TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN- TRUYỀN THÔNG LÊ HUỲNH THU THẢO NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN CHO HỌC SINH LỚP 10:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA NGỮ VĂN- TRUYỀN THÔNG
LÊ HUỲNH THU THẢO
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN CHO HỌC SINH LỚP 10: KHẢO SÁT TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN THƯỢNG HIỀN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÀ NẴNG – 2025
Trang 2KHOA NGỮ VĂN - TRUYỀN THÔNG
LÊ HUỲNH THU THẢO
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN CHO HỌC SINH LỚP 10: KHẢO SÁT TẠI TRƯỜNG THPT
NGUYỄN THƯỢNG HIỀN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Sư phạm Ngữ văn
Mã số: 7140217 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Đặng Phúc Hậu
ĐÀ NẴNG – 2025
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Đặng Phúc Hậu, người đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và định hướng cho em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận Những ý kiến đóng góp quý báu và sự động viên của thầy chính
là nguồn động lực to lớn giúp em hoàn thành tốt đề tài này
Tiếp theo, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, cùng các thầy cô trong Khoa Ngữ văn – Truyền thông đã tạo môi trường học tập nghiêm túc, khoa học và truyền cảm hứng học thuật cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Sau nữa, em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy, cô trong tổ Ngữ văn, Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đã giúp em hoàn thành phiếu khảo sát để
em có những số liệu cụ thể và chính xác cho nghiên cứu của mình
Đồng thời, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và người thân đã luôn đồng hành, giúp đỡ và khích lệ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Dù đã cố gắng hết sức, song khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực, được thu thập và xử lý từ các nguồn tài liệu rõ ràng, có trích dẫn cụ thể và được phép sử dụng trong nghiên cứu khoa học.Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực và nguyên bản của khóa luận này
Đà Nẵng, ngày 5 tháng 5 năm 2025
Sinh viên
LÊ HUỲNH THU THẢO
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1 Bộ GDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
3 CTGDPT 2018 Chương trình giáo dục phổ thông 2018
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Giá trị khoa học và thực tiễn 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Bố cục của đề tài 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN 11
1.1 Khái quát về văn bản thông tin 11
1.1.1 Khái niệm văn bản thông tin 11
1.1.2 Đặc điểm và chức năng của văn bản thông tin 12
1.1.2.1 Đặc điểm của văn bản thông tin 12
1.1.2.2 Chức năng của văn bản thông tin 15
1.1.3 Vai trò của văn bản thông tin trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 16 1.2 Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 17
1.2.1 Khái niệm dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 17
1.2.2 Đặc điểm dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 17
1.2.3 Mục tiêu và yêu cầu của dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 18
1.2.4 Đặc điểm tâm lý và năng lực tiếp nhận văn bản thông tin của học sinh lớp 10 19
1.3 Dạy học tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 21
1.3.1 Khái niệm dạy học tích hợp liên môn 21
1.3.2 Dạy học tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin 23
1.3.3 Phương pháp và kỹ thuật dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp liên môn 24
1.3.3.1 Phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp liên môn 24
Trang 71.3.3.2 Kỹ thuật dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp liên môn
25
1.3.4 Ý nghĩa của dạy học tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin đối với học sinh THPT 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN CHO HỌC SINH LỚP 10 TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN THƯỢNG HIỀN 28
2.1 Khái quát về địa điểm khảo sát – Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, Thành phố Đà Nẵng 28
2.1.1 Giới thiệu chung về nhà trường 28
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 28
2.1.1.2 Vị trí địa lý, quy mô trường 28
2.1.1.3 Chất lượng tuyển sinh đầu vào của nhà trường 29
2.1.2 Mối liên hệ với đề tài nghiên cứu 29
2.2 Khảo sát Chương trình và SGK Ngữ văn lớp 10 30
2.2.1 Mục tiêu, yêu cầu cần đạt của dạy học đọc hiểu trong Chương trình Ngữ văn 2018 30
2.2.2 Các văn bản thông tin trong SGK lớp 10 của 3 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo và Cánh diều 31
2.2.3 Mục tiêu cần đạt, hệ thống câu hỏi, mức độ tích hợp liên môn trong SGK Ngữ văn lớp 10 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống 35
2.3 Khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp cho học sinh lớp 10 tại Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, TP Đà Nẵng 50
2.3.1 Khảo sát giáo viên 50
2.3.1.1 Nhận thức của giáo viên về dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn 50
2.3.1.2 Thói quen của giáo viên về dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn 53
2.3.1.3 Các phương pháp, kỹ thuật dạy học giáo viên sử dụng để dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn 55
Trang 82.3.1.4 Mức độ áp dụng tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu VBTT ở giáo
viên 58
2.3.2 Khảo sát học sinh 60
2.3.2.1 Nhận thức và hiểu biết của học sinh về dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn 60
2.3.2.2 Mức độ hứng thú của học sinh 63
2.3.2.3 Những khó khăn, hạn chế trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo định hướng tích hợp liên môn cho học sinh lớp 10 tại trường THPT Nguyễn Thượng Hiền 65
2.3.2.4 Kết quả khảo sát với giáo viên 65
2.3.2.5 Kết quả khảo sát với học sinh 66
2.3.3 Quan sát tiết dạy thực tế, phân tích giáo án 67
2.3.3.1 Quan sát tiết dạy thực tế 67
2.2.3.2 Phân tích giáo án 69
2.4 Nguyên nhân của thực trạng 71
2.4.1 Nguyên nhân từ phía giáo viên 71
2.4.2 Nguyên nhân từ phía học sinh 71
2.4.3 Nguyên nhân từ Chương trình và sách giáo khoa 72
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN CHO HỌC SINH LỚP 10 TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN THƯỢNG HIỀN 73
3.1 Định hướng xây dựng biện pháp 73
3.1.1 Bám sát mục tiêu, yêu cầu cần đạt của Chương trình và sách giáo khoa 73
3.1.2 Đảm bảo tính sư phạm 73
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 73
3.1.4 Đảm bảo tính phát triển năng lực học sinh 74
3.1.5 Đảm bảo phù hợp với thực tiễn dạy học 74
3.2 Quy trình dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp liên môn 74
3.3 Một số biện pháp cụ thể minh hoạ 76
3.3.1 Biện pháp 1: Tổ chức hoạt động nhóm tìm kiếm và tổng hợp thông tin liên
Trang 9môn 76
3.3.2 Biện pháp 2: Sử dụng sơ đồ tư duy để kết nối kiến thức liên môn 78
3.3.3 Biện pháp 3: Thực hành và vận dụng kiến thức liên môn thông qua bài tập mở rộng 80
3.3.4 Biện pháp 4: Tổ chức dạy học dự án – Giao dự án kết hợp liên môn với các môn học như Lịch sử, Địa lý… để học sinh có thể khai thác kiến thức, thông tin từ VBTT 81
3.3.5 Biện pháp 5: Hướng dẫn học sinh các chiến thuật đọc hiểu VBTT 82
3.3.6 Đề xuất kế hoạch bài giảng minh hoạ 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
Trang 10tự học tự chủ của mình Theo đó, HS cần biết cách tự đọc - hiểu các kiến thức được trình bày trong các bài học, bài nghiên cứu, mà phần lớn trong tất cả các môn học không riêng gì môn Ngữ văn, chúng đều được trình bày dưới dạng một VBTT Như
đã biết VBTT là một loại văn bản quan trọng trong chương trình GDPT 2018 môn Ngữ văn, góp phần phát triển năng lực đọc hiểu và tư duy học sinh, đặc biệt là năng lực sử dụng ngôn ngữ trong thực tiễn Tuy nhiên, ở Việt Nam, GV dạy các môn Khoa học tự nhiên và các môn Khoa học xã hội ngoài môn Ngữ văn đều ít nghe tới việc phải rèn luyện cho HS kĩ năng đọc hiểu VBTT trong chính môn học của mình Chính
vì vậy, việc dạy học đọc hiểu VBTT cho HS trong môn Ngữ Văn đã và đang trở thành vấn đề quan trọng cần nhận được được nhiều sự quan tâm hơn trong thời gian tới
1.2 Tầm quan trọng của dạy học tích hợp liên môn trong giáo dục hiện đại
Dạy học tích hợp liên môn là định hướng quan trọng trong giáo dục hiện đại, giúp HS vận dụng kiến thức liên ngành vào việc hiểu, phân tích và đánh giá thông tin trong văn bản Tích hợp liên môn là định hướng đã xuất hiện từ lâu nhưng đến một vài năm trở lại đây thì bắt đầu trở thành xu hướng bởi định hướng này đáp ứng được những yêu cầu cấp thiết của công tác giáo dục trong nhà trường có thể kể đến như: gắn liền việc học lý thuyết với áp dụng lý thuyết để xử lý các tình huống trong thực tiễn cuộc sống đồng thời phản ánh được xu thế của khoa học hiện đại là tư duy tổng
