1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều

98 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc đời trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Tác giả Tạ Ý Nhi
Người hướng dẫn PGS.TS Trần Văn Sáng
Trường học Đại học Sư phạm Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2025
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Bảng 1.1 Cơ chế chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận 19, 20 Bảng 1.2 Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận 20, 21 Bảng 2.1 Hệ thống các ẩn dụ tri

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRẦN VĂN SÁNG

ĐÀ NẴNG - 2025

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu và kết quả trình bày trong công trình nghiên cứu này là trung thực, chưa được công bố bởi bất

kỳ tác giả nào hay ở bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Tạ Ý Nhi

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU iv

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Giá trị khoa học và thực tiễn của công trình 6

5.1 Giá trị khoa học của công trình 6

5.2 Giá trị thực tiễn của công trình 6

6 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 6

6.1 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ 6

6.2 Phương pháp phân tích ý niệm 6

6.3 Thủ pháp thống kê, phân loại 7

7 Bố cục khoá luận 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 8

1.1 Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận 8

1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống 8

1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận 9

1.1.2.1 Tri nhận và mô hình tri nhận 10

1.1.2.2 Ẩn dụ tri nhận 11

1.1.2.3 Ý niệm, sự ý niệm hoá và cấu trúc của ý niệm 12

1.1.2.4 Tính nghiệm thân 17

1.1.2.5 Lược đồ hình ảnh 18

1.1.2.6 Cấu trúc miền nguồn - miền đích của ẩn dụ tri nhận 19

1.1.2.7 Phân loại ẩn dụ tri nhận 21

1.2 Nguyễn Quang Thiều và hành trình thơ ca 27

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp 27

1.2.2 Phong cách sáng tác 29

1.3 Tiểu kết 31

Chương 2 ẨN DỤ TRI NHẬN VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 32

Trang 5

2.1 Xác lập ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều 32

2.2 Các miền nguồn ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều 33

2.2.1 Các miền nguồn chiếu xạ đến miền đích TÌNH YÊU 33

2.2.2 Các thuộc tính của miền nguồn chiếu xạ đến miền đích TÌNH YÊU 36

2.2.2.1 Miền nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH 36

2.2.2.2 Miền nguồn là THIÊN NHIÊN 42

2.2.2.3 Miền nguồn là SỰ GẦN GŨI 48

2.2.2.4 Miền nguồn là NHIỆT/LẠNH 51

2.3 Tiểu kết 53

Chương 3 ẨN DỤ TRI NHẬN VỀ CUỘC ĐỜI TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 55

3.1 Xác lập ẩn dụ tri nhận về cuộc đời trong thơ Nguyễn Quang Thiều 55

3.2 Các miền nguồn ẩn dụ tri nhận về cuộc đời trong thơ Nguyễn Quang Thiều 56

3.2.1 Miền nguồn chiếu xạ đến miền đích CUỘC ĐỜI 56

3.2.2 Các thuộc tính của miền nguồn chiếu xạ đến miền đích CUỘC ĐỜI 59

3.2.2.1 Miền nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH 59

3.2.2.2 Miền nguồn là THIÊN NHIÊN 64

3.2.2.3 Miền nguồn là DÒNG SÔNG 68

3.3 Cơ sở kinh nghiệm làm nền tảng cho những mô hình tri nhận của ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Quang Thiều 71

3.4 Tiểu kết 74

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH CHỨA CÁC ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU 79

A ẨN DỤ TRI NHẬN VỀ TÌNH YÊU 79

1 TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH 79

2 TÌNH YÊU LÀ THIÊN NHIÊN 81

3 TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI 84

B ẨN DỤ TRI NHẬN VỀ CUỘC ĐỜI 86

1 CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH 86

2 CUỘC ĐỜI LÀ THIÊN NHIÊN 88

3 CUỘC ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG 89

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Bảng 1.1 Cơ chế chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận 19, 20 Bảng 1.2 Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận 20, 21 Bảng 2.1 Hệ thống các ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ Nguyễn Quang

Bảng 2.2 Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận

Bảng 2.3 Tần suất các thuộc tính được chiếu xạ giữa miền nguồn và miền

đích trong ẩn dụ tri nhận TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH

39,

40, 41 Bảng 2.4 Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận

Bảng 2.5 Tần suất các thuộc tính được chiếu xạ giữa miền nguồn và miền

đích trong ẩn dụ tri nhận TÌNH YÊU LÀ THIÊN NHIÊN

44,

45, 46 Bảng 2.6 Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận

Bảng 2.7 Tần suất các thuộc tính được chiếu xạ giữa miền nguồn và miền

đích trong ẩn dụ tri nhận TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI 49, 50 Bảng 2.8 Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận

Bảng 2.9 Tần suất các thuộc tính được chiếu xạ giữa miền nguồn và miền

đích trong ẩn dụ tri nhận TÌNH YÊU LÀ NHIỆT/LẠNH 53 Bảng 3.1 Hệ thống các ẩn dụ tri nhận về cuộc đời trong thơ Nguyễn Quang

Bảng 3.2 Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận

Bảng 3.3 Tần suất các thuộc tính được chiếu xạ giữa miền nguồn và miền

đích trong ẩn dụ tri nhận CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH

61,

62, 63 Bảng 3.4 Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận

Trang 7

Bảng 3.5 Tần suất các thuộc tính được chiếu xạ giữa miền nguồn và miền

đích trong ẩn dụ tri nhận CUỘC ĐỜI LÀ THIÊN NHIÊN 66, 67 Bảng 3.6 Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận

Bảng 3.7 Tần suất các thuộc tính được chiếu xạ giữa miền nguồn và miền

đích trong ẩn dụ tri nhận CUỘC ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG 70

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Hình 2.1 Hệ thống các ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ Nguyễn Quang

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngữ nghĩa học tri nhận với trọng tâm là ẩn dụ ý niệm đã trở thành một xu

hướng nghiên cứu sôi động trên thế giới và đặc biệt thu hút sự quan tâm của giới học thuật Việt Nam trong vòng 2 thập kỉ trở lại đây Với mục tiêu làm sáng tỏ cơ chế hoạt động của ẩn dụ ý niệm trong tiếng Việt, các công trình nghiên cứu ẩn dụ tri nhận đã đóng góp vào việc xây dựng một hệ thống lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận toàn diện hơn Chúng tôi tin rằng, bằng cách khám phá sâu hơn vào thế giới của ẩn dụ ý niệm, chúng ta sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức con người Việt Nam tư duy và giao tiếp trong mọi mặt của đời sống

1.2 Thơ ca là tiếng nói của tâm hồn, là một phương thức trữ tình nhằm ghi lại

những rung cảm đối với các sự vật, hiện tượng trong đời sống và nội tâm của chủ thể sáng tạo Vì lẽ đó, dĩ nhiên thơ ca cũng liên hệ mật thiết với mô hình tư duy của cá nhân trong một quốc gia, dân tộc cụ thể Lấy ánh sáng của ngôn ngữ học tri nhận mà trung tâm là lý thuyết ẩn dụ tri nhận để soi chiếu vào thơ ca sẽ lí giải được những điểm thú vị trong tư duy sáng tạo của chủ thể trữ tình Đây cũng là điều mà việc nghiên cứu thơ ca chỉ thông qua cấu trúc trên bề mặt ngôn từ chưa thể chạm đến

1.3 Dấu ấn Nguyễn Quang Thiều trong nền văn học Việt Nam hiện đại là điều

không thể phủ nhận Với tài năng đa dạng ở nhiều lĩnh vực, Nguyễn Quang Thiều không chỉ là một nhà thơ với những vần thơ đầy cảm xúc mà còn là một nhà văn sở hữu nhiều tác phẩm văn xuôi sâu sắc, một nhà báo với những bài viết sắc sảo, chặt chẽ Chính sự

đa tài này đã giúp ông khẳng định vị trí độc đáo và không thể thay thế trong lòng công chúng yêu văn học Ngoài ra, những tác phẩm thơ của Nguyễn Quang Thiều đã và đang được sử dụng làm ngữ liệu trong SGK Ngữ Văn ở cả hai chương trình Giáo dục phổ thông 2006 và chương trình Giáo dục phổ thông 2018 Các tác phẩm thơ ca của ông không chỉ chứa đựng nhiều cảm xúc, mang tính triết lý, giáo dục cao mà còn là một mảnh đất màu mỡ để nghiên cứu, mổ xẻ và phân tích dưới bình diện lí luận Nghiên cứu thơ của Nguyễn Quang Thiều dưới góc độ ẩn dụ tri nhận là một hướng nghiên cứu mới,

có thể sẽ đem lại những phát hiện bất ngờ Từ đó, giúp người đọc nắm bắt rõ hơn về quá trình tư duy trong câu từ đồng thời cũng gợi mở, làm sáng tỏ những ý niệm trừu tượng dưới những vỏ ngôn từ mà nhà thơ thể hiện

Trang 10

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Ẩn dụ tri nhận (hay ẩn dụ ý niệm) trở thành một khái niệm trung tâm trong

nghiên cứu về ngôn ngữ kể từ khi công trình Metaphors We Live By (Chúng ta sống

trong thế giới ẩn dụ) của George Lakoff và Mark Johnson được công bố vào năm 1980

Qua cuốn sách này, hai tác giả đã đưa ra một lập luận mạnh mẽ rằng ẩn dụ không chỉ đơn thuần là một biện pháp tu từ trong ngôn ngữ mà còn là một phương thức tư duy cơ bản của con người Họ cho rằng chúng ta không chỉ sử dụng ẩn dụ để diễn đạt mà còn

để hiểu và trải nghiệm thế giới Chính vì vậy, tiêu đề Metaphors We Live By đã trở thành

một biểu tượng cho quan điểm cho rằng ẩn dụ là một phần không thể thiếu trong cách

chúng ta sống và suy nghĩ Nhờ bản dịch của Nguyễn Thị Kiều Thu Chúng ta sống bằng

ẩn dụ (2017), độc giả và giới nghiên cứu Việt Nam đã có cơ hội tiếp cận gần hơn với

những ý tưởng sâu sắc của Lakoff và Johnson

2.2 Nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận có những bước tiến đáng kể Việt Nam nhờ

những nỗ lực dịch thuật và giới thiệu các công trình nghiên cứu quốc tế Hai công trình tiêu biểu có thể kể đến là:

Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận của David Lee, do Nguyễn Văn Hiệp và Nguyễn

Hoàng An dịch và xuất bản năm 2016, đã mang đến cho độc giả Việt Nam một cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ phức tạp giữa hình thức và ý nghĩa trong ngôn ngữ Cuốn sách không chỉ cung cấp những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận mà còn đưa ra những phân tích chi tiết về cách con người sử dụng ngôn ngữ để xây dựng thế giới quan, tạo ra những ý nghĩa đa dạng và phong phú

Công trình Dẫn luận ngôn ngữ học tri nhận của nhà nghiên cứu Trung Quốc Triệu

Diễm Phương, được dịch sang tiếng Việt bởi Đào Thị Hà Ninh và xuất bản năm 2011,

đã tạo nên một làn sóng quan tâm lớn trong cộng đồng nghiên cứu ngôn ngữ học, đặc biệt là trong lĩnh vực ngoại ngữ tiếng Trung tại Việt Nam

Với một cộng đồng nghiên cứu đông đảo và đa dạng, các nhà ngôn ngữ học trên thế giới không ngừng khám phá những chiều sâu mới của ngôn ngữ thông qua việc phân tích các hiện tượng ngôn ngữ dưới góc độ tri nhận

