1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình

72 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cây re gừng (Cinnamomum bejolghota (Buch-Ham) Sweet) tại thành phố Hòa Bình
Tác giả Nguyễn Trung Hải
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thoa, TS. Lại Thanh Hải
Trường học Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Đề án thạc sĩ
Năm xuất bản 2024
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ thành tầng cây tái sinh trong các trạng thái rừng tự nhiên có Re gừng phân bố ở khu vực nghiên cứu .... Ngành khoa học của đề án: Quản lý tài nguyên rừng; Mã số: 8.62.02.11 Tên đơn v

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN TRUNG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN TRUNG HẢI

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

ĐỀ ÁN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Thị Thoa

TS Lại Thanh Hải

Thái Nguyên - 2024

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong đề ánđề án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ bất kỳ học vị nào

Đề án có sử dụng một phần các số liệu nghiên cứu của nhiệm vụ “Khai

thác và phát triển nguồn gen cây Re gừng (Cinnamomum bejolghota

(Buch-Ham) Sweet) tại một số tỉnh phía Bắc”, Mã số: NVQG-2021/ĐT.30 Các số liệu thí nghiệm sử dụng trong đề án này đã được Chủ nhiệm đề tài đồng ý cho sử dụng vào nội dung đề án

Tôi xin cam đoan rừng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề án đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong đề ánđề án đều được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng 09 năm 2024

Tác giả đề án

Nguyễn Trung Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề án thạc sĩ được hoàn thành theo chương trình đào tạo Cao học Quản

lý tài nguyên rừng của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên khóa 30

Đề án là một trong những nội dung nghiên cứu quan trọng của đề tài

“ Khai thác và phát triển nguồn gen cây Re gừng (Cinnamomum bejolghota

(Buch-Ham) Sweet) tại một số tỉnh phía Bắc” do TS Lại Thanh Hải của Viện Nghiên cứu Lâm sinh là chủ nhiệm

Trong quá trình học tập và hoàn thành đề án, tác giả đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Phòng Đào tạo cũng như của các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, các cán bộ nghiên cứu Viện Nghiên cứu Lâm sinh - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thị Thoa và TS Lại Thanh Hải - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức quý báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian thực hiện đề án Cũng như tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình thu thập

số liệu phục vụ viết đề án và hoàn thành đề án theo đúng tiến độ

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Hà Giang, Hạt kiểm lâm huyện Vị Xuyên, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành đề án thạc sĩ

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2024

Tác giả

Nguyễn Trung Hải

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ vii

THESIS ABSTRACT x

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Thông tin chung về loài Re gừng 4

1.2 Trên thế giới 5

1.2.1 Tên gọi, phân loại 5

1.2.2 Đặc điểm giá trị nguồn gen 6

1.2.3 Đặc điểm sinh học 7

1.3 Trong nước 8

1.3.1 Tên gọi, phân loại 8

1.3.2 Đặc điểm giá trị nguồn gen 9

1.3.3 Đặc điểm sinh học 11

1.3 Đánh giá chung 16

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu 17

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 17

2.2 Nội dung nghiên cứu 17

Trang 6

2.3 Phương pháp nghiên cứu 17

2.3.1 Công tác chuẩn bị 17

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung 17

2.3.3 Phương pháp điều tra 18

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Re gừng 28

3.1.1 Đặc điểm hình thái 28

3.1.2 Đặc điểm vật hậu 29

3.2 Một số đặc điểm tầng cây gỗ 31

3.2.1 Cấu trúc mật độ 31

3.2.2 Cấu trúc tổ thành 33

3.2.3 Cấu trúc tầng thứ 33

3.2.4 Phân bố số cây theo cấp đường kính 34

3.2.5 Nghiên cứu mối quan hệ của Re gừng với các loài khác 35

3.3 Nghiên cứu đặc điểm tầng cây tái sinh và của loài Re gừng 37

3.3.1 Đặc điểm cấu trúc tổ thành tái sinh 37

3.3.2 Phân bố cây tái sinh theo các cấp chiều cao 38

3.3.3 Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh 39

3.3.5 Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang 40

3.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái loài Re gừng 40

3.3.1 Địa hình 41

3.3.2 Điều kiện khí hậu 41

3.3 Điều kiện đất đai 42

3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển loài Re gừng tại khu vực nghiên cứu 45

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46

1.Kết luận 46

2 Tồn tại 47

3 Khuyến nghị 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3 1 Một số thông tin về các cây Re gừng theo dõi vật hậu 29

Bảng 3.2 Các pha vật hậu của Re gừng tại Hòa Bình 30

Bảng 3.3 Tình hình sinh trưởng và mật độ rừng nơi có Re gừng phân bố 31

Bảng 3.4 Mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Re gừng trong các trạng thái rừng tự nhiên 32

Bảng 3.5 Tổ thành loài tầng cây gỗ của các trạng thái rừng có Re gừng phân bố 33

Bảng 3.6 Phân chia tầng rừng tại các lâm phần điều tra 33

Bảng 3.7 Cấu trúc tầng thứ của lâm phần và của quần thể Re gừng 34

Bảng 3.8 Mô phỏng phân bố N/D1,3 cho rừng tự nhiên sử dụng hàm Weibull 35

Bảng 3.9 Mức độ xuất hiện của loài cây bạn với Re gừng 36

Bảng 3.10 Tổ thành tầng cây tái sinh trong các trạng thái rừng tự nhiên có Re gừng phân bố ở khu vực nghiên cứu 37

Bảng 3.11 Mật độ cây tái sinh tại các lâm phần có Re gừng phân bố 38

Bảng 3.12 Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh 39

Bảng 3.13 Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang 40

Bảng 3.14 Một số đặc điểm khí hậu nơi có Re gừng phân bố 41

Bảng 3.15 Tính chất lý tính đất nơi có Re gừng phân bố 43

Bảng 3.16 Tính chất hóa tính của đất nơi có Re gừng phân bố 44

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Hình 01 Hình thái lá Re gừng 28 Hình 02 Hình thái thân Re gừng 28 Hình 03 Hình thái hoa, quả Re gừng 29

Trang 10

TRÍCH YẾU ĐỀ ÁN Tên tác giả đề án: Nguyễn Trung Hải

Tên đề án: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cây Re gừng (Cinnamomum bejolghota (Buch-Ham) Sweet) tại thành phố Hòa Bình”

Ngành khoa học của đề án: Quản lý tài nguyên rừng; Mã số: 8.62.02.11

Tên đơn vị đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên

Mục đích nghiên cứu:

Đề án nghiên cứu nhằm xác định được một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Re gừng Xác định được một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển tại thành phố Hòa Bình

Phương pháp nghiên cứu:

Đề án sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp kế thừa có chọn lọc các tài liệu, phương pháp điều tra theo tuyến, phương pháp thu thập số liệu trên các ô tiêu chuẩn điển hình; phương pháp phân tích, xử lý số liệu

Kết quả chính và kết luận:

Kết quả nghiên cứu đặc điểm lâm học loài R gừng được thực hiện tại thành phố Hòa Bình, kết quả điều tra theo tuyến và theo 15 ô tiêu chuẩn (3 ô định vị có diện tích

2500 m2) trên với diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 500 m2, cho thấy: Re gừng là loài cây

gỗ lớn, đường kính ngang ngực đạt tới 60 -70 cm, chiều cao có thể đạt tới 30m Mật

độ tầng cây gỗ biến động từ 1.080 cây/ha đến 1.296 cây/ha và trung bình là 1209 cây/ha Mật độ trung bình của cây trưởng thành loài Re gừng trong các trạng thái rừng

tự nhiên có thể dao động từ 16 đến 288 cây trên 1ha Re gừng chiếm tỷ lệ trung bình

là 9,1% trong các lâm phần Trong các trạng thái rừng tự nhiên có Re gừng phân bố ở các tỉnh điều tra thì Re gừng có ý nghĩa về mặt sinh thái trong các trạng thái với chỉ số IV% = 2,34-17,4%

Kết quả điều tra các loài cây bạn với Re gừng tại Hòa Bình cho thấy, có 9 loài với tần suất xuất hiện của loài theo số ô quan sát dao động từ 17,5 đến 31,6%, tần suất xuất hiện của loài theo số cây quan sát dao động từ 3,5 đến 6,8%

Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính được mô phỏng bằng phân bố Weibull đối với rừng có phân bố Re gừng hầu hết được chấp nhận với mức ý nghĩa α

Trang 11

= 0,05 (χt2 < χ052) với tham số alpha (α) trong khoảng từ 0,7 tới 1,0 cho thấy rừng có phân bố weibull 1 đỉnh lệch trái Tổ thành tầng cây tái sinh của các trạng thái rừng có

Re gừng phân bố ở các khu vực nghiên cứu có sự khác biệt khá rõ về số lượng và thành phần loài Re gừng tái sinh tham gia vào công thức tổ thành cây tái sinh với hệ số tổ thành từ 2,04-5,56% Cây tái sinh có phân bố cụm trên bề mặt đất rừng Các kết quả nghiên cứu này là cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài Re gừng trong tương lai

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master of Science: Nguyen Trung Hai

Thesis title: Study on Some Biological Characteristics of Re Gừng Tree (Cinnamomum bejolghota (Buch-Ham) Sweet) in Hòa Bình City

Educational organization: Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry - Thai Nguyen University

Research Objectives: The project aims to identify some biological and ecological

characteristics of the Cinnamomum bejolghota species It also aims to determine some

structural and natural regeneration features, thereby proposing conservation and development solutions in Hòa Bình City

Method:

The project employs the following research methods: selective inheritance of relevant documents, survey method along specific transects, data collection from representative sample plots, and methods of data analysis and processing

Main findings and conclusions:

The study on the silvicultural characteristics of the Cinnamomum bejolghota

species was conducted in Hoa Binh City, Hoa Binh Province The results from transect surveys and 15 standard plots (including 3 fixed plots of 2,500 m²) with each standard

plot covering 500 m² indicate that Cinnamomum bejolghota is a large tree species with

a diameter at breast height (DBH) reaching 60-70 cm, and the height can reach up to

30 meters The density of the tree layer ranges from 1,080 trees/ha to 1,296 trees/ha,

with an average of 1,209 trees/ha The average density of mature Cinnamomum bejolghota trees in natural forest conditions ranges from 16 to 288 trees per hectare

Cinnamomum bejolghota accounts for an average proportion of 9.1% in forest stands

In natural forest conditions where Cinnamomum bejolghota is distributed across

surveyed provinces, the species holds ecological significance, with an Importance Value Index (IV%) ranging from 2.34% to 17.4%

The survey of companion species with Re Gừng in Hòa Bình identified nine

Trang 13

from 17.5% to 31.6%, while their occurrence frequency based on the number of observed trees ranged from 3.5% to 6.8%

The distribution of tree diameters was modeled using the Weibull distribution

for forests with Cinnamomum bejolghota presence Most models were accepted with

a significance level of α = 0.05 (χ² < χ₀.₀₅²), and the alpha (α) parameter ranged from 0.7 to 1.0, indicating a left-skewed unimodal Weibull distribution The composition of

the regeneration layer in forests where Cinnamomum bejolghota is distributed showed distinct differences in species number and composition Cinnamomum bejolghota

contributes to the regeneration composition with a species composition coefficient ranging from 2.04% to 5.56% The regeneration trees tend to be clustered in patches

on the forest floor These research findings form the basis for proposing conservation

and development solutions for Cinnamomum bejolghota in the future

Trang 14

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên diện tích, trữ lượng rừng cũng như nguồn gen thực vật rừng nước ta bị suy giảm mạnh, khiến cho khả năng phòng hộ và cung cấp gỗ, lâm sản cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội bị hạn chế Một nhiệm vụ quan trọng của ngành Lâm nghiệp đang nỗ lực thực hiện, ngoài mục tiêu kinh tế thì các mục tiêu về bảo vệ môi trường sinh thái, phục hồi hệ sinh thái rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển các loài cây rừng để trồng lảm cảnh, lấy gỗ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nhiều loài cây rừng đã được đưa vào trồng rừng trồng làm cây đường phố, cây công trình và cũng có những loài cây đang được nghiên cứu triển khai có nhiều triển vọng

Những năm gần đây, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững rất được coi trọng, với định hướng vừa phát triển kinh tế, đồng thời vừa bảo vệ được môi trường sinh thái Do đó, việc gây trồng rừng bằng các loài cây bản địa, lá rộng, thường xanh đang được chú ý Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành danh mục các loài cây trồng chính ở nước ta, trong đó có rất nhiều loài cây lá rộng bản địa thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau như: Lát hoa, Trám, Dẻ, Giổi xanh, Lim xanh Nhiều chương trình trồng rừng như: Dự án trồng rừng 661, Dự án trồng rừng Việt - Đức và nhiều Dự án khác đã sử dụng các loài cây bản địa để trồng rừng, làm giàu rừng và cải tạo rừng, nhưng cơ sở khoa học về đặc điểm sinh vật học cũng như kỹ thuật tạo cây con và kỹ thuật gây trồng còn rất hạn chế, rất ít loài được nghiên cứu

Re gừng (Cinnamomum bejolghota (Buch-Ham) Sweet) là loài thực vật có

hoa trong họ Long não hay họ Nguyệt quế Họ này là một nhóm thực vật có hoa nằm trong bộ Nguyệt quế (Laurales)

Cây Re gừng luôn được chọn là cây bản địa để trồng rừng và cũng qua nhiều năm, trong các mô hình trồng rừng Re gừng luôn là cây sinh trưởng phát triển tốt, tỷ

lệ sống rất cao, phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu Ở nước ta, Re gừng có phân bố trong các trạng thái rừng tự nhiên lá rộng thường xanh từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Hòa Bình đến các tỉnh vùng Tây Nguyên và tỉnh Đồng Nai, thường ở độ cao dưới 800m so

Trang 15

loại trạng thái khác nhau Re gừng có thể trồng rừng kinh tế và cũng có thể trồng rừng phòng hộ chống sạt lở, xói mòn

Nhiều cây Re gừng được trồng từ giai đoạn đầu đã phát triển thành rừng tự nhiên Từ đó nó không chỉ phát huy được tác dụng phủ xanh đất trống, tăng độ che phủ rừng mà còn có tác dụng cho gỗ tốt, đẹp, là một loài cây thuộc họ tinh dầu sẽ mở

ra nhiều hướng về chưng cất tinh dầu thơm thông qua nhựa

Re gừng là cây đa tác dụng, Gỗ Re gừng khá được yêu thích trên thị trường, được sử dung rộng rãi trong xây dựng, làm đồ nội thất thủ công mỹ nghệ Vỏ thân được sử dụng làm thuốc trị các chứng đau gan, trướng bụng gió, cảm lạnh, vỏ, lá, hoa, quả có thể chưng cất tinh dầu cho giá trị cao …

Những nghiên cứu về loài Re gừng ở nước ta trước đây đã có một số công trình, tuy nhiên còn nhiều hạn chế, mới chỉ tập chung vào đặc điểm hình thái, nghiên cứu trong giai đoạn vườn ươm các nghiên cứu về lâm học chưa nhiều Trong những năm gần đây, Re gừng bị khai thác nhiều dẫn đến phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng

và một số cá thể của loài bị giảm sút nghiêm trọng

Nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển, các mô hình trồng rừng bản địa gỗ lớn nói chung, cây Re gừng nói riêng việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học về loài là

hết sức cần thiết với những lý do này chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Nghiên

cứu một số đặc điểm sinh học của cây Re gừng (Cinnamomum bejolghota Ham) Sweet) tại thành phố Hòa Bình”

(Buch-2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được những đặc điểm cơ bản về hình thái và vật hậu, sinh thái và tái sinh của loài Re gừng

- Đề xuất một số giải pháp phát triển loài Re gừng tại thành phố Hòa Bình

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và tái sinh loài

Re gừng, đề tài đã góp phần xây dựng được cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp gây trồng và phát triển loài Re gừng

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị và là cơ sở khoa

Trang 16

học cho việc đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài Re gừng Đây là cơ sở quan trọng để cho việc chọn tạo giống, gây trồng loài Re gừng trên địa bàn thành phố Hòa Bình

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Thông tin chung về loài Re gừng

Tên khoa học: Cinnamomum bejolghota (Buch - Ham ex Nees) Sweet

Tên đồng nghĩa: Cinnamomum obtusifolium (Roxb.) Nees

Họ: Long não (Lauraceae)

Tên thường gọi: Re gừng

Tên khác: Quế hương, Quế lá tà, Re bầu, Re lá tù, Re lợn, Re vàng

Đặc điểm hình thái

Theo Nguyễn Thị Nhung (2009), Re gừng là cây gỗ lớn, cao tới 30m, đường kính có thể đạt 50cm Lá đơn mọc cách hoặc gần đối có hình mũi mác hay trái xoan thuôn dài từ 9-30 cm Cuống lá dài 12-20 mm Cụm hoa chuỳ ở nách gồm nhiều xim Hoa lưỡng tính có 2 dạng: Hoa giữa lớn hơn các hoa bên Ra hoa khoảng tháng 3-6 hàng năm Quả chín mọng, hình trứng, có màu đen Hạt có dầu

Sinh học và sinh thái

Re gừng phân bố ở Việt Nam, Lào, Trung Quốc,… Ở nước ta Re gừng mọc trong các rừng thứ sinh ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Ninh Bình, Hòa Bình, Sơn

La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An,… đến Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai Mùa hoa tháng 3-6, mùa quả tháng 6-10 Re gừng ưa đất thịt pha cát, tầng sâu, thoát nước, ở nơi có lượng mưa 800-2.500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 20-

250 C Cây con ưa bóng nhẹ nên trong thời gian đầu cần có cây che bóng Sinh trưởng tốt trong các loại hình rừng có mật độ cây trung bình Tái sinh chồi khỏe Tái sinh hạt tốt (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2012)

Giá trị sử dụng

Re gừng là loài cây đa tác dụng và có phân bố ở một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam Gỗ màu xám sẩm, để lâu thẩm màu, nhu mô quanh mạch rõ, vân thẳng, thớ mịn, hơi mềm, nặng trung bình tỷ trọng khoảng 0,6, dễ chế biến kém chịu mục, có thể làm gỗ xây dựng, đóng đồ gia đình, nông cụ Vỏ thân và lá của cây còn được chưng cất tinh dầu dùng trong công nghiệp và y dược Vỏ thân được sử dụng làm

Trang 18

ngã ứ đau, lưng cơ đau mỏi, liệt dương hoặc là thành phần của nguyên liệu làm hương (Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2012)

Tinh dầu Re gừng được sử dụng rộng rãi trong công nghệ hoá mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm Tinh dầu còn được dùng làm thuốc xoa bóp, chữa thấp khớp, đau nhức Tinh dầu Re gừng có giá trị thương mại rất lớn trên thị trường Quốc tế

1.2 Trên thế giới

1.2.1 Tên gọi, phân loại

Nghiên cứu phân loại các loài thực vật thuộc chi Long não (Cinnamomum) và

họ Long não (Lauraceae) cho đến nay đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Antoine Laurent de Jussieu là nhà thực vật học đầu tiên nghiên cứu, phát hiện và đặt tên họ Long não (Lauraceae) từ năm 1789; còn Jacob Christian Schaeffer là người đầu

tiên mô tả, đặt tên chi Long não (Cinnamomum) năm 1760 Họ Long não gồm 54 chi,

khoảng 3500 loài phân bố chủ yếu ở nhiệt đới, á nhiệt đới Bắc, Nam bán cầu; tập trung