Trang 11hợp và hệ thống Việc lựa chọn dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn là phù hợp và cần thiết bởi đặc điểm nội dung của loại văn bản này thường gắn với nhiều lĩnh vực như khoa học, lịch sử, địa lý, môi trường Dạy học theo hướng tích hợp liên môn trong đọc hiểu VBTT giúp HS kết nối kiến thức Ngữ văn với các môn học khác, từ đó hiểu sâu hơn nội dung văn bản và vận dụng hiệu quả vào thực tiễn So với tích hợp nội môn – chỉ giới hạn trong phạm vi môn Ngữ văn – và tích hợp xuyên môn – dễ gây quá tải và mờ ranh giới môn học, thì tích hợp liên môn là lựa chọn cân bằng và hiệu quả Hình thức này không chỉ phát triển năng lực tư duy, giải quyết vấn đề mà còn tạo hứng thú học tập, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện theo định hướng Chương trình GDPT 2018 mà Bộ GDĐT đã đề ra
1.3 Thực tiễn dạy học đọc hiểu văn bản thông tin trong trường THPT còn hạn chế
Thực tiễn tại các trường THPT cho thấy việc dạy học đọc hiểu VBTT còn nặng
về kỹ thuật đọc – hiểu đơn môn, thiếu tính kết nối liên ngành Thực tế dạy học hiện nay cho thấy, nhiều GV vẫn chưa thể vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy học tích cực vào việc giảng dạy mà đa số vẫn còn tình trạng giảng dạy dựa trên phương pháp truyền thống là giảng giải, GV đọc, HS chép, không thể thoát ly khỏi những cái cũ, lạc hậu đó chính là lý do dẫn tới HS chưa thể phát huy hết khả năng của mình, vẫn còn học trong tâm thế bị động, ít tích cực Đặc biệt là đối với VBTT, những giờ học trở nên khô khan, nặng lý thuyết, khó thu hút, hấp dẫn sự chú ý của
HS Còn nhìn về phía HS ta có thể thấy đa số các em đều gặp phải khó khăn trong việc đọc hiểu VBTT Nguyên nhân chủ yếu là vì các em chưa được hướng dẫn, trang
bị đầy đủ các phương pháp và kỹ năng cần thiết để đọc hiểu một VBTT Hơn hết, VBTT là loại văn bản khoa học có tính học thuật với nhiều thuật ngữ chuyên ngành, không có nhân vật với tính cách đa dạng, không có cốt truyện với cao trào hấp dẫn vì thế dễ dẫn đến việc các em gặp khó khăn trong việc đọc hiểu cũng như tạo lập loại văn bản này Chính từ thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải có sự đổi mới trong phương pháp dạy học để thúc đẩy năng lực chủ động, sáng tạo của HS
Trang 121.4 Xuất phát từ nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển năng lực HS theo chuẩn Chương trình GDPT
2018, việc khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp tổ chức dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn là cần thiết và vô cùng cấp thiết Trong rất nhiều các phương pháp dạy học tích cực đang được sử dụng phổ biến hiện nay thì những phương pháp dạy học theo hướng tích hợp liên môn không chỉ giúp HS nắm vững kiến thức trong từng môn học mà tích hợp liên môn còn rèn luyện cho HS khả năng liên kết các kiến thức ở nhiều môn học lại với nhau Để từ đó có cái nhìn đa chiều và toàn diện hơn về nhiều vấn đề trong cuộc sống, kích thích sự tò mò, quan sát, tìm hiểu
và giải quyết vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Đối với việc dạy học đọc hiểu VBTT, định hướng tích hợp liên môn là cách tiếp cận đầy mới mẻ và thú vị, tạo nên những bài học hấp dẫn cho HS, giúp người học tập trung hơn, có cái nhìn toàn diện hơn về các chủ đề và thông tin mà văn bản đề cập
1.5 Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu gắn với hoạt động thực tập sư phạm của tác giả nghiên cứu
Trong thời gian 8 tuần được thực tập tại Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, tác giả có điều kiện trực tiếp giảng dạy, quan sát, tìm hiểu thực trạng dạy học và nhận thấy rõ những khó khăn, bất cập trong việc tổ chức dạy học đọc hiểu VBTT cho HS lớp 10 Từ thực tế đó, việc nghiên cứu giải pháp dạy học tích hợp liên môn nhằm nâng cao hiệu quả đọc hiểu không chỉ xuất phát từ nhu cầu thực tiễn mà còn giúp tác giả vận dụng kiến thức lý luận vào thực hành, đồng thời góp phần hỗ trợ GV trong đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình GDPT 2018 môn Ngữ văn
Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng
dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp kiến thức liên môn cho học sinh lớp 10: khảo sát tại trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, thành phố Đà Nẵng” để
làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận
Trang 13Theo, Michael R Graves “Về cơ bản, chúng ta đọc loại văn bản này để chuyển hóa các thông tin hoặc kiến thức trong văn bản thành tri thức của mình với mục đích
sử dụng luôn trong học tập và đời sống hoặc làm tư liệu cho mai sau Chỉ nguyên mục đích đó đã làm cho việc đọc văn bản thông tin trở nên khác với đọc văn bản văn học” [28, tr 302]
Khi nghiên cứu về tầm quan trọng của việc dạy đọc hiểu VBTT, Phùng Thị Vân Anh cho rằng: “Việc quan tâm thỏa đáng và dành vị trí xứng đáng cho VBTT trong Chương trình môn học (thông qua việc định nghĩa, phân loại, hướng dẫn giảng dạy, kiểm tra đánh giá VBTT) là một biểu hiện cụ thể của nguyên tắc dạy Ngữ văn gắn với đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu dạy học Ngữ văn ở phổ thông, tiếp cận
xu hướng phát triển năng lực người học, xây dựng xã hội học tập và thiết lập hệ thống học tập suốt đời của mọi nền giáo dục trên toàn thế giới.” [1]
Đỗ Ngọc Thống quan niệm: “Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin rất quan trọng Về cơ bản, chúng ta đọc loại văn bản này để chuyển hoá các thông tin hoặc
Trang 14kiến thức trong văn bản thành của mình với mục đích sử dụng luôn trong học tập và đời sống hoặc làm tư liệu cho mai sau.” [24, tr.89]
Cùng nghiên cứu về vấn đề này tác giả Phạm Thị Thu Hiền cũngnhận định:
“Đa số các văn bản mà HS phải đọc để phục vụ cho việc học tập ở trường phổ thông
là VBTT Do đó, việc dạy đọc VBTT cho HS có ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập
và cải thiện kết quả học tập của HS Khi lớn lên, HS được yêu cầu sử dụng các kĩ năng đọc hiểu trong nhiều lĩnh vực Từ việc đọc sách đến đọc các tài liệu tham khảo,
HS sẽ sử dụng kĩ năng đọc hiểu không chỉ trong môn Ngữ văn mà trong tất cả các môn học” [9, tr 33]
Trong khi đó, nghiên cứu về dạy học tích hợp liên môn luôn thu hút được nhiều sự quan tâm Theo tác giả Đỗ Hương Trà: “Liên môn ngụ ý đề cập đến việc tích hợp các khái niệm, các kiến thức và phương pháp của các môn học Tất cả các chủ đề liên môn đều giả thiết sự có mặt của ít nhất hai môn học được gọi là bổ sung cho nhau, để tạo ra một hình ảnh của thực tế, hoặc để giải quyết một vấn đề phức hợp
mà nó không thể giải quyết bởi duy nhất một môn học” [20, tr 45]
Theo Nguyễn Xuân Thành: “Dạy học tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học các môn học như: tích hợp giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông Còn dạy học liên môn là phải xác định các nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau Đối với những kiến thức liên môn nhưng
có một môn học chiếm ưu thế thì có thể bố trí dạy trong chương trình của môn đó và không dạy lại ở các môn khác Trường hợp nội dung kiến thức có tính liên môn cao hơn thì sẽ tách ra thành các chủ đề liên môn để tổ chức dạy học riêng vào một thời điểm phù hợp, song song với quá trình dạy học các bộ môn liên quan.” [22]
Cùng nói về khái niệm của dạy học tích hợp liên môn, Trần Bá Hoành cho rằng: “Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động một chuỗi kiến thức, kĩ năng của các môn học khác nhau” [12, tr 13]
Trang 15Tác giả Trần Văn Cảnh lại quan niệm: “Dạy học tích hợp là sự phối hợp các kiến thức
và kĩ năng với nhau trong quá trình giảng dạy.Ở đó, chúng ta có thể thực hiện kết hợp kiến thức, kĩ năng của các phân môn trong nội môn hoặc tích hợp đa môn, xuyên môn
để hướng đến mục tiêu là giúp người học liên kết được những kiến thức và kĩ năng
đã học, hình thành, phát triển năng lực nhất định để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và cuộc sống” [8, tr 69]
Tiến hành tìm hiểu các nghiên cứu về việc vận dụng dạy học tích hợp liên môn trong chương trình Ngữ văn THPT ở Việt Nam, xuất hiện một số các quan điểm như sau:
Trần Thị Mỹ Hồng: “Có thể khẳng định rằng, tích hợp liên môn trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ văn là tất yếu và rất cần thiết Trong chương trình giảng dạy, giáo viên Ngữ văn không chỉ cần có sự tích hợp nội dung kiến thức, kĩ năng của ba phân môn Đọc văn - Tiếng Việt - Làm văn mà còn phải tích hợp nội dung kiến thức,
kĩ năng của các môn học khác có liên quan, các vấn đề trong thực tiễn đời sống và đặc biệt là các nội dung giáo dục thái độ tư tưởng cho học sinh một cách linh hoạt, uyển chuyển và tinh tế Đó là sự vận dụng nội dung ở các lĩnh vực, các môn học có liên quan nhằm làm tăng thêm hiệu quả dạy học” [11]
