1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Chính sách tài khóa ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

22 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính sách tài khóa ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chính sách tài khóa
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 35,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu Chính sách tài khóa là một trong hai công cụ quan trọng của chính sáchkinh tế vĩ mô, có tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế.. Chí

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu

Chính sách tài khóa là một trong hai công cụ quan trọng của chính sáchkinh tế vĩ mô, có tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền kinh tế Trongnhững năm qua, chính sách tài khóa của Việt Nam đã được điều hành linh hoạt

và hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và cảithiện đời sống của người dân Tuy nhiên, hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đangđứng trước nhiều thách thức có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, lạmphát, nợ công Điều này đòi hỏi Chính phủ cần điều hành chính sách tài khóamột cách linh hoạt và hiệu quả để góp phần ứng phó với các thách thức và thúcđẩy tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, chính sách tài khóa của Việt Nam vẫn cònmột số hạn chế như: tỷ lệ nợ công còn cao, cơ cấu chi ngân sách chưa hợp lý,hiệu quả sử dụng ngân sách chưa cao Do đó, chính sách tài khóa cần được điềuchỉnh phù hợp với bối cảnh mới

Chính vì những lý do trên, đề tài “Chính sách tài khóa ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” cần được nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc

để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của chính sách tài khóa, góp phầnthúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện đời sống củangười dân Việt Nam

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: tiểu luận tập trung vào các chính sách thu NSNN(thuế, phí, lệ phí) và chính sách chi NSNN (chi đầu tư phát triển, chi thườngxuyên, chi trả nợ) cùng với những tác động của các chính sách này đến nền kinh

Trang 2

Tiểu luận được thực hiện với mục tiêu tổng hợp, hệ thống hóa, góp phần

bổ sung và hoàn thiện thêm các vấn đề lý luận cơ bản về chính sách tài khóa, tácđộng chính sách tài khóa đến phát triển kinh tế

Phân tích, đánh giá thực trạng của chính sách tài khóa và những tác độngtới nền kinh tế Việt Nam hiện nay; chỉ ra những điểm còn tồn tại, hạn chế trongchính sách hiện hành

Đề xuất một số giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả của chính sáchtài khóa nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi sẽ sử dụng một phương phápnghiên cứu tổng hợp, bao gồm:

Phân tích, tổng hợp lý thuyết: Phân tích lý thuyết là thao tác chia tài liệu

lý thuyết thành các đơn vị kiến thức để tìm hiểu những dấu hiệu đặc thù, cấu trúcbên trong của lý thuyết Từ đó mà nắm vững bản chất của từng đơn vị kiến thức

và toàn bộ vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở phân tích, cần phải tổng hợp kiến thức

để tạo ra hệ thống, để thấy được mối quan hệ giữa chúng, từ đó mà hiểu đầy đủ,toàn diện, sâu sắc lý thuyết

Quan sát khoa học: Quan sát khoa học là phương pháp thu thập thông tin

về đối tượng nghiên cứu, trên cơ sở tri giác trực tiếp của chúng Quan sát là mộttrong những hình thức chủ yếu của nhận thức kinh nghiệm, để tạo ra nhữngthông tin ban đầu Phương pháp quan sát được sử dụng trong 2 trường hợp:

- Phát hiện ra bản chất của sự vật, sự việc, hiện tượng để xây dựng giảthuyết nghiên cứu

- Kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu Mục đích của quan sát là nhằm ghinhận một cách đầy đủ và chuẩn xác sự vật, hiện tượng như nó vốn có

Thực nghiệm, thực tế: Thực nghiệm thực tế là phương pháp nghiên cứu

có hiện tượng và logic một hiện tượng nhằm trả lời cho câu hỏi: “Nếu hiện

Trang 3

tượng hay quá trình đó được thực hiện trong những điều kiện đã được khốngchế, kiểm soát cẩn thận và chủ động thì nó sẽ biểu diễn như thế nào về chiềuhướng phát triển, về tính liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả?” Như vây, thựcnghiệm là phương pháp đặc biệt cho phép tác động lên đối tượng nghiên cứumột cách chủ động, can thiệp có ý thức vào quá trình diễn biến tự nhiên, đểhướng quá trình ấy diễn ra theo mục đích mong muốn.

