1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khái quát lịch sử hình thành và phát triển kiến trúc việt nam

75 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái quát lịch sử hình thành và phát triển kiến trúc Việt Nam
Người hướng dẫn Trần Bạch Dương, giảng viên
Trường học Trường Đại học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Các loại hình nghệ thuật Việt Nam
Thể loại bài điều kiện học kỳ
Năm xuất bản 2024-2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 528,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIẾN TRÚC (4)
    • 1. Khái quát (4)
    • 2. Bản chất của kiến trúc (4)
    • 3. Đặc trưng nghệ thuật kiến trúc Việt Nam (4)
    • 4. Phân loại kiến trúc (17)
  • II. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN TRÚC VIỆT NAM (17)
    • 1. Các công trình kiến trúc từ thời dựng nước đến triều Đinh – Tiền Lê (17)
    • 2. Kiến trúc thời Lý (7)
    • 3. Kiến trúc thời Trần (9)
    • 4. Kiến trúc thời Lê Sơ và nhà Mạc (9)
    • 5. Kiến trúc thời Lê Trung Hưng (5)
    • 6. Kiến trúc thời Tây Sơn (14)
    • 7. Kiến trúc thời Nguyễn (14)
    • 8. Kiến trúc thời Thuộc địa (16)
    • 9. Các công trình kiến trúc nhà ở (16)
      • 9.3. Phân loại theo kiến trúc của một số dân tộc ít người (0)
  • III. MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 12 1. Xu hướng nghệ thuật kiến trúc VN đương đại (0)
    • 2. Mối quan hệ với văn hoá Việt (0)
  • VI. CÁC Ý KIẾN TRÁI CHIỀU VỀ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC (0)
    • 1. Kiến trúc: Tính ứng dụng hay giá trị văn hóa – nghệ thuật (0)
    • 2. Vấn đề bản sắc trong kiến trúc (0)
    • 3. Câu chuyện về việc bảo tồn và phát triển các công trình kiến trúc cổ (0)

Nội dung

Trang trí kiến trúc trong các chùa làbiểu tượng cao quý của Phật giáo, những hình ảnh tôn nghiêm của Đạo và đời hòađồng với cảnh vui chơi dân dã.Đình làng phát triển ở thế kỉ XVI đóng gó

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIẾN TRÚC

Khái quát

Kiến trúc là loại hình nghệ thuật được loài người sáng tạo từ rất sớm, vì nó gắn với nhu cầu thiết yếu, cơ bản của con người , đó là nhu cầu về chỗ ở.

Giáo trình môn Lý thuyết Kiến Trúc định nghĩa kiến trúc là nghệ thuật tổ chức không gian, tổ chức môi trường sống nhằm thoả mãn không những các nhu cầu căn bản của con người mà còn là phương tiện biểu hiện những chủ định xã hội, chính trị, kinh tế của người thiết kế, một nhóm người hoặc của một xã hội Nghệ thuật đó được thực hiện nhờ việc áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật (kỹ thuật xây dựng) và dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định.

Dưới góc độ nghệ thuật, các nhà Nghệ thuật học đưa ra khái niệm về kiến trúc như sau: Kiến trúc là một nghệ thuật nhằm kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sinh tồn của con người

Căn cứ vào quan điểm của Đỗ Văn Khang và Trần Duy Hinh, giáo trình Các loại hình nghệ thuật Việt Nam đã đưa ra khái niệm: “Kiến trúc là một loại hình mỹ thuật kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sống của con người.”

Bản chất của kiến trúc

Theo Từ điển Tiếng Việt, bản chất của một sự vật hiện tượng được hiểu là tổng thể những mối quan hệ bên trong của sự vật, quyết định tính chất và sự phát triển của sự vật Như vậy, bản chất của kiến trúc là thuộc tính chung nhất của các mối liên hệ bên trong nó Từ khái niệm kiến trúc đã trình bày ở phần trên, ta có thể đưa ra bản chất của kiến trúc bao gồm tính thực dụng, tính thẩm mỹ và các điều kiện kỹ thuật.

