thành viên của CPTPP, EVFTA.”

Tình hình nghiên cứu của đề tài

Do ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế nên đã có nhiều công trình đề cập đến xu thế vận động lớn của nền kinh tế thế giới, tuy nhiên vẫn chưa có nhiều bài viết đi sâu nói về tác động hoạch định chính sách kinh tế đối ngoại ở Việt Nam trong bối cảnh mới, đặc biệt là sau ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 Bên cạnh đó những vấn đề thực tiễn cùng những giải pháp kiến nghị dừng lại ở mức độ khá chung chung và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống để giúp Việt Nam có thể nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá khi là thành viên của nhiều tổ chức trên thế giới

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục đích của bài viết là nghiên cứu phân tích về những ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá, từ đó bài viết đưa ra những giải pháp nhằm trả lời cho câu hỏi “làm thế nào để có thể nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá Việt Nam khi là thành viên của CPTPP, EVFTA” và qua đó, kiến nghị các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hậu COVID-19 và phát triển bền vững; hội nhập toàn diện trên các lĩnh vực văn hóa xã hội, khoa học công nghệ, an ninh quốc phòng

Trang 5

1

PHẦN 1: CÁC XU THẾ VẬN ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÚNG ĐẾN CHÍNH SÁCH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

1 Xu thế phát triển mang tính bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ

1.1 Biểu hiện của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ trên thế giới

Trong những năm gần đây, thế giới chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ, đặc biệt phải kể đến cuộc cách mạng 4.0 Những biểu hiện của cuộc cách mạng này không chỉ hiện diện rõ ràng hơn trong cuộc sống hàng ngày mà còn trong đời sống KTTG Sự phát triển của KHCN thúc đẩy tăng trưởng nguồn cung cho thương mại hàng hóa, dịch vụ; kích thích tiêu dùng và gia tăng vai trò của khách hàng/ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại; và thay đổi phương thức kết nối cung - cầu trong thương mại Mặc dù những xu hướng công nghệ không thể thành hiện thực phổ biến một sớm một chiều, nhưng chúng đã đưa ra chỉ dẫn quan trọng để các quốc gia xem xét và lập kế hoạch đổi mới

1.1.1 Trí tuệ nhân tạo (AI) tiếp tục phát triển và hiện diện ở nhiều nơi

Thực tế, hàng loạt tính năng thuận tiện mà mọi người đang sử dụng hiện nay đều có sự hiện diện của AI Thị trường bán lẻ là một minh chứng Từ tìm kiếm trên Internet, mua sắm trực tuyến, thanh toán và giao nhận, mỗi bước đi của khách hàng đều có các thuật toán AI thông minh đề xuất và gợi ý các lựa chọn thích hợp nhất tới người dùng Không chỉ phát triển đối với thị trường bán lẻ nội địa mà AI còn gợi ý cho người tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ

ở thị trường nước ngoài Bên cạnh đó, các nền tảng trực tuyến (online platforms) đang trở nên quan trọng hơn các sản phẩm vật lý Chúng ta đang chuyển dần từ mức độ quen thuộc và thoải mái tập thể với hàng hóa vật chất hữu hình sang một thế giới bị chi phối bởi những gì không nhất thiết phải nhìn thấy hoặc cảm nhận Sự lên ngôi của các loại đồng tiền ảo, kho lưu trữ tiền tệ được hình thành bởi tiền điện tử mà không cần có tòa nhà hoặc két sắt nào chứa đựng

Đó chỉ là một vài đặc trưng, biểu hiện của AI trong thế giới hiện nay nhưng chúng đều

ít nhiều tác động đến nền kinh tế của từng quốc gia, rộng hơn là nền KTTG Và chắc chắn rằng, mức độ quan tâm của thế giới đối với AI sẽ không ngừng tăng lên trong các năm tiếp theo, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế

1.1.2 Một phần của Metaverse sẽ trở thành hiện thực

Metaverse là một thế giới ảo, nơi người dùng chia sẻ trải nghiệm và tương tác trong thời gian thực trên một hệ thống thế giới ảo được thiết kế tinh vi[1].Các chuyên gia giải thích,

về cơ bản metaverse là một hỗn hợp không xác định của các công nghệ và khái niệm, bao gồm thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), thực tế mở rộng (ER), thực tế hỗn hợp (MR),…

[1] Theo Bào nhân dân điện tử “Cuộc đua của các “nền kinh tế Metaverse”, Minh Tiến, ngày 19/01/2023 - 20:49 https://nhandan.vn/cuoc-dua-cua-cac-nen-kinh-te-metaverse-post735538.html

Trang 6

Có thể lấy ví dụ nền kinh tế Metaverse đang được chú trọng xây dựng và phát triển ở một số quốc gia như Hàn Quốc (Metaverse Seoul), UAE (Metaverse Dubai)…Vào tháng 7/2022, giới chức Dubai (UAE) đã công bố Chiến lược Metaverse Dubai với kỳ vọng đóng góp 4 tỷ USD cho nền kinh tế nước này Metaverse Dubai mô phỏng không gian thực tế ảo như thành phố Dubai ngoài đời thực và ưu tiên các hoạt động như y tế, giáo dục và sinh hoạt cộng đồng Theo Al-Jazeera, giới chức Dubai cam kết phát triển nền kinh tế Metaverse sẽ hỗ trợ tạo ra 40.000 việc làm trong lĩnh vực số vào năm 2030, thu hút 1.000 công ty công nghệ đến quốc gia này và đưa Dubai trở thành 1 trong 10 nền kinh tế đa dạng lớn nhất thế giới

1.1.3 Blockchain giúp nền kinh tế số bứt phá

Tại một hội thảo với chủ đề “Ứng dụng Blockchain trong thương mại quốc tế” do Hiệp hội Blockchain Việt Nam (VBA) tổ chức, ông Đỗ Ngọc Minh, Ban chuyên gia công nghệ của VBA, cho rằng các hoạt động kinh doanh thương mại toàn cầu hiện nay đang “sống” trong

sự bùng nổ của kỷ nguyên công nghệ thông tin với vai trò trụ cột của Internet, trong đó công nghệ Blockchain với các đặc điểm như bảo mật (sử dụng mã hóa để bảo vệ dữ liệu trên toàn mạng, ngăn chặn gian lận và tấn công); minh bạch (các bên tham gia đều biết toàn bộ các giao dịch); phi tập trung (không có các bên trung gian quản lý và kiểm soát); khả năng mở rộng; đáng tin cậy,…đóng một vai trò quan trọng Blockchain được các nước trên thế giới ứng dụng vào các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như: logistic và vận chuyển, thanh toán quốc tế, theo dõi chuỗi cung ứng (như chuỗi bán lẻ hàng đầu nước Mỹ là Walmart)

1.2 Biểu hiện của cách mạng khoa học công nghệ trong nền kinh tế Việt Nam

Tương tự với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam cũng chứng kiến sự thâm nhập của cuộc cách mạng KHCN trong thời đại mới và đang trải qua một giai đoạn phát triển mạnh

mẽ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, trong đó phải kể đến một số xu hướng, bao gồm:

1.2.1 Trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích dữ liệu

Năm 2021, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 62 trong 160 quốc gia[2] được đánh giá ở xếp hạng trên thế giới, tăng 14 bậc so với năm 2020 AI đang ngày càng trở nên quan trọng trong xếp hạng trên thế giới, tăng 14 bậc so với năm 2020 Trong nền kinh tế Việt Nam khi nó tăng cường quá trình sáng tạo bền bỉ của con người, cải thiện hiệu suất và tăng cường khả năng ra quyết định trong nhiều lĩnh vực, từ sản xuất đến dịch vụ và quản lý Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đưa ra các chủ trương cụ thể thúc đẩy phát triển ứng dụng công nghệ AI như: Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI đến năm 2030 Bên cạnh

[2] Theo báo cáo "Chỉ số sẵn sàng về Trí tuệ nhân tạo của chính phủ” do Tổ chức Oxford Insights kết hợp với Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế của Canada.

