Cộng đồng Kinh tế ASEAN AEC là một trong những trụ cột quan trọng của cộng đồng ASEAN, được hình thành với mục tiêu xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất chung, tạo điều kiện thuận l
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, ASEAN tạo dựng một nền tảng hợp tác vững chắc, nỗ lực thực hiện kế hoạch tổng hợp ở cả 3 trụ cột: Chính trị - an ninh, văn hóa - xã hội và kinh tế Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) là một trong những trụ cột quan trọng của cộng đồng ASEAN, được hình thành với mục tiêu xây dựng một thị trường và cơ sở sản xuất chung, tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động có tay nghề giữa các quốc gia thành viên Sau gần 10 năm triển khai, AEC đã đạt được những thành tựu ấn tượng và mang lại nhiều cơ hội cho khu vực ASEAN, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại Các thành viên đã tham gia ký kết và thực hiện nhiều hiệp định, thỏa thuận nội khối như: Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA), Hiệp định Khung về Dịch vụ ASEAN (AFAS), qua đó thúc đẩy tự do hóa thương mại, tăng cường hợp tác dịch vụ, phát triển chuỗi cung ứng khu vực,
AEC mở ra nhiều cơ hội đối với Việt Nam trong trao đổi và xuất khẩu hàng hóa sang các nước ASEAN Trong số các FTA mà Việt Nam đã ký kết, các cam kết về cắt giảm thuế quan trong AEC là cao nhất và nhanh nhất Cho đến nay, Việt Nam đã gần hoàn thành lộ trình cắt giảm thuế quan trong AEC Theo đó, Việt Nam cũng được hưởng lợi ích về cắt giảm thuế và các ưu đãi khác khi xuất khẩu sang thị trường ASEAN Khi gia nhập ASEAN, các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao khả năng cạnh tranh và xây dựng một hệ thống doanh nghiệp vững mạnh,
Tuy nhiên, việc gia nhập AEC cũng đem lại không ít thách thức cho các doanh nghiệp, ngành sản xuất trong nước Trước hết là gia tăng sức ép cạnh tranh về mẫu mã, chất lượng, chi phí sản xuất khi so sánh với các nước có dây chuyền sản xuất, công nghệ - kỹ thuật hiện đại, lao động trình độ cao Bên cạnh đó, quy tắc để được hưởng thuế suất 0% cũng gây bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam và một số ngành sản xuất còn non trẻ như ô tô, đồ điện tử,
Trong bối cảnh và những thách thức đã nêu trên, nhóm chúng em nhận thấy sự cần thiết trong việc nghiên cứu về đề tài: Ảnh hưởng của AEC đối với xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là xuất khẩu thủy sản sang các nước ASEAN và đề xuất giải pháp cho Việt Nam.
Đối tượng đề tài nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của AEC đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN, đặc biệt đối với nhóm hàng thủy sản.
Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia và giới thiệu chung về AEC
Chương 2: Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường ASEAN
Chương 3: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường ASEAN
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA, GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ AEC
Cơ sở lý luận về xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia
1.1.1 Khái niệm xuất khẩu hàng hóa
Theo Điều 28, khoản 1 Luật thương mại 2005: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.”
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa a Tỷ giá hối đoái
Khi tỷ giá hối đoái giảm, giá cả hàng hóa xuất khẩu trở nên đắt đỏ hơn ở thị trường quốc tế, làm giảm khả năng cạnh tranh và hạn chế lượng tiêu thụ của hàng hóa xuất khẩu Khi tỷ giá hối đoái tăng, giá cả hàng hóa xuất khẩu giảm tại thị trường quốc tế, tăng sự cạnh tranh và khuyến khích tiêu thụ, từ đó hỗ trợ việc mở rộng xuất khẩu b Các công cụ thuế quan và phi thuế quan
Thuế quan: Thuế xuất khẩu đem lại bất lợi cho các nhà sản xuất kinh doanh xuất khẩu vì làm tăng giá thành xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu Động lực xuất khẩu của một quốc gia sang một quốc gia khác cũng sẽ bị giảm bởi thuế nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu đó
Hạn ngạch: Hạn ngạch có tác dụng khá giống với công cụ thuế quan Tuy nhiên việc sử dụng hạn ngạch có hạn chế là không mang lại thu nhập cho Chính phủ và tạo ra độc quyền thương mại
Hỗ trợ xuất khẩu: Các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu được nhà nước sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa và dịch vụ trong nước thâm nhập và mở rộng thị trường ra nước ngoài (trợ cấp xuất khẩu, xúc tiến thương mại, đầu tư, đào tạo, )
Quy định tiêu chuẩn kỹ thuật: Là công cụ bảo hộ tinh vi của nước nhập khẩu, các nước xuất khẩu muốn vượt qua rào cản này mặt hàng xuất khẩu cần đáp ứng được những tiêu chuẩn đã đề ra c Các yếu tố văn hóa, xã hội
Nền văn hoá tạo nên cách sống của mỗi cộng đồng sẽ quyết định các thức tiêu dùng, thứ tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn được thỏa mãn và cách thỏa mãn của con người sống trong đó Vì vậy, các nhà xuất khẩu luôn phải quan tâm tìm hiểu yếu tố văn hoá ở các thị trường mà mình tiến hành hoạt động xuất khẩu. d Điều kiện chính trị và pháp luật
Sự ổn định hay bất ổn định về chính trị, xã hội là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến phạm vi, lĩnh vực hay mặt hàng, đối tác xuất nhập khẩu Nếu chế độ chính trị ổn định, bền vững, nhà xuất khẩu sẽ có môi trường thuận lợi để phát triển hoạt động sản xuất, xuất khẩu Ngược lại, chế độ chính trị bất ổn, ở tình trạng báo động sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho doanh nghiệp Chính vì vậy, doanh nghiệp cần tìm hiểu rõ về thị trường mục tiêu và có biện pháp ứng phó với những biến động chính trị, giảm thiểu thiệt hại tối đa
Hoạt động xuất khẩu liên quan đến nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia lại có hệ thống pháp luật khác nhau Các nhà xuất khẩu phải tuân thủ các chính sách và quy định có liên quan đến xuất khẩu; các hiệp ước, hiệp định thương mại quốc tế đã ký kết; các vấn đề pháp lý và tập quán thương mại quốc tế… e Các yếu tố tự nhiên
Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải, tới thời gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng do vậy, nó ảnh hưởng tới việc lựa chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, mặt hàng xuất khẩu…Thiên tai như bão, lũ lụt, là một nguyên nhân làm cản trở hoạt động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia f Môi trường công nghệ
Khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng quy mô, năng suất, hiệu quả, đồng thời tiết kiệm chi phí và thời gian vận hành hoạt động sản xuất Nhà xuất khẩu áp dụng các thành tựu khoa học – công nghệ sẽ dễ dàng quản lý quy trình xuất khẩu, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu Hơn nữa, hệ thống công nghệ thông tin tạo điều kiện cho doanh nghiệp xuất khẩu tìm hiểu thông tin sản phẩm và thị trường quốc tế, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, mở rộng quan hệ giữa các quốc gia, góp phần phát triển hoạt động xuất khẩu.
