Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, đánh giá đặc trưng thành phần nước biển sâu của khu vực, tập thể tác giả tiến hành khoanh vùng khu vực có tiềm năng khai thác và đảm bảo độ an toàn về
Trang 1Nghiên cứu đặc trưng Lý-Hóa-Sinh nước biển sâu vùng biển Quảng Bình phục vụ sản xuất một số loại chế phẩm dùng trong
y tế như nước muối sinh lý
Hoàng Văn Hiệp1, *
, Nguyễn Đình Nguyên1, Vũ Văn Tích2
, Đinh Xuân Thành1, Nguyễn Đình Thái1
1
Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
2 Đại học Quốc gia Hà Nội - 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội
*
Tác giả liên hệ ĐT: 090 152 6006
E-mail: hoanghiep.hus@gmail.com ;
Tóm tắt:
Nước biển sâu-phần của nước biển thông thường được bơm lên từ độ sâu dưới 200 m Nước biển sâu thường có các đặc điểm: nhiệt độ thấp, độ tinh khiết cao và giàu chất dinh dưỡng, có lợi các nguyên tố có lợi cụ thể là: magiê, canxi, kali, crôm, selen, kẽm và vanadi Nước biển sâu ít có sự quang hợp của thực vật sinh vật phù du, tiêu thụ chất dinh dưỡng và phân hủy hữu
cơ là nguồn tạo ra dinh dưỡng tồn tại ở đó Do đó, nước biển sâu có tiềm năng trở thành một nguồn nguyên liệu tốt cho sức khỏe Bài báo này đánh giá lợi ích tiềm năng của nước biển sâu đối với sức khỏe tại khu vực vùng biển Quảng Bình dựa theo một số đặc điểm lý - hóa - sinh học phù hợp phục vụ sản xuất nước muối sinh lý Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, đánh giá đặc trưng thành phần nước biển sâu của khu vực, tập thể tác giả tiến hành khoanh vùng khu vực có tiềm năng khai thác và đảm bảo độ an toàn về chất lượng môi trường phục vụ các mục đích sản xuất này
Từ khóa: Nước biển sâu, Deep Sea water, vùng biển Quảng Bình, nước muối sinh lý
1 Mở đầu
Con người và hầu hết các sinh vật sống hiện nay đều cần nước cho nhiều chức năng khác nhau của cơ thể sống như điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, tăng cường chuyển hóa các chất, và cung cấp khoáng chất cần thiết cho cơ thể Có nhiều nguồn nước hiện nay có thể đáp ứng được các nhu cầu trên như nước mặt, từ các tầng nước dưới đất, suối và nước biển Nước biển sâu (Deep sea water-DSW) từ lâu đã được biết đến là một nguồn nước tốt và có chất lượng Nó có thể cung cấp nhiều khoáng chất cần thiết cho sức khỏe của con người và sinh vật Nước biển sâu thông thường là loại nước biển được bơm lên từ độ sâu nhất định (khoảng 200 m đến sâu hơn 400m) tùy theo đặc trưng vùng miền và kết quả của các quá trình diễn ra dưới sâu hoặc các tác động nhân sinh khác nhau đến chất lượng nước biển
Trang 2Nước biển sâu thông thường được biểu hiện bởi các đặc điểm đặc trưng: nhiệt
độ thấp, độ tinh khiết cao và giàu chất dinh dưỡng bởi việc chứa các nguyên tố có lợi
Do nằm ở độ sâu ít nhận bức xạ mặt trời nên hầu như nước biển sâu không có hoạt động vi khuẩn, ít có sự quang hợp của sinh vật phù du thực vật, tiêu thụ chất dinh dưỡng và nhiều phân hủy hữu cơ hoàn toàn từ nước ngầm và các ion khoáng từ các đá
và chứa các khoáng chất thấp [2] Tuy nhiên trên thực tế thì hàm lượng khoáng chất trong nước biển sâu có thể thay đổi theo vị trí địa lý và nguồn cấp Nước biển sâu có khả năng cung cấp nhiều khoáng chất để sản xuất nước uống và các sản phẩm phụ khác Sản phẩm của nước biển sâu liên quan đến quá trình khử muối, bên cạnh đó là quá trình khoáng hóa