ở Đông Nam Á và nhiệt đới Châu Mỹ

Long não (Cinnamomum) là một chi lớn trong họ Long não (Lauraceae), gồm

tới 250 loài phân bố từ đại lục châu Á đến khắp vùng Đông Nam Á, Australia và khu vực Tây Thái Bình Dương Tại miền Nam Châu Mỹ chỉ có một số ít loài, nhưng riêng khu vực Malesian đã phát hiện được khoảng 90 loài Đến nay chỉ có khoảng 150 loài

đã được nghiên cứu ở những chừng mực nhất định về từng khía cạnh khác nhau

Theo các tác giả như Ashish Kumar, Bruce G.Marcot and Ajai Saxena (2006); Chaya Deori, Samim Sofika Begum & A.A Mao (2007); J Exp Biol (1990); Xie

Zongwa & Yu Youqin (1996) , thì Re gừng có tên khoa học là Cinnamomum bejolghota (Buch – Hamex Ness) Sweet tuy nhiên theo một số tài liệu nghiên cứu như Forest inventory and planning institute thì Re gừng có tên khoa học là:

Cinnamomum obtusifolium A.Chev (dẫn theo Nguyễn Văn Tiến 2010)

Như vậy, các tên gọi trên đều cho thấy Re gừng thuộc họ Long não (Lauraceae), nhưng khác nhau ở tên loài và tên tác giả, chứng tỏ rằng Re gừng là loài có phân bố rộng và được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giới bởi nhiều nhà khoa học khác nhau

Các loài cây thuộc họ Long não thường phân bố ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhất là vùng Đông Nam Á và Brazin thuộc khu vực Nam Mỹ Re gừng có

Trang 19

phân bố tự nhiên ở Ấn Độ, Nêpan, Mianma, Trung Quốc, Lào và Việt Nam Cây mọc trong rừng thường xanh nhiệt đới, ở độ cao dưới 800 m Ưa loại đất thịt pha cát, có tầng đất sâu dày, thoát nước Tái sinh bằng hạt tốt dưới tán cây mẹ có nhiều cây con, sinh trưởng tương đối nhanh Lecomte (1910 - 1931)

1.2.2 Đặc điểm giá trị nguồn gen

Nhiều nghiên cứu khẳng định Re gừng là loài gỗ lớn, gỗ mềm, màu sáng hồng nhạt, tỷ trọng 0,42 - 0,47, gỗ màu xám sẫm, để lâu sẫm màu, vân thẳng, thớ mịn, hơi mềm và nặng trung bình, dễ chế biến nhưng kém chịu mục, dùng làm gỗ xây dựng, đóng đồ gia dụng, làm nông cụ

Tài liệu về cây tinh dầu sớm nhất hiện có được là cuốn “Những cây làm thuốc” được tìm thấy ở Nhật Bản, viết năm 890 Trong tài liệu này đã thống kê gần 100 loài

cây tinh dầu, đồng thời mô tả phương thức chế biến và sử dụng chúng

Nghiên cứu cây tinh dầu và tinh dầu đặc biệt thu hút các nhà khoa học từ đầu thế kỷ XX; những công trình đáng lưu ý là tài liệu do Charabot và các học trò của ông

công bố vào năm 1903, 1904, 1907

Theo Brian M Lawrence trong công trình “Progress in essential oils” 1994) và “Essential oils” (1995-2005) tác giả đã thống kê khoảng 1.000 loài thực vật chứa tinh dầu đã được phân tích thành phần hoá học trên thế giới Theo L.P.A Oyen

(1992-và Nguyễn Xuân Dũng (1999) trong công trình “Essential oil plants in South-East Asia” thì ở các nước Đông Nam Á với trên 70 loài thực vật có tinh dầu đã được phân tích về thành phần hoá học, trong đó khoảng 30 loài được nghiên cứu khá toàn diện từ đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố, khả năng gây trồng, phát triển, sử dụng, sâu

bệnh, sản lượng và buôn bán đến thành phần hoá học

Các loài trong chi Cinnamomum đều có tinh dầu Tuy nhiên, hàm lượng và thành

phần hóa học có trong tinh dầu phục thuộc vào loài, giống gây trồng và loại tinh dầu - tinh dầu vỏ, tinh dầu lá, tinh dầu rễ (U.M Senanayake và R.O.B Wijesekera, 2004) Với cây Re gừng vỏ, thân, lá và rễ đều chứa tinh dầu thơm Ở Nêpan, vỏ được dùng trị trướng bụng và bệnh đau gan Còn ở Trung Quốc, vỏ và lá dùng làm thuốc trị tỳ vị, lạnh, tê đau, đau bụng bế kinh, phong thấp đau xương, đòn ngã ứ đau, lưng cơ đau mỏi,

Trang 20

liệt dương Dùng ngoài trị xuất huyết, gãy xương và rắn cắn (Chaya Deori, Samim Sofika Begum & A.A Mao (2007); Assam (2009); Wannissorn B et al (2005)

Trên thế giới, nghiên cứu tinh dầu Họ Long não (Lauraceae) tập trung chủ yếu

vào các loài thuộc chi Cinnamomum, tinh dầu các loài thuộc chi này được ứng dụng

làm nước hoa, dược phẩm, mỹ phẩm và khả năng kháng nấm, kháng khuẩn Các nghiên

cứu đều khẳng định với các loài thuộc chi Cinnamomum hàm lượng tinh dầu và hàm

lượng Aldehyt cinnamic có trong tinh dầu là những chỉ tiêu quan trọng khi đánh giá chất lượng vỏ và lá Thành phần này có sự biến động rất lớn theo từng loài và các bộ phận trên cây Các phương pháp hiện nay thường được sử dụng để xác định hàm lượng tinh dầu và thành phần của tinh dầu là phương pháp lôi cuốn bằng hơi nước (để xác định hàm lượng tinh dầu) và phương pháp sắc khí lỏng hiệu năng cao (HPLC - để xác định thành phần của tinh dầu)

1.2.3 Đặc điểm sinh học

1.2.3.1 Đặc điểm hình thái

Re gừng là cây gỗ thường xanh, thân thẳng, cao 20 - 30m, đường kính có thể đạt trên 50 cm, vỏ ngoài màu nâu xám hay nâu sẫm, nhẵn, có mùi thơm của quế, cành nhỏ màu nâu, lúc non có 4 cạnh sau hình trụ, nhẵn Lá mọc so le hay gần đối, dạng bầu dục tròn dài hay trái xoan thuôn dài 9 - 30 cm, rộng 3,5 - 9 cm, đỉnh có mũi nhọn dài hay tù, gốc hình nêm, mép nguyên, dai, mặt nhẵn bóng; 3 gân gốc, 2 gân bên kéo dài tới đỉnh, gân nhỏ hình mạng lưới; cuống lá dài 10 - 20 mm Cụm hoa chùy ở nách

lá gồm nhiều xim, dài 20 - 25 cm; hoa lưỡng tính có hai dạng, hoa ở giữa lớn và có cuống dài hơn các hoa ở bên Bao hoa 6 mảnh, thuôn, có lông ở hai mặt Nhị sinh sản

9, xếp thành 3 vòng, nhị thoái hóa 3, bầu hình trứng nhẵn, vòi dài bằng bầu, đầu nhụy khá lớn Quả mọng hình trứng, dài 1,5 cm, gốc có bao hoa tồn tại, có thùy tròn, khi chín có màu đen (Lecomte, 1910)

1.2.3.2 Đặc điểm phân bố, sinh thái và vật hậu

Các loài cây thuộc họ Long não thường phân bố ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhất là vùng Đông Nam Á và Brazin thuộc khu vực Nam Mỹ Re gừng có phân bố tự nhiên ở Ấn Độ, Nêpan, Mianma, Trung Quốc, Lào và Việt Nam Cây mọc trong rừng thường xanh nhiệt đới, ở độ cao dưới 800m Ưa loại đất thịt pha cát, có

Trang 21

tầng đất sâu dày, thoát nước Tái sinh bằng hạt tốt dưới tán cây mẹ có nhiều cây con, sinh trưởng tương đối nhanh (Lecomte M H.)

Re gừng có biên độ sinh thái khá rộng, phân bố tự nhiên tại Nam Trung Quốc,

Ấn Độ, Neepal, Bhutan, Bangladesh, Myanmar, Thailand, Laos và Việt Nam (Shigang

Li và cộng sự, 1994) Lượng mưa tại các vùng có Re gừng phân bố giao động trong khoảng 650 - 2.540 mm/năm, nhiệt độ bình quân năm trong khoảng 3 - 23 °C, đặc biệt

có nhưng nới xuất hiện tuyết vào mùa đông (GBIF Secretariat, 2017) Tuy nhiên những nơi có tuyết cây thường sinh trưởng chậm và lá thường bị héo khi có tuyết

Re gừng có phân bố tự nhiên trên khu vực đất dốc hoặc thung lũng, trên đai cao trong phạm vi 600 - 1.800 m so với mực nước biển (Shigang Li và cộng sự, 1994) Re gừng phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên tốt nhất trên đất còn tính chất đất rừng, hàm lượng mùn cao, đất thoát nước và không bị úng ngập dài (GBIF Secretariat, 2017) Re gừng thích hợp với đất chua/axit, đất có biên độ ẩm cao vào mùa sinh trưởng và sinh trưởng tốt khi có che bóng nhẹ Re gừng là loài có khả năng tái sinh chồi mạnh, do vậy chặt tỉa thân và cành sẽ tạo điều kiện cho cây phát triên phân cành, tán mạnh (Grimshaw J và cộng sự, 2009)

1.3 Trong nước

1.3.1 Tên gọi, phân loại

Ngoài tên thường gọi là Re gừng, thì loài cây này còn có rất nhiều tên gọi khác nhau Trong tài liệu của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, 2003; Võ Văn Chi, 1999,