Trang 7

3

đó, một số doanh nghiệp lớn đã xây dựng và phát triển các Trung tâm nghiên cứu và phát triển AI tại Việt Nam, thu hút nhiều chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này đến làm việc Đồng thời, đã có một lực lượng tương đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo áp dụng công nghệ AI trong sản phẩm, dịch vụ mới, hứa hẹn sẽ là những lực lượng doanh nghiệp

đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong lĩnh vực AI

1.2.2 Công nghệ Blockchain tại Việt Nam

Công nghệ Blockchain đang được quan tâm và phát triển tại Việt Nam Việc áp dụng công nghệ này trong các lĩnh vực như tài chính, bất động sản và quản lý chuỗi cung ứng có thể mang lại nhiều lợi ích về tính minh bạch, an toàn và hiệu quả Trong top 200 công ty Blockchain trên thế giới, có khoảng 5-7 công ty do người Việt sáng lập[3] Khoảng 10 startup của người Việt Nam trong lĩnh vực Blockchain có vốn hóa trên 100 triệu USD Theo ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam: “Blockchain đang từng ngày được khẳng định là tác nhân trọng yếu của nền kinh tế số và công nghệ này thời gian qua đã giúp Việt Nam ghi dấu ấn với các cường quốc trên thế giới” Với công nghệ Blockchain, các doanh nghiệp ở Việt Nam xuất phát không chậm hơn so với các nước, thậm chí còn tạo ra những xu hướng mới Blockchain cũng là nền tảng mở để các công ty Việt Nam có thể tiếp cận với những công nghệ mới, cùng nhau phát triển những công nghệ mới hiệu quả Ngoài

ra, các dịch vụ, ứng dụng Blockchain có thể mở ra ở nước ngoài dễ dàng hơn và cộng đồng trên thế giới có thể tham gia

1.2.3 Công nghệ nông nghiệp thông minh

Nhắc đến Việt Nam, một đất nước xuất phát với nền nông nghiệp lúa nước đặc trưng thì không thể không kể đến công nghệ này Trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước đặc biệt ở thời kì của cuộc cách mạng 4.0 thì nông nghiệp Việt Nam không còn đơn thuần là nông nghiệp truyền thống Kinh tế nông nghiệp Việt Nam đang phát triển theo hướng thông minh, ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại để từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Người nông dân đã có thể tiếp cận với nhiều thông tin hơn để ra quyết định sản xuất chính xác hơn, giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất và giảm

ô nhiễm môi trường thông qua các nền tảng số do doanh nghiệp hay nhà nước cung cấp Ở khâu sau thu hoạch, quản lý chuỗi giá trị, truy xuất thông tin nguồn gốc từ trang trại đến bàn

ăn và bán hàng thông qua thương mại điện tử với các nền tảng số do doanh nghiệp cung cấp

1.3 Tác động của xu thế đối với các chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam

[3] Theo VN Economy “Blockchain- “át chủ bài” để kinh tế số bứt phá”, Phan Anh, 13:00 25/04/2022

https://vneconomy.vn/blockchain-at-chu-bai-de-kinh-te-so-but-pha.htm

Trang 8

Sự bùng nổ của khoa học công nghệ nói chung và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nói riêng đang mở ra cơ hội cho nhiều quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam Việc nhìn nhận tiềm năng để áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ đã kể trên chính là điều kiện để Việt Nam tận dụng các cơ hội, mang lại lợi ích cho nhiều mặt trong nền kinh tế Và để có thể tiếp cận được các thành tựu công nghệ đó, Việt Nam phải chấp nhận mở cửa, hội nhập với thế giới thông qua các hiệp định song phương và đa phương Bên cạnh đó, nhờ sự phát triển của công nghệ, internet, Big Data…Việt Nam cũng dễ dàng học hỏi kinh nghiệm từ các chính sách kinh tế của các quốc gia khác để từ đó xây dựng chính sách phù hợp với định hướng phát triển của quốc gia mình

