Gia đình – đơn vị xã hội nhóm xã hội nhỏ, là hình thức tổ chức xã hội quantrọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP
TP.HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Trang 2STT Họ và tên MSSV
DANH SÁCH NHÓM
Trang 3
LỜI MỞ ĐẦU 1
Lý do chọn đề tài: 1
Phạm vi nghiên cứu: 1
Phương pháp nghiên cứu: 1
Mục đích nghiên cứu: 1
Đối tượng nghiên cứu: 1
Kết cấu tiểu luận: 1
CHƯƠNG I: TÌM HIỂU KHÁI NIỆM VỀ LUẬT HÔN NHÂN. 3
1.1Khái niệm hôn nhân. 3
1.2 Khái niệm gia đình: 3
1.3 Khái niệm Luật hôn nhân và gia đình 3
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. 5
2.1 Đối tượng điều chỉnh. 5
2.2 Phương pháp điều chỉnh. 5
2.3 Tầm quan trọng của hôn nhân và gia đình: 7
2.4 Những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình: 7
2.5 Xác định cha mẹ-con: 9
2.5.1 Xác định cha, mẹ (Điều 88) 9
2.5.2 Xác định con (Điều 89) 9
2.5.3 Quyền nhận cha, mẹ (Điều 90) 10
2.5.4 Quyền nhận con (Điều 91) 10
2.6 Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 10
2.6.1 Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Điều 95) 10
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN ĐƯỢC QUY ĐỊNH TẠI LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. 12
3.1 Khái niệm đăng ký kết hôn 12
3.1.1 Đăng ký kết hôn 12
3.2 Điều kiện để kết hôn 12
3.2.1 Nam nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: 12
3.2.2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới 13
Mc Lc
Trang 43.3.1 Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng 13
3.3.2 Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng 13
3.3.3 Tài sản chung của vợ chồng 13
3.3.4 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 14
3.3.5 Tài sản riêng của vợ chồng 14
3.4 Một số lưu ý về điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình 2014 15
3.4.1 Vợ chồng được thỏa thuận về tài sản chung 15
3.4.2 Áp dụng tập quán trong hôn nhân, gia đình 15
3.4.3 Quyền nuôi con dưới 3 tuổi khi ly hôn 15
3.4.4 Thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn 16
3.4.5 Con từ đủ 7 tuổi được xem xét nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn 16
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Hôn nhân và gia đình là những quy luật cơ bản của xã hội, đóng vai trò quantrọng trong việc duy trì và phát triển xã hội Luật hôn nhân và gia đình là văn bản pháp luật quan trọng, góp phần điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, góp phần xây dựng các gia đình hạnh phúc bền vững
- Những điều kiện kết hôn được quy định tại luật hôn nhân và gia đình
Phương pháp nghiên cứu:
- Thu thập tài liệu: Sách báo, văn bản pháp luật, nghiên cứu khoa học liên quan đến Luật hôn nhân và Gia đình
- Phân tích tài liệu: Phân tích nội dung, quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình
Mục đích nghiên cứu:
- Nâng cao nhận thức và tầm quan trọng của luật Hôn nhân và Gia đình
- Hiểu rõ hơn về nội dung, quy định của luật Hôn nhân và Gia đình
- Nâng cao hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình
Đối tượng nghiên cứu:
-Sinh viên
Trang 6Kết cấu tiểu luận:
- Lời mở đầu
- Nội dung chính
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
Bài tiểu luận có thể còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được những ý kiến, nhận xét của thầy trong quá trình sửa bài để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Trang 7CHƯƠNG I: TÌM HIỂU KHÁI NIỆM VỀ LUẬT HÔN NHÂN 1.1Khái niệm hôn nhân.