Giới thiệu khái quát về AEC
1.2.1 Khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển AEC a AEC là gì?
AEC (ASEAN Economic Community) hay Cộng đồng Kinh tế ASEAN là một khối kinh tế khu vực của 10 quốc gia thành viên ASEAN, là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020 b Lịch sử hình thành và phát triển
Năm 1992: Khái niệm hội nhập kinh tế ASEAN lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định khung về Thúc đẩy Hợp tác Kinh tế ASEAN ký tại Singapore Hiệp định nhấn mạnh tầm quan trọng trong hợp tác trong các lĩnh vực thương mại, công nghiệp, năng lượng và khoáng sản, tài chính và ngân hàng, thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp, giao thông và truyền thông Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) được ký kết, sau đó thay thế bởi Hiệp định ATIGA năm 2010
Năm 1995: Hiệp định khung về Dịch vụ ASEAN được ký kết
Năm 1998: Hiệp định khung về Đầu tư ASEAN được ký kết, sau đó được thay thế bởi Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN 2012
Năm 2003: Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN 9, các nhà lãnh đạo ASEAN lần đầu tiên tuyên bố mục tiêu hình thành một Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)
Năm 2006: Tại cuộc họp các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 38, Kế hoạch tổng thể xây dựng AEC (AEC Blueprint) được đưa ra với các mục tiêu và lộ trình cụ thể cho việc thực hiện AEC
Năm 2007: Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12, các nhà lãnh đạo ASEAN đồng ý đẩy nhanh việc hình thành AEC vào năm 2015 thay vì 2020
Ngày 22/11/2015: Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 27, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký kết Tuyên bố Kuala Lumpur về việc thành lập AEC
Ngày 31/12/2015: Bản tuyên bố có hiệu lực, AEC chính thức hình thành Năm 2016 - 2025: Thực hiện Kế hoạch Tổng thể Xây dựng AEC 2025
1.2.2 Mục tiêu và bản chất của AEC a Mục tiêu của AEC
Bốn mục tiêu và cũng là bốn yếu tố cấu thành AEC bao gồm:
Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua:
Tự do lưu chuyển hàng hóa; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề
Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử
Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN.Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu (WTO) b Bản chất của AEC
Dù được gọi với cái tên "Cộng đồng kinh tế", AEC thực chất chưa được coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng châu Âu (EU) bởi chưa có cơ cấu tổ
7 chức chặt chẽ và những điều lệ, quy định ràng buộc cao và rõ ràng AEC là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện thực hóa dần dần 04 mục tiêu
AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một Thỏa thuận hay một Hiệp định với các cam kết ràng buộc Tham gia vào các mục tiêu của AEC là hàng loạt các Hiệp định, Thỏa thuận, Chương trình, Sáng kiến, Tuyên bố… giữa các nước ASEAN có liên quan tới các mục tiêu Việc hiện thực hóa AEC đã được triển khai trong cả quá trình dài trước đây qua việc thực hiện các cam kết tại các Hiệp định cụ thể về thương mại đã ký kết và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới
1.2.3 Hiệp định Thương mại Hàng hóa (ATIGA) a Lịch sử hình thành
Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA) là một trong những Hiệp định cơ bản của AEC, được ký vào tháng 2/2009 và có hiệu lực từ ngày 17/5/2010, tiền thân là Hiệp định Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT/AFTA) năm
ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan Việt Nam tham gia ASEAN từ năm 1995 và bắt đầu thực hiện CEPT/AFTA từ năm 1996 và sau này tiếp tục thực hiện ATIGA b Các đặc điểm chính
Trong ATIGA, các nước ASEAN dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại tự do (FTA) mà ASEAN ký (các FTA ASEAN+)
Biểu cam kết cắt giảm thuế quan trong ATIGA của mỗi nước bao gồm toàn bộ các sản phẩm trong Danh mục hài hóa thuế quan của ASEAN (AHTN) và lộ trình
8 cắt giảm cụ thể cho từng sản phẩm trong từng năm Ngoài các cam kết về thuế quan, ATIGA cũng bao gồm nhiều cam kết khác như: xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa thương mại, hải quan, các tiêu chuẩn và sự phù hợp, c Các cam kết chính
Cam kết cắt giảm thuế quan
Nguyên tắc cam kết: Tất cả các sản phẩm trong Danh mục hài hòa thuế quan của ASEAN đều được đưa vào trong biểu cam kết thuế quan của từng nước trong ATIGA, bao gồm cả những sản phẩm được cắt giảm và không phải cắt giảm thuế
THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT
Tổng quan tình hình thương mại nội khối ASEAN
Trong giai đoạn 2003-2023, tổng kim ngạch thương mại hàng hóa ASEAN với cả đối tác nội khối và ngoại khối đã tăng trưởng đáng kể Trong năm 2003, tổng kim ngạch thương mại ASEAN đạt 871.8 tỷ USD Con số này tăng lên 2533.1 tỷ USD vào năm 2013, và 3560.1 USD vào năm 2023 Thương mại nội khối ASEAN chiếm khoảng 22% tổng kim ngạch thương mại trong giai đoạn này Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 8% đối với tổng kim ngạch xuất khẩu, 8.2% đối với các quốc gia ngoại khối và 7.4% đối với các quốc gia thành viên Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng thương mại nội khối thấp hơn so với ngoài ASEAN về cả xuất khẩu và nhập khẩu
Hình 2.1 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng bình quân xuất nhập khẩu nội khối và ngoại khối ASEAN giai đoạn 2003-2023
(Nguồn: asean.org, ASEAN STATICIAL BRIEF, Volume VIII, May 2024)
Sau Covid-2019, thương mại nội khối ASEAN tăng nhanh hơn thương mại ngoại khối Thương mại nội khối tăng lần lượt 25.5% và 20.3% vào năm 2021 và
2022, vượt qua mức tăng trưởng của thương mại ngoại khối là 25.3% và 13.5% Vào