2003, 2007; Võ Văn Chi, Trần Hợp, 2002; Phạm Hoàng Hộ, 1999; Nguyễn Thị Nhung,

2009 đã sử dụng các tên khác nhau để chỉ loài Re gừng như Quế hương, Quế lá tù, Re

lá tà, Re bầu, Re lợn, Re vàng

Về danh pháp quốc tế, Re gừng cũng được nhiều nhà khoa học gọi với các tên khác nhau Theo Nguyễn Bá Chất, 2002 Re gừng có các tên khác nhau như

Cinnamomum obtusifolium A.Chev hoặc Cinnamomum bejolghota (Buch - Hamex

Ness) Sweet, tên gọi này năm 2000 cũng đã được Vụ KHCN & Môi trường - Bộ NN&PTNT đưa vào sách “Tên cây rừng Việt Nam”, tên gọi này cũng được Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2012 sử dụng trong cuốn Át lát cây rừng tập 4 Theo nhiều tài liệu đã thu thập được thì cả hai tên khoa học nói trên đều để chỉ loài Re gừng Tuy nhiên, tên

Trang 22

khoa học Cinnamomum obtusifolium A.Chev, thuộc họ Long não (Lauraceae) được các

tác giả sử dụng nhiều hơn như Ban quản lý Dự án trồng rừng Việt Đức KFK, 2001; Nguyễn Đức Kiên, 2012; Hoàng Văn Thắng, 2007; Phạm Quang Thu, 2003

Nghiên cứu xác định thành phần loài và phân loại họ Long não (Lauraceae) ở Việt Nam phải kể tới các tác giả Lecomte (1910-1931), Nguyễn Tiến Bân, 1997; Phạm Hoàng Hộ, 1999; danh lục các loài thực vật Việt Nam đã mô tả họ Long não

(Lauraceae) được công bố 257 loài thuộc 21 chi Trong đó chi Long não Cinnamomum

có 44 loài, phân biệt với các chi khác trong họ Long não (Lauraceae) ở chỗ lá thường

có 3 gân chính, mọc so le, đơn nguyên, và quả có các thùy bao hoa tồn tại và dày lên

ở phía dưới Re gừng (Cinnamomum bejolghota (Buch.-Ham ex Nees) Sweet) là một

loài trong số đó

Các kết quả nghiên cứu về số loài trong họ Long não ở nước ta đều cho thấy đây là họ có nhiều loài thuộc dạng bậc nhất nước ta Về phân loại, do là một họ có số lượng loài rất lớn nên các nghiên cứu ở nước ta mới chủ yếu tập trung vào phân loại các phân họ và chi, việc phân loại đến cấp loài còn rất ít nghiên cứu

1.3.2 Đặc điểm giá trị nguồn gen

Theo Nguyễn Bá Chất (2002); Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, (2003)

Re gừng là loài cây gỗ lớn, gỗ mềm, màu sáng hồng nhạt, hoặc xám sẫm, vân thẳng, thớ mịn, hơi mềm, tỷ trọng 0,42- 0,47, ít bị cong vênh, nứt nẻ, mối mọt, dễ gia công chế biến Gỗ dùng để xẻ ván đóng đồ, làm nhà, làm nông cụ rất được nhân dân ưa chuộng Cây mọc được trên đất xấu, tán lá xanh quanh năm, bộ rễ cọc phát triển, có thể trồng rừng phòng hộ, là nguồn cung cấp gỗ tốt cho vùng trung du

Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2009), Re gừng Gỗ màu xám sẫm, để lâu thẫm màu, nhu mô quanh mạch rõ, vân thẳng, thớ mịn, hơi mềm, nặng trung bình tỳ trọng khoảng 0,6, dễ chế biến kém chịu mục, có thể làm gỗ xây dựng, đóng đồ gia đình, nông cụ

Theo Nguyễn Thị Nhung (2009), gỗ Re gừng có tỷ trọng 0,45-0,55, có mùi thơm, giác lõi phân biệt, xếp nhóm IV, dễ gia công, dùng đóng đồ mọc dân dụng

Các công trình nghiên cứu về cây tinh dầu ở Việt Nam thực sự bắt đầu từ sau năm 1956 Trong thời gian này hàng loạt các công trình nghiên cứu về tinh dầu Bạc

Trang 23

hà, Sả, Màng tang, được công bố Theo Lã Đình Mỡi và Lưu Đàm Cư (2001), đến nay chúng ta mới khai thác tự nhiên và đưa vào trồng được khoảng hơn 20 loài cây có tinh dầu trong khoảng hơn 600 loài đã biết (chỉ chiếm 3% số loài cây có tinh dầu đã biết) Những loài nói trên thường là những loài được trồng khá phổ biến như Sả, Bạc

hà, Hương nhu, Long não, Tràm, Quế, Húng quế, Hồi, Hoắc hương

Theo Võ Văn Chi, Trần Hợp, (2002); Vụ KHCN&CLSP-Bộ NN&PTNT, (2000), tạp chí Y học dược Việt Nam, (2017), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2014) và Nguyễn Thị Nhung (2009) vỏ thân, lá và rễ đều chứa tinh dầu thơm có thể chưng cất được, làm gia vị, làm thuốc có vị ngọt, cay, tính ấm, tác dụng ôn trung, tán hàn, lý khí, chỉ thống, chỉ huyết sinh cơ, cầm máu, nối xương, tiêu thũng, kích thích các giác quan, thư giãn , giảm streess và minh mẫn trí óc, chống oxy hóa, lão hóa Tinh dầu Re gừng làm thuốc chữa chướng bụng, đau gan, trị tê đau, hư hàn, ỉa chảy, đau bụng bế kinh, đau lưng mỏi cơ, liệt dương, dùng ngoài trị xuất huyết, gãy xương, rắn cắn Có thể dùng để xông hơi, dùng làm thơm, để bôi ngoài da

Nghiên cứu về giá trị tài nguyên thực vật thuộc chi Long não (Cinnamomum)

phải kể tới tập thể các tác giả thuộc Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật Trong cuốn

"Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam" (Lã Đình Mỡi, 2002) đã công bố thành phần hoá học trong tinh dầu của một số loài cây thuộc chi Long não

Ngoài ra, các tác giả cũng đã mô tả công dụng, đặc tính tinh dầu, tình trạng buôn bán quốc tế, khả năng nhân giống và gây trồng, đặc điểm sinh thái, sinh trưởng

và phát triển của một số loài thuộc chi Long não Nghiên cứu về thành phần hoá học của tinh dầu Re gừng đã được thực hiện bởi một số nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái

& Tài nguyên sinh vật Tinh dầu Re gừng có giá trị thương mại rất lớn trên thị trường Quốc tế Cành lá và vỏ cây Re gừng được sử dụng để cất tinh dầu

Hiện nay trên thị trường giá bán tinh dầu Re gừng khoảng 1.000.000 – 1.200.000 đ/lít gấp 1,5 đến 2 lần giá bán tinh dầu Quế 550.000 – 700.000 đ/lít (Thông báo giá bán tinh dầu tháng 12/2020 của Công ty TNHH OIL CARE)

Có thể nói tuy còn rất ít và những đánh giá vẫn còn đang khác nhau về thành phần tích lũy tinh dầu, hàm lượng tinh dầu tuy nhiên tất cả các tài liệu đều khẳng định giá trị nguồn gen của cây Re gừng đặc biệt trong việc cung cấp tinh dầu

Trang 24

1.3.3 Đặc điểm sinh học

1.3.3.1 Đặc điểm hình thái

Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa và Nguyễn Thị Nhung (2009), Re gừng là cây gỗ thường xanh, cao 20-30 m, đường kính 50 cm Vỏ ngoài màu nâu xám hay nâu sầm, nhẵn; thịt vỏ màu nâu hay vàng nhạt, giòn và có mùi thơm Cành nhỏ màu nâu Lá đơn, nguyên, mọc cách hoặc gần đổi, hình mũi mác hay trái xoan thuôn, dài 9-30 cm, rộng 3,5- 9 cm, đỉnh có mũi nhọn, gốc hình nêm, 2 mặt nhẵn bóng, 3 gàn gốc, gân bên kéo dài tới đỉnh Cuống dài 12-20 mm Cụm hoa chùy ở nách gồm nhiều xim, dài 20-

25 cm Hoa lưỡng tính có 2 dạng: Hoa giữa lớn hơn các hoa bên Bao hoa 6 mảnh thuôn, có lòng ở 2 mặt Nhị đực sinh sản 9, xếp thành 3 vòng, nhị thoái hóa 3, bao phấn 4 ô Bầu hình trứng nhẵn, vòi dài bằng bầu Quả mọng hình trứng, dài 1 cm, gốc

có bao hoa còn lại, khi chín màu đen

Theo Nguyễn Bá Chất (2002), Re gừng là loài gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30m, đường kính ngang ngực đạt tới 60 -70 cm Vỏ màu xám bạc, nhẵn, có mùi thơm nhẹ Cành nhánh khi non có màu xanh đậm Lá đơn mọc cách, có 3 gân gốc nổi rõ, mặt trên nhẵn, mặt dưới xanh bóng, có mùi thơm nhẹ Chiều dài lá 8 - 10cm, chiều rộng 4 - 6cm Hoa tự mọc đầu cành Bao hoa có 6 mảnh, thuôn, có lông ở 2 mặt Nhị xếp làm 3 vòng, 3 nhị thoái hóa, bao phấn 4 ô Nhụy có bầu hình trứng nhẵn, vòi dài bằng bầu, núm lớn Quả hình trứng, khi non có màu xanh, lúc chín chuyển màu xanh đen, thịt quả màu tím nhạt, mỗi quả có 1 hạt, vỏ hạt màu nâu nhạt

