MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1. VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP BIẾN VĂN HOÁ TRUNG QUỐC TRÊN PHƯƠNG DIỆN QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 1.1. Khái quát các chặng đường văn học trung đại Việt Nam 1.2. Quá trình tiếp biến văn hoá Trung Quốc 1.3. Các quan niệm nghệ thuật về con người CHƯƠNG 2. CÁC KIỂU QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG THƯỢNG - TRUNG KÌ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI (X – XVII) 2.1. Con người vũ trụ 2.2. Con người đạo đức CHƯƠNG 3. CÁC KIỂU QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG HẠ KÌ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI (THẾ KỈ XVIII – XIX) 3.1. Con người cá nhân 3.2. Con người
Trang 1MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VÀ QUÁ TRÌNH TIẾP BIẾN VĂN HOÁ TRUNG QUỐC TRÊN PHƯƠNG DIỆN QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
1.1 Khái quát các chặng đường văn học trung đại Việt Nam
1.2 Quá trình tiếp biến văn hoá Trung Quốc
1.3 Các quan niệm nghệ thuật về con người
CHƯƠNG 2 CÁC KIỂU QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG THƯỢNG - TRUNG KÌ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI (X – XVII) 2.1 Con người vũ trụ
2.2 Con người đạo đức
CHƯƠNG 3 CÁC KIỂU QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG HẠ KÌ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI (THẾ KỈ XVIII – XIX)
3.1 Con người cá nhân
3.2 Con người
Trang 2QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
Mở đầu
Hẳn ai cũng biết đến câu ca dao:
“Bây giờ Mận mới hỏi Đào Vườn Hồng có lối ai vào hay chưa?
Hay là thuộc nằm lòng câu thơ Nguyễn Bính:
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
Và khi ngâm nga những câu thơ trên đều hiểu Mận, Đào, thôn Đoài thôn Đông
ở đây không chỉ đơn giản là thiên nhiên, hoa cỏ, một địa danh trên câu chữ mà tất cả là những ẩn ý, những tình cảm da diết trong tình yêu đôi lứa Phải chăng dù viết về Mận hay Đào, về tàng cây hay ngọn cỏ, dù viết về một đám mây cô lãng trên bầu trời chiều,
dù là làn hơi thoảng qua trong gió nhẹ thì tất cả đều là gửi gắm một nỗi niềm, một tâm thế, một quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Từ tất cả những ví dụ trên chúng ta có thể rút ra kết luận rằng con người luôn là TRUNG TÂM của văn học, con người luôn ở vị thế chủ thể của văn học
“Văn học là nhân học’’ đây là một định nghĩa mang tầm khái quát nhưng có người hiểu một cách đơn giản rằng: chừng nào còn người chừng đó còn văn, chừng nào còn
văn chừng đó còn VÌ con người Vì thế tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người ở
mỗi thời kì văn học sẽ cho chúng ta hiểu được thế giới quan nhân sinh quan của người cầm bút cũng như sẽ hiểu được đóng góp của giai đoạn, thời kì văn học đối với sự phát triển của lịch sử văn học nói chung
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TIẾP BIẾN VĂN HỌC TRUNG QUỐC
1 Khái niệm về quan niệm nghệ thuật về con người
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quan niệm nghệ thuật về con người và trong
giới nghiên cứu vẫn chưa có một sự thống nhất Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa
quan niệm nghệ thuật về con người “là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật.’’
Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình’’ Nghĩa là, quan niệm nghệ
thuật về con người sẽ đi vào phân tích, mổ xẻ đối tượng con người được thể hiện thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp trong các tác phẩm văn học, từ đó, thấy được
Trang 3giá trị và chiều sâu triết lí của tác phẩm. Như vậy, quan niệm nghệ thuật là cách cắt nghĩa về thế giới và con người, thể hiện góc nhìn riêng, tầm nhìn riêng của nhà văn là hình thức bên trong cơ bản của tác phẩm văn học, là hệ quy chiếu ẩn chìm của hình thức nghệ thuật trong sáng tác của những nghệ sĩ thực thụ Đọc tác phẩm, ta có thể nhận ra hình ảnh thế giới và hình ảnh con người rất phong phú và đa dạng và cũng rất khác nhau qua sáng tác của mỗi nhà văn (Trần Đăng Suyền) Quan niệm nghệ thuật về con người vừa là kết quả của tài năng, kết tinh của tâm hồn, dấu ấn riêng của nhà văn vừa là sản phẩm của văn hoá, tư tưởng cả một thời đại
Giáo sư Huỳnh Như Phương thì đưa ra một đúc kết ngắn gọn: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm”.