Ở Việt Nam, nhà ngôn ngữ học Lý Toàn Thắng là người đầu tiên giới thiệu một

cách hệ thống về ngôn ngữ học tri nhận trong công trình Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý

thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (2005) Mặc dù vậy, trọng tâm nghiên cứu của

Trang 11

ông chủ yếu xoay quanh vấn đề tri nhận không gian, khiến cho khái niệm ẩn dụ tri nhận chưa được khai thác một cách đầy đủ

Tiếp đến, trong bài báo “Ẩn dụ ý niệm” đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ (số 7, năm

2007), Phan Thế Hưng đã khẳng định: “ẩn dụ không còn hoàn toàn thuộc về phạm vi ngôn ngữ học, cho nên không thể chỉ nghiên cứu ẩn dụ qua cấu trúc ngôn từ” [14, Tr.18]

Và trong bài báo “So sánh trong ẩn dụ” cũng trên Tạp chí ngôn ngữ (số 4, năm 2007) Phan Thế Hưng nêu bật: “ẩn dụ không đơn giản là phép so sánh ngầm mà chính là câu bao hàm xếp loại thuộc cấu trúc bề sâu của tư duy Nói cách khác, hiểu sự so sánh không phải là trung tâm của việc hiểu ẩn dụ, mà chính là hiểu được việc xếp loại” [13, Tr.12] Năm 2009, lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận và lý thuyết ẩn dụ ý niệm đã được giới

thiệu một cách hệ thống và toàn diện tại Việt Nam thông qua công trình Khảo luận ẩn

dụ tri nhận của tác giả Trần Văn Cơ, do NXB Lao động xã hội phát hành Nghiên cứu

đã tập trung vào bốn vấn đề chính: bàn về ý niệm và ẩn dụ ý niệm; cơ chế hoạt động sáng tạo của ẩn dụ tri nhận; cơ sở kinh nghiệm luận và phương pháp luận của lý thuyết, cũng như cách thức mà ẩn dụ tri nhận góp phần cấu trúc thế giới quan

Năm 2010, tác giả Phan Thế Hưng trình bày luận án tiến sĩ Ẩn dụ dưới góc độ

nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận (trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh) đã góp phần tìm

hiểu ẩn dụ ý niệm, nhấn mạnh vai trò của tư duy trong ngôn ngữ ẩn dụ Phân tích và đối chiếu qua ngôn liệu tiếng Anh và tiếng Việt để củng cố cho quan điểm tri nhận về ẩn dụ [15]

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu sinh đã nghiên cứu về các bình diện cụ thể của ẩn

dụ tri nhận, sự liên hệ của ẩn dụ tri nhận với các loại ẩn dụ khác:

Trần Thị Phương Lý với luận án Ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng

Việt (có liên hệ với tiếng Anh) (2012) đã bàn sâu về mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm

phạm trù thực vật trong tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) Phân loại ẩn dụ ý niệm của phạm trù thực vật trong tiếng Việt Đặc trưng văn hoá dân tộc thể hiện qua bức tranh ngôn ngữ về thế giới với ý niệm thực vật (từ cứ liệu tiếng Việt có liên hệ với tiếng Anh) [16]

Các tác giả Nguyễn Đức Tồn, Vũ Thị Sao Chi trong bài báo “Về khái niệm ẩn dụ

tri nhận, ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ” (Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam – số 3/2013)

đã chỉ ra sự liên hệ trong phức thức vận hành của ẩn dụ tri nhận với các loại ẩn dụ khác:

“cả ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ cũng như ẩn dụ tri nhận đều mang bản chất là phương

Trang 12

thức tư duy, và đều dựa trên cùng một cơ chế tư duy – đó là tư duy liên tưởng Tuy nhiên, chúng phản ánh phương thức tư duy ở các phạm vi phổ biến khác nhau” [11, Tr.83]

2.3 Chung quanh về vận dụng lý thuyết của ẩn dụ tri nhận để nghiên cứu một đối

tượng thơ, truyện thơ, ca dao, thành ngữ cụ thể,…cũng đã có không ít các công trình,

bài báo được thực hiện và công bố như: Trịnh Hải Yến với Ẩn dụ tri nhận trong thơ

Nguyễn Duy (Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ, Trường đại học Sư Phạm – Đại học Thái

Nguyên, năm 2011); Nguyễn Thị Thuỳ với Ẩn dụ tri nhận trong thơ Xuân Diệu (Luận

văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, năm 2013);

Ma Thị Thuý Ngọc với Ẩn dụ tri nhận trong thơ Nông Quốc Chấn (Luận văn Thạc sĩ

Ngôn ngữ học, Trường đại học Sư Phạm – Đại học Thái Nguyên, năm 2013); Nguyễn

Thị Bích Hạnh với Ẩn dụ tri nhận trong ca từ Trịnh Công Sơn (Luận án Tiến sĩ Ngữ

Văn, Học viện Khoa học xã hội, Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, năm 2014);

Trần Thị Lan Anh với Ẩn dụ ý niệm trong thơ và kịch của Lưu Quang Vũ (Luận án Tiến

sĩ Ngữ văn, Trường đại học Sư Phạm Hà Nội, năm 2017); Ngô Tuyết Phượng với Ẩn dụ

tri nhận trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam (Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Viện Hàn

lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội, năm 2017); Trần Văn Nam với Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong thơ mới 1932 – 1945 (Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ, Văn học và Văn hoá Việt Nam, Trường đại học Sư Phạm – Đại học Thái Nguyên, năm 2018),…

Huỳnh Ngọc Mai Kha với bài báo “Ẩn dụ tri nhận trong thơ Tố Hữu (Tạp chí Ngôn

Ngữ và Đời sống, số 6b (327-2022)); Đào Duy Tùng và Đinh Lam Trường với bài báo

“Ẩn dụ ý niệm về con người trong thơ Trần Đăng Khoa” (Tạp chí Khoa học Đại học

Cần Thơ, Tập 60, Số 1C(2014): 202-210); Phan Ngọc Trần với bài báo “Về bốn ẩn dụ

ý niệm trong thơ Nguyễn Bính” (Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TPHCM, Số 63 năm 2024);

Ngô Bảo Tín, Đào Duy Tùng, Phan Nguyễn Thanh Tân với bài báo “Ẩn dụ ý niệm về

con người trong truyện thơ Nôm Thạc Sanh” (TẠP CHÍ KHOA HỌC - SỐ 85/THÁNG

6 (2024)),…

Cùng với đó, các luận văn được bảo vệ thành công ở Trường đại học Sư Phạm –

Đại học Đà Nẵng trong những năm gần đây như: Trần Nguyễn Thuỳ Trang với Ẩn dụ

tri nhận trong thơ Nguyễn Khoa Điềm (Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, năm 2018); Võ

Thị Hà An với Ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Trọng Tạo (Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ

học, năm 2023);…càng cho thấy việc vận dụng ngôn ngữ học tri nhận mà trọng tâm là

Trang 13

ẩn dụ tri nhận vào nghiên cứu một tác phẩm thơ cụ thể là một xu thế hợp lí, cần thiết và thời sự

2.4 Nghiên cứu về tác giả Nguyễn Quang Thiều cho đến nay có thể kể đến những

công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Hình ảnh người nữ trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Quang Thiều; Thơ Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn Liên văn bản; Đặc điểm thơ Nguyễn Quang Thiều; Thế giới thơ Thiều – một lối vào…Như vậy, có thể thấy Nguyễn Quang Thiều đã được giới nghiên cứu phê bình và

độc giả chú ý nhiều Tuy nhiên, những công trình kể trên chỉ chủ yếu là những bài giới thiệu tác giả, tác phẩm, tập thơ và nghiên cứu những đặc sắc nói chung của thơ Nguyễn Quang Thiều qua góc nhìn phong cách, thế giới nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật,…chứ chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về thơ Nguyễn Quang Thiều dưới góc

nhìn ngôn ngữ

2.5 Tổng quan tất cả các công trình nghiên cứu đã cho thấy tình hình nghiên cứu

ngôn ngữ học tri nhận mà trọng tâm là ẩn dụ tri nhận trong những tác phẩm thơ cụ thể

ở Việt Nam là khá sôi nổi và phổ biến Tuy nhiên, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về thơ của Nguyễn Quang Thiều dưới góc nhìn ẩn dụ tri nhận một cách chuyên sâu, đầy đủ và toàn diện Nhận thấy “khoảng trống” tiềm năng này, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc đời trong thơ Nguyễn Quang Thiều” để tiến hành nghiên cứu và lí giải những đặc sắc về tư duy, ngôn từ và nghệ thuật của thơ Nguyễn Quang Thiều dưới ánh sáng của lý thuyết ẩn dụ tri nhận

3 Mục đích nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đề tài này, khoá luận nhằm đạt được những mục đích sau:

- Hệ thống hóa những kiến thức lí luận về ẩn dụ tri nhận và cơ chế nhận biết ẩn dụ tri nhận

- Tiến hành khảo sát ẩn dụ trong thơ Nguyễn Quang Thiều dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, đồng thời qua cơ chế của ẩn dụ và nhân sinh quan của nhà thơ, có cơ sở để khẳng định những thành công của tác giả trong việc sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ dân tộc

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận văn sẽ đúc rút ra những bài học cần thiết cho việc dạy và học thơ Nguyễn Quang Thiều trong nhà trường phổ thông hiện nay

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là các mô hình ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc đời trong thơ Nguyễn Quang Thiều

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu về ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Quang Thiều, còn các vấn đề ngôn ngữ khác liên quan đến ngôn ngữ tri nhận nói chung chỉ được nhắc đến như là một phương tiện nhằm làm sáng tỏ mô hình ẩn dụ tri nhận

5 Giá trị khoa học và thực tiễn của công trình

5.1 Giá trị khoa học của công trình

Các kết quả nghiên cứu của công trình mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc củng cố lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận, làm sáng tỏ một số vấn đề lí thuyết về ẩn dụ qua ngôn ngữ thơ Nguyễn Quang Thiều Qua đó, mong muốn góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu thơ theo khuynh hướng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, góp phần chứng minh ẩn dụ tri nhận không chỉ là hình thái tu từ của thơ ca mà còn là vấn đề của tư duy trong cơ chế mà con người chúng ta nhận thức thế giới

5.2 Giá trị thực tiễn của công trình

Khoá luận dùng các mô hình ý niệm của ngôn ngữ học tri nhận để lí giải các thao tác tư duy trong thơ Nguyễn Quang Thiều Để từ đó làm nổi bật lên phong cách sáng tác độc đáo và riêng biệt của nhà thơ

Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của khoá luận hi vọng có thể ứng dụng được vào việc nghiên cứu và giảng dạy thơ Nguyễn Quang Thiều trong nhà trường phổ thông hiện nay theo định hướng của chương trình Giáo dục phổ thông 2018

6 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp miêu tả ngôn ngữ

Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả các biểu thức ẩn dụ tri nhận trong các bài thơ nhằm phân tích và phát hiện, lí giải những giá trị ẩn sau chúng mà tác giả muốn gửi gắm

6.2 Phương pháp phân tích ý niệm

Phương pháp phân tích ý niệm được sử dụng để phân tích các biểu thức ngôn ngữ chứa các ẩn dụ thuộc phạm trù ý niệm tiêu biểu trong thơ Nguyễn Quang Thiều Từ đó,

Trang 15

làm rõ bản chất các mô hình ẩn dụ ý niệm đã cấu trúc hoá tri giác, tư duy và hoạt động nói chung của con người và phát hiện ra những đặc trưng riêng trong cách tri giác, tư duy và phản ánh thế giới của tác giả