Võ Văn Chi, Trần Hợp (2002) cho thấy Re gừng là loài cây gỗ thường xanh; thân thẳng, cao 20 - 30 mét, đường kính 50 cm hay hơn; vỏ ngoài màu nâu xám hay nâu sẫm, nhẵn, có mùi thơm của quế; cành nhỏ màu nâu, lúc non 4 cạnh sau hình trụ, nhẵn Lá mọc so le hay gần đối; phiến dai, dạng gần bầu dục tròn dài hay trái xoan thuôn, dài 9 - 13 cm, đỉnh có mũi nhọn dài hay tù, góc hình nêm, mép nguyên, hai mặt nhẵn bóng, gân hình cung, 3 gân gốc, 2 gân bên kéo dài tới đỉnh, gân nhỏ hình mạng lưới; cuống lá dài 10 - 20 mm Cụm hoa chuỳ ở nách lá gồm nhiều xim, dài 15 - 20

cm Hoa lưỡng tính có hai dạng, những hoa ở giữa lớn và có cuống dài hơn các hoa ở bên; bao hoa 6 mảnh, thuôn, có lông ở hai mặt; nhị hữu thụ 9, xếp thành 3 vòng, nhị lép 3; nhuỵ có bầu hình trứng, nhẵn, vòi dài bằng bầu, núm khá lớn Quả mọng hình trứng, dài 1,5 cm, gốc có mang bao hoa tồn tại, có thuỳ tròn Khi chín quả có màu đen

Trang 25

Phạm Hoàng Hộ (2003) mô tả về cây Re gừng cho rằng đại mộc cao 10 mét, nhánh không lông Lá có phiến bầu dục, tròn dài, hẹp, dài 13 - 18cm, rộng 3,5 - 5 cm,

tà hai đầu, mặt trên láng, màu nâu vàng, gân phụ không rõ, mặt dưới màu nâu hơi hồng, gân chỉ gồm cặp gân đi từ đáy chạy đến chót, cuống vào 1cm Chùm tụ tán dài,

có lá; nhánh ngắn Trái to, bầu dục, dài 15 mm; đầu còn lại nhỏ, có thuỳ tròn tròn

Theo Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2002), Re gừng là cây gỗ cao 10 -

30 mét Mọc rải rác trong rừng thường xanh núi đất hoặc núi đá, ở độ cao 500 - 800 mét Ra hoa tháng 3 - 4, có quả tháng 6 - 9

Nguyễn Văn Tiến và Nguyễn Huy Sơn (2011) cho rằng Re gừng là loài cây gỗ lớn, đường kính ngang ngực đạt tới 60 -70 cm, chiều cao có thể đạt tới 30m, cây có trục chính, thân tròn thẳng, gốc có bạnh vè nhỏ Vỏ màu xám bạc, màu nâu xám hay nâu sẫm, vỏ nhẵn, có mùi thơm nhẹ Cành nhánh khi non có màu xanh đậm, có 4 cạnh, sau đó có hình trụ, nhẵn, cành nhỏ màu nâu Lá đơn mọc gần đối ít khi mọc cách, phiến dai, dạng gần bầu dục tròn dài hay trái xoan thuôn, đỉnh có mũi nhọn dài hay tù, góc hình nêm hoặc gần tròn, mép nguyên, mặt trên nhẵn, mặt dưới xanh bóng, gân hình cung, có 3 gân gốc nổi rõ ở 2 mặt, hai gân bên kéo dài tới đỉnh, gân nhỏ hình mạng lưới, có mùi thơm nhẹ Chiều dài lá 8 - 13 cm, chiều rộng 4 - 6 cm, cuống lá dài

1 - 2 cm Hoa tự mọc đầu cành, cụm hoa chuỳ ở nách lá gồm nhiều xim, dài 15 - 20

cm Hoa lưỡng tính màu vàng nhạt có hai dạng, những hoa ở giữa lớn và có cuống dài hơn các hoa ở bên, bao hoa có 6 mảnh, thuôn, có lông ở hai mặt Nhị hữu thụ 9, xếp làm 3 vòng, nhị thoái hóa 3 (nhị lép), bao phấn 4 ô mở bằng nắp Nhụy có bầu hình trứng nhẵn, vòi dài bằng bầu, núm lớn Quả mọng hình trứng, dài 1 - 1,5 cm, gốc có mang bao hoa tồn tại, có thuỳ tròn Khi non có màu xanh, lúc chín chuyển màu xanh đen, thịt quả màu tím nhạt, mỗi quả có 1 hạt, vỏ hạt màu nâu nhạt Re gừng là loài có

hệ rễ hỗn hợp rễ cọc và rễ bên đều phát triển mạnh, có khả năng chống chịu với điều kiện khô hạn, rễ có màu nâu đen, có nhiều tinh dầu Re gừng thường mọc tự nhiên nơi đất ẩm, tơi xốp Khả năng tái sinh chồi mạnh, tái sinh hạt tốt dưới độ tàn che 0,4

Nhìn chung, tuy có khác nhau đôi chút về kích thước, màu sắc lá, thân của cây Re gừng nhưng các mô tả là khá giống nhau, điều này có thể do các tác giả nghiên cứu mô tả ở các vùng sinh thái khác nhau và ở những thời điểm khác nhau

Trang 26

1.2.3.2 Đặc điểm phân bố, sinh thái và vật hậu

Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của loài Re gừng, nhiều tác giả cho rằng Re gừng thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm mưa mùa, phân bố rộng trên nhiều vùng sinh thái Ở Việt Nam, Re gừng có phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên, thường gặp Re gừng trong các rừng thứ sinh ở các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hòa Bình, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An,

Hà Tĩnh, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Bình Dương, Đồng Nai (Nguyễn Bá Chất, 2002; Võ Văn Chi, Trần Hợp, 2002; Phạm Quang Thu, 2003)

Theo Đào Thế Trung (2009) khi nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp phục hồi tính đa dạng thực vật tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc

đã kết luận rằng Re gừng là một trong những loài cây gỗ tiên phong, cây có sức sinh trưởng mạnh và có giá trị kinh tế, thường có mặt ở tầng cây gỗ tại khu vực Trạm đa dạng sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc

Đỗ Đình Sâm và cộng tác viên (2001) khi xây dựng cơ sở khoa học bổ sung những vấn đề kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao năng suất rừng tự nhiên sau khai thác

và rừng trồng công nghiệp cũng chỉ ra bằng chứng tại Cầu Hai - Phú Thọ là một số băng chừa ở rừng nghèo kiệt dường như không phát hiện cây tái sinh có giá trị kinh

tế, nhưng sau 10 năm một số cây có giá trị kinh tế đã xuất hiện như Lim xanh, Ràng ràng, Re gừng

Theo Nguyễn Bá Chất (2002), Re gừng thích hợp với khí hậu nhiệt đới ẩm mưa mùa, phân bố rộng trên nhiều vùng sinh thái Ở Việt Nam Re gừng có phân bố chủ yếu

ở các tỉnh phía Bắc và Tây Nguyên, nhiệt độ trung bình năm từ 21oC - 24oC, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất 32oC - 34oC, tháng lạnh nhất 11oC - 16oC, lượng mưa trung bình 1800 - 2900 mm, độ cao từ 50 - 1500m so với mực nước biển Khi cây còn nhỏ

ưa bóng nhẹ, lớn lên ưa sáng, tốc độ tăng trưởng đường kính bình quân đạt 1cm/năm

và tăng trưởng chiều cao bình quân là 0,8 - 1m/năm Re gừng sống được trên nhiều loại đất, sinh trưởng tốt trên đất nâu đỏ bazan, đất nâu vàng trên bazan, đất đỏ vàng trên đá sét biến chất; đất vàng đỏ trên đá mác ma axít Chúng có thể chịu được ở nơi

có tầng đất nông mỏng, đất xấu, ngay cả những vùng có tầng kết cứng Re gừng sống

hỗn loại với nhiều loại cây khác: Giổi (Michelia mediocris), Kháo (Cinnadenia

Trang 27

paniculata) , Gội (Aglaia perviridis), Ngát (Gironniera subaequalis), Táu (Hopea mollissima) có khi mọc thành từng đám 5-7 cây trong rừng thứ sinh Re gừng tái sinh

tự nhiên khá mạnh dưới tán rừng có cây mẹ gieo giống, mật độ cây con tái sinh trung bình từ 1500-2300 cây/ha Chúng thường có tỷ lệ tổ thành cao trong một vài loại rừng

Re gừng thường chiếm tầng cao của rừng

Nguyễn Thị Nhung (2009), Nguyễn Hoàng Nghĩa (2012) cho rằng Re gừng

có phân bố ở Lào, Trung Quốc,…; ở Việt Nam gặp Re gừng mọc trong các rừng thứ sinh ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hà Nam, Ninh Bình, Hoà Bình, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái, Nghệ An, Hà Tĩnh đến Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đồng Nai Re gừng ưa đất thịt pha cát, tầng sâu, thoát nước, ở nơi có lượng mưa 800-2500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 20-25oC, độ cao 50-1500m so với mực nước biển Cây non ưa bóng nhẹ, lớn lên ưa sáng Tái sinh hạt tốt và có thể tái sinh chồi, tăng trưởng tương đối nhanh