Thật vậy, bởi lẽ kiến trúc chính là nghệ thuật sáng tạo không gian sống của con người, do đó không gian ấy phải có thể sử dụng được tức là tính thực dụng (yếu tố công năng) cùng với đó là những nhận thức, tư duy và sự sáng tạo thẩm mỹ Và để tạo lập được không gian ấy thì phải biết cách áp dụng các điều kiện kỹ thuật ( vật liệu, kết cấu và các điều kiện kỹ thuật khác)

Đặc trưng nghệ thuật kiến trúc Việt Nam

— Khai thác hiệu quả các chất liệu từ môi trường tự nhiên: tre nứa, gỗ, đất, đá

— Có tính thực dụng cao để phù hợp với môi trường tự nhiên Việt Nam

— Chịu ảnh hưởng từ triều đình phong kiến ở mỗi giai đoạn lịch sử

— Phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa từ Ấn Độ, Chăm, Trung Hoa

Trong cơn biến động của lịch sử, kiến trúc mỹ thuật Mạc có sự chuyển hóa từ cung đình về dân gian Đình, đền, chùa, miếu được xây dựng ở nhiều nơi, tu bổ bằng công sức và tiền do làng xã đóng góp Trang trí kiến trúc trong các chùa là biểu tượng cao quý của Phật giáo, những hình ảnh tôn nghiêm của Đạo và đời hòa đồng với cảnh vui chơi dân dã. Đình làng phát triển ở thế kỉ XVI đóng góp tích cực vào quá trình Việt hóa nền kiến trúc và điêu khắc thời Mạc Kiến trúc và điêu khắc thời Mạc ở chuyển sang bước ngoặt quan trọng, làm trỗi dậy truyền thống văn hóa lâu đời, trở về với bản sắc Kiến trúc đô thị Thăng Long, Phố Hiến phát triển ở thời Mạc là bước khởi đầu cho sự lớn mạnh ở các thế kỷ sau Kiến trúc thời Mạc là giai đoạn bùng nổ sau thời kì dồn nén Lê Sơ Sự đa dạng trong phát triển và có sự kết hợp các yếu tố Mã Lai, Hán, Miến, Tây Tạng,…

5 Kiến trúc thời Lê Trung Hưng

Kiến trúc chùa có thành tựu rộng khắp nơi dưới sự bảo trợ đắc lực của các chúa Trịnh Nhiều chùa chiền được trùng tu chùa Côn Sơn ở Hải Dương , chùa Keo ở Thái Bình,…

Kiến trúc Phật giáo thời Lê Trung Hưng phát triển mạnh mẽ, có một bước tiến mới cả về bố cục và phong cách kiến trúc Nhiều ngôi chùa được xây dựng với quy mô rất lớn hòa nhập với cảnh sắc thiên nhiên Hầu hết các ngôi chùa đều xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc” Những ngôi chùa có kiến trúc độc đáo phải kể đến như Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Tây Phương (Hà Nội),…

Kiến trúc điện thời Lê Trung Hưng được xây dựng nhiều, phát triển rực rỡ với lầu son, gác tía Các công trình tiêu biểu có thể kể đến như Vương Phủ chúa Trịnh, lầu Ngũ Long, Giao Đàn

Kiến trúc lăng có mặt bằng lăng hình chữ nhật, có tường đá bao quanh, lớp trọng tâm có nhà mộ hình vuông 2 tầng mái tường đá xây 4 mặt trổ cửa Lớp ngoài đặt hương án, voi ngựa và đồ cúng Cổng ra có mái thường chạm nổi hình võ sĩ

Kiến trúc đình có quy mô lớn, kiến trúc phức tạp dần lên, cô đọng hơn chùa và lăng Thời Mạc đình chùa ở nhiều nơi kết hợp gần nhau tạo thành cụm văn hóa lớn Tuy vậy, trung tâm tôn giáo gần với thế tục và đời thường thì không phát triển mạnh Đình xây dựng trên nhiều tỉnh bắc bộ như Hà Tây, Nam Định, Hòa Bình,… Đặc biệt, các ngôi đình ngoài kiến trúc tinh vi, phức tạp còn có 1 hệ thống các hình khắc trang trí rất sinh động: cảnh đấu võ, cưỡi , đấu giáo, cảnh vui chơi trai gái yêu nhau,… Đặc điểm kiến trúc thời Lê Trung Hưng

NỘI DUNG TỔNG QUAN VỀ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIẾN TRÚC

Kiến trúc là loại hình nghệ thuật được loài người sáng tạo từ rất sớm, vì nó gắn với nhu cầu thiết yếu, cơ bản của con người , đó là nhu cầu về chỗ ở.