10 năm 2023, tổng thương mại đạt 3.6 nghìn tỷ USD, giảm 7.4% so với năm trước Thương mại nội khối giảm 10.1% còn 769.9 tỷ USD, trong khi đó, thương mại ngoại khối giảm 6.7% còn 2790.2 tỷ USD Nguyên nhân là do điều kiện kinh tế toàn cầu với nhiều bất ổn như căng thẳng địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng, chi phí vận chuyển cao, sức ép về lạm phát, biến đổi khí hậu, động lực thương mại khu vực và những thách thức nội bộ trong mỗi quốc gia thành viên ASEAN
Bảng 2.1 Tổng giá trị thương mại nội khối ASEAN năm 2023
Có thể thấy, thương mại của các nước thành viên với các nền kinh tế bên ngoài vẫn vượt qua thương mại nội khối Nguyên nhân là do các quốc gia ASEAN thường ưu tiên tập trung giao thương với các quốc gia phát triển trên thế giới hay các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc Bên cạnh đó, một phần do các quốc gia chưa thực hiện quán triệt các chính sách AEC đề ra, làm giảm tiến trình hội nhập của cộng đồng kinh tế ASEAN Cán cân thương mại của các nước ASEAN trong giai đoạn 2011-2023 diễn biến thất thường Trong năm 2023, hầu hết các nước AEC đều trong tình trạng thâm hụt, chỉ có Singapore, Malaysia, Brunei, Việt Nam là có thặng dư thương mại duy trì ở mức cao Trong đó, Singapore, Malaysia và Brunei là những quốc gia kim ngạch xuất khẩu vào thị trường ASEAN lớn nhất
Thực trạng xuất khẩu hàng hoá Việt Nam sang thị trường ASEAN trước và
2.2.1 Việt Nam thực thi hiệp định thương mại hàng hóa ATIGA
Thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan theo ATIGA giai đoạn 2015-2018,
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 165/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 về việc ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam thực hiện Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN giai đoạn 2015-2018 Thực hiện cam kết ATIGA, Việt Nam đã cắt giảm 6.897 dòng thuế (chiếm 72% tổng Biểu thuế xuất nhập khẩu) xuống thuế suất 0% tính đến cuối năm 2014 Từ ngày 01/01/2015, đã có thêm 1.706 dòng thuế được cắt giảm từ 5% xuống thuế suất 0% Số còn lại gồm 669 dòng thuế (chiếm 7% tổng Biểu thuế), giảm xuống 0% vào năm 2018, bao gồm ô tô, xe máy, phụ tùng linh kiện ô tô xe máy, dầu thực vật, hoa quả nhiệt đới, tủ lạnh, máy điều hòa, Diện mặt hàng không phải xóa bỏ thuế nhập khẩu (duy trì thuế suất MFN) gồm thuốc lá điếu, các mặt hàng an ninh quốc phòng như thuốc nổ, súng đạn, pháo hoa, rác thải y tế… Việt Nam sẽ phải xóa bỏ thuế nhập khẩu các sản phẩm xăng dầu trong ASEAN với lộ trình dài nhất vào năm 2024 Ngoài ra, 2% số dòng thuế của Biểu ATIGA được loại trừ khỏi cam kết xóa bỏ thuế quan gồm các mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm được phép duy trì thuế suất ở 5% gồm: Gia cầm sống, quả có múi, thóc, gạo lứt, thịt chế biến, đường, các mặt hàng thuộc danh mục loại trừ
Bảng 2.2: Tỷ lệ xóa bỏ thuế quan của Việt Nam và các nước ASEAN theo
Theo lộ trình cam kết giai đoạn 2015- 2020, phần lớn các hiệp định thương mại tự do Việt Nam tham gia đều bước sang giai đoạn cắt giảm sâu, xóa bỏ hàng rào thuế quan đối với phần lớn các dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu Xét về mức độ cam kết, mức độ tự do hóa về thuế nhập khẩu của hầu hết các FTA mà Việt Nam đã ký trung bình đạt khoảng 90% số dòng thuế Như vậy, có thể khẳng định đến thời điểm hiện tại, ATIGA chính là Hiệp định có mức cam kết tự do hóa cao nhất, xấp xỉ 97% Xét về lộ trình, ATIGA cũng là FTA hoàn thành sớm nhất (2018)
Quy tắc về nguồn gốc xuất xứ ROO Để hướng dẫn doanh nghiệp Việt Nam về việc áp dụng các quy tắc xuất xứ và thủ tục chứng nhận xuất xứ trong ATIGA, Bộ Công Thương đã ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện cho DN Hai thông tư mới nhất về quy tắc xuất xứ trong ATIGA là:
Thông tư số 22/2016/TT-BCT: Ngày 3/10/2016, Chính phủ ban hành
Thông tư số 22/2016/TT-BCT thực hiện quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
Thông tư số 03/2023/TT-BCT: sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2016/TT-BCT ngày 3 tháng 10 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện Quy tắc xuất xứ hàng hoá trong Hiệp định Thương mại hàng hoá ASEAN ban hành ngày 14/02/2023
Ngoài ra, từ tháng 9/2014, Việt Nam tham gia dự án thí điểm số 2 về Tự chứng nhận nguồn gốc xuất xứ Theo cơ chế này, các DN đủ điều kiện được tự chứng nhận xuất xứ cho hàng hóa của mình mà không cần phải xin cấp C/O từ cơ quan có thẩm quyền
Thực hiện cơ chế 1 cửa ASEAN
Theo Bộ Công Thương, Việt Nam chính thức thực hiện Cơ chế Một cửa Quốc gia và kết nối kỹ thuật Cơ chế Một cửa ASEAN ngày 8 tháng 9 năm 2015 Ở trong nước, Cơ chế này kết nối các Bộ để đảm bảo một cửa đối với các thủ tục quản lý chuyên ngành liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Các nội dung cam kết khác:
Ngoài ra, Việt Nam cũng đảm bảo thực hiện các nguyên tắc chung về quy định tiêu chuẩn kỹ thuật, gỡ bỏ hàng rào phi thuế quan, đảm bảo hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hiện nay, đàm phán nâng cấp Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) là một trong những ưu tiên quan trọng nhất của ASEAN Trong năm 2023, Bộ Công Thương đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng phương án và tham gia 05 phiên đàm phán nâng cấp, tập trung vào những vấn đề thương mại hàng hóa truyền thống như: minh bạch hóa, xử lý hàng rào phi thuế quan, tạo thuận lợi thương mại để thúc đẩy hơn nữa thương mại nội khối ASEAN, cũng như những vấn đề mới nổi nhằm đảm bảo Hiệp định trở thành một hiệp định thương mại hiện đại đáp ứng tình hình mới của khu vực và toàn cầu
Giai đoạn trước năm 2015, qua kim ngạch 4 năm qua kể từ 2011 đến 2015, ASEAN luôn chỉ xếp thứ 3 về giá trị xuất khẩu, đứng sau Mỹ và EU, trong khi đó dân số của ASEAN đông gần gấp đôi Mỹ (318 triệu người, thống kê tháng 7/2014) và hơn 100 triệu người so với 17 nền kinh tế của Liên minh Châu Âu (EU) cộng lại