6.3 Thủ pháp thống kê, phân loại

Sử dụng thủ pháp này, chúng tôi muốn hệ thống được tần số xuất hiện của các ẩn

dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Quang Thiều, giúp thấy được mức độ phổ biến của từng kiểu ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Quang Thiều

7 Bố cục khoá luận

Ngoài phần Mở Đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Khoá luận được bố cục thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết và những vấn đề liên quan

Chương 2 Ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Chương 3 Ẩn dụ tri nhận về cuộc đời trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Trang 16

NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

1.1 Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận

1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống

Theo quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống, ẩn dụ được xem là một hiện tượng thuần túy thuộc về ngôn ngữ, tách biệt khỏi tư duy Các nhà ngôn ngữ học truyền thống cho rằng lối nói ẩn dụ không tồn tại trong ngôn ngữ thông thường hàng ngày, và ngược lại, ngôn ngữ hàng ngày cũng không chứa đựng ẩn dụ Do đó, ngôn ngữ học truyền thống đã loại trừ ẩn dụ ra khỏi phạm vi nghiên cứu lý thuyết của mình, dẫn đến việc đặt thơ ca và nghệ thuật ra ngoài lề của đời sống tinh thần Họ cho rằng ẩn dụ không đóng vai trò quan trọng trong những vấn đề thiết yếu của cuộc sống Điều này đã hình thành một quan niệm sai lầm, cho rằng ẩn dụ chỉ là công cụ riêng của các nhà thơ, nhà văn và chỉ thuộc về lĩnh vực văn học

Lúc này, ẩn dụ là một biện pháp tu từ đặc sắc, trong đó người viết sử dụng tên gọi của một sự vật, hiện tượng (B) để chỉ một sự vật, hiện tượng khác (A) dựa trên sự tương đồng về một hoặc nhiều đặc điểm nổi bật giữa chúng (ví dụ: tính chất, trạng thái, màu sắc, ) Mục đích của việc sử dụng ẩn dụ là nhằm gia tăng khả năng gợi hình, gợi cảm cho diễn đạt, tạo nên những hình ảnh ngôn ngữ sinh động và giàu sức biểu cảm Nói một cách đơn giản hơn, ẩn dụ là một hình thức thay thế tên gọi trực tiếp của sự vật, hiện tượng (A) bằng tên gọi của một sự vật, hiện tượng khác (B) mà giữa A và B có những nét tương đồng nhất định

Từ góc độ của ngôn ngữ học truyền thống, có thể kể đến các quan điểm như sau: Theo A A Reformatxki: “Ẩn dụ theo nghĩa chiết tự là “sự chuyển đổi”, là trường hợp chuyển nghĩa điển hình nhất Sự chuyển nghĩa theo ẩn dụ được dựa trên sự giống nhau của các sự vật về màu sắc, hình thức, đặc tính vận động” [Dẫn theo 13, Tr.7] Tương tự, Ju X Xtepanov cũng nhấn mạnh ý nghĩa “chuyển nghĩa” của từ

“Metaphor” trong tiếng Hy Lạp, cho rằng: “Bản thân từ Metaphor trong tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là sự chuyển nghĩa, và khi một từ vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhưng lại có sự liên hệ mới với cái biểu vật mới thì hiện tượng ngôn ngữ đó là ẩn dụ” [10,

Trang 17

Tr.51-52] Quan điểm này được B N Golovin củng cố khi ông định nghĩa ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi của các đối tượng dựa trên sự giống nhau giữa chúng [Dẫn theo 14, Tr.14]

Dưới góc độ nghiên cứu truyền thống, các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất về bản chất của ẩn dụ Theo Nguyễn Đức Tồn, ẩn dụ được định nghĩa là “phép hay cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai sự vật có sự tương đồng hay giống nhau” [11, Tr.76]

Tương tự, Nguyễn Văn Tu nhận định: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan hệ đó chúng

ta phải so sánh ngầm Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, ta theo tưởng tượng của ta mà gọi một sự vật, chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước thôi Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau” [9, Tr.159]

Quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp cũng đồng nhất khi cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [2, Tr.162]

Quan điểm truyền thống trên thế giới và ở Việt Nam đều nhìn nhận ẩn dụ chủ yếu như một hiện tượng ngôn ngữ, một phương tiện tu từ, một phương thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự tương đồng ngầm giữa các đối tượng được đề cập Sự tương đồng này

là cơ sở để tạo ra mối liên hệ gián tiếp, giúp người đọc hoặc người nghe hình dung và cảm nhận sâu sắc hơn về đối tượng được miêu tả Tuy nhiên, sự phát triển của ngôn ngữ học tri nhận sau này đã có những khám phá sâu sắc hơn về vai trò của ẩn dụ trong tư duy và nhận thức của con người

1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm tri nhận

Quan điểm cho rằng ẩn dụ là một công cụ tri nhận mang tính cách mạng, khác biệt sâu sắc so với quan niệm truyền thống về ẩn dụ Theo đó, ngôn ngữ trước đây thường được xem như một hệ thống khép kín và tự trị Trong hệ thống này, các đơn vị từ vựng được cho là mang những nét nghĩa cố định và rạch ròi, vốn được xem là thuộc tính nội tại của từ Do đó, việc giải nghĩa từ vựng không cần thiết phải dựa vào các yếu tố ngoài ngôn ngữ hay kiến thức bách khoa, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, điển hình là

ẩn dụ Chính vì vậy, ngôn ngữ mang tính ẩn dụ thường bị coi là một sự lệch chuẩn so với cách sử dụng ngôn ngữ thông thường hàng ngày Điều này đồng nghĩa với việc để

Trang 18

giải mã và thấu hiểu ẩn dụ, người đọc hoặc người nghe phải vận dụng những quy trình nhận thức đặc biệt Việc diễn giải ẩn dụ, theo quan niệm truyền thống, phải được thực hiện thông qua ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen Từ đó có thể thấy, quan điểm truyền thống

đề cao vai trò của ngôn ngữ nghĩa đen hơn so với ngôn ngữ mang tính ẩn dụ

Tuy nhiên, Lakoff và Johnson (1980) đã đưa ra một cách tiếp cận mới đầy đột phá

Họ khẳng định rằng ẩn dụ là một hiện tượng thuộc về nhận thức, mang tính ý niệm sâu sắc hơn là chỉ một hiện tượng ngôn ngữ đơn thuần Những biểu hiện ẩn dụ mà chúng ta thường thấy trong ngôn ngữ chỉ là sự phản ánh của các ẩn dụ đã tồn tại ở các cấp độ ý niệm trong tâm trí con người

1.1.2.1 Tri nhận và mô hình tri nhận

Trong cuốn Ngôn ngữ học tri nhận Từ điển, Trần Văn Cơ nêu rõ: “Tri nhận – là

khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận Nó chứa đựng hai nghĩa của những từ La Tinh kết hợp lại: cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ Tóm lại nó biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lí (tinh thần, tư duy) – tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói v.v phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin Nó bao gồm cả việc con người nhận thức và đánh giá bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng bức tranh thế giới đặc biệt - tất cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người” [1, Tr.90]

“Tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính được сải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh v.v.) để có thể lưu lại trong trí nhớ con người” [1, Tr.90]

“Đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như là sự tính toán (computation), nghĩa là

xử lí thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác – thành

mã khác, thành cấu trúc khác” [1, Tr.90]

Các quá trình tri nhận bao gồm: quá trình nhận thức, ý niệm hoá, phạm trù hoá, tri giác và các biểu hiện tinh thần đang diễn ra trong bộ não của con người, nhờ đó con người nhận được những tri thức về thế giới

Mô hình tri nhận “là tổng số các ý niệm đã trải qua và đã tích lũy được cho một lĩnh vực nhất định ở một cá nhân; Mô hình tri nhận là phương thức tổ chức và biểu đạt các kiến thức do con người tạo ra khi tương tác với ngoại giới Thay cho tất cả các hiện tượng mà chúng ta tình cờ thấy hằng ngày, chúng ta đã có kinh nghiệm và lưu giữ một

số lớn các ngữ cảnh có quan hệ qua lại Các phạm trù tri nhận không chỉ phụ thuộc vào

Trang 19

cái ngữ cảnh trực tiếp mà chúng được ấn vào, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều ngữ cảnh

có liên hệ với nó Vì thế, sẽ là rất hữu ích nếu có một thuật ngữ bao trùm tất cả các biểu tượng tri nhận được tích trữ thuộc về một trường nhất định ( ) Các mô hình tri nhận dựa trên cơ sở tâm lí của tri thức tích trữ về một phạm vi nhất định Bởi vì trạng thái tâm

lí luôn luôn là riêng tư và là những kinh nghiệm cá nhân, việc miêu tả các mô hình tri nhận như thế cần thiết phải bao gồm một mức độ đáng kể của sự lí tưởng hóa Nói cách khác, việc miêu tả các mô hình tri nhận được dựa trên tiền ước rằng có nhiều người có cùng tri thức cơ bản về sự vật” [3, Tr.277-278]

Có thể hiểu rằng, mô hình tri nhận là cách bộ não của chúng ta tổ chức và lưu trữ tất cả những gì ta được biết về một chủ đề nào đó Nó giống như một khung tham chiếu giúp chúng ta hiểu và tương tác với thế giới xung quanh liên quan đến chủ đề đó Mặc

dù mỗi người có một mô hình tri nhận riêng, nhưng để giao tiếp hiệu quả, chúng ta thường dựa vào những hiểu biết chung cơ bản về sự vật

1.1.2.2 Ẩn dụ tri nhận

Công trình mang tính đột phá Metaphors We Live By (Chúng ta sống bằng ẩn dụ)

của George Lakoff và Mark Johnson, xuất bản năm 1980, đã đưa ra một phát biểu mới

về ẩn dụ Theo đó, ẩn dụ không đơn thuần là một biện pháp tu từ trong văn chương mà còn là một cơ chế nhận thức nền tảng, chi phối cách con người lĩnh hội và tương tác với thế giới Lakoff và Johnson khẳng định: “Hệ thống ý niệm thông thường của chúng ta, trong đó chúng ta tư duy và hành động, về bản chất mang tính ẩn dụ” và “Ẩn dụ về bản chất chủ yếu là ý niệm; ẩn dụ ý niệm dựa trên những trải nghiệm thường nhật” [4, Tr.300]

Như vậy, ngay cả trong đời sống hàng ngày, chúng ta không chỉ sử dụng những ẩn

dụ đã được quy ước hóa và từ vựng hóa (thông qua các ẩn dụ ý niệm) ở cấp độ ngôn ngữ, mà sâu xa hơn, chúng ta thực sự tư duy và ý niệm hóa các phạm trù “đích” thông qua các phạm trù “nguồn” Bản chất của lý thuyết ẩn dụ tri nhận nằm ở quá trình thiết lập khái quát dựa trên sự liên tưởng, qua đó, các khái niệm trừu tượng quen thuộc như thời gian, trạng thái, sự thay đổi, nguyên nhân, kết quả, mục đích đều mang bản chất

ẩn dụ

Điểm khác biệt căn bản giữa ẩn dụ tri nhận (hay ẩn dụ ý niệm) với ẩn dụ từ vựng

và ẩn dụ truyền thống nằm ở chức năng ý niệm hóa Bên cạnh chức năng quy ước hóa

và từ vựng hóa, ẩn dụ tri nhận còn đóng vai trò then chốt trong việc định hình cách tư