Mặc dù cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả ý kiến trên đều nói lên được đặc điểm
và tầm quan trọng của quan niệm nghệ thuật về con người Chúng tôi đồng tình với
cách diễn đạt ngắn gọn đầy đủ của Giáo sư Huỳnh Như Phương khi cho rằng “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm” Như Goethe cũng từng nói lý thuyết chỉ là màu xám, cây đời mãi xanh
tươi, việc tìm hiểu khái niệm chỉ có ý nghĩa khi chúng ta biết vận dụng vào thực tiễn Hiểu rằng quan niệm nghệ thuật về con người bao giờ cũng gắn với những hình tượng
cụ thể trong những tác phẩm cụ thể, và chúng ta khi đọc một tác phẩm phải biết “thích một cách nhìn, một cách nghĩ, một cách cảm, một cách nói nghĩa là trước hết thích một con người” (Hoài Thanh).
2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại
2.1 Văn học trung đại Việt Nam trong mối quan hệ với văn hoá Trung
Hoa
Nền văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ thế kỉ X và đã trải qua nhiều biến động thăng trầm của lịch sử, chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hoá khác nhau Trước thế kỉ
X là thời kì Bắc thuộc với nền văn học dân gian Xuyên suốt mười thế kỉ trung đại, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu rộng bởi văn hoá Hán theo những mức độ đậm nhạt khác nhau Thế kỉ X – XV là thời kì tam giáo đồng nguyên, từ XV – XIX là sự thống trị của Tống – Nho Tới cuối thế kỉ XIX là thời kì ảnh hưởng của văn minh phương Tây (mặc dù đã manh nha trước đó, từ thế XVI)
Như vậy, điểm qua một vài nét về tiến trình lịch sử để thấy được rằng, trong mười thế kỉ trung đại thì chúng ta có 5 thế kỉ là sự ảnh hưởng của cả ba hệ tư tưởng Nho – Phật – Lão (trong thời tam giáo đồng nguyên) Nho giáo thời kì này ảnh hưởng trong văn học là đề cao hình tượng người quân tử, Đạo giáo là đề cao lối sống giản dị, hoà hợp với tự nhiên, thoát tục, Phật giáo thể hiện con người từ bi, giác ngộ,… Tuy nhiên, thời kì trung đại có đến 4 thế kỉ liên tục chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Tống nho (từ thế kỉ XV - XIX), chính vì thế chúng tôi nhận thấy rằng quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Hoa nói chung và đặc biệt là hệ tư tưởng nho giáo nói riêng Nói một cách khách quan thì không phải mọi sự ảnh hưởng của Tống nho đều xấu, đều là tiêu cực, tuy nhiên có những điều đã
Trang 4cũ cần đào sâu chôn chặt ví dụ như là đề cao lối sống “tam tòng tứ đức’’, “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” hay “chữ trinh đáng giá nghìn vàng” chẳng hạn,… những quan niệm mà ngày nay đã lỗi thời và làm chậm quá trình tiến hoá và tiến bộ của loài người nhất là đối với người phụ nữ
2.2 Một số biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người trong văn
học trung đại
2.2.1 Con người vũ trụ
Thời trung đại, con người luôn được nhìn trong mối tương quan với vũ trụ, con người mang tầm vóc vũ trụ, sánh ngang tầm vũ trụ Con người gắn với lý tưởng cao đẹp, lập công danh sự nghiệp, kinh bang tế thế
Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay Chí làm trai nam bắc đông tây Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
(Nguyễn Công Trứ)
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
Thành liền mong tiến bệ rồng
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã nhà đeo bức chiến hào
Thét roi cầu vị ào ào gió thu
Con người là cây tùng cây bách vững vàng trước bão giông, con người là cây tre cây trúc là những chánh nhân quân tử Trong văn chương, quan niệm này được thể hiện rất rõ qua những trang thơ Nguyễn Trãi, thơ văn Lý Trần và các nhà nho:
Thu đến cây nào chẳng lạ lùng, Một mình lạt thuở ba đông Lâm tuyền ai rặng già làm khách Tài đống lương cao ắt cả dùng.”