(505 triệu người năm 2013) Giai đoạn 2015 - 2017, ASEAN lùi xuống vị trí thứ tư trước sự vươn lên của Trung Quốc bên cạnh hai thị trường lớn truyền thống là Hoa kỳ và EU Các doanh nghiệp Việt Nam dường như chưa mặn mà với thị trường này
Bảng 2.3: Một số thị trường xuất khẩu của Việt Nam 2011-2017 (tỷ USD)
(Nguồn số liệu: Bộ công thương 2020)
Nhìn chung, trong giai đoạn 2015-2023, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả
14 nước, với mức kim ngạch xuất khẩu dao động từ 9%-11,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Năm 2015, tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang ASEAN chiếm 11,23% và có xu hướng giảm qua các năm; đến năm 2023 tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang ASEAN còn 9,16%
Hình 2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2013-2023
(Nguồn số liệu: Mekong ASEAN)
Kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN tăng nhưng tỷ trọng giảm chứng tỏ Việt Nam đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường xuất khẩu Cơ cấu thị trường xuất khẩu dịch chuyển theo hướng giảm dần tỷ trọng xuất khẩu của ASEAN, tăng dần tỷ trọng xuất khẩu đến các nước như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc Bên cạnh việc gia nhập AEC, Việt Nam cũng đã liên tục ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTAs) với những đối tác lớn trên thế giới, khiến xuất khẩu sang các thị trường này tăng mạnh Thị trường ASEAN mặc dù dân số đông, tiêu dùng cao nhưng trình độ phát triển kinh tế không đồng đều và bị phân hóa chi tiêu Phân hóa thị trường lớn khiến nhu cầu hàng hóa bị xé lẻ và khó để xâm nhập thị trường so với thị trường Mỹ và EU, khi thu nhập đồng đều và sức mua tương đương nhau Khi xuất khẩu sang Mỹ, EU hầu hết các khâu do nhà nhập khẩu chịu hoặc đơn hàng lớn, giá cao, chi phí vận chuyển không ảnh hưởng nhiều Trong khi đó xuất khẩu sang ASEAN, dù quãng đường ngắn nhưng đơn hàng nhỏ, giá thấp nên lợi nhuận không cao
Cũng vào giai đoạn 2011-2015, Việt Nam liên tục nhập siêu từ các nước ASEAN Trong tổng số 9 thị trường của khối ASEAN thì có 5 thị trường VN xuất
15 siêu gồm Campuchia, Philippines, Indonesia, Myanmar và Brunei với tổng mức xuất siêu đạt 3,11 tỷ USD, tuy nhiên không bù đắp được mức thâm hụt ở 4 thị trường Singapore, Thái Lan, Lào và Malaysia lên đến 6,46 tỷ USD Đến năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN đạt 18,25 tỷ USD, giảm 1,1% so với 2014 và chiếm 12,73% so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Từ năm
2015 đến nay, mặc dù quan hệ thương mại giữa Việt Nam và khối ASEAN đã không ngừng được cải thiện, song cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam với ASEAN luôn ở trong trạng thái thâm hụt, đặc biệt kể từ sau khi Hiệp định ATIGA bước vào giai đoạn cắt giảm sâu
Hình 2.3 Xuất nhập khẩu Việt Nam - ASEAN giai đoạn 2011-2024
(Nguồn: mekongasean, Báo cáo KT&XH các năm của GSO)
Năm 2020 và 2021, các nước gặp nhiều khó khăn vì ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nhưng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang ASEAN vẫn tăng về quy mô và đạt kim ngạch 23.411,3 triệu USD và 28.866 triệu USD vào năm 2020 và năm 2021 Đến năm 2022 Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang ASEAN đạt 34.021,3 triệu USD, tăng 15.826,2 triệu USD, tương ứng với mức tăng 86,98%, chiếm 9,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nước ta Bên cạnh đó, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN nhìn chung chưa ổn định
Hình 2.4 Biểu đồ Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
(Nguồn: Tổng cục thống kê niên giám 2022, Báo cáo XNK- Bộ CT 2023)
2.2.3 Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa
Trước năm 2010, Việt Nam xuất khẩu sang ASEAN chủ yếu các mặt hàng dầu thô và gạo và 1 số sản phẩm cây công nghiệp như: cà phê, cao su, hồ tiêu, điều
Cơ hội, thách thức từ AEC khi xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang ASEAN 23 2 Cơ hội
Thứ nhất, cơ hội mở rộng thị trường, ổn định nguồn nhập khẩu và hạ giá nguyên liệu đầu vào Đối với Việt Nam, ASEAN là một thị trường rộng mở và đầy tiềm năng để xuất khẩu cũng như tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là khi các nước trong khu vực được tạo thuận lợi thương mại thông qua ATIGA Ngoài ra, Việt Nam còn có thể tận dụng các quan hệ hợp tác giữa ASEAN với các đối tác lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản thông qua các FTAs sẵn có Việc thực
24 hiện các cam kết trong ASEAN đã và đang tạo nền tảng để Việt Nam tiếp tục mở rộng và tăng cường quan hệ với các đối tác ngoài ASEAN, góp phần nâng cao vị thế quốc gia Các cam kết thuế quan đem lại cho Việt Nam sự tăng trưởng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu nhờ giảm chi phí xuất khẩu
Ngoài các quy định về cắt giảm hàng rào thuế quan đối với hàng hoá nhập khẩu, nội dung của ATIGA cũng bao gồm việc xóa bỏ các rào cản phi thuế quan đối với tất cả mặt hàng, các quy định chung về nguyên tắc xuất xứ, dỡ bỏ hạn ngạch, cũng như hướng tới xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan khác Những điều kiện thuận lợi đối với thương mại hàng hoá này vừa là cơ hội, vừa là thách thức với Việt Nam Khi đặt ra các yêu cầu khắt khe hơn được đặt ra, đồng nghĩa với việc chúng ta phải nỗ lực hơn nữa để đổi mới và sáng tạo, từ đó gia tăng năng lực cạnh tranh
Thứ hai, đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo chiều hướng tích cực và hiện đại hơn AEC là cơ hội để Việt Nam tận dụng lợi thế và các ưu đãi về vốn, thuế phí cũng như hỗ trợ về khoa học công nghệ để gia tăng tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, cũng như các mặt hàng có hàm lượng công nghệ, tri thức cao như điện thoại, linh kiện điện tử, vi mạch, bán dẫn…