Thềm lục địa Việt Nam với độ sâu dưới 200m chiếm hơn nửa diện tích biển Ở các khu vực vịnh Bắc Bộ và vùng biển phía Tây Nam độ sâu của tầng nước biển biến đổi từ vài mét đến dưới 100m Khu vực miền trung Việt Nam độ sâu của nước biển lên đến 2500m Các số liệu đo đạc nhiệt độ nước biển Đông cho thấy, nhiệt độ đáy biển phụ thuộc vào độ sâu (với độ sâu đáy biển từ 300-500m thì nhiệt độ đáy biển thay đổi
từ 10,5 đến 7,5oC và độ sâu từ 1.000-3.000m thì thay đổi từ 5-2,5oC) Ở phần sâu hơn tại Trũng biển Đông, nhiệt độ xuống dưới 2oC Khu vực sườn lục địa, việc thay đổi nhiệt độ có giá trị cao, từ 60-94oC/km Dựa vào các nghiên cứu khoa học về độ sâu của thềm lục địa Việt Nam ta thấy rằng tại Việt Nam hoàn toàn có thể khai thác nguồn biển nước sâu Rõ ràng với hơn ½ diện tích biển của Việt Nam có độ sâu của thềm lục địa từ 200m trở xuống đến 5.560m nước biển sâu ở đây là nguồn cung cấp nguyên liệu tốt nhất
Tuy nhiên trên thực tế, việc nghiên cứu các đặc trưng của nước biển sâu phục
vụ sản xuất các sản phẩm theo các mục đích y tế ở nước ta hiện chưa được đầu tư và quan tâm Hầu hết các công trình nghiên cứu về biển chủ yếu liên quan đến các vấn đề
bề mặt của biển, quy hoạch không gian biển phục vụ khai thác-đánh bắt thủy hải sản hay các vấn đề liên quan đến quy hoạch môi trường Vùng biển sâu khu vực Quảng Bình hiện nay theo đánh giá của nhóm tác giả là khu vực ít có các hoạt động nhân sinh, lại ít chịu ảnh hưởng của dòng chảy từ lục địa đưa vật liệu trầm tích từ đất liền ra biển để tránh bị ô nhiễm, cùng với đó là điều kiện vùng nước sâu trên 100-200 m và thuận lợi cho khai thác nước biển sâu phục vụ sản xuất các sản phẩm y tế như xoang miệng, nước muối sinh lý, mỹ phẩm Theo đó, nước biển sâu tại khu vực biển này đã được nhóm tác giả lựa chọn là khu vực khảo sát phục vụ nghiên cứu Từ những nhận định trên, nghiên cứu được thực hiện với yêu cầu giải quyết các mục tiêu sau:
- Nghiên cứu, lựa chọn khu vực nước biển sâu có một số đặc điểm tối ưu: tốc
độ dòng là nhỏ nhất (ít có sự giao thoa với dòng biển ven bờ tránh sự pha trộn ô nhiễm của môi trường); chất lượng môi trường nước biển sâu đảm bảo;
- Nghiên cứu, lựa chọn khu vực có đặc điểm lý-hóa-sinh học phù hợp phục vụ
Trang 3sản xuất nước muối sinh lý
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Khảo sát thực địa
Khu vực nghiên cứu là vùng biển tỉnh Quảng Bình thuộc vùng biển miền Trung (Bắc Trung Bộ) với đường bờ biển dài 126 km (Hình 1), bao gồm 5 hệ thống sông chính đổ ra biển đó là các sông: sông Roòn, sông Gianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ Tổng diện tích lưu vực vùng biển Quảng Bình là 7.980km2, tổng chiều dài là 343km Sông ngòi khu vực tỉnh Quảng Bình có đặc điểm chung là chiều dài ngắn và dốc nên khả năng điều tiết nước kém, thường gây lũ kịch phát trong mùa mưa Vào mùa mưa lũ tốc độ dòng chảy lớn, tổng lượng dòng chảy vào mùa lũ chiếm từ 60-80% lượng dòng chảy cả năm [21] Vùng biển Quảng Bình có chế độ bán nhật triều không đều Nhìn chung thủy triều ở đây thuộc loại triều yếu, từ số liệu quan trắc (từ
1961 -2005) tại các trạm thuỷ văn gần cửa sông cho thấy, biên độ triều trung bình khoảng 0,7-0,8m; lớn nhất đạt trên 1,61m và nhỏ nhất là 0,05m [21] Hướng sóng thịnh hành là hướng Bắc và các hướng sóng chủ đạo tác động đến vùng bờ là hướng Đông Bắc, hướng Đông và hướng Đông Nam Độ mặn biến động theo mùa, mùa hè vùng ven biển có độ mặn 30-32‰, ở các cửa sông có độ mặn 20-25‰ [21]