(Tùng – Nguyễn Trãi)
Hình ảnh cây tùng xanh tốt “lạ lùng” giữa muôn loài cây đã trụi lá qua bao mùa thu đông khắc nghiệt kia đã chuyển tải biết bao thông điệp Người ta cảm nhận được phẩm chất, tiết tháo, cốt cách của người quân tử, không khó khăn thử thách nào có thể
Trang 5làm con người chùn bước nhụt chí Ba bài thơ Tùng trong chùm thơ Bảo kính cảnh giới của Nguyễn Trãi dù vẫn còn nhiều tranh luận nhưng vẫn thấy được tâm hồn và khí
chất của Ức Trai Hình ảnh cây tùng cũng không thiếu trong thơ Trung Quốc, từ đời Hán, người ta đã thấy tùng thường được dùng ví với người có khí tiết cứng cỏi mà lánh đời Từ đó mà có hình ảnh cây tùng cứng cỏi, ẩn dật, tùng cô trực ở trong thơ Lưu Trinh, Đào Uyên Minh, Trần Tử Ngang, Lý Bạch… đối lập với hình ảnh của những loài cây cỏ khác, những “chúng thảo”, “quần thụ” phàm tục, tầm thường
Nói đến con người vũ trụ không thể không nhắc đến Phạm Ngũ Lão với Thuật
hoài:
Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu
(Cầm ngang ngọn giáo trấn giữ non sông đã mấy thu,
Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng át cả sao Ngưu)
Điều đặc biệt ở đây, chân dung của con người tráng sĩ trong câu thơ không phải
là con người trận mạc, không phải là con người với chiến bào uy nghi trên mình chiến
mã tả xung hữu đột, ngọn giáo trên tay người tráng sĩ cũng không phải là đâm thẳng mũi nhọn về phía kẻ thù Mà chân dung con người ở đây với tư thế đứng yên cầm ngang ngọn giáo, thế nhưng lại có thể làm bật lên được cái hào hùng, cái mạnh mẽ, cái khí thế sánh tầm vũ trụ Con người với chiều kích thật lớn lao, cao lớn và lồng lộng đẹp
đẽ trong mọi chiều kích của không gian và thời gian Con người ở đây còn là con người của lịch sử, của thời đại Bao giờ cũng thế, khi đất nước gian lao chân dung con người lại vụt lớn lên để vươn mình trở nên vĩ đại Nói cách khác con người cá nhân nhường chỗ cho con người sử thi con người dân tộc con người cộng đồng
Ở một phương diện biểu hiện khác, cảm quan vũ trụ chi phối cách xây dựng
nhân vật, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, khi miêu tả Từ Hải, chúng ta thấy nhân vật vượt ra mọi chuẩn mực và thước đo của con người bình thường: “Râu hùm hàm én mày ngài/ Vai năm tấc rộng thân mười thước cao’’ Phải chăng con người đầu đội trời
chân đạp đất nên phải dùng những thước đo đặc biệt như thế mới diễn tả được chí lớn vẫy vùng 4 phương, dấy binh khởi nghĩa thỏa chí phô tài
Quan niệm con người vũ trụ còn thể hiện trong cách miêu tả vẻ đẹp ngoại hình nhân vật, các nhà thơ trung đại lấy vũ trụ làm thước đo cho vẻ đẹp của con người
Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân thì là “Vân xem trang trọng khác vời/ Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”, miêu tả Kiều thì là “Kiều càng sắc sảo mặn mà/ Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh” Khuôn mặt
đẹp tựa trăng rằm, đôi mắt trong trẻo sâu thẳm như như nước mùa thu, nét mày cong mềm mại như dáng núi mùa xuân Nhà phê bình nghiên cứu Trần Đình Sử trong cuốn
Thi pháp Truyện Kiều cũng khái quát rất đầy đủ về con người vũ trụ “Nói đẹp thì “hoa ghen, liễu hờn” nói chí thì “đội trời đạp đất”, nói tình thì “non nước mây mưa”, nói tài thì “mạch đất tính trời” Chẳng những khi muốn nói thay đổi xã hội người ta nói
“động lòng bốn phương”, “chọc trời khuấy nước”, mà chỉ khi làm một bài thơ (“Tay
Trang 6tiên gió táp mưa sa”), khóc một người tình (“Vật mình vẫy gió tuôn mưa”), khi đỗ đạt thì (“Cửa trời rộng mở đường mây”), con người đều được hình dung trong một quy
mô vũ trụ, đứng giữa đất trời”.