Thứ ba, một trong những mục tiêu quan trọng của AEC là hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động có tay nghề sẽ được tự do lưu chuyển trong ASEAN mà không chịu bất cứ hàng rào hay sự phân biệt đối xử nào giữa các thành viên Vì vậy, Việt Nam sẽ có cơ hội tăng cường thu hút FDI, cũng như có cơ hội mở rộng đầu tư và tìm kiếm các cơ hội kinh doanh cả trong và ngoài khối; tiếp cận các nguồn hỗ trợ sẵn có về khoa học công nghệ, học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, góp phần nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Thứ tư, trong việc tạo thuận lợi thương mại, đơn giản hoá các thủ tục thương mại trong xuất khẩu hàng hoá Trong tiến trình hội nhập kinh tế ASEAN và quá trình
25 thực thi ATIGA, Việt Nam đã cùng với các nước trong ASEAN thúc đẩy các cam kết, sáng kiến về thuận lợi hóa thương mại và minh bạch như: Xây dựng Cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN (ATR), thực hiện trao đổi Giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu D thông qua cơ chế Một cửa ASEAN (ASW), Nhờ đó, các doanh nghiệp Việt Nam đã cắt giảm được đáng kể thời gian, chi phí khi thực hiện các thủ tục giao dịch thương mại
So với các hiệp định thương mại khác, quy tắc xuất xứ trong ATIGA được đơn giản hóa đáng kể với một số điều chỉnh quan trọng Nhìn chung, hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN là Hiệp định có quy tắc xuất xứ đơn giản nhất trong số FTAs mà Việt Nam đã tham gia, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) đủ điều kiện đáp ứng tiêu chuẩn để có cơ hội tiếp cận với các thị trường tiềm năng
Nhìn vào sự phát triển của các nước ASEAN thì rõ ràng khi tham gia vào AEC, bên cạnh những cơ hội tích cực, Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do xuất phát điểm kinh tế thấp, sức cạnh tranh còn hạn chế Những tồn tại, hạn chế trong thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang ASEAN là do nhiều nguyên nhân Kết quả khảo sát cho thấy doanh nghiệp đánh giá thể chế kinh doanh chưa đầy đủ, xuất khẩu chưa được thúc đẩy tốt, năng lực cạnh tranh yếu, hội nhập quốc tế chưa hiệu quả, kinh tế - công nghệ kém phát triển, hạ tầng và nhân lực còn hạn chế
Hình 2.9 Biểu đồ đánh giá của doanh nghiệp về nguyên nhân hạn chế của thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường ASEAN
(Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát doanh nghiệp của Nguyễn Thị Ninh)
Thứ nhất, chính sách tài chính, tín dụng và tỷ giá chưa hỗ trợ hiệu quả cho doanh nghiệp trong việc tận dụng lợi thế cạnh tranh Môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều rào cản, thủ tục hành chính phức tạp, gây khó khăn cho DN xuất khẩu Dù Chính phủ có nhiều chỉ đạo tích cực, nhưng quá trình sửa đổi chính sách còn chậm, chưa theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng của thương mại quốc tế
Thứ hai, việc triển khai các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang
ASEAN chưa thực sự tập trung và hiệu quả Chưa có nhiều biện pháp cụ thể thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang một thị trường riêng biệt Các biện pháp còn chung chung Trong khi đó, các hoạt động triển khai nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn nhiều hạn chế bởi nguồn kinh phí và năng lực khi áp dụng thực tế
Thứ ba, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đã, đang và sẽ gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ chính các nước trong khu vực khi các hàng rào thương mại được dỡ bỏ theo cam kết khi gia nhập AEC Các ngành có kim nga ̣ch xuất khẩu lớn nhất của Viê ̣t Nam cũng chính là các ngành ưu tiên phát triển của nhiều nước ASEAN như: Thái Lan ưu tiên phát triển ngành ô tô, điện tử, chế biến lương thực… Philippines ưu tiên ngành du lịch, dịch vụ kinh doanh,
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Thứ tư, các nước ASEAN vẫn chưa thể xóa bỏ hoàn toàn rào cản thương mại
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Nhóm mặt hàng thủy sản
2.4.1 Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường ASEAN trước và sau AEC được thành lập
Sau khi hiệp định ATIGA được ký kết, Việt Nam được hưởng mức thuế suất thấp khi xuất khẩu các mặt hàng sang các nước trong khu vực Theo đó, phần lớn các mặt hàng, trong đó có thủy sản được cắt giảm mức thuế về 0%
Hình 2.10 Biểu đồ kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào thị trường ASEAN
(Nguồn số liệu: Tổng hợp từ Báo cáo của VASEP, Tổng cục thống kê)
Trước khi AEC thành lập (giai đoạn 2011-2015), kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường nội khối có mức tăng trưởng khá đều qua từng năm Dù tỷ lệ tăng trưởng còn dao động nhưng nhìn chung vẫn có những tín hiệu tích cực Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu vẫn còn khá thấp, luôn dưới mức 500 triệu USD (cao nhất là 499,2 triệu USD vào năm 2015) Có thể thấy, trước khi AEC được thành lập, dù đã có lợi thế về mức thuế xuất khẩu nhờ Hiệp định ATIGA nhưng ngành thủy sản nước ta vẫn chưa khai thác hết được tiềm năng của thị trường ASEAN
Cuối năm 2015, Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập, mở ra cơ hội lớn cho ngành thủy sản Việt Nam Năm đầu tiên sau khi thành lập AEC, sự tăng trưởng này vẫn chưa quá rõ rệt, biểu hiện ở tỷ lệ tăng trưởng năm 2016 chỉ là 5,38% so với năm 2015 Các năm tiếp theo, kim ngạch xuất thủy sản của Việt Nam liên tục tăng và đạt gần 700 triệu USD vào năm 2019 Tuy nhiên, trong 2 năm sau đó, kim ngạch xuất khẩu lại có dấu hiệu sụt giảm, nhất là vào năm 2021 Nguyên nhân đến từ việc kinh tế của các nước trong khu vực bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 dẫn đến mức nhập khẩu thủy sản giảm Năm 2022 chứng kiến bước tăng trưởng nhảy vọt trong xuất khẩu thủy sản với tỷ lệ tăng trưởng là 39,86%, kim ngạch xuất khẩu đạt 779,06 triệu USD, cao nhất cho tới thời điểm hiện tại, điều này là bởi sự phục hồi về kinh tế của các nước ASEAN sau đại dịch xuất khẩu thủy sản các năm sau có xu hướng giảm sau cú bật năm 2022 nhưng nhìn chung vẫn khá cao và ổn định
Cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản:
Hình 2.11 Biểu đồ cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang ASEAN
(Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo Xuất nhập khẩu Tổng cục Thống kê và mekongasean)
Thái Lan, Singapore, Malaysia và Philippines là 4 thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất khi kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường này chiếm tới hơn 90% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào ASEAN Thái Lan vẫn luôn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất (khoảng 40%) Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Singapore lại giảm hơn 10% sau 11 năm, nguyên nhân có thể do nước này ngày càng có tiêu chuẩn cao về chất lượng thủy sản (vệ sinh an toàn thực phẩm) Xuất khẩu thủy sản sang 2 thị trường Philippines và Malaysia đang có tín hiệu tốt khi cả 2 thị trường này đều trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ
2 của Việt Nam, mỗi nước chiếm 18% kim ngạch xuất khẩu thủy sản Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa khai thác tốt các thị trường còn lại trong ASEAN, biểu hiện ở việc xuất khẩu thủy sản sang các thị trường này chỉ chiếm khoảng 6-7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào thị trường nội khối
Năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trong thị trường ASEAN:
Thủy sản là một trong những hàng hóa xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam Nhờ việc cắt giảm thuế quan về mức thấp sau khi ký kết Hiệp định ATIGA và thành lập AEC, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nước ta đạt được những mức tăng trưởng mạnh mẽ qua từng năm trong thị trường nội khối Ngoài ra, ngành thủy sản
30 của nước ta cũng được hưởng lợi nhờ việc cắt giảm thuế suất theo các FTAs với các quốc gia, tổ chức khác trên thế giới như ATR cam kết cắt giảm 65% dòng thuế thủy sản ngay khi Hiệp định có hiệu lực, và đưa mức thuế về 0% sau 0-3 năm; Những FTAs này là cơ hội lớn để xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt tăng trưởng cao, khẳng định lợi thế của mình, trở thành một trong 3 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới
Lĩnh vực nuôi trồng của Việt Nam cũng có triển vọng khi nhiều đối tượng mới được đưa vào sản xuất; diện tích và sản lượng có sự tăng trưởng; công nghệ được áp dụng tạo ra sản phẩm giá trị, có chất lượng Là ngành kinh tế truyền thống, chế biến thủy sản đã nắm bắt xu hướng hội nhập, khai thác hiệu quả lợi thế cạnh tranh và dần khẳng định là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, có sự phát triển khởi sắc
2.4.2 Cơ hội, thách thức khi xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang ASEAN a Cơ hội khi tham gia AEC
Thứ nhất, Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường tiêu thụ lớn với hơn 600 triệu dân Thêm vào đó, cá và các sản phẩm thủy sản có mức tiêu thụ bình quân đầu người của khu vực năm 2017 là 39,4 kg/người/ năm, gần gấp đôi mức tiêu thụ bình quân 20,3 kg/người/năm của thế giới
Thứ hai, sau khi ATIGA được ký kết, mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang các nước ASEAN được hưởng mức thuế ưu đãi, có thể giảm xuống mức 0% trong một số trường hợp Việc cắt giảm thuế quan đối với mặt hàng thủy sản sẽ tạo lợi thế quan trọng cho Việt Nam khi cạnh tranh với các đối thủ đến từ ASEAN
Thứ ba, Việt Nam có cơ hội tiếp cận công nghệ, phương pháp nuôi trồng thủy sản bền vững từ những nước có thế mạnh về nuôi trồng thủy sản ở ASEAN thông qua các cuộc họp, hội nghị, hội thảo, Ngoài ra, thủy sản Việt Nam cũng sẽ có cơ hội tăng sức cạnh tranh nhờ sử dụng các dịch vụ đầu vào giá rẻ hơn như vận tải, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu vật tư, trang thiết bị; là cơ hội tăng cường hợp tác
31 liên doanh để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến chuỗi sản xuất hàng giá trị gia tăng… b Thách thức khi tham gia AEC
Thứ nhất, khi tham gia vào AEC, Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm cao hơn để có thể xuất khẩu thủy sản sang các nước trong khu vực Hiện tại, ngành thủy sản Việt Nam đang đáp ứng khá tốt yêu cầu của Khung pháp lý an toàn thực phẩm ASEAN (ASEAN SFRF) Tuy nhiên, trong tương lai, AEC có thể áp dụng các quy định khắt khe hơn về vệ sinh an toàn thực phẩm nên các doanh nghiệp Việt Nam luôn cần cập nhật các tiêu chuẩn mới để đáp ứng những yêu cầu mới
Thứ hai, hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam phải cạnh tranh gay gắt và khốc liệt hơn với hàng thủy sản của các nước khác, nhất là những quốc gia có thế mạnh hơn Đây sẽ là một khó khăn khi Việt Nam chỗ đứng và duy trì thị phần tại ASEAN
Thứ ba, Việt Nam vẫn chưa áp dụng nhiều công nghệ cao trong nuôi trồng và chế biến thủy sản, trong khi các quy định về tiêu chuẩn chất lượng, môi trường, điều kiện lao động, phương pháp nuôi trồng bền vững, và trách nhiệm trong khu vực ASEAN ngày càng nghiêm ngặt Mặt khác, những hạn chế về năng lực sản xuất, chi phí logistics tăng cao cũng làm giảm khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam
Thứ tư, thủy sản Việt Nam gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định, chất lượng tốt Thực tế, nguồn nguyên liệu hiện nay không ổn định do đầu vào sản xuất như: thức ăn, con giống, hóa chất, kháng sinh, phụ thuộc phần lớn vào các nguồn cung nước ngoài, các cơ quan quản lý chưa hoặc không kiểm soát tốt, dẫn đến dịch bệnh, chất lượng kém Chi phí sản xuất cao hơn so với các nước khác khiến cho giá thành sản phẩm và giá xuất khẩu cao, làm giảm khả năng cạnh tranh