Hai tác giả Nguyễn Phước Bảo Khôi và Nguyễn Thành Chung khi đưa ra các yêu cầu đối với việc lựa chọn văn bản để đáp ứng định hướng dạy học tích hợp đã có nhận định rằng: “Cùng với quá trình tích hợp nội môn, bản thân môn Ngữ văn cũng phải tham gia vào quá trình tích hợp liên môn So với văn bản văn học (VBVH), văn bản thông tin (VBTT) và văn bản nghị luận (VBNL) có tiềm năng lớn hơn trong việc dạy học tích hợp liên môn (đề tài của VB liên quan nhiều đến thực tế).” [15, tr 172]
Từ các nghiên cứu trên, chúng tôi thấy rằng định hướng dạy học tích hợp liên môn trong môn Ngữ văn đã và đang được quan tâm rất nhiều, tuy nhiên trong phạm
vi tìm hiểu và nghiên cứu thì có thể nhận ra phần lớn các nghiên cứu mới chỉ tiếp cận một chiều cạnh cụ thể, chưa kết hợp toàn diện giữa các hướng tiếp cậnđã đề cập ở trên, đặc biệt là trong bối cảnh dạy học môn Ngữ văn ở cấp THPT – nơi yêu cầu cao
về tư duy phản biện, năng lực đọc hiểu và vận dụng kiến thức liên môn Trước hết, là các nghiên cứu của các tác giả Phùng Thị Vân Anh, Đỗ Ngọc Thống, Phạm Thị Thu
Trang 16Hiền, Michael R Graves về việc dạy học đọc hiểu VBTT, các tác giả đều thống nhất với quan điểm cho rằng VBTT đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành phẩm chất và năng lực của học sinh Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu của các tác giả vẫn chưa đề cập đến phương pháp và kỹ thuật để giảng dạy VBTT một cách hiệu quả trong nhà trường THPT Tiếp đến là các nghiên cứu về dạy học tích hợp liên môn của các tác giả Đỗ Hương Trà, Nguyễn Xuân Thành, Trần Bá Hoành, Trần Văn Cảnh, có thể nhận thấy các nghiên cứu này là nghiên cứu về dạy học tích hợp còn dạy học tích hợp liên môn chỉ là một hình thức được nhắc tới thông qua việc định nghĩa hình thức
đó chứ chưa có nghiên cứu chính thức nào về chính dạy học theo định hướng tích hợp liên môn Cuối cùng phải kể đến là các nghiên cứu về việc vận dụng tích hợp liên môn trong chương trình Ngữ văn THPT tại Việt Nam hầu như rất hạn chế, nếu có thì các nghiên cứu chủ yếu chỉ ra một số các yêu cầu trong việc lựa chọn chủ đề, văn bản, hình thức dạy học theo hướng tích hợp liên môn chứ chưa có sự minh hoạ rõ ràng, cụ thể thông qua bất cứ một bộ SGK hiện hành nào Đó là những khoảng trống còn tồn tại, một hướng gợi mở để chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu và làm rõ các vấn đề lí thuyết liên quan đến đọc hiểu VBTT và tích hợp liên môn trong dạy học Ngữ văn nhằm tạo nền tảng vững chắc để ứng dụng hướng dạy học này vào dạy học đọc hiểu văn bản thông tin
- Khảo sát thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp liên môn cho HS lớp 10 tại Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, TP Đà Nẵng
- Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả đọc hiểu văn bản thông tin cho HS lớp 10 thông qua cách tiếp cận tích hợp liên môn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là quá trình dạy học đọc hiểu văn VBTT theo hướng tích hợp liên môn trong môn Ngữ văn
Khách thể khảo sát: GV và HS lớp 10 Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền,
TP Đà Nẵng
Trang 174.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: VBTT trong chương trình Ngữ văn lớp 10 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)
- Không gian: Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, TP Đà Nẵng
- Thời gian: 8 tuần thực tập sư phạm, học kì 2, năm học 2024 – 2025
5 Giá trị khoa học và thực tiễn
5.1 Giá trị khoa học
Góp phần làm rõ cơ sở lí luận về dạy học đọc hiểu VBTT và phương pháp tích hợp liên môn trong dạy học Ngữ văn
5.2 Giá trị thực tiễn
Gợi mở hướng tổ chức dạy học và các biện pháp khả thi, hiệu quả, giúp GV
có thêm giải pháp thực tiễn trong triển khai chương trình GDPT 2018
6 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu tài liệu chuyên ngành về VBTT, tích hợp liên môn, lý luận dạy học Ngữ văn: Trước hết, các công trình nghiên cứu về VBTT giúp tác giả hiểu rõ đặc điểm thể loại, chức năng giao tiếp, cấu trúc nội dung – ngôn ngữ của loại văn bản này trong chương trình Ngữ văn 10 theo Chương trình GDPT 2018 Tiếp đó, các tài liệu
về dạy học tích hợp liên môn cung cấp nền tảng lý luận để xác định bản chất, yêu cầu
và cách thức triển khai hình thức tích hợp này trong môn học cụ thể, đồng thời chỉ ra
ưu thế của tích hợp liên môn so với tích hợp nội môn hay xuyên môn Cuối cùng, các tài liệu lý luận dạy học Ngữ văn hiện đại, đặc biệt là những nghiên cứu theo định hướng phát triển năng lực, giúp tác giả xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với yêu cầu đổi mới Việc kết hợp các nguồn tài liệu chuyên sâu này không chỉ giúp luận cứ của đề tài thêm chặt chẽ mà còn đảm bảo tính khoa học và khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn giảng dạy
- Phân tích và tổng hợp các tài liệu, lý thuyết liên quan đến dạy học tích hợp liên môn và dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn
Trang 186.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát
- Phân tích các văn bản thông tin trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, trong 3
bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo và Cánh diều để tìm hiểu cấu trúc, nội dung, hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, những yếu tố có thể tích hợp với các môn học khác
- Sử dụng phiếu hỏi để khảo sát HS và GV Ngữ văn lớp 10 tại Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền TP Đà Nẵng về nhận thức, hứng thú, kinh nghiệm, phương pháp và kĩ thuật dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn
- Quan sát lớp học để thấy được thực tế việc tổ chức dạy học, hoạt động dạy và học của GV và HS trong tiết dạy học đọc hiểu VBTT lớp 10 tại Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền TP Đà Nẵng để có thêm cơ sở đánh giá về mức độ vận dụng dạy học tích hợp liên môn
6.2.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm đối chiếu, phân tích điểm giống và khác nhau giữa các văn bản, hoạt động dạy học hoặc hệ thống câu hỏi đọc hiểu trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 (thuộc các bộ sách khác nhau hoặc các bài học khác nhau trong cùng một bộ sách) Qua đó, tác giả có thể làm rõ mức độ tích hợp liên môn trong từng trường hợp, từ đó đánh giá hiệu quả, tính hợp lý và khả năng ứng dụng của các hình thức tích hợp Phương pháp này không chỉ giúp xác định đặc điểm riêng của từng VBTT mà còn cho phép nhận diện xu hướng thiết kế câu hỏi và mục tiêu dạy học theo hướng tích hợp trong chương trình hiện hành Việc so sánh cũng hỗ trợ tác giả rút ra những nhận xét mang tính hệ thống, phục vụ cho đề xuất giải pháp dạy học phù hợp với thực tiễn
6.2.3 Phương pháp phân tích – tổng hợp, khái quát hóa, minh họa bằng ví dụ cụ thể
Phương pháp phân tích – tổng hợp, khái quát hóa được sử dụng nhằm xử lý và làm rõ dữ liệu thu thập được từ quá trình khảo sát sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 2 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) Cụ thể, tác giả tiến hành phân tích từng VBTT trong sách theo các tiêu chí như: nội dung văn bản gắn với lĩnh vực nào (khoa
Trang 19học, lịch sử, môi trường ), hệ thống câu hỏi đọc hiểu có tích hợp kiến thức liên môn hay không, mức độ tích hợp (mức độ khai thác kiến thức ngoài môn Ngữ văn), và cách thức thể hiện sự tích hợp (qua câu hỏi, hoạt động nhóm, yêu cầu sản phẩm học tập ) Sau khi phân tích chi tiết từng văn bản và hoạt động kèm theo, tác giả tổng hợp các kết quả phân tích thành bảng biểu để so sánh, đối chiếu, từ đó khái quát hóa thành các xu hướng: văn bản nào có mức độ tích hợp cao, văn bản nào chưa được khai thác triệt để theo hướng liên môn, dạng câu hỏi nào thể hiện rõ khả năng tích hợp… Cuối cùng, để tăng tính rõ ràng và minh chứng cho lập luận, tác giả minh họa bằng ví dụ cụ thể, trích dẫn trực tiếp các văn bản và câu hỏi từ SGK, đồng thời đưa
ra nhận xét, đánh giá trên cơ sở lý luận dạy học tích hợp và định hướng phát triển năng lực trong chương trình GDPT 2018 Cách thức xử lý dữ liệu này đảm bảo tính
hệ thống, logic và làm nổi bật được thực trạng cũng như khả năng triển khai tích hợp liên môn trong dạy học VBTT hiện nay
Trang 20CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
THÔNG TIN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC
LIÊN MÔN
1.1 Khái quát về văn bản thông tin
1.1.1 Khái niệm văn bản thông tin
Văn bản VBTT là một trong ba loại văn bản được chú trọng trong Chương trình Ngữ văn 2018 được bộ GDĐT ban hành Chúng ta có thể thấy rằng, VBTT đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong giáo dục nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung Tất cả các nội dung, kiến thức về các môn học trong nhà trường đều được trình bày dưới dạng VBTT Các loại giấy tờ, đơn từ, biển quảng cáo, biển báo… đều được trình bày dưới dạng VBTT Tuy nhiên, khi bàn về khái niệm của loại văn bản này, có rất nhiều các quan điểm khác nhau từ nước ngoài cho đến trong nước cụ thể như sau:
Khái niệm VBTT theo Duke sử dụng là “văn bản được viết với mục đích cơ bản
là trình bày thông tin về thế giới tự nhiên và xã hội (từ một người được cho là có nhiều hiểu biết hơn về đối tượng đến một người được cho là ít hiểu biết hơn về đối tượng ấy) và có những đặc điểm văn bản riêng biệt để hoàn thành mục đích đó” [27; tr.205]
Theo Vũ Thị Thu Hương dẫn theo các công trình nghiên cứu của các tác giả như Nell K Duke, I wai Y, Katie Surber, Andrew Sedillo: “VBTT là một tập hợp con của các phạm trù rộng lớn phi hư cấu Mục đích chính của nó là để thông báo cho người đọc về thế giới tự nhiên hay xã hội” “Đây là loại văn bản được viết ra để truyền đạt, mô tả hay giải thích những thông tin phi hư cấu, chứa nhiều lớp từ vựng kĩ thuật
và yêu cầu người đọc phải có một kiến thức nền phù hợp” “Các VBTT là một loại phi hư cấu, đề cập đến các vấn đề thực tiễn” Tác giả Andrew Sedillo cho rằng:
“VBTT là văn bản phi hư cấu, được viết với ý định thông báo cho độc giả về một chủ đề cụ thể; thường được tìm thấy trong tạp chí, sách khoa học hoặc lịch sử, sách
tự truyện và hướng dẫn sử dụng Nó được viết bằng các tính năng văn bản đặc biệt, cho phép người đọc dễ dàng tìm thấy thông tin quan trọng và hiểu được chủ đề chính Tác giả sẽ thực hiện việc này bằng cách cung cấp tiêu đề cho các phần nhất
Trang 21định, bằng cách đặt từ vựng quan trọng, bằng kiểu chữ đậm và sử dụng các biểu diễn trực quan với phụ đề Những hình ảnh đại diện có thể là hình ảnh hoặc thậm chí đồ họa, bao gồm các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị và biểu đồ Trong một số trường hợp, tác giả sẽ cung cấp cho người đọc một bảng mục lục hoặc một bảng thuật ngữ để giúp họ tìm kiếm thông tin dễ dàng” [14, tr.26]
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về VBTT tính đến hiện nay vẫn chưa có nhiều, cụ thể có thể nhắc đến một số tác giả như: Trịnh Thị Lan, Phạm Thị Thu Hiền Dưới góc độ của phong cách chức năng của văn bản tác giả Trịnh Thị Lan lại đề xuất một khái niệm về VBTT như sau: “VBTT là một tổ chức ngôn ngữ phi nghệ thuật thực hiện chức năng chính là giao tiếp lí trí, cung cấp thông tin một cách khách quan, chính xác” [16, tr 58] Cùng nhắc đến khái niệm của VBTT, tác giả Phạm Thị Thu Hiền cho rằng: “VBTT bao giờ cũng trình bày thông tin một cách khách quan, không
hư cấu; cung cấp thông tin về đối tượng một cách chi tiết, giúp người đọc / nghe hiểu những gì được mô tả bằng cách tổ chức hoặc phân loại thông tin” [10]
Từ những nghiên cứu về khái niệm của VBTT như trên, chúng ta có thể hiểu VBTT là: Loại văn bản sử dụng ngôn ngữ phi nghệ thuật được viết ra nhằm cung cấp, trình bày thông tin về thế giới tự nhiên, con người, xã hội, các quy trình, hiện tượng một cách khách quan và chính xác Tuy là sử dụng ngôn ngữ phi nghệ thuật nhưng VBTT vẫn có sự kết hợp của các yếu tố như miêu tả, biểu cảm, tự sự hay nghị luận…
để tăng tính sinh động, hấp dẫn của thông tin VBTT là loại văn bản phổ biến trong đời sống hằng ngày, ta có thể thấy VBTT được trình bày ở nhiều hình thức như: văn bản thuyết minh trong sách giáo khoa, báo chí, tin tức, đơn từ, giấy tờ hành chính, toa thuốc…
1.1.2 Đặc điểm và chức năng của văn bản thông tin
1.1.2.1 Đặc điểm của văn bản thông tin
Để đảm bảo được chức năng chính là cung cấp thông tin một cách khách quan
và chính xác cho người đọc mà VBTT cũng có những đặc điểm riêng biệt, rất đặc trưng, không dễ bị nhầm lẫn với bất kì một đặc điểm nào của văn bản văn học hay văn bản nghị luận Có thể kể đến như: Đặc trưng về từ ngữ sử dụng, về ngữ pháp, các biện pháp tu từ sử dụng và đặc trưng về hình thức trình bày
Trang 22Đầu tiên, về đặc trưng của từ ngữ được sử dụng trong VBTT, tác giả Trịnh Thị Lan đã cho rằng: “Từ ngữ được sử dụng trong VBTT thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, có thể thiên về học thuật, có thể thuộc lớp từ vựng toàn dân nhưng phải đảm bảo chuẩn chính âm, đơn nghĩa” [16, tr.58] VBTT thường đề cập đến những lĩnh vực
cụ thể như: khoa học, lịch sử, địa lý, công nghệ, xã hội học…Do đó từ ngữ được sử dụng trong VBTT thường là các từ ngữ chuyên ngành mang tính chính xác, rõ ràng được quy định sử dụng trong từng lĩnh vực Ví dụ như: quá trình quang hợp (sinh học), tỉ lệ dân số (địa lý), tầng ozone (khoa học môi trường) … Một số VBTT hướng đến người đọc có nhu cầu tìm hiểu sâu mang tính giáo dục – nghiên cứu nên sử dụng các từ ngữ học thuật, mang tính trừu tượng hoặc có độ khái quát cao Ví dụ như: “biến đổi khí hậu”, “phân tầng xã hội”, “tư duy phản biện”, “năng lực thích ứng” … Từ ngữ được sử dụng trong VBTT không phải lúc nào cũng chỉ là những thuật ngữ chuyên ngành, nhiều văn bản vẫn sử dụng các từ ngữ phổ thông, thông dụng, dễ hiểu với đại
đa số người đọc Tuy nhiên, các từ ngữ sử dụng phải đảm bảo đúng về mặt phát âm
và chính tả, ưu tiên những từ có một nghĩa hoặc có nghĩa rõ ràng trong một ngữ cảnh, tránh mơ hồ, gây hiểu lầm, diễn giải sai khi tiếp nhận thông tin Tóm lại, từ ngữ được
sử dụng trong VBTT phải đảm bảo tính rõ ràng, chính xác với nội dung khoa học, học thuật Đồng thời dễ hiểu với người đọc Dù là sử dụng thuật ngữ chuyên ngành hay từ ngữ phổ thông thì đều phải chú ý sử dụng các từ ngữ chuẩn xác, đơn nghĩa để giúp cho việc truyền đạt thông tin trở nên hiệu quả
Thứ hai, khi nghiên cứu về ngữ pháp được sử dụng trong VBTT Trịnh Thị Lan
đã có nhận định như sau: “Về ngữ pháp, VBTT sử dụng các cấu trúc và tuân thủ các nguyên tắc cú pháp và ngữ pháp văn bản theo chuẩn ngữ pháp tiếng Việt hiện tại” [16, tr.58] Điều này có thể hiểu như sau: VBTT luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt hiện hành, tức là sử dụng đúng quy tắc về: trật tự từ trong câu (chủ ngữ - vị ngữ), sự hoà hợp giữa các thành phần câu, sự liên kết giữa các câu trong đoạn văn, các đoạn văn trong một văn bản Ngay cả dấu câu cũng phải được dùng hợp lý để thể hiện mục đích chính xác của người viết Chính vì vậy, thay vì sử dụng các câu có cấu trúc phức tạp như các văn bản văn học thì VBTT sẽ ưu tiên sử dụng các câu đơn hay câu ghép có cấu trúc đơn giản, nhằm diễn đạt thông tin rõ ràng,
Trang 23mạch lạc và chuẩn xác, tránh gây mơ hồ hay cảm tính VBTT cũng rất chú trọng đến tính liên kết và mạch lạc trong văn bản Để đảm bảo được điều này VBTT thường sử dụng: phép nối, phép lặp, phép thế… trong văn bản Điều này không chỉ giúp VBTT chuẩn chỉnh về mặt ngữ pháp mà còn đảm bảo tính liên kết, thống nhất cho toàn bộ văn bản Không sử dụng các câu thiếu chủ ngữ, vị ngữ Nhìn chung, ngữ pháp đảm bảo tính mạch lạc, rõ ràng, khách quan của thông tin Các VBTT tuân thủ các quy tắc chuẩn ngữ pháp giúp người đọc nắm bắt thông tin nhanh chóng, chính xác, không gây hiểu lầm mơ hồ về nghĩa
Tiếp theo, về việc sử dụng các biện pháp tu từ trong VBTT, dưới góc nhìn phong cách ngôn ngữ Trịnh Thị Lan cho rằng: “Về việc sử dụng các biện pháp tu từ, khác với các văn bản được viết theo PCNN nghệ thuật thường dùng nhiều cách nói hoa mĩ, giàu hình ảnh, có khả năng gợi liên tưởng, tưởng tượng cao để chuyển tải thông tin, các VBTT thường ít sử dụng các biện pháp nghệ thuật ngôn từ; nếu có thì không phải
để tạo ra ý nghĩa tu từ, màu sắc tu từ, tính đa nghĩa, tính hình tượng mà thường chỉ để
hỗ trợ việc truyền đạt thông tin như tác động lí trí và tình cảm để thông tin đến nhanh, mạnh hơn trong các văn bản viết bằng PCNN chính luận, PCNN sinh hoạt” [16, tr 57] Khác với văn bản văn học và văn bản nghị luận, VBTT hầu như không sử dụng hoặc sử dụng rất hạn chế các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, nói quá… bởi mục đích chính của VBTT không phải là để gợi cảm xúc, liên tưởng, tưởng tượng
mà là cung cấp thông tin khách quan, chính xác đến người đọc Nếu như có sử dụng các biện pháp tu từ thì không nhằm mục đích tạo tính đa nghĩa hay hình tượng mà để: gây ấn tượng nhấn mạnh thông tin được đề cập, tác động đến lý trí và cảm xúc của người đọc trong một chừng mực nhất định nhằm tăng hiệu quả tiếp nhận thông tin, tránh cảm giác khô khan, nhàm chán Các yếu tố hư cấu, tưởng tượng đều không được
sử dụng trong VBTT vì đây là loại văn bản viết về hiện thực khách quan Những lối viết nước đôi, mập mờ, đa nghĩa đều không thích hợp để được dùng trong VBTT Đặc trưng quan trọng hàng đầu của VBTT là tính rõ ràng – minh bạch – chính xác Có thể thấy, VBTT không chú trọng vào hiệu quả nghệ thuật của từ ngữ mà hướng đến tính chính xác, logic, rõ ràng và khách quan Việc sử dụng các biện pháp tu từ nếu có chỉ mang tính hỗ trợ làm rõ nội dung thông tin chứ không nhằm mục đích