Tuy nhiên, sự phát triển mạnh của khoa học- công nghệ trên thế giới cũng mang lại những tác động tiêu cực cho nền kinh tế Việt Nam mà các nhà hoạch định chính sách cần lưu tâm khi xây dựng chính sách Đó là việc tạo ra sức ép đối với một số ngành, nhóm ngành trong nền kinh tế khi phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam phải đối mặt với các rào cản khi chuyển đổi số, hạ tầng thông tin chưa tương thích để có thể hợp tác với các doanh nghiệp quốc tế Một tác động tiêu cực nữa khi chúng ta không kiểm soát được các nền tảng trực tuyến khi hội nhập quốc tế

đó là việc đánh cắp dữ liệu, rủi ro về an ninh thông tin Tình trạng này có thể xuất phát từ các hacker trong nước nhưng cũng có thể từ phía nước ngoài khi chúng ta đang hội nhập ngày càng sâu, tham gia vào nhiều nền tảng kết nối với nhiều quốc gia, doanh nghiệp…

2 Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, quốc tế hoá nền kinh tế

2.1 Xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế trên thế giới

Các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),… ngày càng phát triển mạnh mẽ, chúng đã trở thành một phần không thể thiếu trong việc quản

lý và điều hành các vấn đề liên quan đến toàn cầu hóa

Xu thế khu vực hóa đã góp phần làm hình thành các khu vực kinh tế như Liên Minh Châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh Kinh tế Á – Âu (EAEU), APEC, NAFTA, , thúc đẩy việc tăng cường thương mại và đầu tư trong khu vực Các quốc gia thành viên thường sử dụng các biện pháp như giảm thuế quan, loại bỏ rào cản thương mại và thúc đẩy sự tự do di chuyển của hành hóa, dịch vụ và vốn Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong khu vực tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu Các hoạt động hợp tác chính trị, an ninh và văn hóa giữa các nước thành viên trong khu vực cũng được tăng cường để giải quyết các vấn đề chung (an ninh biển, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu,…)

Trang 9

5

Xu thế quốc tế hóa giúp tăng cường quan hệ ngoại giao và hợp tác giữa các quốc gia Các quốc gia hiện nay thường xuyên tham gia vào các diễn đàn và tổ chức quốc tế để thúc đẩy quan hệ đối tác và giải quyết các vấn đề toàn cầu

2.2 Biểu hiện của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, quốc tế hoá ở Việt Nam

Việt Nam đã tăng cường hợp tác kinh tế với các quốc gia trên thế giới (đặc biệt là khu vực Châu Á), kí kết nhiều hiệp định thương mại và tham gia các tổ chức KTQT như WTO (Tổ chức Thương mại thế giới), RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực)

Xuất hiện các tập đoàn, công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia, như trong ngành công nghiệp khai thác dầu khí có Shell (Anh – Hà Lan), Mobil Oil (Mỹ), Total (Pháp),…; trong lĩnh vực bưu chính có Nokia (Phần Lan), Samsung (Hàn Quốc),… Ngoài ra còn có Intel, Toyota và Honda,… Tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu (đặc biệt là trong ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu) Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu hàng hóa như điện tử, may mặc, công nghệ ô tô,…

Ngoài ra, Việt Nam còn thu hút một lượng lớn vốn đầu tư từ các quốc gia khác thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư và mở rộng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam

2.3 Tác động của xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá, quốc tế hoá đối với Việt Nam

Những năm qua, cùng với nhận thức về toàn cầu hóa, khu vực hóa, Việt Nam từng bước hội nhập quốc tế Tại Đại hội XIII, một trong những nhiệm vụ tổng quát mà Đảng đề ra là: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực

và trên thế giới” Trong tiến trình tham gia toàn cầu hóa, khu vực hóa, quốc tế hóa thời kỳ đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Thế và lực của nước ta