5 Kết cấu của tiểu luận

Tiểu luận này sẽ được chia thành ba phần chính, bao gồm:

Chương 1: Lý luận cơ bản về chính sách tài khóa ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng chính sách tài khóa ở Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp đối với chính sách tài khóa ở

Việt Nam

Trang 4

Chương 1: Lý luận cơ bản về chính sách tài khóa ở Việt Nam

1.1 Khái quát về chính sách tài khóa

1.1.1 Chính sách tài khóa là gì

Theo Samuelson và Nordhaus (1998), chính sách tài khóa được địnhnghĩa là các chương trình, hoạt động của Chính phủ nhằm: (i) mua bán các hànghóa và dịch vụ, tiêu dùng dựa trên các khoản thu nhập chuyển giao; (ii) thu quacác loại thuế

Theo Nguyễn Văn Dần (2009), chính sách tài khóa là chính sách củaChính phủ nhằm tác động lên định hướng phát triển kinh tế xã hội của quốc giathông qua những thay đổi trong chi tiêu của Chính phủ và chính sách thuế khóa.Chi tiêu của Chính phủ và chính sách thuế khóa sẽ tác động trực tiếp đến tổngcung, tổng cầu của nền kinh tế, từ đó tác động đến tăng trưởng, lạm phát, an sinh

xã hội và ổn định kinh tế vĩ mô

Quá các khái niệm trên, chính sách tài khóa có thể được hiểu một cáchchung nhất là hệ thống các chính sách của Nhà nước, được các cơ quan lậppháp, hành pháp hoạch định và thực hiện với hai công cụ chính là thu và chiNSNN cho các hàng hóa và dịch vụ công cộng, cho thực hiện các nhiệm vụ củaNhà nước nhằm đạt được những mục tiêu và phát triển kinh tế - xã hội trong mộtgiai đoạn nhất định Chính sách tài khóa là một công cụ quan trọng trong việcđiều hành chính sách kinh tế của Nhà nước, có ảnh hưởng rất mạnh đến sự cânbằng vĩ mô của nền kinh tế và tác động trực tiếp đến phương châm hoạt độngcủa hệ thống ngân sách cũng như hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững

1.1.2 Các công cụ của chính sách tài khóa

a) Thuế

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhànước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mụcđích công cộng Thuế có đặc điểm chính như:

Trang 5

(i) Là một khoản đóng góp thu nhập của mọi thành phần kinh tế trong xãhội cho nhà nước mang tính bắt buộc;

(ii) Thuế không mang tính chất hoàn trả trực tiếp; Thuế không phải làkhoản trả phí khi các đối tượng nộp thuế đã nhận được một lợi ích hay quyền lợi

cụ thể nào từ phía nhà nước Bất kỳ ai khi đủ điều kiện phải thực hiện nghĩa vụnộp thuế đối với nhà nước không phân biệt họ đã nhận được lợi ích công nào.Thuế khác với phí và lệ phí Phí và lệ phí là các khoản thu nộp do đối tượng nộpchỉ thực hiện nghĩa vụ của mình khi đã nhận được một lợi ích nhất định từ phíanhà nước

(iii) Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế Sựcông bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa cácđơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động nhưnhau

Thuế bao gồm thuế thu nhập, lợi nhuận và thu nhập vốn, thuế theo tiềnlương và lực lượng lao động, thuế tài sản, thuế hàng hóa và dịch vụ, thuế thươngmại và giao dịch quốc tế, thuế khác Cơ bản thuế được chia làm 2 loại sau:

- Thuế trực thu là loại thuế đánh trực tiếp lên tài sản và/hoặc thu nhập củangười dân

- Thuế gián thu là loại thuế đánh lên giá trị của hàng hóa, dịch vụ tronglưu thông thông qua các hành vi sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế

Trong một nền kinh tế nói chung, thuế sẽ có tác động theo hai cách, theođó:

Một là: Trái ngược với chi chuyển nhượng, thuế làm giả thu nhập khảdụng của cá nhân từ đó dẫn đến chi cho tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của cánhân giảm xuống Điều này khiến tổng cầu giảm và GDP giảm Đối với doanhnghiệp, tăng thuế làm tăng gánh nặng chi phí, khiến cho doanh nghiệp giảm sảnxuất, kinh doanh và do đó giảm lượng cầu hàng hóa

Trang 6

Hai là: Thuế tác động khiến giá cả hàng hóa và dịch vụ biến động từ đógây ảnh hưởng đến hành vi và động cơ khuyến khích của cá nhân Mặt khác,thuế đối với doanh nghiệp giảm xuống sẽ kích thích sản xuất, kinh doanh, từ đógiúp kích cầu, làm thây đổi cung – cầu về hàng hóa, do đó ảnh hưởng tới giáhàng hóa trên thị trường.

