Trong đó, bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột quan trọng và có hệthống pháp lý rõ ràng, được triển khai rộng rãi và có tác động trực tiếp tới ngườilao động, không chỉ là công cụ b
Trang 1TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: AN SINH XÃ HỘI
Chính sách bảo hiểm xã hội tại Việt Nam
Giáo viên giảng dạy PGS.TS Phạm Hương Trà Sinh viên Nguyễn Thùy Linh
Mã sinh viên 2151010035
Lớp hành chính Công tác xã hội K41
Trang 2Hà Nội, tháng 5 năm 2025
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
1 Chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và các vấn đề xã hội nảy sinh 3 1.1 Khái quát về chính sách bảo hiểm xã hội 3
1.2 Các vấn đề xã hội nảy sinh 6
2 Tính thích ứng của chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 9
2.1 Vấn đề đặt ra với chính sách bảo hiểm xã hội 9
2.2 Sự thay đổi, sửa đổi, cập nhật của chính sách bảo hiểm xã hội 11
2.3 Hành động của chính phủ/địa phương 14
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, an sinh xã hội đóng vai trò nềntảng trong việc đảm bảo quyền con người, giảm thiểu bất bình đẳng và thúc đẩyphát triển bền vững Tại Việt Nam, hệ thống an sinh xã hội được tổ chức dựatrên bốn trụ cột chính: một là việc làm, giảm nghèo và phát triển sinh kế, hai làbảo hiểm xã hội, ba là trợ giúp xã hội và bốn là các dịch vụ xã hội cơ bản [6]
Trong đó, bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột quan trọng và có hệthống pháp lý rõ ràng, được triển khai rộng rãi và có tác động trực tiếp tới ngườilao động, không chỉ là công cụ bảo vệ thu nhập khi người lao động gặp rủi ronhư ốm đau, tai nạn, thất nghiệp, hưu trí mà còn thể hiện vai trò điều tiết củaNhà nước trong quá trình phân phối lại thu nhập và đảm bảo công bằng xã hội.Thực tế cho thấy, đại dịch COVID-19 là một “phép thử” quy mô lớn đối với toàn
bộ hệ thống an sinh xã hội, trong đó các chính sách bảo hiểm xã hội như bảohiểm thất nghiệp và trợ cấp ốm đau đã hỗ trợ hàng triệu người o động bị mấtviệc, tạm ngừng việc hoặc gián đoạn thu nhập Ngoài ra, Việt Nam cũng đangđối mặt với các thách thức mới như già hóa dân số, làm gia tăng áp lực lên hệthống lương hưu và bảo hiểm xã hội dài hạn, hay như khủng hoảng đơn hàngtoàn cầu trong ngành dệt may, khiến hàng chục nghìn lao động mất việc phảitrông chờ vào chính sách bảo hiểm thất nghiệp Những thách thức này đặt ra yêucầu phải nhìn nhận lại tính thích ứng của chính sách bảo hiểm xã hội, cả về nội
dung, phạm vi bao phủ lẫn khả năng phản ứng kịp thời với biến động thực tế
Từ đó tiểu luận này lựa chọn đi sâu phân tích trụ cột bảo hiểm xã hội trong
hệ thống an sinh xã hội Việt Nam, nhằm đánh giá mức độ thích ứng của chínhsách trước các vấn đề xã hội nảy sinh, làm rõ những điểm mạnh, điểm hạn chế
Trang 5trong thực tiễn triển khai, đồng thời đề xuất một số định hướng hoàn thiện chínhsách theo hướng linh hoạt, toàn diện và công bằng hơn.
NỘI DUNG
1 Chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và các vấn đề xã hội nảy sinh 1.1 Khái quát về chính sách bảo hiểm xã hội
Định nghĩa
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, bảo hiểm xã hội
được định nghĩa như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp
một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội [13]”.
Cũng theo giáo trình An sinh xã hội của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương
năm 2009: “Bảo hiểm xã hội là một hình thức phân phối lại thu nhập giữa
những người tham gia, mang tính chất chia sẻ cộng đồng và bắt buộc do Nhà nước tổ chức, nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro trong lao động và cuộc sống [12]”.