Hình 1 Vị trí khu vực nghiên cứu (vùng màu xám) tại vùng biển Quảng Bình Đường màu đỏ thể hiện ranh giới cấm khai thác
Trang 4Trên cơ sở các yếu tố này, nhóm tác giả tiến hành lên kế hoạch, định lượng và số lượng mẫu phục vụ nghiên cứu trong đó tập trung chủ yếu vào các mẫu nước biển sâu Mẫu nước được lấy tại 100 điểm trong khu vực nghiên cứu trong đó tập trung vào tầng nước đáy nơi các điều kiện về ánh sáng, nhiệt độ và độ dao động của nước biển được xét đến là nhỏ nhất Mẫu được lấy từ Bathomet và đổ vào các chai đựng khác nhau để phân tích thành phần cation, anion, các chỉ tiêu vi sinh vật Ứng với mỗi mục tiêu phân tích, mẫu được bảo quản và xử lý riêng Để kiểm chứng độ chính xác của các kết quả phân tích, chúng tôi cho phân tích lặp lại 3 lần trên một mẫu để đối sánh và tính trung bình
Bảng 1 Các chỉ tiêu phân tích đối với nước biển sâu vùng biển Quảng Bình
QCVN 10-MT:2015/BTNMT (đối với nước biển xa bờ)
[14]
QCVN 10-MT:2015/BTNMT (đối với nước biển xa bờ)
[14]
(đối với nước biển ven bờ) [14]
QCVN 6-1:2010/BYT [15]
Quyết định 3113/1999/QĐ-BYT [16]
2.2 Phương pháp đo dòng chảy
Ngoài việc tham khảo các tài liệu hiện có về thủy văn, dòng chảy và chế độ hải lưu của khu vực nghiên cứu, tập thể tác giả tiến hành thực hiện phương pháp điều tra, khảo sát ngoài thực địa để xác tốc độ dòng chảy phục vụ kiểm tra, đối chiếu với các thông tin đã thu thập đồng thời xác định khu vực có tốc độ dòng chảy là ổn định theo đầu bài đặt ra nhằm tiến hành lấy mẫu phân tích phục vụ luận giải Nhóm nghiên cứu
đã tiến hành khảo sát và đo đạc các thông số trong khu vực với cách thức đo tại các trạm mặt rộng (sau khi tàu được neo cố định), đo theo các tầng độ sâu từ mặt xuống đáy: 1m, 5m, 10m, 15m… cho đến tầng nước gần đáy biển (cách khoảng 5m) Tại mỗi
Trang 5lớp, số liệu xử lý được tính trung bình từ 05 véc tơ dòng chảy để giảm sự ảnh hưởng bởi các yếu tố gây nhiễu động khác Thiết bị sử dụng là máy đo hướng và tốc độ điện
từ model AEM-213-D serial number: 026, hãng sản xuất: JFE Advantech (Nhật)
2.3 Các phương pháp phân tích
Các mẫu nước biển sâu được lấy bằng Bathomet dung tích 10lit theo các tầng ở
độ sâu khác nhau tại 100 điểm nghiên cứu thuộc khu vực nghiên cứu trong 2 đợt thực địa là tháng 7/2017 và tháng 10/2017 Tuỳ theo mục đích phân tích mà mẫu được cho vào chai dung tích 500ml hay 250ml và có cách xử lý mẫu tại hiện trường khác nhau Các mẫu phục vụ phân tích hàm lượng các kim loại nặng được xử lý bằng axit và đưa
về độ pH thích hợp (pH 2), các mẫu phân tích chỉ tiêu vi sinh vật được bảo quản trong chai thuỷ tinh và để ở nhiệt độ lạnh 2oC - 5oC trước khi đưa về phòng thí nghiệm
Các chỉ tiêu pH, độ muối, nhiệt độ được đo trực tiếp tại hiện trường bằng các thiết bị cầm tay LAQUA F-70 series và DS 70 series
Để hạn chế tối đa sai sót, mẫu sau khi được đưa vào đất liền được gửi tới công
ty Dược Quảng Bình để phân tích ngay lập tức Các thành phần hoá học được phân tích trên thiết bị khối phổ ICP-MS, xác định hàm lượng As và Hg bằng thiết bị Quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS 280FS, VGA 77 Agilent) Các mẫu vi sinh vật được phân tích bằng cách làm giàu, đếm và tính toán mật độ (đối với khuẩn lạc coliform, vi sinh vật hiếu khí) hoặc tiến hành nuôi cấy và xác định phân lập đối với các chủng vi sinh vật y tế theo quy định về dược học