Trang 20

duy và tri nhận của con người về thế giới theo những phương thức nhất định Lý Toàn Thắng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ khi so sánh nó với ẩn dụ truyền thống và ẩn dụ tu từ học: “Ẩn dụ theo quan niệm truyền thống văn học

và tu từ học thường được xem là một trong hai kiểu chính (cùng với hoán dụ) của phép chuyển nghĩa, dựa trên các khái niệm về sự tương đồng và so sánh giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của từ ngữ; ví dụ như chân núi (so sánh với chân người); ánh sáng chân lý (so sánh với ánh sáng mặt trời) Tuy nhiên, chúng ta chưa nghiên cứu và đánh giá đầy

đủ vai trò quan trọng của ẩn dụ trong ngôn ngữ đời thường, đặc biệt là như một công cụ nhận thức mạnh mẽ để khái niệm hóa các phạm trù trừu tượng” [6, Tr.28]

Đồng quan điểm, Trần Văn Cơ khẳng định: “Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ

ý niệm – cognitive/conceptual metaphor) – đó là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không

có nó thì không thể nhận được tri thức mới” [1, Tr.293] Ông cũng chỉ rõ nguồn gốc của

ẩn dụ tri nhận: “Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt

và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau” [1, Tr.293]

1.1.2.3 Ý niệm, sự ý niệm hoá và cấu trúc của ý niệm

Về mặt nguồn gốc thuật ngữ, cả “khái niệm” và “ý niệm” trong tiếng Việt đều truy nguyên từ một từ duy nhất trong tiếng Anh: “concept” Trong quá trình phát triển của khoa học tri nhận nói chung và ngôn ngữ học tri nhận nói riêng, nội hàm của thuật ngữ

“concept” đã có sự phân tách Một phần nội hàm này được hiểu và sử dụng tương ứng với “khái niệm” (trong tiếng Nga là понятие), trong khi phần còn lại được biểu đạt thông qua “ý niệm” (trong tiếng Nga là концепт)

Dựa theo tâm lý học, quá trình nhận thức của con người diễn ra qua hai giai đoạn

cơ bản: giai đoạn nhận thức cảm tính, bao gồm cảm giác và tri giác, và giai đoạn nhận thức lý tính, với các hình thức biểu hiện là biểu tượng và khái niệm Trong đó, khái niệm được xem là đơn vị cơ bản nhất của nhận thức lý tính Khác với quá trình nhận thức phân chia thành các giai đoạn rõ rệt, tri nhận được hiểu là một quá trình tổng hợp và phức tạp hơn Nó bắt đầu từ những thông tin thu nhận được thông qua tri giác cảm tính, dựa trên sự tác động của thế giới khách quan lên năm giác quan của con người Quá trình này không diễn ra theo các bước tuần tự mà là sự tích lũy, chọn lọc và xử lý thông tin một cách liên tục, để cuối cùng hình thành nên các ý niệm Như vậy, ý niệm có thể được xem là đơn vị nhỏ nhất, đồng thời cũng là kết quả của quá trình tri nhận

Trang 21

Theo Y Xtepanov, “khái niệm” thuộc phạm trù triết học, trong khi “ý niệm” lại gắn liền với logic toán học và văn hóa học Ông cho rằng: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hóa trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người – người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hóa” – chính con người đó đi vào văn hóa, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hóa” [Dẫn theo 12] Từ định nghĩa này, có thể hiểu rằng ý niệm là một không gian giao thoa của đa dạng nền văn hóa, nảy sinh trong ý thức của mỗi người Sự phong phú của

ý niệm phụ thuộc vào mức độ tích lũy tri thức nền tảng của mỗi cá nhân Nói cách khác, người càng có vốn hiểu biết sâu rộng thì càng tiếp xúc và hình thành nhiều ý niệm Do

đó, khi tiếp xúc với các ý niệm, con người sẽ có cơ hội thấu hiểu văn hóa thông qua những mô hình ý niệm cụ thể

Dưới góc độ tâm lý học và ngôn ngữ học tri nhận, Lý Toàn Thắng cho rằng ý niệm không đơn thuần là kết quả của tư duy hay sự phản ánh thụ động thế giới khách quan Thay vào đó, ông nhấn mạnh ý niệm là sản phẩm của hoạt động tri nhận, là nơi lưu giữ tri thức và sự hiểu biết về thế giới, được hình thành dựa trên kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ Đặc biệt, ý niệm vừa mang tính phổ quát của nhân loại, vừa mang đậm dấu

ấn đặc thù của từng dân tộc, do sự gắn kết chặt chẽ của nó với ngôn ngữ và văn hóa [8, Tr.115]

Dựa trên quan điểm của Trần Văn Cơ [1, Tr.11], ý niệm được hình thành trong tâm trí con người và đóng vai trò trung tâm trong quá trình tư duy Trong quá trình này, con người sử dụng các ý niệm như những “đơn vị” tri thức để phản ánh nội dung thu được từ việc nhận thức thế giới Các ý niệm này nảy sinh từ quá trình cấu trúc hóa thông tin về các sự kiện khách quan trong thế giới thực tại và cả thế giới tưởng tượng Về cấu trúc nội tại, một ý niệm bao gồm hai mặt: Nội dung thông tin phổ quát: Mặt này chứa đựng những thông tin chung về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng và Yếu tố văn hóa - dân tộc: Mặt này bao gồm những yếu tố văn hóa đặc trưng của một dân tộc, biến

ý niệm trở thành một hiện tượng văn hóa Ý niệm mang tính chủ quan bởi nó là một phần trong bức tranh thế giới của mỗi cá nhân, phản ánh thế giới khách quan thông qua lăng kính ý thức và ngôn ngữ của cộng đồng dân tộc đó Do đó, ý niệm mang đậm dấu

ấn dân tộc, bao gồm ba thành tố cốt lõi: khái niệm, cảm xúc - hình tượng và văn hóa

Trang 22

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “ý niệm hóa” (Conceptualization) được định nghĩa là quá trình hình thành các ý niệm trong nhận thức của con người Ý niệm, trong ngữ cảnh này, là sự phản ánh các thuộc tính chung và bản chất của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, được xây dựng thông qua các thao tác tư duy khái quát và trừu tượng, đồng thời được biểu thị bằng các đơn vị từ vựng trong ngôn ngữ [3, Tr.602]

Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: quá trình ý niệm hóa là một bước phát triển quan trọng của nhận thức, chuyển từ giai đoạn cảm tính, trực quan sinh động sang giai đoạn

lý tính, tư duy trừu tượng Mặc dù có mối liên hệ mật thiết với quá trình phạm trù hóa, hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất Trong khi phạm trù hóa tập trung vào việc tập hợp các đơn vị tri nhận có những điểm tương đồng để tạo thành các phạm trù nhận thức, thì ý niệm hóa lại nhấn mạnh vào việc trừu xuất những đơn vị kinh nghiệm

cơ bản nhất của con người và chuyển hóa chúng thành nội dung ngữ nghĩa của các đơn

vị ngôn ngữ Điểm khác biệt cốt yếu nằm ở chỗ, phạm trù hóa hướng đến việc phân loại

và hệ thống hóa tri thức, còn ý niệm hóa tập trung vào việc hình thành ý nghĩa cơ bản, nền tảng cho các đơn vị ngôn ngữ thông qua quá trình trừu tượng hóa từ kinh nghiệm thực tế [3, Tr.602]

Về mặt cấu trúc, ý niệm được hiểu là một cấu tạo đa chiều, vượt ra ngoài khuôn khổ của các định nghĩa tường minh Khi miêu tả một ý niệm, cần xem xét cả những đặc điểm hàm chỉ, các hình ảnh đánh giá và những liên tưởng đi kèm Các ý niệm không tồn tại độc lập mà liên kết với nhau, tạo thành một hệ thống ý niệm phức tạp Trong mỗi hệ thống ý niệm, có thể phân biệt các ý niệm cơ sở (hoặc ý niệm xuất phát) đóng vai trò nền tảng, và các ý niệm thứ cấp (hoặc ý niệm phái sinh) được định nghĩa và hình thành dựa trên các ý niệm cơ sở này Điều đáng chú ý là ranh giới giữa các ý niệm trong cùng một hệ thống, cũng như giữa các hệ thống ý niệm khác nhau, thường không mang tính tuyệt đối Một số ý niệm có thể đồng thời thuộc về nhiều hệ thống ý niệm khác nhau Theo Trần Văn Cơ, ý niệm có cấu trúc trường - chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm (hạt nhân) và ngoại vi Có thể hình dung trường - chức năng của ý niệm như một vòng tròn to có chứa vòng tròn nhỏ tại tâm và những vòng tròn nhỏ khác giao nhau

Có thể biểu diễn cấu trúc của ý niệm bằng sơ đồ sau đây:

Trang 23

Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của ý niệm

Chú thích sơ đồ:

Hạt nhân là khái niệm, nằm ở trung tâm của trường-chức năng (vòng tròn nhỏ tô đậm tại tâm) Nó mang tính chất phổ quát, toàn nhân loại Nằm ở ngoại vi (trong những vòng tròn nhỏ giao nhau) là những nét đặc thù văn hoá-dân tộc, trong đó yếu tố hàng đầu là giá trị, bởi lẽ nói đến văn hoá là nói đến những giá trị văn hoá (tinh thần và vật chất) Nét đặc thù văn hoá bao gồm: a) văn hoá toàn dân tộc, b) văn hoá các tộc người, c) văn hoá vùng, miền, địa phương, d) văn hoá riêng của các nhóm xã hội mà con người tham gia và chịu tác động về nhiều mặt, và cuối cùng đ) là văn hoá cá thể với những đặc điểm tạo thành nhân cách cá nhân như tình cảm, đạo đức, học vấn, kinh nghiệm sống và những đặc điểm tâm-sinh lí cá nhân.v.v

Vậy ý niệm là “cái chứa đựng” sự hiểu biết của con người về thế giới được hình thành trong ý thức trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ Trong ý niệm

có cái phổ quát (khái niệm) và cái đặc thù (văn hoá được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau)

Trong nhận thức luận, các nhà tri nhận cho rằng một ý niệm thường được cấu thành bởi hai yếu tố cốt lõi: hình bóng ý niệm (concept profile) và hình nền ý niệm (concept base, concept frame hay lĩnh vực, khung) Hình bóng ý niệm chính là ý niệm được biểu đạt trực tiếp thông qua từ ngữ mà chúng ta sử dụng Ngược lại, hình nền ý niệm là cấu trúc tri thức nền tảng, một mạng lưới các hiểu biết và kinh nghiệm mà ý niệm hình bóng mặc định dựa vào để có nghĩa Nói cách khác, hình bóng ý niệm không thể tồn tại và mang ý nghĩa độc lập nếu thiếu đi sự hỗ trợ của hình nền ý niệm: “Do vậy, ý nghĩa của đơn vị ngôn ngữ phải được xác định có tính đến cả ý niệm hình bóng lẫn hình nền, hay nói cách khác – cả “ý niệm” lẫn “khung/ lĩnh vực” Một ý niệm như TAY không thể xác

Trang 24

định được nếu thiếu vắng lĩnh vực THÂN THỂ; cũng không thể xác định được một ý niệm như CON (trai, gái) mà bỏ qua khung BỐ MẸ Và một ý niệm như WEEKEND không thể hiểu được nếu không có những tri thức nền về dương lịch (chia ra 7 ngày đêm)

và những quy ước văn hóa (chia ra ngày làm việc và ngày nghỉ) ” [7, Tr.21-22]