Tổ chức Lao động Quốc tế định nghĩa rằng: “Bảo hiểm xã hội là một cơ
chế bảo vệ xã hội, trong đó người lao động và người sử dụng lao động đóng góp vào một quỹ chung, được quản lý bởi Nhà nước hoặc các tổ chức phi lợi nhuận, nhằm cung cấp các khoản trợ cấp khi người tham gia gặp các rủi ro như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, mất khả năng lao động, tuổi già hoặc tử vong
[11]”.
Từ các định nghĩa trên cùng với tìm hiểu thêm của tác giả, có thể thấy bảohiểm xã hội là một trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, mang tínhbắt buộc hoặc tự nguyện, được tổ chức và điều tiết bởi Nhà nước, với mục tiêu
Trang 6cốt lõi là bảo vệ người lao động trước các rủi ro làm mất hoặc suy giảm thu nhậptrong quá trình lao động và cuộc sống Bảo hiểm xã hội không chỉ là một công
cụ tài chính để bù đắp thu nhập khi người lao động mất khả năng làm việc, màcòn là một hình thức chia sẻ rủi ro mang tính cộng đồng, thể hiện sự nhân văn và
công bằng xã hội Trong bối cảnh hiện nay, khi các vấn đề như tai nạn lao động,
già hóa dân số, mất việc do biến động kinh tế hay dịch bệnh diễn biến phức tạp,thì vai trò của bảo hiểm xã hội càng được khẳng định rõ nét hơn Không chỉdừng lại ở việc chi trả các khoản trợ cấp, bảo hiểm xã hội còn góp phần ổn địnhđời sống người dân, duy trì lực lượng lao động và giảm gánh nặng cho ngân sáchNhà nước trong việc hỗ trợ các nhóm yếu thế Đồng thời, đây cũng là công cụpháp lý thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp, người lao động và Nhà nướctrong việc cùng tham gia vào quá trình bảo vệ quyền lợi của người lao động,hướng đến sự phát triển bền vững và công bằng xã hội
Các hình thức và chế độ bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội gồm 3 hình thức chính là bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo
hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm hưu trí bổ sung, ngoài ra bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận độc lập trong hệ thống bảo hiểm, nhưng đồng thời là trụ
cột trong phần bảo hiểm xã hội của mô hình an sinh xã hội
Bảo hiểm xã hội bắt buộc: theo khoản 2 điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội
năm 2014:“Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước
tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia [13]”.
Cũng theo quy định tại Điều 2, chế độ này áp dụng cho người lao động làm việctheo hợp đồng từ đủ 1 tháng trở lên, cán bộ, công chức, viên chức, quân nhân,người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có hợp đồng lao động đủ điềukiện Trong bảo hiểm xã hội bắt buộc có 5 chế độ chính: ốm đau, thai sản, tainạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất Chế độ ốm đau (Điều 25–
Trang 728) được áp dụng khi người lao động bị mất sức lao động tạm thời do mắc bệnhthông thường hoặc phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 7 tuổi bị ốm Chế độthai sản (Điều 31–42) được áp dụng cho lao động nữ sinh con, nhận con nuôidưới 6 tháng tuổi hoặc người lao động nam có vợ sinh con, nếu đáp ứng điềukiện tham gia BHXH từ đủ 6 tháng trong vòng 12 tháng trước khi sinh (Điều31) Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (Điều 43–53) dành cho ngườilao động bị tai nạn trong quá trình lao động hoặc mắc bệnh do đặc thù nghềnghiệp Chế độ hưu trí (Điều 54–63) là hình thức đảm bảo thu nhập cho ngườilao động khi họ hết tuổi lao động và đủ số năm đóng bảo hiểm thông qua trợ cấphàng tháng Chế độ tử tuất (Điều 66–71) hỗ trợ tài chính cho thân nhân củangười lao động hoặc người đang hưởng lương hưu bị chết, theo trợ cấp mai tángphí và trợ cấp tuất một lần/tuất hàng tháng
Bảo hiểm xã hội tự nguyện: theo khoản 3 điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội
năm 2014: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà
nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất [13]” Theo Điều
4 tại luật, mục tiêu là mở rộng bảo hiểm cho nhóm lao động phi chính thức,không thuộc diện bắt buộc nhưng vẫn có nhu cầu đảm bảo an sinh khi về giàhoặc khi mất khả năng lao động, gồm 2 chế độ chính là hưu trí và tử tuất
Bảo hiểm hưu trí bổ sung: theo khoản 7 điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội
năm 2014: “Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách bảo hiểm xã hội mang tính
chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật [13]” Hiện tại, loại
Trang 8hình này đang được nghiên cứu và thí điểm trong khuôn khổ cải cách an sinh xãhội.