Trang 24tạo ra các hình tượng nghệ thuật Điều này giúp người đọc nhận biết thông tin một cách rõ ràng, nhanh chóng với độ chính xác cao
Cuối cùng, khi nghiên cứu về hình thức trình bày của VBTT, tác giả Trịnh Thị Lan đã thấy rằng: “VBTT có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức: Văn bản chữ (văn bản in - print text), văn bản hình ảnh (visual text), văn bản đa phương tiện (multimedia text)…” [16, tr.57] Văn bản chữ (print text), đây là hình thức phổ biến nhất trong SGK và các tài liệu học tập, thường bao gồm: Các bài báo, bản tin, bài viết khoa học phổ thông, bài giới thiệu, hướng dẫn sử dụng, tờ rơi thông tin Nội dung thường được trình bày dưới dạng ngôn ngữ viết theo kết cấu một văn bản chuẩn có tiêu đề, đoạn, câu… Ví dụ như: một bài báo về ô nhiễm không khí hiện nay, một bài giới thiệu về một di tích lịch sử - văn hoá… Văn bản hình ảnh (visual text), đây là những văn bản mà thông tin được trình bày chủ yếu qua tranh, ảnh minh hoạ, sơ đồ, bản đồ, biểu đồ, infographic…Hình ảnh đóng vai trò chính trong việc truyền đạt thông tin có thể kết hợp với chú thích ngắn bằng văn bản Ví dụ: Sơ đồ về các tầng khí quyển, biểu đồ về tỉ lệ gia tăng dân số, inforgraphic về các bước rửa tay đúng cách… Văn bản đa phương tiện (multimedia text) là hình thức trình bày khi kết hợp nhiều phương thức như hình ảnh, âm thanh, video, chữ viết… cách trình bày này giúp người đọc nhận biết thông tin một cách sinh động, nhanh chóng và trực quan hơn VBTT trong chương trình GDPT 2018 không chỉ được trình bày dưới dạng văn bản chữ thông thường mà còn kết hợp các hình thức trình bày dưới dạng văn bản hình ảnh và
đa phương tiện nhằm giúp học sinh phát triển năng lực đọc hiểu đa dạng, nâng cao khả năng tiếp nhận và xử lí thông tin từ nhiều nguồn, rèn luyện tư duy tổng hợp, phản biện và sáng tạo
1.1.2.2 Chức năng của văn bản thông tin
Theo Bộ GDĐT (2018), trong phần mục tiêu chương trình môn Ngữ văn, tài liệu viết: “Góp phần hình thành và phát triển cho học sinh năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học; năng lực giao tiếp và năng lực thẩm mỹ; đồng thời trang bị cho các em công
cụ quan trọng để học tập, nghiên cứu các môn học khác cũng như để giao tiếp trong đời sống.” [5]
Trang 25Tiếp theo, ở phần nội dung giáo dục của chương trình, mục 3 Văn bản, tiểu mục (1) Yêu cầu về thể loại văn bản, tài liệu nêu rõ: “Chương trình xác định các loại văn bản đưa vào dạy học Ngữ văn, bao gồm: văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản thông tin… nhằm phát triển năng lực đọc hiểu đa dạng Các văn bản được lựa chọn
có nội dung phong phú, gần gũi với đời sống, có giá trị về tư tưởng, đạo đức, thẩm
mỹ, đồng thời góp phần rèn luyện tư duy, bồi dưỡng nhân cách, hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh” [5] Từ đó, ta có thể thấy chức năng của VBTT trong chương trình Ngữ văn mới không chỉ cung cấp tri thức mà còn góp phần giáo dục nhận thức, hình thành thái độ đúng đắn đối với thế giới xung quanh, rèn luyện tư duy khoa học và nâng cao năng lực xử lý thông tin của người học Bên cạnh đó, một số văn bản thông tin còn thực hiện vai trò đưa ra hướng dẫn cụ thể, chỉ dẫn cách ứng xử hoặc cảnh báo những nguy cơ có thể xảy ra, đặc biệt phổ biến trong các lĩnh vực như
y tế, an toàn hoặc tuyên truyền giáo dục trong cộng đồng
1.1.3 Vai trò của văn bản thông tin trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018
VBTT là loại văn bản thông dụng, gần gũi và thiết thực trong cuộc sống hằng ngày, vì hầu như tất cả các thông tin, tri thức về mọi lĩnh vực trong đời sống đều được trình bày dưới dạng một VBTT Trong chương trình GDPT 2018, VBTT giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ và tư duy cho học sinh Đây là loại văn bản được chú trọng đưa vào chương trình Ngữ văn nhằm giúp học sinh rèn luyện kỹ năng đọc hiểu, khai thác và xử lý thông tin một cách hiệu quả Theo Chương trình môn Ngữ văn, việc đưa văn bản thông tin vào dạy học nhằm “giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ, năng lực văn học và năng lực giao tiếp, từ đó góp phần phát triển năng lực chung và phẩm chất chủ yếu” [ 5] VBTT còn tạo điều kiện để học sinh tiếp cận kiến thức từ nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, khoa học, công nghệ… nhờ đó thúc đẩy tư duy tích hợp và phát triển năng lực liên môn Bên cạnh đó, việc tiếp xúc với văn bản thông tin giúp học sinh nâng cao năng lực tự học, khả năng phản biện và thích nghi với xã hội hiện đại – nơi thông tin trở thành nguồn lực thiết yếu Đây cũng là một phần trong định hướng “dạy học phát triển năng lực” của chương trình GDPT mới, hướng đến mục tiêu hình thành con người học tập suốt đời
Trang 261.2 Dạy học đọc hiểu văn bản thông tin
1.2.1 Khái niệm dạy học đọc hiểu văn bản thông tin
Theo Bộ GDĐT (2018), “đọc hiểu là quá trình tương tác giữa người đọc với văn bản nhằm xác lập và xây dựng nghĩa của văn bản, qua đó phát triển tư duy, năng lực cảm thụ và vận dụng tri thức” [3] Khái niệm này nhấn mạnh vai trò tích cực và chủ động của người học trong quá trình tiếp nhận và xử lý các thông tin được trình bày trong văn bản Theo tác giả Phùng Thị Vân Anh dẫn theo tài liệu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân, “Đọc hiểu là toàn bộ quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn bản, phát hiện ra ý nghĩa không có sẵn giữa các dòng văn, đọc những biểu tượng ẩn ý của văn bản và diễn đạt lại bằng lời của người đọc, kiến tạo ý nghĩa với văn bản; phản hồi sử dụng với văn bản Năng lực đọc hiểu bao gồm bốn thành tố cơ bản là: xác định các thông tin từ văn bản, phân tích kết nối các thông tin, phản hồi và đánh giá văn bản; vận dụng thông tin văn bản vào thực tiễn cuộc sống” [1] Kết hợp cả hai khái niệm trên và khái niệm VBTT, ta có thể hiểu dạy học đọc hiểu VBTT là một trong những thành tố cốt lõi trong dạy học môn Ngữ văn theo định hướng Chương trình GDPT
2018 Dạy học đọc hiểu VBTT giờ đây không đơn thuần là việc giáo viên hướng dẫn cho học sinh nhận diện mặt chữ, đọc to hay đọc diễn cảm văn bản mà dạy học đọc hiểu VBTT chính là giáo viên là người định hướng cho học sinh năng lực tư duy, yêu cầu người học phải vận dụng vốn kiến thức từ ngôn ngữ, văn hoá, kinh nghiệm sống
để nắm bắt được ý nghĩa của mỗi văn bản, để rồi từ đó hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất cần thiết
1.2.2 Đặc điểm dạy học đọc hiểu văn bản thông tin
Cũng theo tác giả Phùng Thị Vân Anh: “Năng lực đọc hiểu VBTT là năng lực tiếp nhận VBTT dựa trên sự kết hợp những thành tố kiến thức nền, kĩ năng ĐH VB, thái độ và động cơ đọc để thực hiện nhiệm vụ đọc nhằm đạt được chuẩn mong đợi trong bối cảnh cụ thể” [1] Từ khái niệm này và đặc trưng của VBTT ta có thể thấy năng lực đọc hiểu VBTT là năng lực riêng biệt không giống với năng lực đọc hiểu văn bản văn học hay văn bản nghị luận Cụ thể như sau:
Đầu tiên, ta bàn về mục đích khi đọc hiểu VBTT là để tiếp nhận và xử lý các thông tin được trình bày trong văn bản một cách chính xác và khách quan chứ không
Trang 27nhằm mục đích cảm thụ vẻ đẹp hay tính hình tượng đằng sau văn bản Chính vì vậy thay vì chú ý vào các yếu tố nghệ thuật hay biểu cảm thì khi tiếp cận VBTT người đọc cần tập trung đến các khái niệm, nội dung sự kiện hoặc hướng dẫn được nêu ra trong văn bản, chú ý vào các yếu tố phi ngôn ngữ như hình ảnh, bản đồ, biểu đồ… Thứ hai, khi tiến hành đọc hiểu VBTT người học cần trang bị cho mình các kỹ năng cần thiết như: tìm kiếm, chọn lọc và xử lý thông tin Vì các thông tin trong VBTT thường được tổ chức theo một trật tự nhất định có thể là trật tự thời gian, nhân – quả, so sánh – tương phản…nên người học cần có kỹ năng nhận biết nhanh chủ đề văn bản, các ý chính, ý phụ; có thể sử dụng sơ đồ để sơ đồ hoá các thông tin trong văn bản
Thứ ba, khi đọc hiểu VBTT người đọc cần hình thành tư duy logic và phản biện Người đọc không chỉ phải nắm được "thông tin gì" mà còn phải hiểu "tại sao", "như thế nào", để từ đó biết đánh giá độ tin cậy, tính khách quan của thông tin được trình bày trong văn bản Người đọc cũng cần phân tích cấu trúc lập luận hoặc nhận biết mục đích và quan điểm của người viết trong văn bản Đây là điểm khác biệt rõ rệt với đọc hiểu văn bản văn học thiên về cảm xúc
1.2.3 Mục tiêu và yêu cầu của dạy học đọc hiểu văn bản thông tin
Trong Tài liệu tập huấn: Hướng dẫn thực hiện Chương trình môn Ngữ văn trong Chương trình GDPT 2018 do Bộ GD&ĐT ban hành có viết rằng: “Mục đích chủ yếu của dạy đọc trong nhà trường phổ thông là giúp học sinh biết đọc và tự đọc được văn bản; thông qua đó mà bồi dưỡng, giáo dục phẩm chất, nhân cách học sinh Đối tượng đọc gồm văn bản văn học và văn bản thông tin” [5] Từ đây, ta có thể hiểu mục tiêu của dạy học đọc hiểu VBTT trước hết là giúp cho học sinh biết đọc và tự đọc được văn bản, từ đó mà hình thành và phát triển, hoàn thiện các phẩn chất và nhân cách của học sinh Có nghĩa là khi dạy học đọc hiểu VBTT giáo viên cần chú ý hướng dẫn cho học sinh cách đọc VBTT, bằng các phương pháp và kỹ thuật cụ thể để học sinh nắm được cách thức đọc hiểu một VBTT, sau đó áp dụng các cách thức đã được học