Ta thấy rằng: Ý niệm ĐỌC SÁCH không thể hiểu đầy đủ nếu thiếu khung HỌC TẬP hoặc GIẢI TRÍ Các hành động, mục đích và ý nghĩa liên quan đến “đọc sách” sẽ khác nhau tùy thuộc vào việc nó được đặt trong khung nào; Ý niệm CHIẾN THẮNG chỉ có ý nghĩa trong khung THI ĐẤU hoặc XUNG ĐỘT Nếu không có bối cảnh của sự cạnh tranh hoặc đối đầu, ý niệm này sẽ trở nên vô nghĩa; Ý niệm BỆNH VIỆN kích hoạt một khung tri thức phức tạp bao gồm các ý niệm liên quan như BÁC SĨ, Y TÁ, BỆNH NHÂN, THUỐC MEN, CHỮA TRỊ, ĐAU ỐM, Tất cả những yếu tố này tạo nên hình nền để chúng ta hiểu về BỆNH VIỆN Điều này cho thấy không có ý niệm nào tồn tại một cách biệt lập; tất cả đều được lĩnh hội và hiểu thông qua sự tương tác với vốn hiểu biết, tri thức và kinh nghiệm đa dạng của con người về thế giới

Mỗi đơn vị ngôn ngữ đều gợi ra một khung ngữ nghĩa nhất định, định hướng cách chúng ta tri nhận và cấu trúc hóa kinh nghiệm Ví dụ:

(1) Anh ta mở cửa

(2) Cánh cửa được anh ta mở

Ở hai ví dụ trên Về mặt ý nghĩa bề mặt: Cả hai câu đều mô tả một hành động mà kết quả là cửa ở trạng thái mở và người thực hiện hành động là “anh ta” Tuy nhiên, về

sự ý niệm hóa kinh nghiệm và khung quy chiếu Câu (1): “Anh ta mở cửa.” tập trung vào người thực hiện hành động “anh ta” và vai trò chủ động của anh ta trong việc gây

ra sự thay đổi trạng thái của cánh cửa Chúng ta được dẫn dắt để chú ý đến người làm Câu (2): “Cánh cửa được anh ta mở.” tập trung vào đối tượng chịu tác động “cánh cửa”

và sự thay đổi trạng thái của nó Người thực hiện hành động “anh ta” được đưa ra ở vị trí thứ yếu hơn (thường là bổ ngữ) Chúng ta được dẫn dắt để chú ý đến vật bị tác động Như vậy, cả hai câu đều mô tả cùng một sự kiện thực tế: một người đàn ông tác động lên cánh cửa khiến nó mở ra Sự khác biệt nằm ở cách người nói/viết khung hóa (frame)

và ý niệm hóa (conceptualize) sự kiện đó Câu (1) đặt người thực hiện hành động làm trung tâm, trong khi câu (2) đặt đối tượng chịu tác động làm trung tâm Sự lựa chọn này

có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như mục đích giao tiếp, thông tin nào được xem là mới hoặc quan trọng hơn trong ngữ cảnh cụ thể

Trang 25

Tương tự, trong thơ ca, sự ý niệm hóa thường được neo đậu trong những phạm trù

cụ thể Trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc, câu thơ: “Gió theo lối gió, mây

đường mây” không chỉ đơn thuần miêu tả hiện tượng tự nhiên mà còn ý niệm hóa sự chia cắt, sự xa cách “Lối gió”, “đường mây” là những con đường riêng biệt, không giao nhau, gợi hình ảnh về những điều không thể hòa hợp, không thể đến được với nhau Trong bối cảnh toàn bài thơ, câu thơ này được hiểu là sự thể hiện nỗi buồn, sự cô đơn

và cảm giác xa xôi, không thể chạm tới người mình thương nhớ Như vậy, khung ý niệm

ở đây còn bao hàm cả khung tình cảm, sự cách trở trong tình yêu

Theo quan điểm của Lakoff và Johnson, ẩn dụ đóng vai trò trung tâm trong quá trình ý niệm hóa ngôn ngữ Họ cho rằng, các khái niệm trừu tượng không thể được hiểu một cách đầy đủ nếu thiếu vắng các cấu trúc ẩn dụ Ví dụ, ý niệm về “tình yêu” chỉ có thể được lĩnh hội trọn vẹn thông qua hàng loạt các ẩn dụ khác nhau, chẳng hạn như “tình yêu là sự rung cảm”, “tình yêu là sự điên cuồng”, “tình yêu là sự kết hợp”, “tình yêu là

sự chăm sóc” hay “tình yêu là sự sẻ chia” Như vậy, mỗi phát ngôn ngôn ngữ đều hàm chứa một quá trình ý niệm hóa, được hình thành dựa trên những kinh nghiệm tri nhận của con người Tuy nhiên, hệ thống ý niệm chung của con người không phải lúc nào cũng nhất quán, bởi lẽ các ẩn dụ được sử dụng để suy luận về một ý niệm cụ thể có thể mâu thuẫn lẫn nhau

1.1.2.4 Tính nghiệm thân

Trong khi ngôn ngữ học truyền thống thường xem ngôn ngữ như một công cụ để tiếp cận thế giới khách quan, ngôn ngữ học tri nhận lại đề xuất một góc nhìn khác biệt: ngôn ngữ là cánh cửa dẫn vào thế giới tinh thần và trí tuệ của con người Nó không chỉ

là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ để khám phá những bí mật ẩn sâu trong các quá trình tư duy Theo quan điểm này, cả tư duy và ngôn ngữ đều mang tính nghiệm thân

Tính nghiệm thân được hiểu là sự trải nghiệm đa dạng của con người, bao gồm trải nghiệm về thân thể, nhận thức và xã hội Chính những trải nghiệm này tạo thành nền tảng cơ bản cho hệ thống ý niệm và hệ thống ngôn ngữ của chúng ta Nhiều bằng chứng cho thấy cách tư duy theo kiểu ẩn dụ, một đặc trưng nổi bật của tư duy con người, bắt nguồn sâu sắc từ những kinh nghiệm nghiệm thân về thế giới xung quanh

Ví dụ, những thuộc tính mà chúng ta cảm nhận được thông qua các giác quan cơ thể (vị giác, khứu giác, thính giác, xúc giác, thị giác) thường được sử dụng như miền

Trang 26

nguồn để biểu đạt những thuộc tính thuộc về các miền đích trừu tượng khác Điều này giải thích sự xuất hiện của những biểu đạt ngôn ngữ quen thuộc như “nỗi buồn tê tái (xúc giác -> cảm xúc tiêu cực), “lời nói cay đắng” (vị giác -> cảm xúc tiêu cực) hay cử chỉ ngọt ngào (vị giác -> cảm xúc tích cực), bữa cơm ấm áp (xúc giác -> cảm xúc tích cực),…

Hơn nữa, tính tương tác đa chiều trong quá trình trải nghiệm của con người, bao gồm các khía cạnh sinh học, xã hội, văn hóa, kinh tế, đạo đức, chính trị, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành kinh nghiệm nghiệm thân Rất nhiều kinh nghiệm nghiệm thân của con người bắt rễ sâu trong bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể và chịu sự chi phối của những quy ước văn hóa nhất định Do đó, khi nghiên cứu về kinh nghiệm nghiệm thân, việc xem xét các mối tương tác phức tạp này là vô cùng cần thiết để có được sự nhận định toàn diện

1.1.2.5 Lược đồ hình ảnh

Trong ngôn ngữ học tri nhận, lược đồ hình ảnh được định nghĩa là những cấu trúc tri nhận hình thành từ sự lặp lại thường xuyên của các trải nghiệm cơ thể Chúng là những mô thức tổ chức kinh nghiệm, xuất hiện định kỳ trong hoạt động trải nghiệm của con người, đóng vai trò như khung sườn để chúng ta hiểu và tương tác với thế giới Quá trình hình thành các lược đồ hình ảnh bắt nguồn từ những tương quan kinh nghiệm trực tiếp của con người, phản ánh mối liên hệ giữa cảm giác cơ thể và nhận thức

Bản chất của lược đồ hình ảnh vừa mang tính cụ thể (bắt nguồn từ nghiệm thân), vừa mang tính trừu tượng (là cấu trúc trong nhận thức) Điều này phù hợp với quá trình tri nhận, vốn diễn ra theo chiều hướng từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và sau đó ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống Như vậy, những tư duy trừu tượng của chúng

ta không phải là những cấu trúc độc lập mà được xây dựng dựa trên nền tảng của các biểu tượng tinh thần, vốn được kiến tạo từ chính những trải nghiệm

Theo đó, lược đồ hình ảnh không chỉ là những trải nghiệm tự thân mà còn được

mở rộng thông qua ẩn dụ Mối liên hệ mật thiết giữa lược đồ hình ảnh và quá trình nhận thức đã được Johnson (1987) làm nổi bật qua bốn đặc điểm chính [5, Tr.80]:

(1) Lược đồ hình ảnh được cấu trúc hóa và trở thành tiền nghiệm thông qua trải nghiệm cơ thể của chúng ta

(2) Các khái niệm lược đồ hình ảnh tương ứng tồn tại một cách thực tế trong nhận thức

Trang 27

(3) Ẩn dụ là quá trình chiếu xạ các lược đồ hình ảnh từ các miền kinh nghiệm cụ thể sang các miền trừu tượng, dựa trên những logic cơ bản vốn có trong các lược đồ này (4) Ẩn dụ không mang tính quy ước tùy tiện mà được kích hoạt bởi những cấu trúc sẵn có trong trải nghiệm thân thể hàng ngày của con người

Trong bối cảnh nghiên cứu ẩn dụ tri nhận, lược đồ hình ảnh đóng vai trò then chốt trong việc lý giải cơ sở của tư duy con người Quan trọng hơn, nó là một nhân tố chủ đạo để hiểu và giải thích các ý niệm ẩn dụ Đặc biệt, đối với ngôn ngữ, vốn mang tính hình ảnh và giàu biểu cảm, việc xác định các lược đồ hình ảnh hoặc lược đồ chiếu xạ là một phương pháp hiệu quả để phân biệt với các ẩn dụ truyền thống, từ đó có được sự phân tích sâu sắc và chính xác hơn

1.1.2.6 Cấu trúc miền nguồn - miền đích của ẩn dụ tri nhận

Cơ chế của ẩn dụ, từ góc độ tri nhận, là một quá trình ánh xạ liên miền, trong đó một miền kinh nghiệm cụ thể (miền nguồn) được sử dụng để cấu trúc và hiểu một miền khái niệm trừu tượng hơn (miền đích) Sự ánh xạ này không chỉ đơn thuần là sự tương ứng giữa các yếu tố mà còn bao hàm việc chuyển giao cấu trúc tri nhận từ miền nguồn sang miền đích, cho phép chúng ta suy luận về miền đích thông qua lăng kính của miền nguồn Thực tế cho thấy, các miền nguồn thường cụ thể, gắn liền với những trải nghiệm trực quan, vật chất, trong khi miền đích thường thuộc về các phạm trù trừu tượng Do

đó, ẩn dụ đóng vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa và làm rõ các khái niệm trừu tượng thông qua những kinh nghiệm nền tảng của con người

Trong ẩn dụ tri nhận, tồn tại tiền giả định về hai miền trong ý thức con người: miền nguồn (source domain) và miền đích (target domain) Miền nguồn, với các thuộc tính

cụ thể của nó, được ánh xạ (mapped) hay phóng chiếu (projected) lên miền đích, một khái niệm trừu tượng hơn Quá trình này giúp cụ thể hóa (concretize) và làm cho miền đích trở nên dễ hiểu hơn thông qua các quá trình ý niệm hóa (conceptualization) Như vậy, miền nguồn đóng vai trò là một cấu trúc cụ thể để làm sáng tỏ bản chất trừu tượng của miền đích

Ví dụ, với ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, miền nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH và miền đích là TÌNH YÊU Một số thuộc tính được chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích như sau:

TÌNH YÊU Được hiểu như là CUỘC

HÀNH TRÌNH

Trang 28

Ý niệm chuẩn CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC

Bảng 1.1 Cơ chế chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận

Từ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH và ta có thể thấy rằng miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH có những thuộc tính ánh xạ lên miền đích CUỘC ĐỜI

như sau:

Miền nguồn

CUỘC HÀNH TRÌNH

Miền đích TÌNH YÊU

Điểm xuất phát

Giai đoạn bắt đầu mối quan hệ (gặp gỡ, làm quen)

Người đi cùng

Đối tượng yêu đương, người yêu

Phương tiện di chuyển

Cách thức tương tác, giao tiếp, thể hiện tình cảm

Trang 29

Đích đến Mục tiêu chung của mối quan hệ (hôn nhân, sống

chung hạnh phúc ) hoặc sự kết thúc của mối quan hệ Hành trang mang theo Những kinh nghiệm, kỳ vọng, niềm tin mà mỗi người

mang đến mối quan hệ Bản đồ Những nguyên tắc, giá trị, quan điểm chung trong tình

yêu

Bảng 1.2 Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH

Ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT HÀNH TRÌNH giúp chúng ta hình dung và diễn

đạt những khía cạnh phức tạp, trừu tượng của tình yêu một cách cụ thể và dễ hiểu hơn Chúng ta thường xuyên sử dụng các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ này trong cuộc sống hàng ngày, ví dụ như: “Chúng ta đã đi được một quãng đường dài rồi”, “Mối quan hệ của họ đang gặp nhiều trắc trở”, “Chúng ta cần xác định rõ đích đến của mối quan hệ này”,

“Anh muốn cùng em đi đến cuối con đường”, “Có em và anh nên dừng lại tại đây”,

“Cảm ơn anh đã đồng hành cùng em trong khoảng thời gian qua”, “Cảm ơn em vì đã đến bên và yêu anh”,…

1.1.2.7 Phân loại ẩn dụ tri nhận

Trong Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ), Trần Văn Cơ chia ẩn dụ tri

nhận làm ba loại: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng

- Ẩn dụ cấu trúc

“Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor) là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một

từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ (hoặc một biểu thức khác) Kiểu ẩn dụ này thường được sử dụng kết quả của quá trình biểu trưng hóa (vật thể và ngôn ngữ) của sự liên tưởng.” [1, Tr.295]

Ví dụ: Ở biểu thức ẩn dụ: “Tình yêu là căn bệnh” – ý niệm tình yêu chính là cảm xúc của nhiều người đã, đang và sẽ trải qua Khi ta coi tình yêu là căn bệnh tức là có

“đau đớn”, “khó chịu”, “mệt mỏi”, “suy nhược”,… từ đó ta nói “đau đớn vì tình”, “trái tim rỉ máu”, “tình yêu làm tôi phát sốt” hay thậm chí là “chết vì yêu” Những cách diễn đạt này không chỉ đơn thuần là tô điểm cho lời nói mà còn phản ánh một cách sâu sắc cách con người nhận thức và trải nghiệm tình yêu thông qua lăng kính của một “căn bệnh” Ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CĂN BỆNH đã ánh xạ những đặc điểm, triệu chứng và

Trang 30

hậu quả thường thấy của bệnh tật sang phạm trù tình cảm, tạo nên một khung khái niệm

cụ thể và dễ hình dung hơn cho một cảm xúc vốn trừu tượng và phức tạp

Ta có thể lấy những ẩn dụ tri nhận trong thơ tình yêu của Nguyễn Bính để làm sáng tỏ điều này thông qua ẩn dụ cấu trúc “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”:

“Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” Tình yêu

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,

Một người chín nhớ mười mong một người

Tình yêu là sự dày vò, khắc khoải trong tâm trí

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng

Tình yêu là trạng thái khổ sở, khó chịu

Hai thôn chung lại một làng,

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

Ngày qua ngày lại qua ngày,

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

Sự bất lực trong tình yêu

Sự hao mòn, khắc khoải trong tình yêu

Bảo rằng cách trở đò giang,

Không sang là chẳng đường sang đã đành

Nhưng đây cách một đầu đình,

Có xa xôi mấy mà tình xa xôi

Sự hờ hững trong tình yêu

Tương tư thức mấy đêm rồi,

Biết cho ai, hỏi ai người biết cho!

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?

Tình yêu là sự trằn trọc, bế tắc Lời than thở, mong muốn tìm một giải pháp cho tình yêu

Nguyễn Bính đã ý niệm hoá tình yêu thành một căn bệnh Ở đó, người đang yêu là một “bệnh nhân” đang mắc phải “bệnh tương tư” vô cùng khổ sở, khó chịu và có những

“triệu chứng” như: bị dày vò, hao mòn, khắc khoải, bị “người ta” hờ hững, xa lánh, trằn trọc, bế tắc, than thở, muốn tìm ra giải pháp để hoá giải “căn bệnh tình yêu” này Cấu trúc nghĩa biểu trưng của “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” được chuyển sang cấu trúc nghĩa của “tình yêu” Như vậy “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” chính là ẩn dụ cấu trúc

- Ẩn dụ bản thể

Theo Trần Văn Cơ, ẩn dụ bản thể (ontological) thực chất là quá trình “phạm trù hóa các khái niệm trừu tượng thông qua việc gán cho chúng những ranh giới cụ thể trong không gian” [1, Tr.312] Điều này có nghĩa là, để dễ dàng nhận thức và suy luận về

Trang 31

những điều vốn dĩ vô hình và khó nắm bắt, chúng ta hình dung chúng như những thực thể có thể xác định được trong không gian

Lakoff và Johnson (1980) cũng nhấn mạnh rằng, việc hiểu các trải nghiệm của con người theo mô hình vật thể và chất liệu cho phép chúng ta tách biệt các khía cạnh khác nhau của trải nghiệm và xử lý chúng như những đơn vị riêng lẻ, có tính thống nhất Ngay

cả khi một sự vật hay khái niệm không có hình dạng và ranh giới rõ ràng, ẩn dụ bản thể vẫn giúp chúng ta phân loại và nắm bắt chúng một cách hiệu quả

Ví dụ, ẩn dụ THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC Ẩn dụ này thể hiện qua nhiều biểu

thức ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày, chẳng hạn như:

“Tôi không có đủ thì giờ để đi bộ mỗi ngày.” (Thời gian được xem như một loại

tài sản có thể sở hữu hoặc thiếu hụt)

“Đừng lãng phí thời gian cho những việc vô bổ.” (Thời gian được xem như một

thứ có giá trị và có thể bị tiêu tốn một cách vô ích)

“Anh ta đầu tư thời gian cho việc rèn luyện thể thao.” (Thời gian được xem như

một món đầu tư có thể sinh lời)

“Em nên biết cách quản lí và phân bổ quỹ thời gian một ngày cho phù hợp.” (Thời

gian được cho là quý giá và nên có chủ đích sử dụng phù hợp)

“Thời gian là vàng bạc.” (Trực tiếp so sánh thời gian với vàng bạc - tài sản có giá

trị cao)

Trong các ẩn dụ này, miền nguồn TIỀN BẠC là một khái niệm cụ thể, hữu hình,

có thể sờ nắm và đo lường được Các thuộc tính cụ thể của tiền bạc (số lượng, giá trị, khả năng trao đổi, tích lũy, tiêu dùng ) được ánh xạ lên miền đích THỜI GIAN, một khái niệm trừu tượng, vô hình và khó nắm bắt Nhờ sự ánh xạ này, chúng ta có thể hình dung, suy nghĩ và diễn đạt về thời gian một cách cụ thể và dễ hiểu hơn thông qua các kinh nghiệm quen thuộc liên quan đến tiền bạc

Phạm vi ứng dụng của ẩn dụ bản thể trong việc kiến tạo ý nghĩa là vô cùng rộng lớn Khả năng tri nhận các trải nghiệm trừu tượng thông qua việc ánh xạ chúng lên các đối tượng vật chất và chất liệu cụ thể cho phép con người chủ động lựa chọn một số khía cạnh nhất định của trải nghiệm để tập trung vào Quá trình lựa chọn này tạo tiền đề cho các hoạt động nhận thức như “tham khảo, phân loại, sắp xếp và bằng cách này, ta có thể tranh luận về những vật thể hoặc chất liệu đó” [4, Tr.28] Nhờ vậy, ẩn dụ bản thể đảm nhiệm nhiều chức năng nhận thức khác nhau, và sự đa dạng của các loại ẩn dụ bản thể

Trang 32

phản ánh sự đa dạng trong mục đích sử dụng, bao gồm: định danh, định lượng, làm nổi bật các khía cạnh, xác lập mục tiêu và thúc đẩy hành động, truy tìm nguyên nhân,…Ví dụ:

Để định danh:

- Sự im lặng của anh ấy là một bức tường ngăn cách mọi người

- Thời gian là vàng bạc, cần phải trân trọng từng phút giây

- Tri thức là sức mạnh, giúp con người chinh phục thế giới

Để định lượng:

- Có rất ít cơ hội để chúng ta gặp lại nhau trong tương lai gần

- Anh ấy đã dành phần lớn thời gian rảnh rỗi để đọc sách

- Chúng ta cần thêm một chút hài hước để cuộc nói chuyện thân mật hơn

Để nhận diện các khía cạnh:

- Các học sinh gặp khó khăn trong việc bắt kịp tốc độ phát triển chóng mặt của AI

- Sự trìu mến ân cần của cô giáo đã làm tan chảy trái tim con trẻ

- Sự xuất hiện của anh ta đã đem đến luồng gió mới cho cuộc họp

- Ánh mắt của cô ấy chất chứa nỗi buồn sâu thẳm

Để xác định mục tiêu và thúc đẩy hành động:

- Tôi quyết tâm học một ngôn ngữ mới để mở rộng cơ hội nghề nghiệp

- Anh ấy đang leo lên những nấc thang danh vọng để khẳng định bản thân

- Hãy gieo những hạt giống của lòng tốt để thu hoạch một mùa bội thu của sự yêu

thương

Để tìm hiểu nguyên nhân:

- Khủng hoảng và lạm phát đã cuốn trôi bao nhiêu công ty nhỏ

- Sự thờ ơ của cộng đồng đã tạo ra một mảnh đất màu mỡ cho tệ nạn xã hội phát

triển

- Ngọn lửa đam mê đã thôi thúc anh ấy không ngừng sáng tạo

Như vậy, ẩn dụ bản thể là một cơ chế nhận thức sâu sắc, cho phép con người “vật chất hóa” những khái niệm vô hình, tạo ra những ranh giới nhận thức để chúng ta có thể suy luận, lập luận và tương tác với chúng một cách cụ thể hơn Việc phạm trù hóa các bản thể trừu tượng thông qua ẩn dụ bản thể giúp chúng ta có một khung tham chiếu quen thuộc, dựa trên kinh nghiệm về thế giới vật lý, để nắm bắt và diễn đạt những khía cạnh phức tạp của đời sống tinh thần và cảm xúc

Trang 33

- Ẩn dụ định hướng:

Theo Trần Văn Cơ, ẩn dụ định hướng (orientational) “đóng vai trò cấu trúc hóa một số miền ý niệm, tạo nên một hệ thống ý niệm hóa chung cho chúng Đặc trưng của loại ẩn dụ này là việc dựa trên các định hướng không gian cơ bản, thể hiện qua các cặp đối lập như “lên – xuống”, “vào – ra”, “sâu – cạn”, “trung tâm – ngoại vi”, “ [1, Tr.319] Lakoff và Johnson cho rằng ẩn dụ định hướng phản ánh sự tương hợp giữa các giá trị nền tảng của một nền văn hóa với mô hình ẩn dụ của những ý niệm cốt lõi trong văn hóa đó [4, Tr.24] Các tác giả cũng lưu ý rằng, mặc dù các hướng cơ bản như lên – xuống, trong – ngoài, tâm – biên, chủ động – thụ động dường như mang tính phổ quát, song sự đánh giá và gán định hướng cho các ý niệm, cũng như tầm quan trọng của từng hướng, lại có sự khác biệt giữa các nền văn hóa [4, Tr.27]