đã từng bước lớn mạnh; quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; tính

tự chủ của nền kinh tế được cải thiện

Tham gia toàn cầu hóa, khu vực hóa, quốc tế hóa, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để tăng cường kết nối, thúc đẩy hợp tác và phát triển trong khu vực, phát triển kinh tế đất nước, nâng cao vị thế quốc gia Chẳng hạn, tham gia các FTA giúp Việt Nam mở rộng thị trường xuất - nhập khẩu, gia tăng thu hút FDI, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế… Việc tham gia các sáng kiến hợp tác khu vực, toàn cầu như: Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), Mê Công - Lan Thương (MLC), Vành đai và Con đường (BRI), Đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP)… giúp Việt Nam có cơ hội thuận lợi phát triển và kết nối các tuyến hành

Trang 10

lang kinh tế xuyên biên giới, đối phó với thách thức biến đổi khí hậu Cơ hội tiến nhanh, bắt kịp nhờ tận dụng động lực phát triển từ cuộc cách mạng 4.0, và lợi thế từ các FTA mà Việt Nam đang và sẽ tham gia để đạt mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 đã được Đảng ta xác định là: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao[4] Các FTA, sáng kiến hợp tác khu vực

và toàn cầu mà Việt Nam tham gia, như: CPTPP, EVFTA, Kết nối ASEAN đến 2025 (MPAC)… sẽ tạo ra cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường lớn, bao gồm: Nhật Bản, Australia, New Zealand, Canada… Đồng thời, FTA giúp thu hút mạnh mẽ FDI và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam đầu

tư vào thị trường của các nước đối tác

Tuy nhiên, xu thế này cũng có những mặt tiêu cực ảnh hưởng đến Việt Nam Nguy cơ phân hóa nội bộ và suy giảm vai trò của ASEAN tác động tiêu cực đến Việt Nam Kể từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, ASEAN không ngừng lớn mạnh và được xem như trung tâm của hợp tác khu vực Tuy nhiên, toàn cầu hóa, khu vực hóa trong bối cảnh mâu thuẫn Mỹ - Trung ngày càng nghiêm trọng và Đông Nam Á là một địa bàn cạnh tranh chiến lược của hai cường quốc này, nội bộ ASEAN có nguy cơ phân hóa thành hai nhóm nước “thân Trung Quốc” hoặc

“thân Mỹ” Trong những năm qua, ASEAN luôn là điểm tựa quan trọng của Việt Nam trong đối ngoại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ở Biển Đông và giải quyết các tranh chấp, bất đồng khác Bởi vậy, một khi ASEAN suy yếu và đánh mất vai trò trung tâm của hợp tác khu vực sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến Việt Nam Ngoài ra còn có thách thức về độc lập, tự chủ, nhất

là trong lĩnh vực kinh tế Trong tiến trình tham gia toàn cầu hóa, khu vực hóa, Việt Nam đã

mở cửa nền kinh tế (với 17 FTA đã ký kết và đang đàm phán), hội nhập mạnh mẽ Toàn cầu hóa, khu vực hóa đã mở ra nhiều cơ hội hợp tác phát triển, đưa Việt Nam vào top 20 nền kinh

tế xuất khẩu lớn nhất thế giới từ năm 2021, song đang và sẽ đặt ra những thách thức lớn về độc lập, tự chủ.[5] Những năm tới, khi quy mô nền kinh tế gia tăng, nền kinh tế mở hơn khi các FTA có hiệu lực đầy đủ, Việt Nam sẽ kết nối và phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường thế giới Các tác động tiêu cực từ bên ngoài gồm khủng hoảng kinh tế; giá dầu, lạm phát cao; dịch chuyển dòng vốn đầu tư… đối với kinh tế Việt Nam cũng sẽ ngày càng sâu sắc hơn Trong các thách thức độc lập, tự chủ những năm tới, thách thức tự chủ về công nghệ đặc biệt nghiêm trọng với Việt Nam và đây cũng là thách thức chung của các nước đang phát triển