Giáo trình môn Lý thuyết Kiến Trúc định nghĩa kiến trúc là nghệ thuật tổ chức không gian, tổ chức môi trường sống nhằm thoả mãn không những các nhu cầu căn bản của con người mà còn là phương tiện biểu hiện những chủ định xã hội, chính trị, kinh tế của người thiết kế, một nhóm người hoặc của một xã hội Nghệ thuật đó được thực hiện nhờ việc áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật (kỹ thuật xây dựng) và dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định.

Dưới góc độ nghệ thuật, các nhà Nghệ thuật học đưa ra khái niệm về kiến trúc như sau: Kiến trúc là một nghệ thuật nhằm kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sinh tồn của con người

Căn cứ vào quan điểm của Đỗ Văn Khang và Trần Duy Hinh, giáo trình Các loại hình nghệ thuật Việt Nam đã đưa ra khái niệm: “Kiến trúc là một loại hình mỹ thuật kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sống của con người.”

2 Bản chất của kiến trúc

Theo Từ điển Tiếng Việt, bản chất của một sự vật hiện tượng được hiểu là tổng thể những mối quan hệ bên trong của sự vật, quyết định tính chất và sự phát triển của sự vật Như vậy, bản chất của kiến trúc là thuộc tính chung nhất của các mối liên hệ bên trong nó Từ khái niệm kiến trúc đã trình bày ở phần trên, ta có thể đưa ra bản chất của kiến trúc bao gồm tính thực dụng, tính thẩm mỹ và các điều kiện kỹ thuật.

Thật vậy, bởi lẽ kiến trúc chính là nghệ thuật sáng tạo không gian sống của con người, do đó không gian ấy phải có thể sử dụng được tức là tính thực dụng (yếu tố công năng) cùng với đó là những nhận thức, tư duy và sự sáng tạo thẩm mỹ Và để tạo lập được không gian ấy thì phải biết cách áp dụng các điều kiện kỹ thuật ( vật liệu, kết cấu và các điều kiện kỹ thuật khác)

3 Đặc trưng nghệ thuật kiến trúc Việt Nam

— Khai thác hiệu quả các chất liệu từ môi trường tự nhiên: tre nứa, gỗ, đất, đá

— Có tính thực dụng cao để phù hợp với môi trường tự nhiên Việt Nam

— Chịu ảnh hưởng từ triều đình phong kiến ở mỗi giai đoạn lịch sử

— Phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa từ Ấn Độ, Chăm, Trung Hoa thự, nhà cửa nước ta gần với các kiến trúc ở địa phương phía Nam của Trung Quốc Loại hình kiến trúc chùa tháp của Phật giáo cũng xâm nhập, làm cơ sở truyền bá đạo Phật vào nước ta

Thời kỳ độc lập Ngô – Đinh – Tiền Lê với nhiều công trình kiến trúc cung điện đáng kể còn ghi trong sử sách Ngoài kiến trúc thành luỹ và cung điện ở kinh đô, vào thời kỳ này kiến trúc Phật giáo khá phát triển đặt nền móng cho sự cường thịnh kinh tế và nghệ thuật kiến trúc phát triển mạnh mẽ sau này.

Thời Lý (1010 - 1225) đã xây dựng được một quốc gia độc lập tự chủ Sự phát triển về kinh tế xã hội đã thúc đẩy sự phát triển về kiến trúc, cả về số lượng và chất lượng.

Phân loại kiến trúc

Theo sách Mỹ thuật đại cương, không gian kiến trúc được chia thành 3 nhóm bao gồm:

— Các công trình kiến trúc văn hóa

— Các công trình kiến trúc nhà ở

— Các công trình kiến trúc công cộng

Tuy nhiên, nhận thấy những bất cập trong cách phân loại này nên nhóm tác giả giáo trình Các loại hình nghệ thuật Việt Nam đã tạm phân chia kiến trúc thành

— Các công trình kiến trúc cộng đồng: Gộp chung của triều đình (cung điện, thành trì, lăng mộ) và của cộng đồng (đền, chùa, miếu,…)

— Kiến trúc làng Việt và các công trình kiến trúc nhà ở: Làng Việt là không gian chung của một đơn vị dân cư phổ biến của người Việt, gắn với làng là nhà ở của mỗi gia đình Việt.