Ví dụ, chúng ta có các ẩn dụ định hướng sau:

Ví dụ tiếng Việt Ví dụ tiếng Anh Cơ sở vật lý

/văn hoá/xã hội

Ẩn dụ định hướng Giá cả đang leo

Điều này gợi cảm giác về sự khó khăn, áp lực ngày càng tăng

Định hướng lên/ up

Sự nghiệp của anh

ấy đang xuống dốc

His career is going downhill

Sự suy giảm của sự nghiệp được hình dung như việc di chuyển xuống một con dốc, gợi cảm giác về sự mất kiểm soát, trượt dài và khó khăn trong việc phục hồi

Định hướng xuống/ down

Tinh thần đồng đội

lên cao

Team spirit is high Trạng thái tinh thần tích cực,

hăng hái được hình dung như đang ở vị trí cao Năng lượng dồi dào và sự gắn kết của

Định hướng lên/ up

Trang 34

đồng đội thể hiện cho sự di chuyển lên

Cảm xúc của cô ấy

chùng xuống

Her spirits sank Trạng thái cảm xúc tiêu cực,

buồn bã được hình dung như đang di chuyển xuống thấp, chìm xuống Điều này gợi cảm giác về sự nặng nề, mất năng lượng và chán nản

“Sink” (chìm) còn mang ý nghĩa của sự suy sụp hoàn toàn

Định hướng xuống/down

Cô ấy ngước nhìn

Định hướng lên/ up

Định hướng xuống/down

Công việc phất lên

như diều gặp gió

The business is

taking off

Hình ảnh diều bay lên cao, gặp gió thuận lợi tượng trưng cho sự phát triển nhanh chóng, thành công

Định hướng lên/ up

Định hướng xuống/down

Trang 35

Từ những phân tích đã trình bày ở trên, có thể rút ra bản chất cốt lõi của ẩn dụ tri nhận là quá trình ngữ nghĩa hóa và cảm nhận một phạm trù hiện tượng thông qua lăng kính của một phạm trù hiện tượng khác

Chức năng chính của ẩn dụ tri nhận là mở rộng tri thức và mang lại sự thấu hiểu

về một đối tượng mới dựa trên nền tảng kiến thức về một đối tượng đã quen thuộc Thông qua năng lực tư duy, con người chủ động kiến tạo những hiểu biết mới mẻ Đáng chú ý, phần lớn các ẩn dụ nền tảng trong nhận thức của chúng ta được tổ chức một cách hệ thống thông qua một hoặc một số ẩn dụ định hướng Điều này cho thấy, ẩn dụ không phải là những đơn vị rời rạc, ngẫu nhiên mà là một mạng lưới liên kết chặt chẽ

Cần nhấn mạnh rằng, vai trò của ẩn dụ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực văn chương – nghệ thuật mà còn thấm nhuần vào các ngành khoa học và đời sống thường nhật Như Lakoff và Johnson đã chỉ ra, “chúng ta sống bằng ẩn dụ”

Cuối cùng, ẩn dụ mang đậm dấu ấn đặc trưng văn hóa của cộng đồng, vùng miền hay quốc gia Những kinh nghiệm vật lý, văn hóa và xã hội đóng vai trò là nền tảng quan trọng, cung cấp cơ sở cho việc hình thành các ẩn dụ định hướng Qua đó, có thể thấy ẩn

dụ tri nhận phản ánh nhận thức và tư duy của một quốc gia, dân tộc

1.2 Nguyễn Quang Thiều và hành trình thơ ca

1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp

Nguyễn Quang Thiều sinh năm 1957 – một nhà thơ tiêu biểu và ấn tượng của nền thơ ca Việt Nam hiện đại Không chỉ khẳng định vị thế và tạo dựng dấu ấn sâu đậm trong lĩnh vực thi ca, ông còn là một nhà văn đa năng, thể hiện sự phong phú trong ngòi bút qua các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, đồng thời có những đóng góp đáng

kể cho lĩnh vực báo chí Việt Nam Với những cống hiến không ngừng nghỉ cho văn học nước nhà, Nguyễn Quang Thiều hiện đang giữ trọng trách là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam; Phó Tổng thư ký thứ nhất Hội Nhà văn Á – Phi, Giám đốc – Tổng Biên tập nhà xuất bản Hội nhà văn, cho thấy tầm ảnh hưởng và sự ghi nhận của cộng đồng văn chương trong nước và quốc tế đối với sự nghiệp của ông

Cho đến nay, gia tài văn chương đồ sộ của Nguyễn Quang Thiều đã bao gồm 7 tập thơ, 15 tập văn xuôi đa dạng về thể loại và 3 tập sách dịch, minh chứng cho sức sáng tạo

bền bỉ và khả năng biểu đạt phong phú của ngòi bút ông Đặc biệt, tiểu thuyết Kẻ ám sát

cánh đồng của ông đã được Hãng phim truyền hình Việt Nam chuyển thể thành bộ phim

Trang 36

truyền hình dài tập Chuyện làng Nhô – một tác phẩm gây được tiếng vang lớn và quen

thuộc với khán giả truyền hình Việt Nam vào những năm 1998, cho thấy sức sống và khả năng lan tỏa mạnh mẽ của tác phẩm văn học Nguyễn Quang Thiều trong đời sống

xã hội

Ngoài những thành tựu văn chương nổi bật, Nguyễn Quang Thiều còn được biết đến là một trong những người có công sáng lập nên hai tờ báo có uy tín trong làng báo

chí Việt Nam, đó là tờ An Ninh Thế giới cuối tháng và Cảnh Sát Toàn Cầu cùng với nhà

văn, trung tướng công an Hữu Ước Sự tham gia vào lĩnh vực báo chí không chỉ thể hiện

sự nhạy bén với thời cuộc mà còn cho thấy khả năng quản lý và định hướng thông tin của ông Bên cạnh đó, Nguyễn Quang Thiều còn đảm nhiệm vai trò chủ biên của nhiều

tờ báo khác có tiếng tăm trong hệ thống truyền thông đại chúng ở Việt Nam, khẳng định

vị trí và tầm ảnh hưởng của ông trong cả văn giới và giới truyền thông

Từ những năm 1990, thơ Việt Nam đương đại chứng kiến một giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ về mặt thi pháp, thoát khỏi những khuôn mẫu truyền thống và hướng đến những hình thức biểu đạt mới mẻ, mang đậm dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ Trong bối cảnh đó, Nguyễn Quang Thiều nổi lên như một nhà thơ tiên phong, bằng những nỗ lực vượt bậc và tài năng xuất sắc của mình, đã xác lập một giọng điệu mới, một phong cách thơ độc đáo, có sức ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của thơ ca Việt Nam đương đại Thơ của Nguyễn Quang Thiều không chỉ đổi mới về mặt ngôn ngữ, hình ảnh mà còn mang đến những cảm xúc, những suy tư mới mẻ về con người và cuộc sống, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa diện mạo của thơ Việt

Nguyễn Quang Thiều không chỉ được biết đến như một nhà thơ tiên phong với những cách tân trong trào lưu hiện đại mà còn là một cây bút văn xuôi giàu cảm xúc và đậm chất trữ tình Trong con người ông, dường như có sự hòa quyện độc đáo giữa một tâm hồn bay bổng, lãng mạn, luôn trăn trở và ưu tư với những rung động của thi ca, và một nhà báo linh hoạt, nhạy bén với những vấn đề thời sự, có khả năng nắm bắt và phản ánh hiện thực một cách sắc sảo Sự kết hợp này tạo nên một phong cách nghệ thuật độc đáo, vừa sâu lắng, trữ tình, vừa mạnh mẽ, quyết liệt, thể hiện qua cả thơ và văn xuôi của ông

Với những đóng góp không ngừng nghỉ cho nền văn học Việt Nam, Nguyễn Quang Thiều đã vinh dự nhận được nhiều giải thưởng văn học uy tín trong nước và quốc tế

Tiêu biểu trong số đó là giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1993 cho tập thơ Sự

Trang 37

mất ngủ của lửa – một tác phẩm được đánh giá cao về giá trị nghệ thuật và sức lan tỏa

trong đời sống văn học Bên cạnh giải thưởng danh giá này, Nguyễn Quang Thiều còn được trao tặng hơn 20 giải thưởng văn học khác, cả trong nước và quốc tế, như một sự ghi nhận xứng đáng cho tài năng và những cống hiến to lớn của ông cho văn chương Những giải thưởng này không chỉ là niềm tự hào cá nhân mà còn là minh chứng cho vị thế và tầm ảnh hưởng của Nguyễn Quang Thiều trong nền văn học Việt Nam đương đại

1.2.2 Phong cách sáng tác

Phong cách thơ của Nguyễn Quang Thiều mang đậm dấu ấn của một tâm hồn nhạy cảm, gắn bó sâu sắc với quê hương và những giá trị văn hóa truyền thống Thơ ông thường khai thác những hình ảnh, biểu tượng giản dị và thân thuộc với đời sống của con người Việt Nam như cánh đồng, dòng sông, con trâu, cây lúa…nhưng qua lăng kính tri nhận độc đáo, những hình ảnh này trở nên độc đáo và mang đến những giá trị nhân văn riêng biệt

Một đặc điểm nổi bật trong thơ Nguyễn Quang Thiều là việc sử dụng ẩn dụ tri nhận một cách sáng tạo và hiệu quả Ông không chỉ dừng lại ở những ẩn dụ thông thường

mà còn kiến tạo những cấu trúc ẩn dụ mới lạ, bất ngờ, giúp người đọc khám phá những khía cạnh tiềm ẩn của sự vật, hiện tượng và cảm xúc Chẳng hạn, ông có thể ví thời gian như một dòng sông chảy xiết, nỗi buồn như một cơn mưa rào, hay tình yêu như một ngọn lửa âm ỉ Những ẩn dụ này không chỉ làm cho câu thơ trở nên sinh động, giàu hình ảnh mà còn thể hiện cách nhà thơ cảm nhận và tư duy về thế giới xung quanh Chẳng

hạn như trong bài thơ quen thuộc Tiếng Vọng, Nguyễn Quang Thiều sử dụng những hình

ảnh rất đỗi gần gũi nhưng mang đến những thông điệp mạnh mẽ tác động đến lương tâm

và lòng trắc ẩn của con người:

“Con chim sẻ nhỏ chết rồi Chết trong đêm cơn bão về gần sáng Đêm ấy tôi nằm trong chăn nghe cánh chim đập cửa

Sự ấm áp gối chăn đã giữ chặt tôi

Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi”

(Tiếng vọng) Nguyễn Quang Thiều không gò ép các hình ảnh vào khuôn khổ ẩn dụ mà để chúng nảy sinh một cách tự nhiên từ cảm xúc và trải nghiệm cá nhân Trong đoạn thơ này, hình ảnh con chim sẻ, cơn bão, cánh chim đập cửa, sự ấm áp gối chăn đều mang những tầng