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT NAM SANG ASEAN
Định hướng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường ASEAN
Hiện nay, tình hình thế giới cnhiều bất ổn và biến động khó lường về địa kinh tế, địa chính trị, dịch bệnh, biến đổi khí hậu; sự thay đổi các chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực, trong khi Cách mạng Công nghiệp 4.0 bùng nổ với kinh tế số, nền tảng số được dự báo là xu hướng chủ đạo của khu vực ASEAN và kinh tế thế giới nói chung Điều này tạo ra cơ hội và thách thức mới đan xen tới hoạt động phát triển xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN trong thời gian tới Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu các ngành nhóm hàng chủ lực càng trở nên cần thiết nhằm duy trì sự ổn định, phát triển bền vững trong xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
Thứ nhất , khẳng định coi trọng giá trị nhiều mặt của ASEAN trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, nhấn mạnh tính chất chiến lược của ASEAN đối với Việt Nam, đồng thời khắc phục cả hai trạng thái tâm lý quá kỳ vọng hoặc chưa nhận thức đúng và đủ về vai trò, vị trí của ASEAN
Thứ hai, kết hợp xúc tiến thương mại và xúc tiến đầu tư hiệu quả tại thị trường ASEAN, có chiến lược phù hợp và hiệu quả đầu tư vào các nước ASEAN; tăng cường liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh và hình thức đầu tư phù hợp để thúc đẩy xuất khẩu sang ASEAN tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Việt Nam
Thứ ba, phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa gắn với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, phát triển nền sản xuất xanh sạch, bền vững, tuần hoàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hoá Việt Nam xuất khẩu
Thứ tư, phát triển xuất khẩu bền vững, phát huy lợi thế so sánh và chuyển đổi mô hình tăng trưởng hợp lý theo chiều sâu, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, bảo vệ
33 môi trường sinh thái và giải quyết tốt các vấn đề xã hội Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu hàng hóa theo chiều sâu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tăng tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, ưu tiên các sản phẩm kinh tế xanh, thân thiện với môi trường
Thứ năm, phát triển đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, khai thác hiệu quả cơ hội và hạn chế các thách thức từ việc thực thi cam kết trong Hiệp định ATIGA, chuyển dịch cơ cấu thị trường theo hướng tích cực, đảm bảo tính cân đối, hài hòa về cơ cấu thị trường xuất khẩu, tránh tập trung dẫn đến phụ thuộc quá mức vào một số thị trường trọng điểm như Thái Lan, Indonesia,
Thứ sáu, thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, trước hết là khu vực ASEAN Tận dụng lợi thế nội khối từ hiệp định ATIGA để hỗ trợ các SMEs tiếp cận với các nguồn lực tài chính, tìm kiếm đối tác và quảng bá sản phẩm thông qua nền tảng số như ASEAN Access.
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường ASEAN
3.2.1 Giải pháp đối với Nhà nước
Thứ nhất, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ trong việc hoàn thành cơ sở hạ tầng cho các ngành theo hướng quy hoạch rõ các vùng sản xuất, tạo ra sự liên kết nhằm mở rộng quy mô sản xuất, chế biến sản phẩm theo hướng bán công nghiệp và công nghiệp, giảm thiểu tình trạng sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, không hiệu quả
Thứ hai, Nhà nước cần tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại (tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại, ) thông qua các Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư tạo các kết nối cần thiết ở cấp quốc gia và doanh nghiệp với các nước trong khu vực nhằm tăng cường khả năng tiếp cận thị trường cho các doanh nghiệp xuất khẩu Các cơ quan ban ngành cũng cần nghiên cứu, phổ biến những quy định mới, sự thay đổi trong chính sách của các nước trong khu vực để doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh hoạt động cho phù hợp
Thứ ba, các chính sách về khuyến khích đầu tư phát triển khoa học công nghệ và nâng cao chất lượng lao động cần được chú trọngđể cải thiện quy trình sản xuất của các doanh nghiệp, tối ưu hóa sản xuất Ngoài ra, cần đầu tư để nâng cao thêm chất lượng sản phẩm, tạo ra các sản phẩm mới, có chất lượng cao hơn và đáp ứng được nhu cầu của các thị trường trong khu vực ASEAN
Thứ tư, Nhà nước cần chú trọng phát triển hệ thống giao thông và cảng biển để tối ưu hóa thời gian vận chuyển hàng hóa sang các nước khác trong khu vực làm tăng tốc độ lưu thông hàng hóa, từ đó giảm chi phí vận chuyển vào quốc gia khác
3.2.2 Giải pháp đối với doanh nghiệp
Thứ nhất, các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động, sáng tạo, không ngừng đổi mới, xây dựng chiến lược kinh doanh cụ thể để thâm nhập thị trường Theo đó, để hàng hóa Việt Nam xuất đi sang các thị trường doanh nghiệp cần phải có chiến lược kinh doanh, theo sát xu hướng tiêu dùng của người dân ASEAN, liên kết với các nhà phân phối uy tín, có năng lực… Đây là việc làm quan trọng bởi sản phẩm của mỗi nước, mỗi doanh nghiệp đều nằm trong chuỗi giá trị của khu vực
Thứ hai, doanh nghiệp cần chủ động đổi mới khoa học công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, năng lực khoa học công nghệ trong sản xuất; nghiên cứu, áp dụng thành tựu khoa học của thế giới vào sản xuất nhằm đáp ứng các yêu cầu khắt khe về kiểm soát hàng hóa nhập khẩu cũng như yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng nội khối