Bảo hiểm thất nghiệp: theo Luật Việc làm 2013 (Điều 3, khoản 4): “Bảo
hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp [14]” Theo Nghị định
28/2015/NĐ-CP, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng là 60% mức bìnhquân tiền lương đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi nghỉviệc, tối đa không quá 5 tháng Tính đến năm 2023, theo số liệu của bảo hiểm xãhội Việt Nam, có hơn 13 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếmkhoảng 86% số người đang tham gia BHXH bắt buộc [7]
Ta có thể thấy, mô hình bảo hiểm xã hội tại Việt Nam đang từng bướchoàn thiện theo hướng mở rộng diện bao phủ, nâng cao mức hưởng và tăngcường tính bền vững tài chính Các hình thức như bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảohiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp hay bảo hiểm hưu trí bổ sung thểhiện tính linh hoạt trong việc tiếp cận với mọi đối tượng lao động trong xã hội.Đây cũng là những trụ cột then chốt để đảm bảo quyền an sinh cơ bản cho ngườidân theo định hướng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.2 Các vấn đề xã hội nảy sinh
Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều tác động của các hiệntượng xã hội phát sinh như thiên tai, dịch bệnh, đặc biệt trong bối cảnh biến đổikhí hậu và toàn cầu hóa Các vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triểnkinh tế mà còn làm gia tăng bất bình đẳng xã hội, đẩy một bộ phận lớn ngườidân, đặc biệt là nhóm yếu thế, vào tình trạng dễ bị tổn thương
Sự ảnh hưởng của thiên tai
Trang 9Theo Báo cáo của Tổng cục Phòng chống thiên tai (2023), trung bình mỗinăm, Việt Nam xảy ra khoảng 10–15 trận bão, hàng trăm trận mưa lớn, lũ lụt, sạt
lở đất và hạn hán, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu người [15].Riêng trong năm 2020, khu vực miền Trung hứng chịu đợt bão lũ lịch sử, gâythiệt hại cho hơn 7 triệu người dân, trong đó hơn 240 người chết và mất tích,hàng trăm nghìn ngôi nhà bị cuốn trôi, hư hỏng và tổng thiệt hại kinh tế ước tínhhơn 30.000 tỷ đồng [18] Thiên tai đặc biệt ảnh hưởng đến nhóm lao động nôngnghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công – những người có thu nhập không ổn định vàthường không tham gia bảo hiểm xã hội hoặc các loại bảo hiểm khác Thiên taikhiến họ mất nguồn thu nhập, nhà cửa, phương tiện sản xuất nhưng lại khôngđược hưởng trợ cấp từ bảo hiểm xã hội do không thuộc diện tham gia bắt buộchoặc không có đủ điều kiện hưởng chế độ Nhóm đối tượng phụ nữ phải đối diệnvới nguy cơ cao, bị giảm thời gian làm việc, chịu gánh nặng chăm sóc gia đình
và nguy cơ mất thu nhập cao hơn nam giới, đặc biệt trong ngành nghề phi chínhthức như giúp việc, bán hàng rong, dệt may Trẻ em bị gián đoạn học tập, thiếudinh dưỡng, mất người chăm sóc, hoặc bị đẩy vào lao động sớm do gia đìnhkhủng hoảng kinh tế Mặc dù Quỹ bảo hiểm xã hội có thể hỗ trợ trong một sốtrường hợp như tai nạn lao động, ốm đau hay tử tuất, nhưng phần lớn người dânvùng thiên tai lại nằm ngoài hệ thống này Đây là minh chứng cho lỗ hổng trongdiện bao phủ của chính sách an sinh xã hội hiện hành, khi chưa đáp ứng đượcnhu cầu hỗ trợ kịp thời và toàn diện trong các tình huống rủi ro tập thể, đặc biệt