Trang 38

nghĩa ẩn dụ sâu sắc, gợi mở những suy tư về sự sống và cái chết; sự vô tình, thờ ơ, lãnh cảm, bàng quan với trách nhiệm, sự quan tâm; sự an toàn và hiểm nguy Các chi tiết trong đoạn thơ không chỉ tả thực mà còn mang tính biểu trưng cáo Con chim sẻ không chỉ là một loài vật nhỏ bé mà còn tượng trưng cho sự mong manh của sinh mệnh Cơn bão không chỉ là hiện tượng tự nhiên mà còn biểu thị cho những biến cố, những thử thách khắc nghiệt của cuộc đời Đoạn thơ có giọng điệu trữ tình nhẹ nhàng nhưng ẩn chứa nhiều chiêm nghiệm về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, giữa cá nhân

và cộng đồng Sự đối lập giữa sự an toàn của “tôi” và sự mất mát của con chim sẻ gợi lên những trăn trở về sự vô cảm và trách nhiệm của con người

Thơ Nguyễn Quang Thiều còn nổi bật với giọng điệu trữ tình, giàu cảm xúc, mang nhiều suy tư, triết lý về cuộc đời và con người Ngôn ngữ thơ của ông thường giản dị, mộc mạc nhưng vẫn giàu sức biểu cảm và gợi liên tưởng Ông không gò bó mình trong những khuôn mẫu truyền thống mà luôn tìm tòi, đổi mới để tạo ra những câu thơ mang dấu ấn riêng

Ngoài thơ, văn xuôi của Nguyễn Quang Thiều cũng thể hiện sự quan sát tinh tế đối với đời sống và con người, đặc biệt là những phận người nhỏ bé, những góc khuất trong

xã hội Dù ở thể loại nào, ngòi bút của ông cũng thấm đẫm tình yêu thương, sự trân trọng đối với những giá trị mà người lao động tạo ra, như trong các câu thơ dưới đây:

Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái

Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy

Những người đàn bà xuống gánh nước sông

Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt

Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi

Bàn tay kia bám vào mây trắng

(Những người đàn bà gánh nước sông) Với những đặc điểm nổi bật trên, phong cách sáng tác của Nguyễn Quang Thiều

đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo của thơ ca Việt Nam đương đại và mang đến cho độc giả những trải nghiệm thẩm mỹ sâu sắc Việc nghiên cứu ẩn dụ tri nhận trong thơ ông hứa hẹn sẽ mang lại những khám phá thú vị về cách nhà thơ kiến tạo thế giới nghệ thuật độc đáo của mình

Trang 39

Đi sâu hơn vào ẩn dụ tri nhận, chương này đã làm rõ khái niệm tri nhận và mô hình tri nhận, nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm riêng mỗi cá nhân và sự tương tác với thế giới trong việc hình thành các cấu trúc nhận thức Ẩn dụ tri nhận được xem xét như một ánh xạ có hệ thống từ miền nguồn (thường là những khái niệm cụ thể, quen thuộc) sang miền đích (thường là những khái niệm trừu tượng, khó nắm bắt), giúp chúng ta hiểu và diễn đạt những điều phức tạp

Các yếu tố quan trọng khác như ý niệm, sự ý niệm hóa và cấu trúc của ý niệm, tính nghiệm thân, và lược đồ hình ảnh cũng được trình bày để làm sáng tỏ quá trình hình thành và vận hành của ẩn dụ tri nhận Đặc biệt, việc phân tích cấu trúc miền nguồn và miền đích của ẩn dụ tri nhận giúp chúng ta xác định rõ những ánh xạ cụ thể trong thơ

ca Cuối cùng, việc phân loại ẩn dụ tri nhận cung cấp một khung phân tích hữu ích để

hệ thống hóa và làm rõ các loại hình ẩn dụ khác nhau được sử dụng trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Những cơ sở lý thuyết này sẽ là nền tảng vững chắc để phân tích cụ thể các ẩn dụ tri nhận xuất hiện trong các tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều ở các chương tiếp theo,

từ đó làm sáng tỏ những đặc trưng trong tư duy nghệ thuật và thế giới quan độc đáo của nhà thơ

Với những đặc điểm nổi bật về phong cách và nội dung, thơ Nguyễn Quang Thiều rất phù hợp để chúng tôi lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu dưới góc nhìn của ẩn dụ tri nhận Sự phong phú trong hình ảnh, sự đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ và chiều sâu trong tư tưởng của ông chính là một “mảnh đất màu mỡ” để từ đó, chúng tôi có thể khám phá những cấu trúc ẩn dụ độc đáo mà ông sử dụng để thể hiện thế giới quan và những trải nghiệm cá nhân của mình Việc phân tích các ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Quang Thiều mong muốn giúp làm sáng tỏ cách Nguyễn Quang Thiều tư duy, cảm nhận

và diễn giải hiện thực thông qua ngôn ngữ thơ ca

Trang 40

Chương 2

ẨN DỤ TRI NHẬN VỀ TÌNH YÊU TRONG THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU

2.1 Xác lập ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều

Thông qua việc khảo sát 163 bài thơ của Nguyễn Quang Thiều, chúng tôi nhận thấy có sự xuất hiện của 268 biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ tri nhận về tình yêu

Bảng 2.1 Hệ thống các ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều

STT Ẩn dụ tri nhận

Số lượng biểu thức mang tính ẩn dụ Số bài xuất hiện

Ngày đăng: 19/08/2025, 11:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Cơ (2007), Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ)
Tác giả: Trần Văn Cơ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
2. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
3. Nguyễn Thiện Giáp (2016), Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển khái niệm ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
4. George Lakoff và Mark Johson, Chúng ta sống bằng ẩn dụ - Metaphors We live by (Nguyễn Thị Kiều Thu dịch) (2017), NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng ta sống bằng ẩn dụ - Metaphors We live by
Tác giả: George Lakoff, Mark Johnson
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2017
5. Phạm Thị Hương Quỳnh (2017), Ẩn dụ ý niệm trong thơ Xuân Quỳnh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm trong thơ Xuân Quỳnh
Tác giả: Phạm Thị Hương Quỳnh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2017
6. Lý Toàn Thắng (2004), Ngôn ngữ học tri nhận, từ lý thuyết đến thực tiễn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận, từ lý thuyết đến thực tiễn
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
7. Lý Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt (tái bản, có chỉnh sửa, bổ sung, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận: Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2009
8. Lý Toàn Thắng (2012), Một số vấn đề lí luận ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lí luận ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2012
9. Nguyễn Văn Tu (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Tu
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1976
10. Xtepanov Ju.X (1977), Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương (Trần Khang, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Anh Quế dịch), NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.B. TẠP CHÍ VÀ LUẬN VĂN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Xtepanov Ju.X
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1977
12. Lê Thị Ánh Hiền (2009), “Ẩn dụ trong thi pháp dưới góc nhìn của G. Lakoff và M. Tuner”, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ trong thi pháp dưới góc nhìn của G. Lakoff và M. Tuner
Tác giả: Lê Thị Ánh Hiền
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2009
13. Phan Thế Hưng (2007), “So sánh trong ẩn dụ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, trang 1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh trong ẩn dụ
Tác giả: Phan Thế Hưng
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2007
15. Phan Thế Hưng (2010), “Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (Trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh)”, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (Trên cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh)
Tác giả: Phan Thế Hưng
Nhà XB: Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
16. Trần Thị Phương Lý (2012), “Ẩn dụ ý niệm của phạm tù thực vật trong tiếng Việt (Có liên hệ với tiếng anh)”, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm của phạm tù thực vật trong tiếng Việt (Có liên hệ với tiếng anh)
Tác giả: Trần Thị Phương Lý
Nhà XB: Học viện Khoa học xã hội
Năm: 2012
17. Nguyễn Đức Tồn (2007), “Bản chất của ẩn dụ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 10. C. BÁO INTERNET Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của ẩn dụ
Tác giả: Nguyễn Đức Tồn
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2007
18. Giang Hiền Sơn (2024), ““Sông Đáy”, khúc ca về mẹ và dòng sông”, Tạp chí Văn hoá và phát triển, Nguồn: https://vanhoavaphattrien.vn/song-day-khuc-ca-ve-me-va-dong-song-a26923.html Link
19. Cẩm Thuý (2021), “Nhà văn Nguyễn Quang Thiều: Sự đập cánh của đôi cánh tự do khác đôi chân của kẻ tuỳ tiện”, Vanvn.vn, Nguồn: https://vanvn.vn/nha-van-nguyen-quang-thieu-su-dap-canh-cua-doi-canh-tu-do-khac-doi-chan-cua-ke-tuy-tien/ Link
20. Admin (2021), “Nhà văn Nguyễn Quang Thiều”, Vanvn.vn, Nguồn: https://vanvn.vn/nha-tho-nguyen-quang-thieu/ Link
11. Nguyễn Đức Tồn, Vũ Thị Sao Chi (2013), “Về các khái niệm ẩn dụ tri nhận, ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, trang 76, 83 Khác
14. Phan Thế Hưng (2007), “Ẩn dụ ý niệm”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 7, trang 9-18 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.5  Tần suất các thuộc tính được chiếu xạ giữa miền nguồn và  miền - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng 3.5 Tần suất các thuộc tính được chiếu xạ giữa miền nguồn và miền (Trang 7)
Hình 1.1  Sơ đồ cấu trúc của ý niệm  15 - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của ý niệm 15 (Trang 8)
Hình 1.1. Sơ đồ cấu trúc của ý niệm - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Hình 1.1. Sơ đồ cấu trúc của ý niệm (Trang 23)
Bảng 1.1. Cơ chế chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng 1.1. Cơ chế chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận (Trang 28)
Bảng 1.2. Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận  TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng 1.2. Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ tri nhận TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH (Trang 29)
Hình  ảnh  diều  bay  lên  cao,  gặp gió thuận lợi tượng trưng  cho  sự  phát  triển  nhanh  chóng, thành công - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
nh ảnh diều bay lên cao, gặp gió thuận lợi tượng trưng cho sự phát triển nhanh chóng, thành công (Trang 34)
Hình ảnh bị nhấn chìm dưới  nước gợi cảm giác bị áp đảo,  mất  kiểm  soát.  Nỗi  buồn  được  ví  như  một  chất  lỏng  bao  trùm  và  nhấn  chìm  con  người - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
nh ảnh bị nhấn chìm dưới nước gợi cảm giác bị áp đảo, mất kiểm soát. Nỗi buồn được ví như một chất lỏng bao trùm và nhấn chìm con người (Trang 34)
Bảng 2.1. Hệ thống các ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng 2.1. Hệ thống các ẩn dụ tri nhận về tình yêu trong thơ Nguyễn Quang Thiều (Trang 40)
Bảng khảo sát cho thấy, khi tình yêu được tri nhận như một cuộc hành trình thì chủ  thể tham gia hành trình chính là người tham gia, người đồng hành hoặc người có mối  liên hệ đến “chuyến đi tình cảm” đó - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng kh ảo sát cho thấy, khi tình yêu được tri nhận như một cuộc hành trình thì chủ thể tham gia hành trình chính là người tham gia, người đồng hành hoặc người có mối liên hệ đến “chuyến đi tình cảm” đó (Trang 48)
Bảng 2.4. Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng 2.4. Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận (Trang 51)
Bảng 2.8. Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng 2.8. Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận (Trang 60)
Bảng 3.1. Hệ thống các ẩn dụ tri nhận về cuộc đời trong thơ Nguyễn Quang Thiều - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng 3.1. Hệ thống các ẩn dụ tri nhận về cuộc đời trong thơ Nguyễn Quang Thiều (Trang 63)
Bảng 3.2. Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng 3.2. Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận (Trang 67)
Bảng 3.4. Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận - Ẩn dụ tri nhận về tình yêu và cuộc Đời trong thơ nguyễn quang thiều
Bảng 3.4. Lược đồ chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích của ẩn dụ tri nhận (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w