Thứ ba, doanh nghiệp cần tích cực, chủ động tìm kiếm các thị trường mới trong khu vực, đặc biệt cần trang bị các kiến thức pháp lý, kỹ thuật, các điều kiện cần thiết khi xuất khẩu hàng hóa vào các thị trường mới, kịp thời cập nhật và nắm bắt các FTA mới mà Việt Nam ký kết để tận dụng lợi thế xuất khẩu Đồng thời, cần tăng cường xây dựng và thực hiện các kế hoạch quản lý rủi ro để đối phó với các biến động thị trường và các rủi ro khác có thể gặp phải trong quá trình xuất khẩu hàng hóa
3.2.3 Giải pháp đối với mặt hàng thủy sản
Thứ nhất, phát triển hoạt động phân phối thủy sản của Việt Nam tại thị trường
ASEAN cần được đẩy mạnh hơn Nhờ việc nắm bắt cụ thể thông tin, Việt Nam sẽ có cái nhìn tổng quan hơn về hoạt động phân phối ở từng nước trong ASEAN Trong bối cảnh bình thường mới, cần có những biện pháp kịp thời nhằm chọn lựa nhà phân phối tại nước phù hợp để xuất khẩu Việt Nam cần xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu chính xác, đầy đủ về các hệ thống phân phối tại thị trường Đông Nam Á, nhờ đó nhà nhập khẩu sẽ làm việc với các nhà bán buôn, các kênh phân phối tại từng thị trường để đảm bảo xuất khẩu vào thị trường nội khối một cách tốt nhất
Thứ hai, cần thực hiện việc kiểm soát và phát triển nguồn nguyên liệu chế biến từ nuôi trồng một cách hợp tiêu chuẩn, nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản Ngoài ra, Nhà nước cần đề ra các nhiệm vụ về quy hoạch và ưu tiên đầu tư vào các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ cho vùng nuôi thủy sản tập trung nhằm tạo ra nguồn cung ứng nguyên liệu chất lượng, an toàn thực phẩm để đáp ứng được các tiêu chuẩn về xuất xứ hàng hóa
Thứ ba, đề ra các giải pháp về công nghệ, trong đó nghiên cứu và áp dụng những tiến bộ của công nghệ tiên tiến và tận dụng được những thành công của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào sản xuất, nhằm phát triển hàng hóa thủy sản, giúp tăng năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh thủy sản trong thị trường nội khối Cần tập trung vào nghiên cứu phát triển, mục tiêu về chuyển giao công nghệ tiên tiến và áp dụng những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật trong chế biến, bảo quản và vận chuyển thủy sản
ASEAN là thị trường truyền thống có vai trò đặc biệt quan trọng trong thương mại quốc tế của Việt Nam Tận dụng, khai thác hiệu quả các thị trường có FTAs, đặc biệt là thị trường tiềm năng ASEAN cho các sản phẩm xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng trong phát triển thị trường quốc tế Tuy nhiên, tỷ trọng của thị trường ASEAN trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới có xu hướng suy giảm trong những năm gần đây, trong khi ASEAN là thị trường có mức độ cam kết tự do hóa thương mại cao nhất trong các FTAs Việt Nam tham gia
Bên cạnh những mặt tích cực, cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam với thị trường ASEAN cũng bộc lộ những bất cập: phụ thuộc vào một số ít mặt hàng chủ lực Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu tiếp tục có sự dịch chuyển nhưng với tốc độ chậm, chưa hướng mạnh vào xuất khẩu hàng hóa chế biến sâu, có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao, chưa phát huy được tiềm năng xuất khẩu của các mặt hàng do khu vực vốn trong nước sản xuất xuất khẩu thủy sản là một ví dụ tiêu biểu, khi đã tận dụng được lợi thế về thuế quan để gia tăng kim ngạch nhưng vẫn đối mặt với những thách thức về năng lực sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng và cạnh tranh trong khu vực Mặc dù có sự tăng trưởng đáng kể sau khi AEC được thành lập, xuất khẩu thủy sản Việt Nam vẫn cần cải thiện chuỗi cung ứng, nâng cao giá trị gia tăng, và tăng cường tính cạnh tranh để duy trì vị thế trong thị trường ASEAN Để nâng cao hiệu quả hợp tác thương mại ASEAN và tránh bất lợi trong tiến trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu, yêu cầu đặt ra là phải tái cơ cấu thương mại Việt Nam với ASEAN Trong đó việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng, làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam với ASEAN, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp thực tiễn Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng nhất Có thể nói, hội nhập ASEAN cho đến nay vẫn được coi là “điểm tựa” quan trọng cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, góp phần nâng cao vai trò và vị thế quốc gia trên trường quốc tế
1 (2019), Hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2011-2019 và một số đề xuất, Tạp chí Tài chính; truy cập ngày 20/02/2025, tại https://tapchitaichinh.vn/hoat-dong-xuat-khau-hang-hoa-cua-viet-nam-giai- doan-2011-2019-va-mot-so-de-xuat.html
2 Bộ Công thương (2024), Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2023, Hà Nội
3 Dương Hồng Ngọc (2020), EVFTA: Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp thủy sản Việt Nam Tạp chí Công thương,
4 EXPLORING INTRA-ASEAN MERCHANDISE TRADE DYNAMICS ASEAN STATICIAL BRIEF, Volume VIII, May 2024
5 GS.TS Đỗ Đức Bình, PGS.TS Ngô Thị Tuyết Mai (2022), Giáo trình Kinh tế quốc tế, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
6 HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA ASEAN (ATIGA) VÀ CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI doanh nghiệp VIỆT NAM, ThS Ma Ngọc Ngà *
TS Phạm Văn Hiếu, Tạp chí 40 Kinh doanh và Công nghệ Số 06/2020 https://tapchicongthuong.vn/evfta co-hoi-va-thach-thuc-doi-voi-doanh- nghiep-thuy-san-viet-nam-70038.htm
7 Hương Anh (2022), Lợi thế và thách thức của ngành thủy sản Việt Nam trên con đường chinh phục thị trường thế giới, truy cập ngày 20/02/2025, tại https://fireant.vn/bai-viet/loi-the-va-thach-thuc-cua-nganh-thuy-san-viet-tren- con-duong-chinh-phuc-thi-truong-the-gioi/19276561