b) Chi tiêu của Chính phủ

Chi tiêu công là tổng hợp các khoản chi của chính quyền trung ương,chính quyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước và của toàn dân khi cùngtrang trải kinh phí cho các hoạt động do Chính phủ quản lý Đặc điểm nổi bậtcủa chi tiêu công là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở cácvùng hay phạm vi quốc gia Thu – chi NSNN luôn luôn có ý nghĩa vô cùng quantrọng đối với việc phát triển đất nước nói chung và quản lý phát triển nói chung

Hoạt động chi tiêu của chính phủ sẽ bao gồm hai loại là: chi mua sắmhàng hóa dịch vụ và chi chuyển nhượng Cụ thể:

Một là, chỉ mua hàng hóa dịch vụ: Tức là chính phủ dùng ngân sách đểmua vũ khí, khí tài, xây dựng đường xá, cầu cống và các công trình kết cấu hạtầng, trả lương cho đội ngũ cán bộ nhà nước Chi mua sắm hàng hóa và dịch vụcủa chính phủ quyết định quy mô tương đối của khu vực công trong tổng sảnphẩm quốc nội – GDP so với khu vực tư nhân Khi chính phủ tăng hay giảm chimua sắm hàng hóa, dịch vụ thì sẽ tác động đến tổng cầu theo tính chất số nhân.Tức là nếu chi mua sắm của chính phủ tăng lên một đồng thì sẽ làm tổng cầutăng lên nhiều hơn một đồng và ngược lại, nếu chi mua sắm của chính phủ giảm

đi một đồng thì sẽ làm tổng cầu thu hẹp với tốc độ nhanh hơn Bởi vậy, chi tiêumua sắm được xem như một công cụ điều tiết tổng cầu

Hai là, chi chuyển nhượng: là các khoản trợ cấp của chính phủ cho cácđối tượng chính sách như người nghèo hay các nhóm dễ bị tổn thương kháctrong xã hội Chi chuyển nhượng có tác động gián tiếp đến tổng cầu thông quaviệc ảnh hưởng đến thu nhập và tiêu dùng cá nhân Theo đó, khi chính phủ tnăg

Trang 7

chi chuyển nhượng sẽ làm tiêu dùng cá nhân tăng lên Và qua hệ số nhân củatiêu dùng cá nhân sẽ làm gia tăng tổng cầu

1.1.3 Phân loại chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa có thể được hoạch định theo các xu hướng: chínhsách tài khóa mở rộng, chính sách tài khóa thắt chặt và chính sách tài khóa trungtính

Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách tài chính mà thông qua phânphối và sử dụng các nguồn tài chính, Nhà nước thực hiện kích thích tăng tổngnhu cầu xã hội Trong điều kiện kinh tế có biểu hiện suy thoái, thiếu hụt về tổngcầu, nhà nước thực hiện chính sách tài khóa mở rộng để thu hẹp khoảng cáchchênh lệch giữa tổng cầu và tổng cung Tuy nhiên, khi tổng cầu và tổng cung đạtcân đối thì chính sách tài khóa mở rộng sẽ làm tổng cầu vượt quá tổng cung

Công cụ chính để thực hiện chính sách tài khóa mở rộng là giảm thuế vàtăng quy mô chi tiêu ngân sách Nếu vừa thực hiện việc giảm thuế vừa tăng chitiêu ngân sách, chính sách tài khóa mở rộng sẽ dẫn dến tăng bội chi ngân sách

Do vậy, chính sách tài khóa mở rộng còn được gọi là chính sách tài chính bộichi

Chính sách tài khóa thắt chặt là chính sách tài chính mà thông qua phânphối và sử dụng các nguồn tài chính, Nhà nước thực hiện giảm bớt và hạn chếnhu cầu của xã hội Thông thường, trong điều kiện nền kinh tế có dấu hiệu lạmphát cao, tổng cầu tăng quá mức Nhà nước thực hiện chính sách tài khóa thắtchặt nhằm kiềm chế lạm phát và đảm bảo cân đối cung cầu Trong điều kiệntổng cung câu cân đối, Nhà nước có thể thi hành chính sách tài khóa thắt chặt đểtạo ra thiếu hụt nhu cầu hữu ích Công cụ chính để thực hiện chính sách tài khóathắt chặt là tăng thuế và thực hiện cắt giảm chi tiêu công Trong trường hợp thựchiện đồng thời tăng thuế và giảm đốt chi tiêu ngân sách thì có thể dẫn đến khảnăng kết dư ngân sách Vì vậy chính sách tài khóa thắt chặt còn được gọi làchính sách tài chính kết dư

Trang 8

Chính sách tài khóa trung tính thể hiện sự cân đối giữa tổng cung và tổngcầu trong hoạt động phân phối và sử dụng nguồn tài chính Vì vậy hoạt động thuchi tài chính không thể sinh ra hiệu ứng mở rộng cũng như không thể sinh rahiệu ứng thắt chặt Chính sách tài khóa trung tính luôn yêu cầu sự cân đối giữathu chi tài chính.