Hôn nhân, một cấu trúc xã hội được xã hội thiết kế để chi phối các kết nối vật chất giữa các cá nhân thuộc các giới tính khác nhau, là một thể chế năng động trải qua quá trình tiến hóa không ngừng Hôn nhân, sự kết hợp tình cảm,
xã hội hoặc tôn giáo của các cá nhân, đóng một vai trò quan trọng trong xã hội bằng cách tạo điều kiện cho họ cùng tồn tại, giúp họ cùng nhau xây dựng cuộc sống và thiết lập các trách nhiệm pháp lý và đạo đức Hôn nhân, khi được tiếp cận trong giới hạn hợp pháp, có thể xuất phát từ cảm xúc sâu sắc của tình yêu Lễ cưới là một sự kiện phổ biến ở hầu hết các xã hội, tượng trưng cho sự gắn kết cơ bản trong gia đình Thông thường, đây là dịp đánh dấu sự bắt đầu chính thức của hôn nhân, đặc biệt là trong bối cảnh pháp lý Kết hôn, xét về mặt pháp lý, là việc đăng ký chính thức việc kết hôn với cơ quan Nhà nước Thông thường, sự kết hợp này bao gồm một người đàn ông đảm nhận vai trò chồng và một người phụ nữ đảm nhận vai trò vợ
1.2 Khái niệm gia đình:
Gia đình là thiết chế xã hội, trong đó những người có quan hệ ruột thịt (hoặc đặc biệt cùng chung sống) Gia đình là phạm trù biến đổi mang tính lịch sử vàphản ánh văn hóa của dân tộc và thời đại Gia đình là trường học đầu tiên có mối quan hệ biện chứng với tổng thể xã hội
Gia đình – đơn vị xã hội (nhóm xã hội nhỏ), là hình thức tổ chức xã hội quantrọng nhất của sinh hoạt cá nhân dựa trên hôn nhân và các quan hệ huyết thống, tức là quan hệ vợ chồng, giữa cha và mẹ, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyềngiữa họ với nhau theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình
1.3 Khái niệm Luật hôn nhân và gia đình
Tìm hiểu khái niệm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 với 3 ý nghĩa:
- Với ý nghĩa là một môn học: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là hệthống khái niệm, quan điểm, nhận thức, đánh giá mang tính lý luận về pháp
Trang 8luật hôn nhân và gia đình Và thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật hôn nhân
và gia đình
- Với ý nghĩa là một văn bản pháp luật cụ thể: Luật Hôn nhân và gia đìnhViệt Nam là văn bản pháp luật trong đó có chứa đựng các quy phạm phápluật hôn nhân và gia đình Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, LuậtHôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
- Với ý nghĩa là một ngành luật: Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam làtổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh cácquan hệ hôn nhân và gia đình, bao gồm các quan hệ về nhân thân và quan hệ
về tài sản giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa những thànhviên trong gia đình
Trang 9CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH.
2.1 Đối tượng điều chỉnh.
- Đối tượng điều chỉnh luật hôn nhân và gia đình
Đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam là các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, cụ thể là các quan hệ
về nhân thân và quan hệ về tài sản phát sinh giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ vàcác con, giữa những người thân thích ruột thịt khác
- Đặc điểm đối tượng điều chỉnh luật hôn nhân và gia đình
Quan hệ nhân thân là nhóm quan hệ chủ đạo và có ý nghĩa quyết định trong các quan hệ hôn nhân và gia đình, bên cạnh đó là yếu tố tình cảm gắn bó giữa các chủ thể là đặc điểm cơ bản trong quan hệ hôn nhân và gia đình Bao gồm quyền và nghĩa vụ hôn nhân và gia đình gắn liền với nhân thân mỗi chủ thể, không thể chuyển giao cho người khác được và tồn tại lâu dài, bền vững, quyền và nghĩa vụ tài sản trong quan hệ hôn nhân và gia đình không mang tính chất đền bù, ngang giá
2.2 Phương pháp điều chỉnh.
- Phương pháp điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình là những cách thức, biện pháp mà nước sử dụng để tác động lên các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hôn nhân và gia đình
- Phương pháp điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình là những cách thức, biện pháp mà các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình tác động lêncác quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của nó, phù hợp với ý chí của Nhà nước Hay hiểu một cách ngắn gọn, phương pháp điều chỉnh của Luật hôn nhân và gia đình là các biện pháp tác động lên các quan hệ hôn nhân – gia đình
- Phương pháp điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình hết sức mềm dẻo, chủ yếu là khuyến khích các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ và quyền hôn nhân và gia đình Chỉ trong những trường hợp đặc biệt mới dùng biện pháp cưỡng chế, ví dụ như hủy việc kết hôn trái pháp luật, hạn chế quyền của cha
mẹ đối với con chưa thành niên, (điều 16, điều 14, điều 41 luật hôn nhân và gia đình 2000)
Trang 10- Xuất phát từ đặc điểm của các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình, là quan hệ giữa các chủ thể gắn bó với nhau bởi yếu tố tình cảm, huyết thống hoặc nuôi dưỡng, nên Luật Hôn nhân
và gia đình cần có phương pháp điều chỉnh linh hoạt và mềm dẻo Thông thường, hầu hết các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình không quy địnhbiện pháp chế tài mà chủ yếu tập trung vào việc quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong quan hệ hôn nhân và gia đình
- Phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình có các đặc điểm sau:
+ Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luôn tương ứng với nhau Điều này đảm bảo sự cân đối và công bằng giữa cácbên trong gia đình Các chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình vừa cóquyền, vừa phải thực hiện nghĩa vụ, tạo nên sự cân bằng trong việc phân chia trách nhiệm và quyền lợi Ví dụ: Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình ” Theo quy định này, nghĩa vụ của vợ đồng thời là quyền của chồng và ngược lại.