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN TRÚC VIỆT NAM

Kiến trúc thời Lý

Thời Lý (1010 - 1225) đã xây dựng được một quốc gia độc lập tự chủ Sự phát triển về kinh tế xã hội đã thúc đẩy sự phát triển về kiến trúc, cả về số lượng và chất lượng.

Tiêu biểu cho kiến trúc thành lũy thời Lý là thành Thăng Long với kiểu kiến trúc “tam trùng thành quách” Trong thời kỳ đầu, thành Thăng Long gồm có hai vòng thành bao bọc lấy nhau Vòng ngoài chính là La Thành do Cao Biền xây dựng từ thời kỳ trước Vòng thành thứ hai bên trong được gọi là Cung thành. Đến đời Vua Lý Thái Tông, năm 1029 cho xây thêm Long thành.

Nhà Lý nổi bật bởi kiến trúc Phật Giáo Đạo Phật thời Lý được đề cao nên nhu cầu xây dựng chùa chiền rất lớn Tư tưởng Phật giáo Đại thừa phương Bắc được lồng vào mô hình kiến trúc đền miếu hoặc chùa núi phương Nam.

Kiến trúc chùa tháp thời nhà Lý phát triển cực thịnh Đây là dạng kiến trúc phát triển theo chiều cao, nhiều tầng chồng xếp, càng lên cao càng thu nhỏ dần. Đỉnh tháp gắn tán lọng, hồ lô, búp sen Mặt bằng của tháp hình vuông, lục giác, bát giác, phân tầng bằng các diềm mái nhô ra ngoài Trong mỗi ngôi chùa, kiến trúc thể hiện sự hài hòa tạo nên không khí của tâm linh Chùa tháp là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, thờ thần, thờ tam giáo (Phật, Lão, Khổng…)

Hai ngôi chùa tiêu biểu cho kiến trúc Phật giáo thời Lý là chùa Phật Tích và Chùa Một Cột Đặc điểm kiến trúc thời kỳ này bao gồm những nét sau đây:

Quy mô to lớn, bề thế: Sự phát triển về kinh tế, lòng mong muốn khẳng định một quốc gia độc lập "kinh bang tế thế" đã giúp cho các nhà kiến trúc thời Lý xây dựng nên nhiều công trình to lớn, bề thế

Chọn địa hình tiện lợi, đẹp đẽ: Chọn đất Thăng Long để xây dựng kinh đô, địa thế “ rồng cuộn hổ ngồi”.

Bố cục cân xứng, hài hòa: Bố cục mặt bằng của kiến trúc thời kỳ này lấy sự cân xứng, đăng đối làm chủ đạo

Có giao lưu, tiếp biến kiến trúc Chăm thự, nhà cửa nước ta gần với các kiến trúc ở địa phương phía Nam của Trung Quốc Loại hình kiến trúc chùa tháp của Phật giáo cũng xâm nhập, làm cơ sở truyền bá đạo Phật vào nước ta

Thời kỳ độc lập Ngô – Đinh – Tiền Lê với nhiều công trình kiến trúc cung điện đáng kể còn ghi trong sử sách Ngoài kiến trúc thành luỹ và cung điện ở kinh đô, vào thời kỳ này kiến trúc Phật giáo khá phát triển đặt nền móng cho sự cường thịnh kinh tế và nghệ thuật kiến trúc phát triển mạnh mẽ sau này.

Thời Lý (1010 - 1225) đã xây dựng được một quốc gia độc lập tự chủ Sự phát triển về kinh tế xã hội đã thúc đẩy sự phát triển về kiến trúc, cả về số lượng và chất lượng.

Tiêu biểu cho kiến trúc thành lũy thời Lý là thành Thăng Long với kiểu kiến trúc “tam trùng thành quách” Trong thời kỳ đầu, thành Thăng Long gồm có hai vòng thành bao bọc lấy nhau Vòng ngoài chính là La Thành do Cao Biền xây dựng từ thời kỳ trước Vòng thành thứ hai bên trong được gọi là Cung thành. Đến đời Vua Lý Thái Tông, năm 1029 cho xây thêm Long thành.

Nhà Lý nổi bật bởi kiến trúc Phật Giáo Đạo Phật thời Lý được đề cao nên nhu cầu xây dựng chùa chiền rất lớn Tư tưởng Phật giáo Đại thừa phương Bắc được lồng vào mô hình kiến trúc đền miếu hoặc chùa núi phương Nam.