Nguyễn Văn Tiến (2010): Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và kỹ thuật nhân giống

gây trồng cây Re gừng (Cinnamomum obtusifolium A Chev) và Nguyễn Văn Tiến,

Nguyễn Huy Sơn (2011) khi nghiên cứu “Đặc điểm lâm học quần thể và khả năng tái sinh của cây Re gừng ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn – Phú Thọ” cũng đã khẳng định Re gừng mọc rải rác trong các khu rừng thứ sinh ở phía Tây của huyện Chi Lăng, phía Bắc của huyện Hữu Lũng (Khu bảo tồn Hữu Liên), Re gừng cũng còn gặp ở khu vực phía Nam của huyện Bắc Sơn Tại Phú Thọ, Re gừng sống ở kiểu rừng thường xanh cây lá rộng trong trạng thái rừng thứ sinh nghèo; Re gừng phân bố khá rộng nằm trong khoảng độ cao từ 190 m (Hữu Lũng - Lạng Sơn) đến 450 m (Tân Sơn - Phú Thọ), địa hình khá dốc, độ dốc từ 5o-20o Phân bố trong rừng thường xanh, đất đai tại những khu vực này chủ yếu là Feralit từ vàng nhạt đến vàng đỏ phát triển trên phiến thạch sét, trên đá vôi hoặc Granit, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, khu vực có Re gừng phân bố đất khá chua, độ pHKCl tầng mặt biến động từ 3,80 - 4,02, ở những tầng đất sâu hơn độ chua của đất giảm hơn (như ở độ sâu 40-50 cm pHKCl = 3,95-4,27) nhiệt

độ trung bình hàng năm từ 22,7- 23,5oC, lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.379 - 2.000 mm, độ ẩm không khí trung bình từ 80 - 85%

Trang 28

Trạng thái rừng IIb tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, Re gừng hỗn giao với các loài khác như như Dẻ, Kháo, Trâm, Chẹo, Chò chỉ, Sâng và có mật độ vào khoảng từ 60-

75 cây/ha, trị số quan trọng (Importance Value) IV% từ 14,57 - 21,97% Ở trạng thái rừng này xuất hiện từ 21-22 loài cây tái sinh với mật độ khá cao từ 14.080 - 15.360 cây/ha Trong đó, mật độ cây tái sinh triển vọng từ 3.920 - 4.160 cây/ha Có thể coi đây là nguồn giống tự nhiên quan trọng để thay thế dần những cây già sau này Đối với loài Re gừng thì mật độ tái sinh vào khoảng từ 2.160 - 2.720 cây/ha, mật độ cây

Re gừng tái sinh có triển vọng là từ 880 - 960 cây/ha, đồng thời Re gừng cũng là 1 trong 3 loài có chỉ số IV% (Importance Value) cao nhất, từ 13,63% - 16,60% Qua đó

có thể thấy Re gừng tại khu vực này không chỉ có tầng cây cao chiếm ưu thế mà ở tầng cây tái sinh cũng chiếm ưu thế nhất trong lâm phần Số lượng cây Re gừng tái sinh tự nhiên ở các khu vực có độ tàn che khác nhau tại Vườn quốc gia Xuân Sơn biến động rất lớn, tại nơi có độ tàn che 0,26 thì mật độ cây tái sinh lên đến 2.720 cây/ha, số cây

có chiều cao trên 1m rất nhiều là 479 cây/ha Trong đó, tỷ lệ cây tái sinh triển vọng tương đối cao đạt 11,69%, Nhưng tại nơi độ tàn che lớn là 0,73 thì mật độ cây tái sinh giảm xuống đáng kể là 1.127 cây/ha, số lượng cây cao trên 1m rất ít (158 cây/ha) và

tỷ lệ cây tái sinh triển vọng cũng thấp hơn rất nhiều là 7,45% Điều này khẳng định dưới những tán rừng có cây mẹ và độ tàn che khoảng 0,25 - 0,5 thì khả năng tái sinh của Re gừng rất mạnh

Nguyễn Đức Kiên (2012) cho rằng Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) và Re gừng (Cinnamomum obtusifolium (Roxb.) Nees) phù hợp với khí hậu với nhiệt độ bình

quân hàng năm khoảng 230C với nhiệt độ trung bình ngày cao nhất của tháng nóng nhất không quá 340C và nhiệt độ ngày thấp nhất của tháng lạnh nhất không thấp hơn

120C Lượng mưa trung bình năm dao động từ 1600 đến 2200 mm tập trung chủ yếu

từ tháng 4 đến tháng 9 Lượng bốc hơi từ 700 đến 1500 mm Đất đai phù hợp đất nâu vàng hoặc đỏ vàng phát triển trên đá sét và đá biến chất, đá macma axit hoặc macma bazơ trung tính, pH KCl từ 3,6 đến 4,6, tầng đất sâu, ẩm, thoát nước tốt, có tầng mùn tương đối dày Kết quả phân tích đất cho thấy các điểm này đều có tính chất đất tương đối tốt với tầng đất từ 0-30 cm có hàm lượng mùn và đạm từ mức trung bình đến khá cao, hàm lượng lân và kali dễ tiêu khá cao Đất có thành phần cơ giới trung bình với hàm lượng sét dao động từ 24 đến 45%

Trang 29

Re gừng chiếm ưu thế thấp, thường phân tán rải rác trong rừng tự nhiên, ít tập trung thành quần thể, mật độ cây tương đối thấp từ 4 - 24 cây/ha, chỉ số IV% từ 0,6-24,8% Nơi có mật độ Re gừng tập trung nhất mật độ trung bình từ 22 đến 24 cây/ha Cũng qua điều tra cho thấy khả năng tái sinh tự nhiên của Re gừng dưới tán cây mẹ rất tốt, bên cạnh đó thì số lượng hoa, quả cũng nhiều

Về đặc điểm vật hậu, theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2000) và một số tác giả cũng

đã xác định Re gừng ra hoa từ tháng 11 - 12, có quả tháng 3 - 5 hàng năm (Võ Văn Chi, 1999, 2002); (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 2002) Theo Nguyễn Bá Chất (2002), Nguyễn Thị Nhung, Re gừng ra hoa tháng 3 - 5 năm trước và quả chín tháng 2 - 3 năm sau Theo Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2003) thì Re gừng ra hoa tháng 3 - 5

và quả chín tháng 6 - 9

Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Huy Sơn (2011) thì cho rằng ở Lạng Sơn và Phú Thọ thời kỳ ra chồi và ra lá non chủ yếu kéo dài từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 1 năm sau ở cả 2 khu vực Lạng Sơn và Phú Thọ, sau khi chồi xuất hiện được khoảng 5 ngày thường cây bắt đầu ra lá non tiếp theo, cây ra nụ hoa bắt đầu từ đầu tháng 2 và kết thúc vào giữa tháng 3, nở hoa từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 5, thời kỳ kết quả từ khoảng đầu tháng 6 kéo dài tới cuối tháng 9 Tại Lạng Sơn các pha vật hậu của Re gừng sớm hơn so với Phú Thọ khoảng 3-5 ngày

Như vậy, có thể thấy các quan điểm về vật hậu của Re gừng là chưa đồng nhất Điều này liệu có thể hiểu rằng sự sai khác ở đây là do các tác giả nghiên cứu ở các vùng sinh thái khác nhau nên có sự lệch pha nhau

1.3 Đánh giá chung

Qua các công trình nghiên cứu ở trên thế giới và Việt Nam về loài cây Re gừng cho thấy: Mặc dù là loài cây đa tác dụng, có giá trị kinh tế cao, nhưng trên thế giới cũng như ở Việt Nam các nghiên cứu về cây Re gừng chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Ngoài một số nghiên cứu ban đầu chỉ mới dừng lại ở một số ít tài liệu mô tả, đánh giá khái quát về phân loại, hình thái, đặc điểm phân bố, đặc điểm sinh thái, giá trị sử dụng Đề án thực hiện nhằm bổ sung để hoàn thiện thêm cơ sở khoa học về cây

Re gừng

Trang 30

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượngvà phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài Re gừng bản địa phân bố tự nhiên tại thành phố Hòa Bình

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: đề tài tập trung vào nghiên cứu đặc điểm hình thái, vật hậu, đặc điểm cấu trúc, tái sinh của loài Re gừng tại khu vực nghiên cứu

- Về địa điểm: đề tài lựa chọn thực hiện tại thành phố Hòa Bình là nơi có phân

bố tự nhiên của loài Re gừng

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài tiến hành triển khai nghiên cứu các nội dung cụ thể sau:

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái và vật hậu loài Re gừng

- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao

- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh

- Đặc điểm sinh thái loài Re gừng

- Đề xuất một số giải pháp phát triển cây Re gừng tại khu vực nghiên cứu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Công tác chuẩn bị

Để quá trình điều tra được thuận lợi tôi tiến hành chuẩn bị các nội dung sau:

− Lập kế hoạch điều tra ngoại nghiệp và nội nghiệp

− Thu thập tài liệu, bản đồ khu vực nghiên cứu

− Chuẩn bị bảng biểu, dụng cụ, trang thiết bị cần thiết phục vụ điều tra, và xử

lý mẫu: máy ảnh, thước đo, kẹp tiêu bản, giấy báo, cồn, túi nilon, etiket

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung

Rừng là một hệ sinh thái hoàn chỉnh có mức ổn định tương đối, các thành phần cấu thành của hệ sinh thái rừng luôn có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đề tài tập trung vào một loài cây gỗ trong thành phần của

Trang 31

Để giải quyết vấn đề đặt ra sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, trên cơ sở kết hợp tiếp cận sinh thái cá thể và sinh thái quần thể điển hình

Phương pháp nghiên cứu phải tổng hợp và toàn diện từ việc kế thừa tài liệu, điều tra thu thập số liệu trong các lâm phần rừng tự nhiên có Re gừng phân bố đến phân tích trong phòng, bố trí thí nghiệm trên thực địa, theo dõi thu thập thông tin, phân tích tổng hợp số liệu trong quá trình thực hiện các nội dung trên phải áp dụng các phương pháp định lượng toán học chính xác trên cơ sở tôn trọng các quy luật sinh vật học cây rừng Bên cạnh đó, vấn đề sử dụng các công cụ toán học nhằm hạn chế tính

áp đặt chủ quan của người nghiên cứu, để giảm nhẹ công thu thập số liệu cho các nghiên cứu tiếp sau và góp phần phản ảnh được quy luật chung

- Áp dụng phương pháp kế thừa tài liệu kết hợp với phương pháp sinh thái thực nghiệm để điều tra khảo sát