2.4 Xử lý số liệu
Xử lý thống kê số liệu được nhóm tác giả thực hiện trong SPSS model 20.0 Bên cạnh đó, nhóm thực hiện đã tiến hành mô phỏng sự phân bố, thành phần theo các nhóm đối tượng lý - hoá - sinh trong nước biển sâu của khu vực bằng phương pháp nội suy Kriging kết hợp với các phương pháp viễn thám-GIS để đưa ra bức tranh tổng quát
về đặc trưng nước biển sâu khu vực nghiên cứu phục vụ cho việc lựa chọn vùng khai thác đảm bảo yêu cầu theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành trong lĩnh vực môi trường, y tế
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Kết quả khảo sát dòng chảy khu vực nghiên cứu
Theo Kathleen Dohan và Gary Lagerloef, dòng chảy biển (hay hải lưu) là sự dịch chuyển của các phân tử nước từ nơi này tới nơi khác trên biển [7] Dòng chảy biển có vai trò to lớn trong đời sống đại dương: làm tăng sự trao đổi nước, phân bố lại nhiệt độ, độ muối, biến đổi bờ, di chuyển băng biển, đồng thời ảnh hưởng mạnh tới hoàn lưu khí quyển và khí hậu các vùng của Trái Đất [12].Đánh giá một cách cụ thể
Trang 6thì: hải lưu sinh ra do sự chênh lệch về mật độ hay tỉ trọng cùa nước biển mà nguyên nhân sâu xa là sự khác biệt về nhiệt độ và độ muối trong đại dương, khi đó nước sẽ từ nơi mặn chảy về nơi nhạt hơn và nước từ nơi có nhiệt độ cao chảy về nơi có nhiệt độ thấp, nói cách khác dòng hải lưu sẽ kiến cho nước biển tại mỗi vị trí có sự khác nhau
về độ mặn và nhiệt độ Ngoài ra, hải lưu còn có thể được tạo thành do sự tích tụ nước gây nên bởi sự khác nhau về áp suất thủy tĩnh tại những nơi khác nhau của đại dương tại cùng một mực nước Sự tích tụ nước có thể do sự biến thiên mực nước dưới tác dụng thổi dồn cùa gió hoặc có thể do các dòng nước sông chảy tới Khi đó mặt nước
ở nơi nước bị chuyển đi để tích tụ chỗ khác sẽ thấp hơn mặt nước xung quanh và để bù vào chỗ hạ thấp đó, nước ở nơi khác sỗ chuyển đến bổ sung, tạo thành dòng biển Cũng có nghĩa là dòng hải lưu có ảnh hưởng tới mật độ hàm lượng các vi chất trong nước biển, đây là yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn khu vực khai thác nước biển sâu
Với mục tiêu là khai thác nguồn nước biển sâu để phục vụ làm nguyên liệu cho việc điều chế nước muối sinh lý nhằm hỗ trợ điều trị, phòng ngừa một số bệnh mắt, xoang, miệng thì nguồn nước đó phải đảm bảo một số yêu cầu nhất định Trong đó trước hết, nguồn nguyên liệu cần phải là nguồn nước thuộc khối biển có tốc độ dòng chảy chậm dưới 0,5 cm/s nhằm đảm bảo độ ổn định, không bị pha lẫn các tạp chất đến
từ nơi khác do quá trình hải lưu luân chuyển dưới đáy biển hoặc do các dòng ô nhiễm vận chuyển từ trong lục địa đổ ra ngoài theo các cửa sông và hòa lẫn với các dòng chảy biển hình thành nên Nếu khối biển có tốc độ dòng lớn, nhiều khả năng nước biển tại khu vực đó sẽ chịu sự tác động của dòng chảy mà có chứa các tạp chất đến từ nhiều nơi mà dòng chảy đi qua Ngược lại nếu nước thuộc khối biển có tốc độ dòng chảy thấp (cụ thể với yêu cầu dưới 0,5 cm/s) thì nước biển ở đây sẽ có tính ổn định cao hơn
về thành phần của nước, ít chứa các tạp chất khác có thể gây hại cho sức khoẻ