1.2 Các trường phái học thuyết về chính sách tài khóa

1.2.1 Trường phái cổ điển và tân cổ điển

Trường phái cổ điển và tân cổ điển (những người vực dậy kinh tế học cổđiển trong thập niên 1970) tin rằng nền kinh tế nhất thiết sẽ tự điều chỉnh, và tiền

và tài chính là trung tính (hay vô hại) theo hướng chúng chỉ là những phươngtiện giúp thực hiện những giao dịch kinh tế thực Tuy nhiên, kinh tế học cổ điểnkhông đưa ra được một lý thuyết rõ ràng về khả năng chúng ta dự đoán theohướng đi của những biến cố tương lai hơn là chỉ nói rằng giá cả và tiền lươngtrong dài hạn sẽ điều chỉnh để cân bằng thị trường Các xu hướng kinh tế bịthống trị bởi quy luật cơ học được ứng dụng ở khắp nơi và mọi lúc Quy trìnhđiều chỉnh có thể mất thời gian, nhưng lý thuyết này không quan tâm đến ngắnhạn

Kinh tế học Tân Cổ điển không quay trở lại quan điểm cổ điển khi chorằng ngắn hạn không quan trọng Nhưng họ lại bác bỏ định đề cho rằng chúng takhông thể gán xác suất vào các biến cố tương lai Một lý thuyết mới gọi là “kỳvọng duy lý” đã được đưa ra để giải thích tại sao nền kinh tế sẽ tìm được điểmcân bằng Hơn nữa, lý thuyết này cho rằng chính phủ sẽ gây ra hại nhiều hơn lợikhi cố gắng tăng cường niềm tin doanh nghiệp bằng cách chi tiêu nhiều hơn đểtăng tổng cầu

Giả thuyết kỳ vọng duy lý được dựa trên ý tưởng cho rằng mọi người –người tiêu dùng, doanh nghiệp, chủ lao động và người lao động – sử dụng hiệuquả thông tin mà họ có được về quá khứ, hiện tại và tương lai Họ nhìn vàonhững sự kiện trong quá khứ để tiên đoán điều gì sẽ xảy ra trong tương lai,

Trang 9

nhưng không có nghĩa là ai cũng đoán đúng về tương lai, mà thật ra là những sailầm của chúng ta không tương quan với nhau Nói cách khác, không có lý do gì

để cho rằng bình quân tiên đoán của mọi người về tương lai, khi tổng hợp lại, sẽ

là không chính xác Chúng ta điều chỉnh những kỳ vọng về tương lai một cáchliên tục và theo sát những thay đổi trong điều kiện kinh tế

Hàm ý chính sách quan trọng của lý thuyết kỳ vọng duy lý là sự can thiệpcủa chính phủ sẽ lợi bất cập hại Giả sử khi chính phủ tăng chi tiêu trong giaiđoạn thất nghiệp cao, phe kỳ vọng duy lý cho rằng chỉ tiêu tăng thêm của chínhphủ sẽ không có tác động lên mức thu nhập vì người dân sẽ lập tức bắt đầu tiếtkiệm nhiều hơn để trả thuế tăng lên trong tương lai hoặc bù lại lạm phát cao hơn

do chính phủ tăng chi tiêu trong hiện tại Tác động ròng lên tổng cầu sẽ làkhông

1.2.2 Trường phái Keynes

Trường phái lý thuyết Keynes ra đời vào thập kỷ 1930, được đặt tên theonhà kinh tế học John Maynard Keynes Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế lớn,Keynes đã đưa ra quan điểm mới về quản lý kinh tế và chính sách tài khóa TheoKeynes, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, chính phủ nên can thiệp vào nền kinh tế

để tạo ra sự kích thích và khuyến khích chi tiêu

Keynes cho rằng, khi tình hình kinh tế suy thoái, việc tăng chi tiêu công

và đầu tư công sẽ kích thích cầu cần, tăng sản xuất và làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.Điều này thường được thực hiện thông qua việc chính phủ tăng cường chi tiêuđầu tư trong hạ tầng, xây dựng và các dự án quan trọng khác Tuy nhiên, để tàitrợ cho việc tăng chi tiêu này, chính phủ có thể tăng thuế hoặc vay nợ