Kiến trúc chùa tháp thời nhà Lý phát triển cực thịnh Đây là dạng kiến trúc phát triển theo chiều cao, nhiều tầng chồng xếp, càng lên cao càng thu nhỏ dần. Đỉnh tháp gắn tán lọng, hồ lô, búp sen Mặt bằng của tháp hình vuông, lục giác, bát giác, phân tầng bằng các diềm mái nhô ra ngoài Trong mỗi ngôi chùa, kiến trúc thể hiện sự hài hòa tạo nên không khí của tâm linh Chùa tháp là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, thờ thần, thờ tam giáo (Phật, Lão, Khổng…)

Hai ngôi chùa tiêu biểu cho kiến trúc Phật giáo thời Lý là chùa Phật Tích và Chùa Một Cột Đặc điểm kiến trúc thời kỳ này bao gồm những nét sau đây:

Quy mô to lớn, bề thế: Sự phát triển về kinh tế, lòng mong muốn khẳng định một quốc gia độc lập "kinh bang tế thế" đã giúp cho các nhà kiến trúc thời Lý xây dựng nên nhiều công trình to lớn, bề thế

Chọn địa hình tiện lợi, đẹp đẽ: Chọn đất Thăng Long để xây dựng kinh đô, địa thế “ rồng cuộn hổ ngồi”.

Bố cục cân xứng, hài hòa: Bố cục mặt bằng của kiến trúc thời kỳ này lấy sự cân xứng, đăng đối làm chủ đạo

Có giao lưu, tiếp biến kiến trúc Chăm

Nhiều công trình kiến trúc phục vụ tôn giáo – Phật giáo

Kiến trúc thời Trần

Trải qua gần 200 năm tồn tại, kiến trúc thời Trần tuy có gặp nhiều trở ngại nhưng vẫn có sự phát triển Nó đã đóng góp cho nền kiến trúc của dân tộc nhiều công trình giá trị, trong đó đáng chú ý là những công trình kiến trúc Phật giáo. Nhiều kinh nghiệm xây dựng giá trị, như việc xây tháp bằng đất nung, xây thành bằng đá và có nhiều loại hình kiến trúc khác để lại như: kiến trúc lăng mộ, kiến trúc thành quách quân sự, các chất liệu kiến trúc khác như đất nung, gỗ Tiêu biểu là cụm chùa Yên Tử Một hệ thống các công trình kiến trúc Phật Giáo được xây dựng do nhiều nhà sư thuộc "Thiền phái trúc lâm" (vua Trần Nhân Tông sáng lập). Trên dọc đường dài ngót 30km từ chân núi đi lên, các nhà kiến trúc thời Trần đã dựng trước sau hơn 20 công trình lớn nhỏ

Kiến trúc lăng mộ: chủ yếu được cất dựng ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh), nhưng đến nay hầu như không còn lại dấu tích Chỉ còn lại một chút dấu tích về bố cục lăng Đồng Thái của Trần Anh Tông Đặc điểm kiến trúc thời Trần:

Kiến trúc thời Trần giai đoạn đầu vẫn giữ được nhiều sắc thái của nền kiến trúc thời Lý, như:Gắn bó với môi trường đẹp đẽ, bố cục hài hòa cân xứng, nhưng quy mô thường khiêm tốn hơn.

Càng về sau, giá trị nổi bật của kiến trúc thời Trần là những dáng hình chắc,khỏe mạnh, tính chất thực dụng, thiết thực cao.

Kiến trúc thời Lê Trung Hưng

Kiến trúc chùa có thành tựu rộng khắp nơi dưới sự bảo trợ đắc lực của các chúa Trịnh Nhiều chùa chiền được trùng tu chùa Côn Sơn ở Hải Dương , chùa Keo ở Thái Bình,…

Kiến trúc Phật giáo thời Lê Trung Hưng phát triển mạnh mẽ, có một bước tiến mới cả về bố cục và phong cách kiến trúc Nhiều ngôi chùa được xây dựng với quy mô rất lớn hòa nhập với cảnh sắc thiên nhiên Hầu hết các ngôi chùa đều xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc” Những ngôi chùa có kiến trúc độc đáo phải kể đến như Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Tây Phương (Hà Nội),…