Công trình Thi pháp Truyện Kiều của Giáo sư Trần Đình Sử, thực sự là một
công trình nghiên cứu mẫu mực về vấn đề thi pháp nói chung và vấn đề quan niệm nghệ thuật con người nói riêng Thiết nghĩ những người nghiên cứu sau không thể không học hỏi và kế thừa Ở công trình này Trần Đình Sử đã trình bày rất hệ thống và
thuyết phục hình tượng con người vũ trụ cùng với đó là “thái độ tôn xưng với loại người tài tình, phân biệt với những người khác.” Trần Đình Sử khẳng định “Có một quan niệm con người “đấng, bậc” chi phối sự cảm nhận và miêu tả”.
Yêu thiên nhiên vũ trụ, đề cao sự hòa hợp giữa con người và thế giới, con người lúc nào cũng ở giữa thiên nhiên, lưng túi gió trăng, vẫy vùng bốn bể Thật là một thời đại khác xa khi con người thời hiện đại kịp nhận ra sự bé nhỏ của mình:
Về giọng điệu, chúng ta cũng nhận thấy, phần lớn là giọng hào sảng, tự hào
thiết tha, hãy thử đọc đoạn văn trong Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn:
“Ta thường nghe: Kỷ tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế; Do Vu chia lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương, Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ, Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có? Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan Lén nhìn sứ ngụy
đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình, đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ” (Hịch tướng sỹ - Trần Quốc Tuấn)
Đấy là giọng điệu hào hùng, âm vang thời đại, âm vang sấm dậy, thúc giục lòng quân, sĩ khí sôi sục, rũ bùn đứng dậy sáng lòa làm nên một thời đại hào hùng chưa từng thấy trong lịch sử: 3 lần chiến thắng những đạo quân hùng mạnh nhất, đáng sợ nhất
2.2.2 Con người đạo đức
Thời trung đại chuẩn mực đạo đức là đạo đức Nho giáo Nho giáo chủ trương đức trị Kết tinh trong hai chữ ngắn gọn: Luân lí (luân thường đạo lí) Luân thường gồm ngũ luân: 5 mối quan hệ (vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn), ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, tri, tín) Thời trung đại, lấy thi cử làm con đường duy nhất để lập thân lập nghiệp Mà thi cử hầu hết dựa trên nho học, các sĩ tử phải học thuộc lòng Tứ thư – Ngũ kinh và nhiều kinh sách khác của Nho giáo Chữ Hán là ngôn ngữ chính thống, nó được xem là thứ chữ cao quý, sang trọng: chữ Thánh hiền, đọc sách chữ Hán, học văn chương Trung Hoa thì được coi là sách Thánh hiền Vì thế, những quan điểm của nho giáo bám rễ rất sâu vào các sáng tác thời kì này Vì văn chương bình dân dường như một thời vắng bóng Mãi thời vua….coi sách Kỷ yếu
Lịch sử dân tộc Việt Nam nếu như được vẽ bằng tranh thì không có trang nào dòng nào mà không vẽ một thanh gươm tự vệ, Nguyễn Trung Thành trong tùy bút
Trang 7Đường chúng ta đi đã có suy tưởng như thế Suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm của
đất nước đều là những cuộc chiến dựng nước và giữ nước Chính vì thế, cảm hứng chính trong văn học là cảm hứng yêu nước, con người được đề cao trong văn học là con người cộng đồng - con người hướng tâm, tức là những con người sống theo những chuẩn mực đạo đức của cộng đồng (thời trung đại chuẩn mực ấy là đạo đức Nho giáo)
Văn học trung đại, không nghi ngờ gì nữa, gắn chặt với đạo đức trên tất cả phương diện đặc biệt là quan niệm nghệ thuật về con người: Văn chở đạo, thơ nói chí :
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