- Áp dụng các phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp có sự hỗ trợ của máy tính với các phần mềm chuyên dụng để tiến hành lấy mẫu, phân tích, xử lý số liệu đảm bảo tính khách quan và độ chính xác cho phép

2.3.3 Phương pháp điều tra

Để thu thập các số liệu có liên quan, sử dụng các phương pháp sau đây:

a Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, vật hậu Re gừng

- Mô tả hình thái: Mô tả thân, lá, hoa của cây trong tự nhiên, kiểm tra và bổ sung mô tả của các tác giả khác Điều tra ngẫu nhiên 05 cây trưởng thành có đường kính D1.3 ≥ 20 cm Tại mỗi cây tiến hành đo đường kính, chiều cao cây, lựa chọn ngẫu nhiên 3 cành ở các vị trí: ngọn, giữa và dưới tán Tại mỗi cành chọn ngẫu nhiên 3 lá

để đo đếm các chỉ tiêu: chiều dài lá, hình dạng lá, màu sắc, cách mọc lá, chồi, thân, vỏ

và quan sát chồi, chụp ảnh minh họa

- Vật hậu: Trên cơ sở số liệu đã có và điều tra bổ sung ngoài hiện trường, tại mỗi tỉnh nghiên cứu chọn 5 cây Re gừng trưởng thành để theo dõi vật hậu Lựa chọn những cây sinh trưởng tốt, thân thẳng, không cong queo, không sâu bệnh, đã cho quả

ổn định ít nhất 3 năm Trên mỗi cây đánh dấu 9 cành tiêu chuẩn ở 3 vị trí tán: ngọn, giữa và dưới (bao gồm 1 cành ở ngọn, 4 cành ở giữa tán và 4 cành ở dưới tán theo các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc) Các chỉ tiêu được quan sát và theo dõi gồm: thời kỳ

Trang 32

thay đổi lá; thời kỳ ra chồi, ra hoa, nở hoa, kết quả, thời kỳ quả chín Chu kỳ theo dõi

là theo dõi 15 ngày 1 lần Thời gian theo dõi liên tục trong 1 năm, chụp ảnh các chỉ tiêu quan sát Ngoài ra, có thể kết hợp phỏng vấn để có thêm nhiều nguồn thông tin

b Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân bố

+ Phương pháp điều tra tuyến

Tuyến được xác lập qua các trạng thái rừng, các dạng địa hình khác nhau nhằm phát hiện các cá thể Re gừng phân bố Đề tài đã điều tra phân bố của Re gừng tại 3 tuyến, chiều dài mỗi tuyến là từ 3 - 5 km

+ Phương pháp điều tra trong ô định vị

Trên các tuyến điều tra, đề tài lập 3 ô định vị (ODV) đại diện, điển hình có diện tích 2500m2, cho một số trạng thái rừng có loài De gừng phân bố trong 3 ô định vị lập các tiêu chuẩn (OTC) diện tích OTC là 500 m2 (20 x 25 m), tổng số OTC là 5 ô/1 ô định vị để điều tra các loài cây gỗ, đường kính ngang ngực, đường kính tán, chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành, phẩm chất sinh trưởng của cây theo biểu điều tra đã thiết kế Số ô tiêu chuẩn điều tra là 15 OTC có diện tích 500 m2

Trong mỗi ô định vị thiết lập 5 ô dạng bản (ODB) với diện tích 25 m2 (5x5m),

bố trí 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở trung tâm để điều tra cây tái sinh và cây bụi, thảm tươi với các chỉ tiêu đo đếm là loài cây, chiều cao, nguồn gốc và chất lượng sinh trưởng

Điều tra tầng cây cao: cây cao là những cây gỗ có đường kính ngang ngực D1.3

≥ 6cm; Các chỉ tiêu đo đếm là: tên loài, đường kính ngang ngực (D1,3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán (Dt) và chất lượng (A, B, C)

Bên cạnh đó, đề tài còn lập các ô tiêu chuẩn 6 cây để nghiên cứu mối quan hệ giữa Re gừng với các loài cây khác trong rừng tự nhiên nhằm làm cơ sở cho việc lựa chọn và phối hợp các loài cây khi xây dựng mô hình trồng rừng hỗn loài Cụ thể lấy cây Re gừng làm tâm ô sau đó xác định: khoảng cách, tên cây, và đo D1.3,Hvn và Dt

của 6 cây gần nhất xung quanh với nó

Điều tra tầng cây tái sinh: Trong ODB, điều tra xác định tên cây tái sinh, số

lượng cây tái sinh ở các cấp chiều cao và chất lượng cây tái sinh, nguồn gốc tái sinh Chiều cao cây tái sinh được chia làm 5 cấp: h < 20cm; 20cm<h<50cm; 50cm<h<100cm; 100cm<h<300cm; h>300cm

Trang 33

c Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh thái loài Re gừng

Sử dụng các phương pháp truyền thống, đang áp dụng phổ biến trong nghiên cứu lâm nghiệp Các yếu tố sinh thái bao gồm: địa hình, khí hậu, đất, thực vật

Nhân tố địa hình: Được xác định qua tọa độ địa lý (VN2000), độ cao, độ dốc, hướng phơi Thiết bị sẽ sử dụng là GPS, địa bàn, bản đồ

Nhân tố đất: Xác định loại đất và đá mẹ theo phương pháp chuyên gia

Tại mỗi trạng thái rừngOTC, nơi có Re gừng phân bố đào 1 phẫu diện: sâu 1,0 m, rộng 0,8 m, dài từ 1,2 - 1,5 m; mỗi phẫu diện lấy 2 mẫu đất ở 2 độ sâu khác nhau: 0 - 30 cm, 31 - 60 cm mỗi độ sâu lấy 1,0 kg đất Dụng cụ, vật tư gồm cuốc, xẻng, túi nylon, ống dung trọng Mô tả ngoài thực địa: các chỉ tiêu đặc trưng hình thái phẫu diện như:

* pHKCl theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5979: 2007;

* Hữu cơ tổng số xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 4050 - 85;

* Đạm (Nts) tổng số xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6498: 1999;

* P2O5 % xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8940:2011;

* K2O % xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8660:2011;

* P2O5 dễ tiêu xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5256: 2009;

* K2O dễ tiêu xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8662: 2011;

* Thành phần cơ giới xác định theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN 8567:2010

Tiêu chí đánh giá một số nhân tố hóa học đất:

Theo Nguyễn Mười và cộng sự (1979), Bộ NN&PTNT (2009) thì hàm lượng một

số nhân tố hóa học cơ bản trong đất được đánh giá ở các mức độ khác nhau sau đây:

* Độ pH < 4,0 là rất chua; từ 4,1-4,5 là chua; từ 4,6-5,0 là chua vừa; từ 5,1-5,5

là chua ít; từ 5,6-6,5 là gần trung tính; từ 6,6-7,0 là trung tính; từ 7,1-7,5 là kiềm yếu;

từ 7,6-8,0 là kiềm và > 8,0 là kiềm mạnh

Trang 34

* Hàm lượng mùn trong đất: < 1% là rất nghèo; từ 1-2% là nghèo; từ 2-4% là trung bình; từ 4-8% là giầu; > 8% là rất giầu

* Ni tơ tổng số (Nts): < 0,1% là nghèo; từ 0,1-0,15% là trung bình; từ 0,15-0,20

là khá và > 0,20 là giầu

* P2O5 dễ tiêu: <3mg/100g đất là rất nghèo; từ 3-4,5mg/100g đất là nghèo; từ 4,5- 6mg/100g đất là trung bình và >6mg/100g đất là giầu Theo Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp (2009) thì P2O5 dễ tiêu <10mg/100g đất là nghèo; từ 10-15mg là trung bình; và > 15mg là giầu

* K2O dễ tiêu: <4mg/100g là rất nghèo; từ 4-12mg là nghèo; từ 12-20mg là trung bình; >20mg là giàu

Trong đó n là số cây trong ô tiêu chuẩn

b Công thức tổ thành tầng cây cao

Hệ số tổ thành của loài được tính theo chỉ số quan trọng cuả loài đó (IV - Important Value) của Daniel Marmillod (dẫn theo Vũ Đình Huề, 1969 và Đào Công Khanh, 2001):

2

% G

% N

IVi% là hệ số tổ thành hay chỉ số quan trọng của loài i

Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng

Gi% là tỷ lệ theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng Trong đó: N% là phần trăm số cá thể ở tầng cây cao của loài nào đó so với tổng số cây trên ÔTC ; G% là phần trăm tiết diện ngang của loài cây nào đó

so với tổng tiết diện ngang của ÔTC

Trang 35

Theo Daniel Marmillod, những loài cây nào có chỉ số IV>5% là những

loài có ý nghĩa về mặt sinh thái

c Xác định tầng thứ

Các kiểu rừng kín thường xanh hỗn giao lá rộng, lá kim có cấu trúc đa tầng, phức tạp, thường gồm 3-5 tầng, gồm: tầng trội, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi, tầng thảm tươi và thực vật ngoại tầng Theo bảng phân cấp của IUFRO (1958), cấu trúc thẳng đứng tầng cây gỗ của các QXRK điển hình VQG Cát Bà có thể được mô tả đơn giản thành 3 tầng chính sau: tầng 1 (tầng trên cùng) gồm các cây có chiều cao lớn hơn 2/3 chiều cao tán rừng, tầng

2 (tầng giữa) gồm các cây có chiều cao 1/3 < Hvn < 2/3 chiều cao tán rừng và tầng 3 (tầng dưới) gồm những cây có chiều cao < 1/3 chiều cao tán rừng (Dẫn theo Trần Văn Con, 2015)

d Mô phỏng phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D)

Sử dụng các hàm phân bố lý thuyết Mayer, khoảng cách và Weibull để

mô phỏng qui luật phân bố N/D cho các lâm phần rừng tự nhiên tại khu vực nghiên cứu