Kiến trúc điện thời Lê Trung Hưng được xây dựng nhiều, phát triển rực rỡ với lầu son, gác tía Các công trình tiêu biểu có thể kể đến như Vương Phủ chúa Trịnh, lầu Ngũ Long, Giao Đàn

Kiến trúc lăng có mặt bằng lăng hình chữ nhật, có tường đá bao quanh, lớp trọng tâm có nhà mộ hình vuông 2 tầng mái tường đá xây 4 mặt trổ cửa Lớp ngoài đặt hương án, voi ngựa và đồ cúng Cổng ra có mái thường chạm nổi hình võ sĩ

Kiến trúc đình có quy mô lớn, kiến trúc phức tạp dần lên, cô đọng hơn chùa và lăng Thời Mạc đình chùa ở nhiều nơi kết hợp gần nhau tạo thành cụm văn hóa lớn Tuy vậy, trung tâm tôn giáo gần với thế tục và đời thường thì không phát triển mạnh Đình xây dựng trên nhiều tỉnh bắc bộ như Hà Tây, Nam Định, Hòa Bình,… Đặc biệt, các ngôi đình ngoài kiến trúc tinh vi, phức tạp còn có 1 hệ thống các hình khắc trang trí rất sinh động: cảnh đấu võ, cưỡi , đấu giáo, cảnh vui chơi trai gái yêu nhau,… Đặc điểm kiến trúc thời Lê Trung Hưng

NỘI DUNG TỔNG QUAN VỀ LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIẾN TRÚC

Kiến trúc là loại hình nghệ thuật được loài người sáng tạo từ rất sớm, vì nó gắn với nhu cầu thiết yếu, cơ bản của con người , đó là nhu cầu về chỗ ở.

Giáo trình môn Lý thuyết Kiến Trúc định nghĩa kiến trúc là nghệ thuật tổ chức không gian, tổ chức môi trường sống nhằm thoả mãn không những các nhu cầu căn bản của con người mà còn là phương tiện biểu hiện những chủ định xã hội, chính trị, kinh tế của người thiết kế, một nhóm người hoặc của một xã hội Nghệ thuật đó được thực hiện nhờ việc áp dụng các tiến bộ của khoa học kỹ thuật (kỹ thuật xây dựng) và dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định.

Dưới góc độ nghệ thuật, các nhà Nghệ thuật học đưa ra khái niệm về kiến trúc như sau: Kiến trúc là một nghệ thuật nhằm kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sinh tồn của con người

Căn cứ vào quan điểm của Đỗ Văn Khang và Trần Duy Hinh, giáo trình Các loại hình nghệ thuật Việt Nam đã đưa ra khái niệm: “Kiến trúc là một loại hình mỹ thuật kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sống của con người.”

2 Bản chất của kiến trúc

Theo Từ điển Tiếng Việt, bản chất của một sự vật hiện tượng được hiểu là tổng thể những mối quan hệ bên trong của sự vật, quyết định tính chất và sự phát triển của sự vật Như vậy, bản chất của kiến trúc là thuộc tính chung nhất của các mối liên hệ bên trong nó Từ khái niệm kiến trúc đã trình bày ở phần trên, ta có thể đưa ra bản chất của kiến trúc bao gồm tính thực dụng, tính thẩm mỹ và các điều kiện kỹ thuật.

Thật vậy, bởi lẽ kiến trúc chính là nghệ thuật sáng tạo không gian sống của con người, do đó không gian ấy phải có thể sử dụng được tức là tính thực dụng (yếu tố công năng) cùng với đó là những nhận thức, tư duy và sự sáng tạo thẩm mỹ Và để tạo lập được không gian ấy thì phải biết cách áp dụng các điều kiện kỹ thuật ( vật liệu, kết cấu và các điều kiện kỹ thuật khác)

3 Đặc trưng nghệ thuật kiến trúc Việt Nam

— Khai thác hiệu quả các chất liệu từ môi trường tự nhiên: tre nứa, gỗ, đất, đá

— Có tính thực dụng cao để phù hợp với môi trường tự nhiên Việt Nam

— Chịu ảnh hưởng từ triều đình phong kiến ở mỗi giai đoạn lịch sử

— Phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa từ Ấn Độ, Chăm, Trung Hoa thự, nhà cửa nước ta gần với các kiến trúc ở địa phương phía Nam của Trung Quốc Loại hình kiến trúc chùa tháp của Phật giáo cũng xâm nhập, làm cơ sở truyền bá đạo Phật vào nước ta

Thời kỳ độc lập Ngô – Đinh – Tiền Lê với nhiều công trình kiến trúc cung điện đáng kể còn ghi trong sử sách Ngoài kiến trúc thành luỹ và cung điện ở kinh đô, vào thời kỳ này kiến trúc Phật giáo khá phát triển đặt nền móng cho sự cường thịnh kinh tế và nghệ thuật kiến trúc phát triển mạnh mẽ sau này.