3 Xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại

3.1 Xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại trên thế giới

[4], [5] Cổng TTĐT Bộ tài chính “Nhận diện toàn cầu hóa và những cơ hội, thách thức đặt ra với Việt Nam”, TS Nguyễn Quốc Trường, https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=MOFUCM263681

Trang 11

7

Từ nửa sau những năm 80, trong quan hệ quốc tế diễn ra một xu thế phát triển mới -

xu thế từ đối đầu chuyển sang đối thoại và hợp tác trên nguyên tắc hai bên đều có lợi và cùng tồn tại hòa bình Xu thế này được bắt đầu từ mối quan hệ Xô - Mỹ Xuất phát từ lợi ích chiến lược căn bản của mình, các cường quốc tiến hành điều chỉnh lại chính sách đối ngoại để tìm chỗ đứng tốt nhất, xây dựng khuôn khổ quan hệ mới ổn định lâu dài, xác lập các điều kiện quốc tế có lợi hơn, mở rộng hệ thống an ninh quốc gia, tạo ra không khí quốc tế để xây dựng kinh tế nước mình như mục tiêu chủ yếu trong quá trình điều chỉnh

Từ sau chiến tranh lạnh, nhất là những năm gần đây, mối quan hệ giữa năm nước lớn:

Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc vừa có điều chỉnh lớn lại vừa nhộn nhịp những chuyến thăm viếng lẫn nhau với những tuyên bố phương châm, nguyên tắc đối ngoại mới Có thể kể đến ví dụ như tháng 7/1997, Thủ tướng Nhật Bản Hashimoto đề ra ba nguyên tắc đối với Nga là "Tin cậy lẫn nhau, cùng có lợi, hướng về lâu dài" Với quan hệ Nhật - Trung, ông đưa ra bốn nguyên tắc: "Hiểu biết lẫn nhau, tăng cường đối thoại, mở rộng hợp tác, hình thành trật tự chung" (9/1997) Về phía Trung Quốc, đầu tháng 11/1997, khi sang thăm Nhật Bản, Thủ tướng Lý Bằng lại đưa ra năm nguyên tắc trong quan hệ với nước này là :"Tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, giải quyết thỏa đáng những vấn đề bất đồng; tăng cường đối thoại, tăng thêm hiểu biết lẫn nhau; tạo thuận lợi và cùng có lợi, phát triển sự hợp tác kinh tế; hướng tới tương lai, đời đời hữu nghị" Mối quan hệ giữa các cường quốc và những điều chỉnh của họ rõ ràng có ảnh hưởng to lớn không chỉ với đời sống chính trị thế giới mà còn đối với nền KTTG

3.2 Biểu hiện của xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại tại Việt Nam

Nắm bắt những cơ hội từ xu thế này, cùng với thực hiện đường lối đối ngoại nhất quán và phương châm chủ động, từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, chúng ta đã thu được những thành công quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Quan điểm chủ động và tích cực hội nhập KTQT đã được Đảng, Nhà nước ta đưa ra

từ rất sớm Năm 1945, khi còn sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xuất những định hướng

rõ ràng cho đất nước về mở cửa và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, được thể hiện trong “Lời kêu gọi Liên hợp quốc (tháng 12-1946)” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực… chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác KTQT dưới sự lãnh đạo của Liên Hợp Quốc” Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân tác động, đặc biệt là do các mối quan hệ quốc tế khi đó đang bị chi phối bởi sự đối đầu căng thẳng trong cuộc “chiến tranh lạnh” và Việt Nam là một

“chiến trường nóng” của cuộc đối đầu này, và sau đó đất nước lại phải đối mặt với chính sách

Ngày đăng: 27/08/2025, 08:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w