(Nguyễn Đình Chiểu) Một nguyên nhân nữa, lực lượng sáng tác chính thời kì này là các nhà nho, xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, thấm nhuần sách vở thánh hiền Theo quan niệm của Khổng Tử, người quân tử nếu có ba điều “nhân – trí – dũng” thì có thể gọi là đạt đức
Về sau, Mạnh Tử loại yếu tố “dũng” và thay vào đó các yếu tố “lễ, nghĩa” tạo thành “tứ đức” gồm nhân – trí – lễ – nghĩa Đến thời Hán, Nho giáo bổ sung thêm yếu tố “tín” và trở thành “ngũ thường” với đầy đủ: nhân – nghĩa – lễ – trí – tín Đó là 5 yếu tố thuộc
nội hàm của khái niệm đức, là cái đạo để lập thân của người quân tử Nhân nghĩa bừng tráng lệ/ Đạo đức trọng oai phong / Gác rồng mở ngày rạng / Sân phụng ngập mây hồng (Một bài thơ khắc trên điện Thái Hòa)
Trong thơ Nguyễn Trãi ta thấy ông nói nhiều đến trung hiếu, nói nhiều đến đạo quân thần, nói nhiều đến lý tưởng “trí quân trạch dân’’ (vừa giúp vua, vừa làm cho dân được nhờ) với mong muốn xây dựng một xã hội thịnh trị có thánh đế, có lương thần
Trong bài Bảo kính cảnh giới số 43, hai câu cuối đã gửi gắm biết bao mong muốn khát
khao đẹp đẽ về một đất nước có vua tôi anh minh để dân no đủ và thái bình thịnh trị
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giàu đủ khắp đòi phương.
Hơn 60 bài Bảo kính cảnh giới nghĩa là Gươm báu răn mình, bài nào cũng đều
là những lời răn theo những đạo nghĩa tốt đẹp, những mong ước cho đất nước, cho nhân dân Bui một tấc lòng của Nguyễn Trãi, một đời trọn nghĩa hiếu trung
Con người đạo đức là con người trung hiếu, con người “Kiến nghĩa bất vi vô dũng giã/ Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” (Thấy việc nghĩa không làm là không phải
người dũng; có việc sắp nguy không cứu chẳng phải anh hùng) Hồ Huân Nghiệp trong giây phút sinh ly tử biệt vẫn ung dung, khí tiết, yêu cầu được thiết hương án, khăn áo chỉnh tề lạy về phương bắc rồi quay về quê lạy mẹ và đọc mấy câu thơ đủ tỏ rõ khí phách anh hùng:
Kiến nghĩa ninh cam bất dũng vi
Trang 8Toàn bằng trung hiếu tác nam nhi Thử thân sinh tử hà tu luận?
Duy luyến cao đường bạch phát thuỳ.
(Làm lúc sắp bị hành hình – Hồ Huân Nghiệp) (Thấy nghĩa lòng đâu dám hững hờ
Làm trai ngay thảo quyết tôn thờ Thân này sống chết không màng nhắc Thương bấy mẹ già tóc bạc phơ)
(Bảo Định Giang dịch) Làm trai lập thân lập nghiệp, dấy nghĩa cứu nước và không quên ơn nghĩa sinh thành Bài thơ là một vẻ đẹp sáng ngời cho tấm lòng trung với nước và hiếu với mẹ già của Hồ Huân Nghiệp – một chí sĩ yêu nước thế kỉ XIX
Với con người đạo đức: dù chủ quan nhưng người viết nhận thấy ở những bài này, các tác giả thường xuyên sử dụng điển tích điển cố, những tích xưa về những danh tướng, những tấm gương về kẻ sĩ người hiền, những vị vua anh minh vì dân vì nước
Đó như là những chuẩn mực, thước đo về đạo đức mà người sau hướng tới:
“Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” (Phạm Ngũ Lão)
“Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” (Nguyễn Khuyến)
“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ khắp đòi phương” (Nguyễn Trãi)
Chương 3 Sự vận động biến đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại
Con người ẩn dật, tiêu dao, hưởng lạc
Quan niệm này đề cao lý tưởng lánh tục, trốn đời, tận hưởng những thú vui tao nhã (đàn ca hát xướng, vui thú thiên nhiên cảnh sắc), ngả theo tư tưởng đạo giáo, hoặc