ở khu vực nông thôn và miền núi
Trang 10hơn 32.000 ca tử vong [5] Dịch bệnh đã làm đình trệ hoạt động kinh tế - xã hội,ảnh hưởng tới hơn 32 triệu lao động, hơn 70% bị giảm thu nhập hoặc mất việclàm [17] Người lao động trong khu vực phi chính thức là nhóm chịu ảnh hưởngnặng nề nhất, do không có hợp đồng lao động, không tham gia bảo hiểm xã hộibắt buộc và không được tiếp cận các chính sách trợ giúp chính thức Trong khi
đó, lao động chính thức tuy có tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không phải aicũng đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc ốm đau khi doanh nghiệptạm ngừng hoạt động Sự chênh lệch về khả năng tiếp cận an sinh giữa hai nhómnày cho thấy tính phân tầng trong hệ thống bảo hiểm xã hội hiện hành Ngoài ra,nhóm người cao tuổi cũng là nhóm có nguy cơ tử vong cao trong đại dịch – lạithường không có lương hưu, hoặc hưởng mức thấp, không đủ chi trả cho y tế vànhu cầu tối thiểu Hoặc người khuyết tật, người nghèo, người dân tộc thiểu số córất ít khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và các chính sách trợ giúp trong thiên tai haydịch bệnh, dẫn đến nguy cơ bị bỏ lại phía sau Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận vaitrò tích cực của Quỹ bảo hiểm xã hội trong việc chia sẻ rủi ro Năm 2021, Chínhphủ đã sử dụng hơn 30.800 tỷ đồng từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp để hỗ trợ 12,8triệu người lao động và hơn 380.000 doanh nghiệp [1] Ngoài ra, chế độ bảohiểm xã hội bắt buộc còn giúp đảm bảo quyền lợi thai sản, ốm đau cho người laođộng mắc COVID-19 hoặc phải chăm sóc người thân bị nhiễm bệnh Song song
đó, nhiều chính sách hỗ trợ ngoài bảo hiểm xã hội như gói an sinh 62.000 tỷđồng theo Nghị quyết 42/NQ-CP (2020) cũng được ban hành nhằm trợ cấp chongười lao động không có hợp đồng [9] Tuy nhiên, quá trình triển khai gặp nhiềubất cập như chậm chi trả, thủ tục rườm rà, gây khó tiếp cận cho người dân, đặcbiệt là nhóm lao động di cư, lao động tự do và người dân tộc thiểu số
Một số vấn đề xã hội khác
Trang 11Bên cạnh thiên tai và dịch bệnh, Việt Nam đang đối mặt với nhiều vấn đề
xã hội có tác động sâu rộng tới hệ thống bảo hiểm xã hội, đặc biệt là ở nhóm yếuthế Thứ nhất, vấn đề già hóa dân số diễn ra nhanh chóng khiến áp lực chi trảlương hưu ngày càng lớn, trong khi số người tham gia bảo hiểm xã hội lại chưatương xứng Theo Tổng cục Thống kê (2023), cả nước có hơn 13,1 triệu người từ
60 tuổi trở lên, chiếm 13,2% dân số [16] Dự báo đến năm 2036, Việt Nam sẽchuyển sang giai đoạn dân số “rất già”, ảnh hưởng lớn đến cân đối quỹ hưu trí.Thứ hai là vấn đề lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ lệ lớn (hơn 60% tổng lựclượng lao động), phần lớn không tham gia BHXH do thu nhập bấp bênh, thiếutiếp cận thông tin và chính sách chưa đủ linh hoạt Điều này khiến nhiều ngườilao động dễ rơi vào tình trạng không có lưới an sinh khi gặp rủi ro Ngoài ra,nhóm người di cư lao động nội địa và thất nghiệp khiến nhiều người rơi vàotrạng thái ngắt quãng đóng bảo hiểm xã hội, gây khó khăn cho việc tích lũy thờigian hưởng chế độ dài hạn như hưu trí hay thất nghiệp