+ Các chủ thể khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình phải xuất phát từ lợi ích chung của gia đình Phương pháp điều chỉnh này khuyến khích sự đồng lòng và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, từ đó xây dựng môi trường hòa hợp và ổn định
+ Các chủ thể không được phép bằng sự tự thỏa thuận để làm thay đổi
những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định Điều này giúp bảo vệ quyền và lợi ích của mỗi thành viên trong gia đình, tránh tình trạng bất công
và áp đặt trong quan hệ gia đình
+ Các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình gắn bó mật thiết với các quytắc đạo đức, phong tục tập quán và lẽ sống trong xã hội Điều này thể hiện sự tương thích và phù hợp với văn hóa và truyền thống xã hội, từ đó đảm bảo tính ổn định và hiệu quả trong việc áp dụng và thực thi luật
Trang 11- Ngược lại, có những thủ tục, tập quán lạc hậu lỗi thời đã ăn sâu và nhận thức của nhân dân thì phải tuyên truyền, thuyết phục xóa bỏ dần dần Chẳng hạn tập tục đa thê, đa phu của người Bana, cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡnggiáo dục con, nếu không thực hiện thì bị phân xử, giáo dục trước dân làng (người Ê đê, M’nông)
Hoặc nam nữ quan hệ với nhau không phải là vợ chồng thì phạt ba con bỏ
mẹ hoặc ba con trâu mẹ (người Chăm); tập tục cấm bỏ nhau, nếu bỏ thì trong hai người phải bỏ buôn khác sinh sống (người Bana)
2.3 Tầm quan trọng của hôn nhân và gia đình:
Gia đình được coi là tế bào của xã hội Hôn nhân và Gia đình là nền tảng của
xã hội, nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục các thế hệ tương lai của đất nước, nơi gìn giữ và phát triển các nét đặc trưng văn hóa, truyền thống của một dân tộc, một quốc gia Có các tế bào khỏe mạnh thì xã hội mới phát triển, ngược
lại, nếu xuất hiện ngày càng nhiều "tế bào lỗi" thì xã hội sẽ suy thoái, truyền
thống văn hóa, đạo đức của đất nước sẽ tan vỡ
2.4 Những nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình:
Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quanđến hôn nhân và gia đình (Khoản 3 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014)
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục kế thừa một số nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tuy nhiên có sửa đổi, bổ sung điểm mới cho phù hợp với thực tiễn hiện nay nhằm bảo vệ và phát huy hiệu quả của hôn nhân và gia đình Việt Nam bền vững trong giai đoạn mới
Theo đó, tại Điều 2 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định như sau:
- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ
Trang 12- Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xửgiữa các con.
- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp
đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình
- Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình
Tình huống: M sắp tròn 17 tuổi, hiện đang ở nhà phụ giúp bố mẹ làm vườn.
Bố mẹ tôi ép tôi kết hôn với anh S vì hai gia đình đã hứa hôn từ khi M và S còn nhỏ Xin hỏi, điều kiện kết hôn được quy định như thế nào? Theo quy định của pháp luật thì M đã đủ tuổi kết hôn chưa? Việc bố mẹ M ép M cưới anh S đúng hay sai?
Tư vấn: Theo Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nam, nữ
kết hôn phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quyđịnh tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này, gồm:
-Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu
về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con
Trang 13-Ngoài ra, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Như vậy, M chưa đủ 17 tuổi, như vậy, M chưa đủ tuổi để kết hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Một trong những hành vi bị cấm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là cưỡng ép kết hôn, đồng thời một trong những điều kiện kết hôn là việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định Như vậy, việc bố, mẹ ép M kết hôn là không đúng pháp luật
2.5 Xác định cha mẹ-con:
Khái niệm: Xác định cha mẹ con là việc định rõ cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ trongquan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con Việc xác định quan hệ cha mẹ con dựatrên sự kiện sinh đẻ, quan hệ hôn nhân và huyết thống Xác định cha mẹ con
có ý nghĩa thiêng liêng trong việc xác định, hình thành mối quan hệ trong giađình; ngoài ra còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc thay đổi, bổ sung, cảichính hộ tịch của các thành viên trong gia đình
2.5.1 Xác định cha, mẹ (Điều 88)
a Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng
- Con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hônnhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận làcon chung của vợ chồng
b Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