Từ đó, trên cơ sở thực hiện phương pháp đo dòng chảy biển như đã trình bày, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và đo các thông số tại 100 điểm trong phạm vi khu vực vùng biển Quảng Bình ở độ sâu từ 50-100m với vị trí các điểm đo nằm trải rộng trên toàn khu vực nghiên cứu Các điểm khảo sát được lựa chọn với tiêu chí nằm
xa các điểm xả thải, các vị trí gần cửa sông để tránh các khả năng bị nhiễm chất thải từ các dòng chảy ven bờ (ở đây là khu vực ngoài khơi tính từ đường ranh giới cấm khai thác thuỷ-hải sản, khoáng sản - Hình 1) Trong phạm vi khu vực nghiên cứu, hệ thống dòng chảy độ sâu theo tầng từ 50-100 m được đánh giá là kết quả tương tác giữa hoàn lưu gió trong lớp ma sát và hoàn lưu nhiệt - muối tầng sâu Tuy nhiên có thể thấy rằng bức tranh hoàn lưu vẫn chứa đựng những đặc điểm cơ bản của hoàn lưu tầng mặt Những đặc điểm cơ bản này được thể hiện trước hết qua một xoáy nghịch cơ bản có quy mô toàn biển, tuy nhiên tại tầng 50 m chỉ còn giữ lại các xoáy hoàn lưu quy mô vừa có nguồn gốc nhiệt muối còn những hoàn lưu quy mô vừa khác nguồn gốc gió đã
bị suy yếu đi nhiều do quá trình suy yếu dần từ mặt xuống sâu [4]
Trang 7Dựa vào kết quả đo thực tế theo các tiêu chí về nhiệt độ, tốc độ và hướng dòng chảy, tập thể tác giả đã xác định được các điểm tiềm năng - nơi có tốc độ dòng chảy ở mức dưới 0,5 cm/s là các điểm: QB055; QB066; QB076; QB079; QB083 Tầng nước
có tốc độ dòng chảy đạt yêu cầu thường là tầng nước sâu dưới 50m - đây là khu vực có
vị trí cách bờ từ hơn 40 km trở lên Theo đánh giá chung đối với toàn thể khu vực nghiên cứu, dòng chảy khu vực vùng biển Quảng Bình có sự phân bố tương đối đồng nhất về hướng tại tầng mặt Tuy nhiên tầng giữa và tầng đáy cho thấy sự ảnh hưởng yếu của dòng triều Để có đánh giá chi tiết hơn về quá trình động lực khu vực này, có hay không sự chi phối của hoàn lưu nước ven bờ, nhóm tác giả đã bổ sung thêm các đợt khảo sát vào mùa đông khi mà giai đoạn có sự xuất hiện của gió Đông Bắc, bao gồm các yếu tố về khí tượng-thủy văn và bổ sung thêm 01 trạm đo liên tục 03 ngày đêm để làm rõ vai trò của dòng triều trong chế độ động lực này Các kết quả sau khi được tổng hợp đã được mô phỏng lại trên bản đồ thể hiện tốc độ dòng kết hợp với hướng dòng chảy biểu thị chính trong phạm vi khu vực giúp đưa ra được những đánh giá, bức tranh chung về xu hướng và đặc trưng của dòng chảy trong khu vực (Hình 2)
Từ đó, kết quả sơ bộ phân tích dòng chảy khu vực vùng biển Quảng Bình (Hình 2) cho biết: dòng chảy tầng đáy có xu hướng chảy xa bờ về phía Tây và Tây Bắc trên toàn các điểm đo Theo như nhận định của tập thể tác giả, hướng và tốc độ dòng chảy tầng mặt khu vực nghiên cứu không chịu ảnh hưởng bởi dòng triều Ngoài
ra, trong thời gian lấy mẫu nhóm tác giả kết hợp định tính trường gió Thời điểm đo hướng gió trong khu vực chủ yếu hướng Tây, trong khi đó dòng chảy tầng mặt chủ yếu
là hướng Tây Bắc Trên cơ sở các nhận định về dòng chảy khu vực (Hình 2), tập thể tác giả tiến hành tập trung nghiên cứu đặc điểm thành phần lý-hoá-sinh tại nước biển sâu trong phạm vi khu vực ở độ sâu 50-100m trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực nơi mà có tốc độ dòng chảy là nhỏ nhất (dưới 0,5cm/s) đã khoanh vùng Các kết quả xác định thành phần và luận giải được thể hiện ở phần tiếp theo của nghiên cứu