để đọc các VBTT khác Từ các thông tin, kiến thức về tự nhiên, xã hội và con người
mà học sinh tiếp nhận được thông qua việc đọc hiểu VBTT sẽ giúp các em hình thành
Trang 28và phát triển tư duy phân tích, phản biện và năng lực xử lý thông tin trong thực tiễn cuộc sống
Để đạt được mục tiêu trên việc dạy học đọc hiểu VBTT cũng có những yêu cầu
cụ thể Trước hết, việc dạy học đọc hiểu VBTT cần hướng đến việc phát triển năng lực đọc hiểu và tư duy phân tích, tổng hợp thông tin cho người học Học sinh không chỉ cần phải hiểu nội dung thông tin được trình bày trong văn bản mà còn phải biết xác định mô hình tổ chức thông tin trong văn bản, bố cục, mạch lạc của văn bản, mục đích, quan điểm của người viết Ngoài ra còn cần phải đánh giá được sự khách quan, chính xác của thông tin được trình bày Thường xuyên rèn luyện khả năng tóm tắt, so sánh, đối chiếu, phản biện, từ đó nâng cao tư duy logic và kỹ năng học tập chủ động Tiếp theo, trong quá trình dạy học đọc hiểu VBTT giáo viên cần chú ý tổ chức các hoạt động dạy học giúp học sinh rèn luyện kỹ năng đọc các VBTT mang tính thực tiễn, đa dạng về chủ đề Để làm được điều này, giáo viên chú ý chọn các VBTT có nội dung gần gũi với học sinh, mang tính thiết thực, có giá trị thực tiễn và tính giáo dục cao Đồng thời khuyến khích học sinh tìm hiểu, đọc thêm nhiều dạng VBTT hiện hành ngoài sách giáo khoa, được trình bày dưới nhiều hình thức như hình ảnh và đa phương tiện Yêu cầu thứ ba khi dạy học đọc hiểu VBTT chính là phải gắn việc đọc với các hoạt động giao tiếp và học tập thực tế: Việc đọc hiểu VBTT cần được triển khai theo hướng vận dụng thông tin vào giải quyết vấn đề, thảo luận, viết phản hồi, làm dự án nhỏ, giúp học sinh hình thành kỹ năng học tập suốt đời Đọc không chỉ là hiểu mà còn là tiền đề cho viết, nói, tranh luận, thuyết trình Cuối cùng, vì VBTT thường chứa đựng những tri thức liên ngành, vì vậy yêu cầu giáo viên thiết kế bài học theo hướng kết nối với các môn như Lịch sử, Địa lý, Khoa học tự nhiên, Giáo dục công dân nhằm giúp học sinh hiểu được mối liên hệ mât thiết giữa các lĩnh vực, từ
đó hình thành và phát triển tư duy đa chiều về vấn đề thực tiễn trong đời sống
1.2.4 Đặc điểm tâm lý và năng lực tiếp nhận văn bản thông tin của học sinh lớp 10
HS lớp 10 là lứa tuổi từ 15 – 16 tuổi rơi vào giai đoạn đầu của tuổi thanh niên (tuổi học sinh THPT), đây là thời kì phát triển mạnh mẽ về thể chất, trí tuệ và tâm lý Chính vì vậy dẫn đến nhận thức và tư duy của HS cũng có nhiều sự thay đổi khác biệt
so với lứa tuổi THCS trước đó Đặc biệt, nhận thức về hoạt động học tập của HS lớp
Trang 2910 cũng có nhiều thay đổi Bởi lẽ, hoạt động học tập của HS THPT nói chung hay HS lớp 10 nói riêng đòi hỏi sự năng động, sáng tạo và đọc lập, gắn liền với xu hướng lựa chọn tiếp tục học lên cao hay chọn học nghề, vào đời…Đồng thời, nếu muốn học tập tốt các em cũng phải rèn luyện cho mình tinh thần tự giác, tư duy lý luận, nhận thức và phát triển Ở lứa tuổi này, nhận thức của các em về các môn học cũng có sự chọn lựa hơn, gắn liền với các mục đích chọn lựa nghề nghiệp của bản thân Ở HS lớp 10 đã bắt đầu hình thành hứng thú chọn lựa các môn học gắn với nghề nghiệp sau này Tuy vậy, điều này cũng dẫn đến tình trạng “học lệch” (tức là các em chỉ chú trọng học những môn học mình yêu thích, hoặc các môn mà các em xem là quan trọng để thi vào ngành nghề nhất định, mà xao nhãn các môn học khác) Ở HS lớp 10, cùng với những phát triển về mặt sinh học và tâm lý thì khả năng tư duy của các em cũng phát triển nhanh chóng Tư duy lý luận ở độ tuổi này phát triển vượt bậc, nhiều em có khả năng suy luận, phân tích lý thuyết mà không nhất thiết phải hoàn toàn dựa vào tình huống Đây cũng là giai đoạn các em bắt đầu hình thành năng lực tư duy phản biện, có thể đưa ra những quan điểm, đánh giá khác nhau về cùng một vấn đề dưới góc nhìn đa chiều đầy sáng tạo Đồng thời khả năng tìm kiếm và tiếp nhận thông tin ở các em cũng tăng lên đặc biệt là các văn bản khoa học có tính thời sự hoặc các văn bản có nội dung khiến các em cảm thấy hứng thú Nhìn chung, tư duy của HS lớp 10 vẫn còn phụ thuộc vào
mô hình hóa từ GV, thiếu tính hệ thống, dễ bị ảnh hưởng bởi cảm xúc hoặc nhận thức chủ quan Điều này đòi hỏi việc tổ chức dạy học cần có định hướng rõ ràng, phát huy tính chủ động nhưng vẫn cần sự dẫn dắt khoa học của GV
Từ các đặc điểm nhận thức trên, việc dạy học đọc hiểu VBTT cho HS lớp 10 phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Thứ nhất là, tăng cường hoạt động trải nghiệm và khám phá: Khuyến khích HS
tự tìm hiểu nội dung văn bản, phát hiện vấn đề thông qua câu hỏi mở, tình huống gắn với thực tiễn
Thứ hai là, chú ý phát triển năng lực tư duy phản biện cho HS: Thông qua các nhiệm vụ học tập như đánh giá tính logic của thông tin, so sánh quan điểm, nhận xét tính khách quan, độ tin cậy của văn bản
Trang 30Thứ ba là, tích hợp liên môn: Giúp HS vận dụng kiến thức từ các môn học khác (Lịch sử, Địa lí, Sinh học, Công nghệ, Giáo dục công dân ) để hiểu sâu sắc hơn nội dung và ngữ cảnh của VBTT
Thứ tư là, đổi mới hình thức tổ chức dạy học như học tập theo dự án, học theo nhóm, tranh biện, sử dụng bản đồ tư duy, sơ đồ hóa để phát triển tư duy tổng hợp – phân tích
Cuối cùng là, cá thể hóa quá trình học tập: chú trọng đến nhu cầu, sở thích và phong cách học của từng HS thông qua thiết kế nhiệm vụ đa dạng, phân hóa
Việc đổi mới phương pháp không chỉ giúp nâng cao hiệu quả tiếp nhận VBTT
mà còn đáp ứng yêu cầu của Chương trình GDPT 2018 về phát triển phẩm chất và năng lực toàn diện phù hợp với HS lớp 10
1.3 Dạy học tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin
1.3.1 Khái niệm dạy học tích hợp liên môn
Dạy học tích hợp là một trong những xu hướng của giáo dục hiện đại, nhằm phát triển năng lực toàn diện cho người học thông qua việc gắn kết các kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học trong khi thiết kế một hoạt động, nhiệm vụ học tập Trong Chương trình GDPT tổng thể do Bộ GDĐT ban hành thì: “Dạy học tích hợp là một định hướng
tổ chức nội dung giáo dục nhằm phát triển năng lực người học thông qua việc vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng từ nhiều môn học, lĩnh vực để giải quyết các vấn
đề trong học tập và cuộc sống” [5] Theo nhóm tác giả Lê Văn Tiến và Văng Thị Kim Cửu dẫn theo nghiên cứu của Hồ Sĩ Anh nếu tiếp cận tích hợp (TH) từ Chương trình
và môn học thì hầu hết các nghiên cứu đều đề cập tới những hình thức như: TH nội môn, TH liên môn và TH xuyên môn Cụ thể như sau:
“Tích hợp trong một môn học (TH nội môn): TH các nội dung của các phân
môn, các lĩnh vực nội dung thuộc cùng một môn học theo những chủ đề, chương, bài
cụ thể” [23, tr 1443] Đối với môn Ngữ văn, TH nội môn là hình thức dạy học mà ở
đó giáo viên (GV) có sự hướng dẫn học sinh (HS) kết nối kiến thức với những phân môn khác trong môn Ngữ văn Ví dụ như khi dạy đọc hiểu văn bản, GV có thể tích hợp kiến thức tiếng Việt để giúp HS phân tích các biện pháp tu từ, câu đặc biệt… có trong văn bản, hay tích hợp với kiến thức làm văn để HS viết đoạn văn phân tích, nêu
Trang 31cảm nhận về tác phẩm Việc tiến hành dạy học theo hướng tích hợp nội môn như vậy
sẽ giúp HS hiểu sâu, vận dụng linh hoạt các kiến thức nội bộ trong môn Ngữ văn, góp phần phát triển tư duy tổng hợp và kỹ năng ứng dụng cho các em Đồng thời, cho người học thấy được sự liên kết giữa các phân môn trong môn Ngữ văn, tính hệ thống
và ý nghĩa của việc học môn Ngữ văn
“Tích hợp liên môn: Các môn học được liên hợp với nhau và giữa chúng có
những chủ đề, vấn đề chung, mà việc giải quyết đòi hỏi vận dụng các kiến thức của nhiều môn học khác nhau Có hai cách TH liên môn:
+ Cách 1: Các môn vẫn dạy riêng rẽ, nhưng cuối học kì hay cuối năm học có một phần, một chương về các vấn đề chung có đặc trưng TH liên môn
+ Cách 2: Các vấn đề chung giữa các môn được thực hiện ở những thời điểm đều đặn, thích hợp trong năm, nghĩa là “nhặt” hơn cách 1” [23, 1444]