Mục tiêu của chính sách tài khóa theo trường phái Keynes là tạo nên sựcân bằng trong nền kinh tế, đưa ra giải pháp ngắn hạn để khắc phục khủnghoảng và tạo đà phát triển mới Qua đó, quyết định về việc tăng chi tiêu hoặcgiảm thuế phụ thuộc vào tình hình kinh tế và cần phải linh hoạt để đảm bảo hiệuquả

Trang 10

1.2.3 Các trường phái học thuyết kinh tế hiện đại

Lý thuyết kinh tế học hiện đại, đặc biệt sau thập kỷ 1970, đã đưa ra mộtquan điểm khác về chính sách tài khóa Theo lý thuyết này, chính phủ nên tậptrung vào việc duy trì ổn định kinh tế và tài chính thay vì can thiệp mạnh mẽ vàthường xuyên như lý thuyết Keynes Một số lý thuyết kinh tế học hiện đại nhấnmạnh về vai trò của thị trường và quy tắc tự điều chỉnh của nền kinh tế Chínhsách tài khóa theo trường phái này thường tập trung vào việc duy trì một môitrường ổn định cho việc kinh doanh và đầu tư bằng cách điều chỉnh thuế và chitiêu một cách hợp lý, tránh tạo ra biến động lớn trong nền kinh tế

Một góc nhìn khác của lý thuyết kinh tế học hiện đại là tư duy classical, với quan điểm rằng chính phủ nên can thiệp ít và để thị trường tự điềuchỉnh một cách tự nhiên Chính sách tài khóa theo tư duy neo-classical thườngtập trung vào việc giảm bớt thụ động của chính phủ và thúc đẩy sự cạnh tranh vàhiệu quả trong kinh tế

neo-Ngoài ra, lý thuyết kinh tế học hiện đại cũng đề xuất việc tối ưu hóa thuế

và chi tiêu để tạo ra sự cân bằng giữa nhu cầu của chính phủ và khả năng của nềnkinh tế Nó thúc đẩy việc sử dụng các biện pháp tài khóa để tạo ra sự công bằng

xã hội và giảm bớt bất bình đẳng về thu nhập

Trang 11

Chương 2: Thực trạng chính sách tài khóa ở Việt Nam

Chính sách tài khóa là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô đượcChính phủ sử dụng để huy độg, phân phối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tàichính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.Thông qua hai công cụ chính là chế độ thuế và đầu tư công (hay việc sử dụng chitiêu của chính phủ và thu ngân sách), chính phủ đã điều chỉnh thực hiện chínhsách tài khóa mở rộng để tác động đến nền kinh tế

2.1 Thực trạng chính sách về thuế ở Việt Nam

Tác động của chính sách tài khóa tới ổn định giá cả thông qua các chínhsách thuế thường không được biểu hiện trực tiếp như các tác động khác KhiChính phủ đưa ra các quyết định về tăng thuế thì các cá nhân, doanh nghiệp gặpnhững bất lợi hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Xét về mặt hiệu ứng, hành vi tăng thuế của Chính phủ là tín hiệu khôngtốt cho nền kinh tế bởi khi thuế tăng cho thấy thâm hụt ngân sách đang gia tăng.Điều này cũng thể hiện là Chính phủ cần huy động vốn để giải quyết nguồn thungân sách, giảm thâm hụt, làm cho lãi suất tăng, chi phí sản xuất của doanhnghiệp cũng tăng, đẩy giá hàng hóa tăng lên

Trong những năm gần đây, ngân sách cả Việt Nam đã dựa rất nhiều vàocác loại thuế tiêu dùng Các loại thuế tiêu dùng của Việt Nam gồm có VAT, thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường và thuế tiêu thụ đặc biệt.Tổng thu từ thuế, phí và lệ phí đạt bình quân 21,7% GDP trong giai đoạn 2011 –

2015 (mục tiêu kế hoạch là 22 – 23% GDP); 22,4% GDP trong giai đoạn 2016 –

2019 (mục tiêu là 21 – 22% GDP) Tốc độ tăng trưởng số thu thuế, phí và lệ phíbình quân hàng năm đạt khoảng 12,6% trong giai đoạn 2011 – 2015 và 9,89%trong giai đoạn 2016 – 2020 Quy mô thu thuế theo GDP của Việt Nam là 22 –24%, thấp hơn hẳn so với mức trung bình của các nước châu Âu (khoảng 30%GDP) Việt Nam là nước có mức thu nhập trung bình, các nguồn lực còn hạnchế, nên việc huy động nguồn thuế gặp nhiều khó khăn

Ngày đăng: 06/08/2025, 23:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w