là 1 biểu hiện “tiêu cực” theo quan niệm của các nhà nho chính thống khuynh hướng này xuất hiện trong nhữg thời điểm mà nhà nho về ‘’trí sỹ’’ hay phổ biến hơn là họ cảm thấy đạo của họ suy tàn, không như thời trước, nên chủ trương trở về với thiên nhiên nơi thâm sơn cùng cốc Nó đánh dấu sự ra đơi của thể hát nói, 1 thể thơ dân tộc rất phóng túng và tự do Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh trinh là những nhà thơ tiêu biểu (trước đó thì có Nguyễn Bỉnh Khiêm tk 15 với bài Nhàn, xa hơn nữa thì có CÔn Sơn ca của Nguyễn Trãi)
Con người cá nhân
Trang 9Nhắc đến quan niệm về con người trong VHTD ai cũng sẽ nói tới con người vũ trụ, con người cộng đồng, con người đạo đức, con người phi cá nhân Đó như là những dòng chủ lưu, những mạch chính xuyên suốt chiều dài lịch sử văn học trung đại vừa nhiều biến động nhưng cũng khá thống nhất Tuy nhiên, đến những thế kỉ cuối cùng của chặng đường 10 thế kỉ trung đại, quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
đã có nhiều thay đổi, đó là: những con người có sự cựa quậy về cái tôi bản ngã, phản ứng lại lễ giáo phong kiến; những con người mất dần niềm tin vào những giá trị của đạo đức nhà Nho, cảm nhận được sự cô độc, lạc lõng đồng thời không ngừng khát khao về tình yêu và hạnh phúc Chúng ta nhận thấy con người khủng hoảng niềm tin trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, thơ Cao Bá Quát; con người tự phản tỉnh trong “Cung oán ngâm”, thơ Nguyễn Công Trứ… Đặc biệt, ý thức về cái tôi cá nhân không phải đợi
đến thơ Mới mà đã xuất hiện từ Chinh phụ ngâm, thơ Hồ Xuân Hương và các nhà thơ
thế kỉ XVIII Dấu vết của tam cương ngũ thường hay công dung ngôn hạnh đã rất mờ nhạt trong thời kì này Chính sự chuyển biến đó đã tạo nên một diện mạo mới, sức hấp dẫn, sự phong phú đa dạng và một bức tranh đa sắc cho nền văn học mà chúng tôi xin được bàn trong một dịp khác
“Thế giới được tạo lập không phải một lần mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì mỗi làn thế giới được tạo lập” M Proust
Kết luận
Trên đây có thể nói là những quan niệm nghệ thuật về con người bao trùm văn học trung đại, tạo nên những nét đặc trưng tiêu biểu của văn học thời kì này
Như vậy chúng ta thấy các quan niệm nghệ thuật về con người có tính “phi chính thống”, vượt ra khỏi sự ảnh hưởng (sự tiếp nhận) của VH TQ đã đưa thơ ca
ra ngoài vòng quan niệm cố hữu của nhà nho chính thống, khiến cho diện mạo của thơ ca VN từ tkXVI trở đi có nhiều biến chuyển dưới con mắt của các nhà nho thì đó là sự đi xuống, tiêu cực, Với họ, thơ từ thế kỉ 16-17 ko đucợ đánh giá cao (Phạm Đình Hổ nhận xét “thơ thời Lê Trung hưng xu thế thấp kém, không kể làm gì” Mặc cho những đánh giá và nhận xét không mấy lạc quan, thơ ca “phi chính thống” sẽ ngày càng phát triển và khẳng định được vị thế của mình trên tiến trình lịch sử vh cũng như trong lòng độc giả.
Mọi người đều biết đến lời nói của A Dovzhenko: “Hai người cùng nhìn xuống: một người nhìn thấy cũng nước, còn người kia nhìn thấy những vì sao”
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 101 Trần Đình Sử (1997) Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội
2 Trần Đình Sử (2007), Thi pháp Truyện Kiểu, NXB Giáo dục
3 Phạm Ngọc Hiền (2019), Thi pháp học, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
4 Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện cổ và truyện thiếu nhi https://lyluanphebinh.vn/tin-tuc/Nghien-cuu-trao-doi