Khi dạy học theo hướng tích hợp liên môn trong môn Ngữ văn GV phải kết nối, vận dụng kiến thức và kỹ năng từ các môn học khác nhau (ngoài môn Ngữ văn), như Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Mỹ thuật, Âm nhạc, Sinh học, Vật lý để làm sáng rõ nội dung văn bản góp phần phát triển năng lực toàn diện cho học sinh Ví dụ như khi tiến hành dạy đọc hiểu một văn bản bất kì, GV có thể sử dụng kiến thức từ môn Lịch sử để giảng giải cho HS về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, tiểu sử của tác giả; kiến thức Địa lý để phân tích các địa danh có trong văn bản, hay kiến thức từ các môn khoa học tự nhiên để lý giải các sự vật, hiện tượng trong văn bản Việc dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp liên môn nhằm mục đích khơi gợi tư duy đa chiều của HS, giúp các em gắn kết kiến thức văn học với thực tế cuộc sống Hình thành và phát triển năng lực tổng hợp và liên kết tri thức của học sinh Ngoài ra, còn giúp HS hiểu sâu hơn bài học nhờ vận dụng kiến thức từ nhiều môn học
“Tích hợp xuyên môn: Bắt đầu từ những vấn đề thực của cuộc sống và có ý
nghĩa với HS, mà không xuất phát từ các khoa học tương ứng với các môn học, từ đó xây dựng thành các môn học mới khác với môn học truyền thống” [23, 1444] Tích hợp xuyên môn trong môn Ngữ văn là hình thức dạy học trong đó giáo viên sử dụng các kiến thức, kỹ năng từ nhiều môn học khác nhau, không nhằm làm rõ nội dung môn Ngữ văn riêng lẻ, mà nhằm giải quyết một vấn đề chung, thực tiễn, có tính liên
Trang 32ngành, giúp HS phát triển năng lực giải quyết vấn đề và vận dụng kiến thức vào cuộc sống Ví dụ như GV giao cho HS thực hiện các dự án học tập nhỏ: Dự án học tập:
“Bảo vệ môi trường qua văn học và truyền thông”
Ngữ văn: Viết bài văn nghị luận xã hội về bảo vệ môi trường; đọc hiểu các văn bản có chủ đề môi trường
Sinh học – Địa lý: Tìm hiểu tác hại của rác thải nhựa, biến đổi khí hậu
Tin học – Công nghệ: Thiết kế poster hoặc video tuyên truyền
Mỹ thuật: Thiết kế khẩu hiệu, tranh vẽ cổ động
Kết quả: HS trình bày sản phẩm dự án, vận dụng tổng hợp kiến thức để truyền thông cộng đồng
Trong đó, dạy học tích hợp liên môn được xem là một định hướng cụ thể của Chương trình GDPT 2018 Theo quan điểm của Mai Sỹ Tuấn thì: “Tích hợp liên môn (Interdisciplinary) là hình thức phối hợp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống, tạo ra những kết nối giữa nhiều môn học Nội dung tích hợp liên môn xoay quanh các chủ đề, các khái niệm và các kỹ năng liên môn được nhấn mạnh” [26] Trong bài viết này, chúng tôi đề xuất cách hiểu dạy học tích hợp liên môn là: Định hướng tổ chức các hoạt động học tập để học sinh huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng từ nhiều môn học hoặc lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các vấn đề trong học tập và thực tiễn một cách hiệu quả
1.3.2 Dạy học tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin
Trong Chương trình GDPT 2018, dạy học phát triển năng lực người học được xác định là mục tiêu trọng tâm Theo đó, tích hợp liên môn là một trong những định hướng được khuyến khích áp dụng rộng rãi nhằm giúp HS vận dụng kiến thức một cách linh hoạt để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong học tập và cuộc sống hằng ngày
Đối với VBTT trong môn Ngữ văn, việc đọc hiểu không chỉ dừng lại ở việc nắm nội dung, phương thức biểu đạt của văn bản, mà còn đòi hỏi HS phải liên hệ, phân tích
và đánh giá thông tin dựa trên tri thức liên ngành Vì vậy, tích hợp liên môn là một hướng tiếp cận phù hợp và cần thiết
Trang 33Tính khả thi của việc dạy học tích hợp liên môn trong đọc hiểu văn bản thông tin thể hiện ở:
Trước hết, có thể thấy rằng nhiều văn bản trong SGK Ngữ văn 10 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo, Cánh diều) có nội dung gắn liền với các vấn đề khoa học, xã hội, đạo đức, rất dễ liên hệ với các môn như Lịch sử, Địa lí, GDCD, Sinh học, Vật lí…
Tiếp theo là, Chương trình các môn học khác cũng hướng đến phát triển năng lực, tạo
cơ sở để giáo viên xây dựng bài học tích hợp phù hợp trình độ học sinh
Tiếp đến, GV Ngữ văn được đào tạo có nền tảng kiến thức văn hóa – xã hội rộng, có thể liên hệ và tổ chức hoạt động học tích hợp với sự hỗ trợ của giáo viên bộ môn khác Đặc biệt, trong bối cảnh yêu cầu học sinh “học để làm, học để chung sống và học để phát triển”, dạy học tích hợp liên môn trong đọc hiểu văn bản thông tin trở thành một giải pháp quan trọng để hình thành tư duy tổng hợp, phản biện, sáng tạo cho học sinh
Ví dụ minh hoạ kết nối liên môn: Văn bản: Sự sống và cái chết – Trịnh Xuân
Thuận (SGK Ngữ văn 10, tập 2, Kết nối tri thức với cuộc sống)
+ Tích hợp với lịch sử: Tham gia chuyến du hành ngược thời gian, trở về trái đất hàng triệu năm trước, khi chưa có loài người và các loài sinh vật chưa đa dạng như ngày nay
+ Tích hợp với sinh học: Khai thác các thuật ngữ chuyên ngành sinh học, liên quan đến các hiện tượng và các loài sinh vật để hiểu được quá trình tiến hoá và hoàn thiện của các loài sinh vật trên trái đất
+ Tích hợp với GDCD: Thấy được vị trí của con người trong thế giới từ nhiên, từ đó hình thành ý thức trân trọng sự sống hữu hạn của con người
1.3.3 Phương pháp và kỹ thuật dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp liên môn
1.3.3.1 Phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp liên môn
Trong quá trình dạy học đọc hiểu VBTT giáo viên cần chú ý hướng dẫn cho học sinh đa dạng các phương pháp đọc hiểu như: đọc lướt, đọc kĩ, đọc phân tích – phản
Trang 34biện và đọc tổng hợp Trong đó, đọc lướt là phương pháp đọc nhanh nhằm mục đích nắm bắt thông tin chính được thể hiện trong văn bản, chủ đề của văn bản, phân biệt được các ý chính trong chủ đề và các ý phụ làm rõ nội dung chi tiết của ý chính Ở phương pháp này, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh cần chú ý vào các yếu tố hình thức của văn bản như: tiêu đề, các chữ in đậm, in nghiêng, đoạn sapo, các yếu
tố phi ngôn ngữ (tranh, ảnh, bản đồ, sơ đồ, biểu đồ…) trong văn bản Tiếp theo, phương pháp đọc kĩ là phương pháp đọc mà học sinh phải đọc chậm, tập trung vào từng chi tiết của văn bản để hiểu sâu, hiểu đúng thông tin Trong quá trình đọc giáo viên cần lưu ý cho HS chú ý cấu trúc của đoạn văn, câu văn, các từ ngữ, logic lập luận trong văn bản Tiếp nữa là phương pháp đọc phân tích đây là quá trình đòi hỏi học sinh phải đọc kĩ, đọc sâu để khám phá được cách thức tổ chức thông tin trong văn bản, nắm được logic, lập luận của tác giả Sau nữa là đọc phản biện, đây là phương pháp đọc nâng cao, ở phương pháp này HS không phải chỉ đọc và tiếp nhận thông tin được tác giả trình bày trong văn bản mà còn phải đánh giá, chất vấn, phản biện các lập luận
mà tác giả đưa ra trong bài viết Phương pháp này yêu cầu HS phải có kiến thức nền vững chắc và khả năng suy luận, phân tích và tổng hợp thông tin Cuối cùng là phương pháp đọc tổng hợp đây là quá trình người đọc kết nối, so sánh và tích hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (hoặc nhiều đoạn trong cùng một văn bản) nhằm hình thành một hiểu biết mới, sâu sắc và toàn diện hơn, phương pháp này thường được sử dụng sau khi đọc Ví dụ cụ thể về ứng dụng các phương pháp trên sẽ được đề xuất ở chương
3 của khoá luận
1.3.3.2 Kỹ thuật dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp liên môn
Khi tổ chức dạy học theo định hướng tích hợp liên môn GV cần phải linh hoạt
sử dụng các kỹ thuật dạy học như: Sử dụng sơ đồ tư duy để trực quan hoá những thông tin quan trọng, giúp HS nắm được bố cục và mạch lạc của văn bản Sử dụng bảng KWL khuyến khích HS liên hệ các kiến thức đã biết (Know), đặt ra câu hỏi cho những gì chưa biết (Want to know), học thêm được gì (Learned) đây là kỹ thuật vô cùng phù hợp để sử dụng trong dạy học tích hợp liên môn Bên cạnh đó, còn có kỹ thuật mảnh ghép tức là GV chia lớp ra thành các nhóm nhỏ mỗi nhóm sẽ nghiên cứu
về một “mảnh” kiến thức ở một lĩnh vực khác nhau sau đó ghép các “mảnh” để tổng
Trang 35hợp kiến thức Trong quá trình dạy học GV cần chú ý sử dụng đa dạng các kỹ thuật dạy học, tuy nhiên cũng cần có sự chọn lọc để chọn ra hoạt động học tập nào thì phù hợp với kỹ thuật dạy học nào Ví dụ cụ thể về ứng dụng các kỹ thuật trên sẽ được đề xuất ở chương 3 của khoá luận
1.3.4 Ý nghĩa của dạy học tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu văn bản thông tin đối với học sinh THPT
Trong Chương trình GDPT 2018, môn Ngữ văn được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực cho HS một cách toàn diện, trong đó năng lực đọc hiểu đặc biệt là đọc hiểu VBTT là vô cùng quan trọng, bởi năng lực này được xem như chiếc chìa khoá để giúp người học đi đến sự thành công trong thời đại công nghệ và thông tin như hiện nay Như đã biết, VBTT thường trình bày các thông tin liên quan đến nhiều lĩnh vực trong cuộc sống như: lịch sử, văn hoá, khoa học, công nghệ… hoặc bất cứ