Trang 8Hình 2 Phân bố vận tốc dòng chảy tầng đáy (50-100m) tại khu vực nghiên cứu
3.2 Xác định thành phần nước biển sâu của khu vực vùng biển Quảng Bình
Nước biển sâu chứa nhiều loại khoáng chất, chẳng hạn như Mg, Ca, Cl, Na, K… [10] Thực tế, nước biển sâu giàu khoáng chất hơn so với nước biển ở trên bề mặt [9] Nước biển sâu là một nguồn cung cấp dinh dưỡng tốt vì các khoáng chất chứa bên trong cung cấp nhiều lợi ích cho sức khỏe, ví dụ:
- Mg quan trọng với nhiều quá trình sinh lý trong cơ thể như: chuyển hóa năng lượng và chức năng enzyme [11] Mg làm giảm sự tích lũy chất béo trong động mạch chủ của các đối tượng có lượng cholesterol cao [23] Bên cạnh đó, Mg có lợi cho những người bị bệnh tim mạch vì nó có thể làm giãn mạch máu và dừng các cơn co thắt ở cơ tim và thành mạch giảm nguy cơ của một cơn đau tim [13] Giảm nguy cơ béo phì, tiểu đường và hen suyễn [5, 17] Nước uống có hàm lượng Mg cao ức chế tốt
sự phân biệt tế bào mỡ, làm chậm lại tổng hợp các tế bào mỡ [6]
- Ca là một trong những khoáng chất chính của con người Tốt cho phát triển xương và mật độ và đóng vai trò là then chốt cho một số enzyme cần thiết cho quá trình chuyển hóa năng lượng cùng với một số nguyên tố khác Việc cơ thể con người hấp thụ đủ Ca giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, béo phì, và một số dạng ung thư [5, 11, 17] Chế độ ăn uống với hàm lượng Ca hấp thụ cao có thể tăng lipolysis và bảo tồn nhiệt sinh, tác động giảm cân [8]
- Cr là một chất dinh dưỡng thiết yếu cần thiết cho chuyển hóa lipid, carbohydrate [1, 18] có đặc tính chống oxy hóa rất hữu ích cho việc mở rộng tuổi thọ
Trang 9của tế bào [24] Ngoài ra còn nhiều yếu tố trong nước biển sâu có lợi cho sức khỏe đặc biệt là các nguyên tố vi lượng Tổng lượng mỗi nguyên tố chứa trong nước biển sâu đã được ước tính dựa trên nồng độ trung bình của mỗi nguyên tố nước biển sâu [10] Nghiên cứu đã chứng minh rằng nước biển sâu có thể giúp khắc phục các vấn đề sức khỏe đặc biệt liên quan đến các bệnh liên quan đến lối sống như bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì, ung thư và các vấn đề về da [19]
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, do việc nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn
về cơ sở vật chất và kinh phí thực hiện nên yếu tố đầu tiên nhóm tác giả muốn hướng đến là sự đảm bảo chất lượng môi trường nước biển sâu theo quy định của Bộ Tài nguyên & Môi trường Tiếp sau đó là một số đặc điểm liên quan đến yếu tố vi sinh trên cơ sở các mức hàm lượng theo quy định từ các quy chuẩn, tiêu chuẩn của Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Y tế Như đã biết, Quảng Bình là một trong 4 tỉnh (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế) đã từng phải gánh chịu sự ảnh hưởng của sự
cố môi trường Formosa Việc nghiên cứu và lựa chọn khu vực có đặc điểm thành phần các nguyên tố ở trong phạm vi cho phép (theo quy định của Bộ TNMT) là tiền đề cho việc đánh giá, lựa chọn ở bước tiếp theo theo các yếu tố quy định liên quan đến sinh học hay nói cách khác là sự thích ứng sinh học của cơ thể con người đối với sản phẩm
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết nhóm các đối tượng phân tích theo quy định của Quy chuẩn QCVN 10-MT:2015/BTNMT đối với nước biển xa bờ và ven