+ Hàm khoảng cách: là phân bố xác xuất của biến ngẫu nhiên đứt quãng, hàm toán học có dạng:

γ với x=0

F (x) = (1- γ )(1-α).αx-1 x≥ 1 (2.5)

Trong đó: γ và α là các tham số, Xi = (di – d1)/k

Trang 36

Với di là trị số giữa của cỡ kính i, h1 là trị số giữa của cỡ chiều cao thứ nhất, k là cự ly cỡ Biến x lấy các giá trị 0, 1, 2, 3… , m-1 (m là số tổ)

.λ α λ

α − − (2.6) Hàm phân bố:

F(x) = 1-

a

x

e−λ. (2.7) Trong đó:

α và λ là 2 tham số của phân bố Weibull

Tham số α đặc trưng cho độ nhọn phân bố

Tham số λ đặc trưng cho độ lệch của phân bố

Nếu:α = 1 phân bố có dạng giảm theo hàm mũ

x: là giá trị của nhân tố điều tra (D1.3)

α, β là hai tham số của phương trình

Khi giá trị x tăng, β càng lớn thì đường cong lõm và giảm càng nhanh, ngược lại β càng bé thì đường cong giảm từ từ

+ Kiểm tra sự phù hợp giữa phân bố lý thuyết với phân bố thực nghiệm

Để kiểm tra sự phù hợp giữa phân bố lý thuyết với phân bố thực nghiệm, sử dụng tiêu chuẩn Khi bình phương (χ2):

Ngày đăng: 20/08/2025, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban quản lý Dự án trồng rừng Việt Đức KFW (2001), Những đặc trưng nhận biết và giá trị sử dụng của 15 loài cây rừng phân bố trong vùng Dự án, trang 17-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng nhận biết và giá trị sử dụng của 15 loài cây rừng phân bố trong vùng Dự án
Tác giả: Ban quản lý Dự án trồng rừng Việt Đức KFW
Năm: 2001
2. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
3. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên), 2005. Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Tập II, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
4. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2004), Gỗ Việt Nam – tên gọi và đặc tính cơ bản phần I, Quyết định số 10/2004/QĐ-BNN, ngày 01 tháng 4 năm 2004, Về việc ban hành tiêu chuẩn ngành lĩnh vực công nghiệp rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gỗ Việt Nam – tên gọi và đặc tính cơ bản phần I
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2004
8. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Thực vật rừng, Giáo trình Đại học Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
9. Nguyễn Bá Chất (1994), "Kỹ thuật trồng Re gừng" Tập san Lâm nghiệp số 6/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng Re gừng
Tác giả: Nguyễn Bá Chất
Năm: 1994
10. Nguyễn Bá Chất (2002), "Bổ sung cây Re gừng vào danh mục cây trồng rừng lâm nghiệp" Tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn số 10/2002, trang 939-940 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bổ sung cây Re gừng vào danh mục cây trồng rừng lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Bá Chất
Năm: 2002
11. Nguyễn Bá Chất (2002), Cây Re gừng, Sử dụng cây bản địa vào trồng rừng ở Việt Nam, Nhà xuất bản nông nghiệp, trang 165-170 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây Re gừng
Tác giả: Nguyễn Bá Chất
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 2002
12. Võ Văn Chi (1999), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản y học, trang 917 13. Võ Văn Chi, Trần Hợp (2002), Cây cỏ có ích ở Việt Nam Tập 2, Nhà xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam", Nhà xuất bản y học, trang 917 13. Võ Văn Chi, Trần Hợp (2002), "Cây cỏ có ích ở Việt Nam Tập 2
Tác giả: Võ Văn Chi (1999), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản y học, trang 917 13. Võ Văn Chi, Trần Hợp
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2002
14. Nguyễn Việt Cường, 2007. Chọn lọc cây trội và khảo nghiệm hậu thế. Dự án giống cây lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn lọc cây trội và khảo nghiệm hậu thế
15. Hoàng Văn Chính, 2019. “Nghiên cứu, đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa, đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý” Tóm tắt đề án tiến sĩ sinh học, Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu, đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Vườn Quốc gia Bến En, tỉnh Thanh Hóa, đề xuất các biện pháp bảo tồn và khai thác hợp lý”
16. Nguyễn Anh Dũng (2001), Kết quả xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn tại Hoà Bình và Hà Giang, Kết quả nghiên cứu về trồng rừng và phục hồi rừng từ nhiên, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, trang 84-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả xây dựng rừng phòng hộ đầu nguồn tại Hoà Bình và Hà Giang
Tác giả: Nguyễn Anh Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
17. Ngô Quang Đê, Nguyễn Hữu Vĩnh, 1998. Trồng rừng. Giáo trình trường Đại học Lâm nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng rừng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
19. Phạm Xuân Hoàn, 1999. Vấn đề tuổi khai thác trong kinh doanh rừng Quế tại Văn Yên – Yên Bái. Thông tin chuyên đề khoa học công nghệ và kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn – Chuyên đề Trường Đại học Lâm nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học, số 10, Bộ NN và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tuổi khai thác trong kinh doanh rừng Quế tại Văn Yên – Yên Bái
20. Phạm Xuân Hoàn, 2001. Nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong kinh doanh rừng Quế (Cinnamomum cassia) tại tỉnh Yên Bái. Tóm tắt đề án tiến sỹ nông nghiệp, Trường Đại học lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong kinh doanh rừng Quế (Cinnamomum cassia) tại tỉnh Yên Bái
21. Lê Đình Khả và cộng sự, 2003. Chọn tạo giống và nhân giống cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu ở Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn tạo giống và nhân giống cho một số loài cây trồng rừng chủ yếu ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
22. Lê Đình Khả, Nguyễn Tuấn Hưng, Lê Văn Thành, Trần Hồ Quang, 2003. Chọn giống Quế có năng suất tinh dầu cao. Tạp chí NN&amp;PTNT số 10, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống Quế có năng suất tinh dầu cao
23. Hà Quang Khải (chủ biên), Đỗ Đình Sâm, Đỗ Thanh Hoa, 2002. Đất lâm nghiệp. Giáo trình Đại học Lâm nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất lâm nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
24. Nguyễn Đức Kiên, Ngô Văn Chính (2009), "Kết quả đánh giá sinh trưởng của Giổi xanh và Re gừng trên các mô hình rừng trồng", Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp số 4, trang 1076 – 1080 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả đánh giá sinh trưởng của Giổi xanh và Re gừng trên các mô hình rừng trồng
Tác giả: Nguyễn Đức Kiên, Ngô Văn Chính
Năm: 2009
25. Nguyễn Đức Kiên, 2012. Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu chọn, nhân giống và kỹ thuật gây trồng Giổi xanh (Michelia mediocris Dandy) và Re gừng (Cinnamomum obtusifolium (Roxb.) Nees)” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Nghiên cứu chọn, nhân giống và kỹ thuật gây trồng Giổi xanh "(Michelia mediocris" Dandy) và Re gừng ("Cinnamomum obtusifolium" (Roxb.) Nees)

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Hình thái lá Re gừng  Hình 3.2. Hình thái thân Re gừng - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Hình 3.1. Hình thái lá Re gừng Hình 3.2. Hình thái thân Re gừng (Trang 41)
Hình 3.3. Hình thái hoa, quả Re gừng  3.1.2. Đặc điểm vật hậu - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Hình 3.3. Hình thái hoa, quả Re gừng 3.1.2. Đặc điểm vật hậu (Trang 42)
Bảng 3. 1. Một số thông tin về các cây Re gừng theo dõi vật hậu - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3. 1. Một số thông tin về các cây Re gừng theo dõi vật hậu (Trang 42)
Bảng 3.2. Các pha vật hậu của Re gừng tại Hòa Bình - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.2. Các pha vật hậu của Re gừng tại Hòa Bình (Trang 43)
Bảng 3.3. Tình hình sinh trưởng và mật độ rừng nơi có Re gừng phân bố - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.3. Tình hình sinh trưởng và mật độ rừng nơi có Re gừng phân bố (Trang 44)
Bảng 3.4. Mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Re gừng trong các trạng - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.4. Mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Re gừng trong các trạng (Trang 45)
Bảng 3.5. Tổ thành loài tầng cây gỗ của các trạng thái rừng có Re gừng phân bố - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.5. Tổ thành loài tầng cây gỗ của các trạng thái rừng có Re gừng phân bố (Trang 46)
Bảng 3.7. Cấu trúc tầng thứ của lâm phần và của quần thể Re gừng - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.7. Cấu trúc tầng thứ của lâm phần và của quần thể Re gừng (Trang 47)
Bảng 3.8. Mô phỏng phân bố N/D 1,3  cho rừng tự nhiên sử dụng hàm Weibull - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.8. Mô phỏng phân bố N/D 1,3 cho rừng tự nhiên sử dụng hàm Weibull (Trang 48)
Bảng 3.9. Mức độ xuất hiện của loài cây bạn với Re gừng - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.9. Mức độ xuất hiện của loài cây bạn với Re gừng (Trang 49)
Bảng 3.13. Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.13. Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang (Trang 53)
Bảng 3.14. Một số đặc điểm khí hậu nơi có Re gừng phân bố - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.14. Một số đặc điểm khí hậu nơi có Re gừng phân bố (Trang 54)
Bảng 3.15. Tính chất lý tính đất nơi có Re gừng phân bố - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.15. Tính chất lý tính đất nơi có Re gừng phân bố (Trang 56)
Bảng 3.16. Tính chất hóa tính của đất nơi có Re gừng phân bố - Nghiên cứu một số Đặc Điểm sinh học của cây re gừng (cinnamomum bejolghota (buch ham) sweet) tại thành phố hòa bình
Bảng 3.16. Tính chất hóa tính của đất nơi có Re gừng phân bố (Trang 57)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w