sự vật, sự kiện nào tồn tại trong thực tế Chính vì vậy, trong quá trình đọc hiểu VBTT người học không chỉ cần phải rèn luyện và phát triển khả năng ngôn ngữ mà còn cần phải có khả năng tư duy vận dụng những kiến thức, kỹ năng liên môn để hiểu sâu hơn nội dung của văn bản, từ đó hình thành khả năng tư duy đa chiều và kỹ năng giải quyết các vấn đề trong tực tiễn Bên cạnh đó, khi tiến hành dạy học đọc hiểu VBTT theo định hướng tích hợp liên môn, GV có thể mở rộng không gian tri thức cho HS, giúp các em không chỉ hiểu văn bản ở cấp độ ngôn ngữ, mà còn “thấm” nội dung văn bản ở cấp độ tư duy – hành động Dạy cho HS biết cách đối chiếu và so sánh giữa các văn bản có cùng chủ đề, từ đó hình thành tư duy phản biện và kỹ năng xử lý vấn đề dưới nhiều tình huống khác nhau Đối với HS lớp 10 – đối tượng nghiên cứu chính của đề tài thì dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn là vô cùng cần thiết Vì ở độ tuổi của các em vừa mới bước vào môi trường THPT vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, nếu được tiếp cận với một định hướng học mới, hiệu quả, thú vị mà còn tích hợp được kiến thức của nhiều môn học khác nhau sẽ góp phần hình thành cho các em nền tảng vững chắc, trở thành kim chỉ nam cho các em trong suốt quá trình học tập và định hướng nghề nghiệp sau này Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng việc dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng tích hợp liên môn là một việc vô cùng cần thiết đối với dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường trung học hiện nay
Trang 36TIỂU KẾT
Chương 1 đã trình bày cơ sở lý luận của đề tài một cách rõ ràng và cụ thể Trước hết, nội dung của chương 1 đã làm rõ khái niệm, chức năng, đặc điểm và vai trò của VBTT trong Chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực của HS Trên
cơ sở đó, tiếp tục tìm hiểu khái niệm và phân tích đặc điểm của hoạt động đọc hiểu VBTT, các mục tiêu và yêu cầu trong dạy học loại văn bản này ở bậc THPT Đặc biệt còn phân tích đặc điểm tâm lý và năng lực tiếp nhận VBTT của HS lớp 10 – đối tượng nghiên cứu của đề tài
Tiếp theo, chương 1 đi vào tìm hiểu dạy học tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu VBTT bằng cách tìm hiểu từ khái niệm dạy học tích hợp nói chung để dẫn vào khái niệm tích hợp liên môn Tiếp đến, chương 1 trình bày những lý thuyết chung
về các phương pháp và kỹ thuật dạy học có thể vận dụng để tổ chức hoạt động đọc hiểu theo hướng tích hợp liên môn
Cuối cùng, chương 1 chỉ rõ ý nghĩa của dạy học tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu VBTT đối với học sinh THPT: tác động đến năng lực đọc hiểu, năng lực tư duy phản biện và giải quyết vấn đề Đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của dạy học tích hợp liên môn trong dạy học đọc hiểu VBTT đối với HS lớp 10
Những nội dung trình bày trong chương 1 là cơ sở lý thuyết quan trọng để tiến hành khảo sát và phân tích các bài học cụ thể có VBTT trong sách giáo khoa Ngữ văn
10 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống), từ đó đi vào tìm hiểu thực trạng của dạy học đọc hiểu văn bản thông tin theo hướng tích hợp liên môn ở chương 2 và đề xuất các biện pháp dạy học ở chương 3
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THÔNG TIN THEO ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN CHO HỌC SINH LỚP 10 TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN THƯỢNG HIỀN
2.1 Khái quát về địa điểm khảo sát – Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, Thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Giới thiệu chung về nhà trường
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền thành lập năm 2005 theo Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 14/7/2005 của UBND thành phố Đà Nẵng Năm học đầu tiên trường chỉ có 589 học sinh cho đến nay số HS theo học tại trường đã tăng lên gần
1300 em HS Đã trải qua gần 20 năm hình thành và phát triển vượt qua biết bao khó khăn, thiếu thốn, nhưng thầy và trò trường THPT Nguyễn Thượng Hiền đã vượt qua
và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình Năm 2025, Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền tổ chức kỉ niệm mừng 20 năm thành lập trường
2.1.1.2 Vị trí địa lý, quy mô trường
Trường nằm tại địa chỉ: 54 Thích Quảng Đức, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
Năm học 2024 – 2025, trường có tổng số học sinh là:1333 em được phân thành
30 lớp, trong đó 10 lớp khối 10 với 446 HS, 10 lớp 11 với 445 HS, 10 lớp 12 với 442
Trang 382.1.1.3 Chất lượng tuyển sinh đầu vào của nhà trường
Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền tại Đà Nẵng là một trong những trường công lập có chất lượng tuyển sinh đầu vào ổn định và đáng chú ý trong khu vực Trong kỳ tuyển sinh lớp 10 năm học 2024–2025, điểm chuẩn của trường là 46,13 điểm, xếp vào nhóm trung bình khá so với các trường THPT công lập tại Đà Nẵng
2.1.2 Mối liên hệ với đề tài nghiên cứu
Trong quá trình học tập và thực tập sư phạm tại trường, tác giả có điều kiện tiếp cận thực tế môi trường dạy và học Ngữ văn tại trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, đặc biệt là hoạt động dạy học đọc hiểu VBTT theo định hướng Chương trình GDPT 2018
Đội ngũ GV tổ Ngữ văn của nhà trường có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt huyết với nghề, sẵn sàng cộng tác và hỗ trợ trong việc triển khai các hoạt động khảo sát và thử nghiệm dạy học Đồng thời, HS của trường có thái độ học tập nghiêm túc, nền nếp học tập rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khảo sát và áp dụng các biện pháp dạy học mới Đây cũng là cơ sở thực tập sư phạm của tác giả, nên việc triển khai khảo sát được tiến hành thuận lợi, có sự phối hợp chặt chẽ giữa sinh viên và GV hướng dẫn, đảm bảo tính khả thi và xác thực cho đề tài nghiên cứu
Việc khảo sát thực tế tại Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền, TP Đà Nẵng có
ý nghĩa thiết thực trong việc phản ánh đúng thực trạng dạy học đọc hiểu VBTT theo định hướng tích hợp liên môn trong chương trình Ngữ văn 10 Từ kết quả khảo sát,
đề tài kỳ vọng sẽ rút ra những điểm mạnh, hạn chế trong cách thức tổ chức dạy học hiện hành, qua đó đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này
Mặt khác, kết quả nghiên cứu cũng có thể góp phần cung cấp những tư liệu tham khảo thực tiễn cho GV giảng dạy tại trường trong việc cải tiến hoạt động dạy học đọc hiểu VBTT theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS, đồng thời thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa môn Ngữ văn với các môn học khác trong nhà trường
Trang 392.2 Khảo sát Chương trình và SGK Ngữ văn lớp 10
2.2.1 Mục tiêu, yêu cầu cần đạt của dạy học đọc hiểu trong Chương trình Ngữ văn 2018
Yêu cầu cần đạt đối với VBTT lớp 10 trong Chương trình Môn Ngữ văn 2018
Đọc hiểu nội dung
– Biết suy luận và phân tích mối liên hệ giữa các chi tiết và vai trò của chúng trong việc thể hiện thông tin chính của văn bản
– Phân tích và đánh giá được đề tài, thông tin cơ bản của văn bản, cách đặt nhan đề của tác giả; nhận biết được mục đích của người viết
Đọc hiểu hình thức
– Nhận biết được một số dạng văn bản thông tin tổng hợp: thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận; giải thích được mục đích của việc lồng ghép các yếu tố đó vào văn bản
– Nhận biết và phân tích được sự kết hợp giữa phương tiện giao tiếp ngôn ngữ
và các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ để biểu đạt nội dung văn bản một cách sinh động, hiệu quả
Phân tích, đánh giá được cách đưa tin và quan điểm của người viết ở một bản tin
Ngữ liệu:
– Báo cáo nghiên cứu; văn bản thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu
tố miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận
– Nội quy, văn bản hướng dẫn
Trang 402.2.2 Các văn bản thông tin trong SGK lớp 10 của 3 bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Chân trời sáng tạo và Cánh diều
Như đã biết, VBTT là loại văn bản quan trọng, phổ biến trong đời sống hàng ngày của chúng ta Việc rèn luyện cho HS khả năng đọc hiểu VBTT một cách thành thạo chính là chiếc chìa khoá vạn năng có thể giúp các em học tập thật tốt ở các môn học khác không riêng gì môn Ngữ văn Chính vì vậy mà Chương trình GDPT 2018 môn Ngữ văn đã quyết định đưa VBTT trở thành một trong 3 loại văn bản được giảng dạy hiện nay Dưới đây là bảng thống kê các VBTT trong cả 3 bộ sách giáo khoa hiện hành:
BÀI 8: SỰ ĐA DẠNG CỦA THẾ GIỚI THÔNG TIN
1
Sự sống và cái chết
(Trích từ điển Yêu thích bầu trời và các
vì sao)
Trịnh Xuân Thuận
Vai trò của cái chết trong quá trình tiến hoá của các sinh vật
Khoa học Sử dụng số liệu
cụ thể để minh hoạ luận điểm
2 Nghệ thuật truyền
thống của người Việt
(Trích Văn minh Việt
Nam)
Nguyễn Văn Huyên
Giới thiệu các loại hình nghệ thuật truyền thống của người Việt
Văn hoá Sử dụng kết
hợp yếu tố miêu
tả để tái hiện rõ nét các loại hình nghệ thuật truyền thống