2 Tính thích ứng của chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
2.1 Vấn đề đặt ra với chính sách bảo hiểm xã hội
Chính sách bảo hiểm xã hội tại Việt Nam trong những năm qua đã đạtnhiều tiến bộ về mặt thể chế, tạo nền tảng bảo vệ quyền lợi cho người lao động,đặc biệt trong bối cảnh biến động kinh tế - xã hội ngày càng phức tạp Tuy nhiên,thực tiễn triển khai vẫn cho thấy một số vấn đề cốt lõi cần xem xét nghiêm túcnếu muốn hướng tới một hệ thống an sinh thực sự bền vững, công bằng và baotrùm
Thứ nhất, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm xã hội còn thấp và không đồng đều giữacác nhóm dân cư Theo báo cáo của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam cho thấy tínhđến cuối năm 2023, cả nước có khoảng 17,5 triệu người tham gia bảo hiểm xãhội, chiếm khoảng 38,6% lực lượng lao động trong độ tuổi, trong đó bảo hiểm xã
Trang 12hội bắt buộc có 15,2 triệu người và bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ có 2,3 triệungười tham gia [2], cho thấy khó khăn trong việc tiếp cận của nhóm lao động phichính thức Điều này phản ánh sự bất bình đẳng trong cơ hội được bảo vệ giữacác nhóm lao động chính thức và phi chính thức, đồng thời đặt ra yêu cầu cấpthiết phải cải thiện tính hấp dẫn và khả thi của bảo hiểm xã hội tự nguyện Mặc
dù tăng so với giai đoạn trước, con số này vẫn còn cách xa mục tiêu 45% lựclượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội đến năm 2025 theo Nghị quyết 28-NQ/TW [3]
Thứ hai, chính sách bảo hiểm xã hội còn thiếu linh hoạt trong bao phủnhóm dễ bị tổn thương (lao động tự do, thời vụ và yếu thế, người lao động di cư,lao động nữ làm việc không hợp đồng, hoặc người già không có lương hưu )
Ví dụ như trong đại dịch COVID-19, hàng triệu lao động tự do mất việc, nhưng
đa số không đủ điều kiện hưởng bất kỳ quyền lợi nào từ bảo hiểm xã hội dokhông thuộc nhóm tham gia bắt buộc hay tự nguyện Tình trạng này cho thấychính sách bảo hiểm xã hội chưa bao quát đầy đủ rủi ro phi truyền thống và chưathực sự lường trước các nhóm có nguy cơ cao
Thứ ba, khoảng cách giữa quyền lợi trên giấy tờ và thực tế hưởng thụ vẫncòn, thủ tục và mức hưởng chưa thuận tiện, gây rào cản tiếp cận cho người laođộng Nhiều người lao động không nắm rõ quyền lợi, hoặc gặp rào cản trong thủtục hành chính khiến họ không thể tiếp cận chế độ kịp thời, nhất là ở các tỉnh,vùng sâu vùng xa Một khảo sát của ILO và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Namnăm 2021 cho thấy khoảng 27% người lao động không biết rõ quyền lợi bảohiểm xã hội, 19% gặp khó khăn với thủ tục, và hơn 33% có xu hướng rút bảohiểm xã hội một lần [10] Xu hướng này phản ánh sự thiếu niềm tin vào hệthống, cũng như sự cần thiết phải cải tiến chính sách để phù hợp hơn với nhu cầuthực tế