bờ [14] như hàm lượng các nguyên tố kim loại nặng hay hợp chất hữu cơ đều ở trong phạm vi giới hạn cho phép Hầu hết các biểu hiện vượt quá quy chuẩn chỉ xảy ra ở các tầng nước phía trên gần mặt nước biển Mức độ vượt dao động trong khoảng từ 1,5 - 4,5 lần đối với các hợp chất hữu cơ như Dầu mỡ khoáng và từ 1,2 - 2,3 lần đối với một
số chỉ tiêu kim loại nặng, tuy nhiên các vị trí vượt hầu hết là gần bờ và ở độ sâu gần mặt nước biển (sâu nhất là 15m so với mặt biển tại các điểm QG40, QG41, QG61, QG59) Đánh giá chung về đặc điểm môi trường nước biển sâu trong phạm vi khu vực nghiên cứu theo quy định của Bộ Tài nguyên & Môi trường ban đầu là đạt chất lượng
Để có thể khai thác và sử dụng nước biển sâu phục vụ điều chế nước muối sinh
lý phục vụ hỗ trợ điều trị các bệnh xoang miệng, điều quan trọng nhất đó là dung dịch sau điều chế phải ở dạng vô khuẩn Nếu vi khuẩn, nấm mốc, nấm men tồn tại trong môi trường các chế phẩm được điều chế với điều kiện có chất dinh dưỡng và nước,
đư-ợc giữ ở điều kiện nhiệt độ thích hợp thì chúng sẽ phát triển Sự có mặt của vi sinh vật làm cho môi trường biến đổi trạng thái từ trong sang đục, hoặc có cặn lắng ở đáy trong dung dịch chế phẩm, hoặc thay đổi màu sắc môi trường dung dịch của chế phẩm Các nhận định này là cơ sở để nhóm tác giả nghiên cứu, đánh giá chất lượng môi trường nước biển sâu dựa theo quy định của Bộ Y tế [15, 16] như đã trình bày phục vụ nghiên cứu ở độ sâu 50-100m trong phạm vi khu vực vùng biển Quảng Bình Theo đánh giá chung, về cơ bản các kết quả thí nghiệm đếm số lượng đối với các chỉ tiêu vi sinh này,
Trang 10cho thấy mức độ xuất hiện hầu như không đáng kể Các chủng vi sinh vật hiếu khí và nhóm ba loại Staphylococcus aureus, Candida Albicans, Pseudomonas aeruginosa không thấy xuất hiện Các chủng vi sinh vật Streptococci feacal, E coli và bào tử vi khuẩn kị khí sulfit có thấy xuất hiện nhưng không đáng kể Mức xuất hiện nhiều nhất
là 5 con đối với mẫu phân tích chủng Streptococci feacal tại điểm lẫy mẫu QG76 ở độ sâu 50m Qua đó có thể nhận định dưới tầng nước 50m, khả năng khai thác nước biển sâu là đảm bảo nhất trong phạm vi khu vực nghiên cứu
Trên cơ sở các nhận định đã nêu kết hợp với kết quả nghiên cứu tốc độ dòng tại các điểm khảo sát, nhóm nghiên cứu tiến hành tập trung đánh giá các kết quả phân tích hàm lượng các thành phần trong nước biển tại khu vực các điểm có kết quả tốc độ dòng là nhỏ nhất (từ Hình 2 và Bảng 2) qua đó có thể thấy rằng:
Hầu hết các thành phần kim loại nặng và hợp chất hữu cơ biểu thị theo quy định đối với quy chuẩn của Bộ Tài nguyên & Môi trường đều trong giới hạn cho phép; các kết quả phân tích đều thấp hơn và nằm dưới giới hạn cho phép nhiều lần (Hình 3) Khu vực được giới hạn bởi các điểm khảo sát QB061; QB063; QB064; QB076; QB080; QB082; QB083 (Hình 2) được xem là nơi điều kiện lý tưởng cho việc nước biển sâu phục vụ các mục đích sản xuất dung dịch chế phẩm nêu trên
Hình 3 Hàm lượng một số thành phần môi trường dựa theo quy chuẩn của Bộ Tài nguyên & Môi trường (TNMT) phục vụ kiểm định chất lượng nước tại khu vực khai thác
Các nhóm Vi sinh vật biểu thị môi trường Quy chuẩn số QCVN 6-1:2010/BYT (Bảng 1) đối với chỉ tiêu Coliform nằm trong giới hạn cho phép ở mức 14,380 CFU/100ml so với quy chuẩn là 1000 CFU/100ml Vi khuẩn nhóm Coliform (Coliform, Fecal coliform, Fecal streptococci, Escherichia coli ) có mặt trong ruột