Thời Lý (1010 - 1225) đã xây dựng được một quốc gia độc lập tự chủ Sự phát triển về kinh tế xã hội đã thúc đẩy sự phát triển về kiến trúc, cả về số lượng và chất lượng.

Tiêu biểu cho kiến trúc thành lũy thời Lý là thành Thăng Long với kiểu kiến trúc “tam trùng thành quách” Trong thời kỳ đầu, thành Thăng Long gồm có hai vòng thành bao bọc lấy nhau Vòng ngoài chính là La Thành do Cao Biền xây dựng từ thời kỳ trước Vòng thành thứ hai bên trong được gọi là Cung thành. Đến đời Vua Lý Thái Tông, năm 1029 cho xây thêm Long thành.

Kiến trúc thời Tây Sơn

Thời Tây Sơn nổi bật với kiến trúc thành lũy do ảnh hưởng bởi cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh Công trình kiến trúc thành lũy tiêu biểu thời kỳ này là Thành Hoàng Đế có 3 vòng là thành ngoại, thành nội và cấm thành

Kiến trúc cung điện được xây dựng kiên cố, trang hoàng lộng lẫy, mang đậm nét kiến trúc của thời kỳ Tây Sơn.

Kiến trúc đình làng: phật giáo tuy phát triển và đi vào cuộc sống nhân dân nhưng không còn sức sống như thế kỉ XVII nhưng vẫn đạt được độ tinh xảo Trong đình có cửa võng và khán thờ sơn son thép vàng lộng lẫy đặc trưng cho sự phối hợp giữa vương quyền và thần quyền.

Kiến trúc thời Nguyễn

Kiến trúc thời nhà Nguyễn là một giai đoạn phát triển rực rỡ của nghệ thuật kiến trúc Việt Nam, đặc biệt là kiến trúc cung đình Nó không chỉ kế thừa những tinh hoa của các triều đại trước mà còn mang đậm dấu ấn riêng, phản ánh sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa Việt Nam và các ảnh hưởng từ bên ngoài.

Người đầu tiên tiếp xúc và tiếp thu kiểu xây thành của Pháp chính là Nguyễn Ánh Sau khi thống nhất đất nước, các đời vua nhà Nguyễn đều cho xây dựng các thành, đồn theo kiểu kiến trúc Vauban

Kiến trúc Vauban được áp dụng xây ở tất cả các thành lớn: Hà Nội, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh,…Tuy vậy, những tòa thành này vẫn giữ những điểm truyền thống phương Đông: Áp dụng thuật phong thủy để chọn đất, chọn hướng, chọn núi xa làm bình phong, dòng nước chảy về với nghĩa là "tụ thủy".

Về sau, các đời vua nhà Nguyễn vẫn tiếp tục cho xây dựng các thành trì theo lối kiến trúc này, nhưng có sự kết hợp với các đặc điểm kiến trúc truyền thống phương Đông như vọng lâu, gác canh được xây bằng vật liệu nhẹ như gỗ, lợp mái ngói âm dương và cột kèo có chạm trổ hoa văn…tạo nên nét kiến trúc đặc sắc rất riêng – tiền đề cho kiến trúc Đông Dương tại nước ta

Trong cơn biến động của lịch sử, kiến trúc mỹ thuật Mạc có sự chuyển hóa từ cung đình về dân gian Đình, đền, chùa, miếu được xây dựng ở nhiều nơi, tu bổ bằng công sức và tiền do làng xã đóng góp Trang trí kiến trúc trong các chùa là biểu tượng cao quý của Phật giáo, những hình ảnh tôn nghiêm của Đạo và đời hòa đồng với cảnh vui chơi dân dã. Đình làng phát triển ở thế kỉ XVI đóng góp tích cực vào quá trình Việt hóa nền kiến trúc và điêu khắc thời Mạc Kiến trúc và điêu khắc thời Mạc ở chuyển sang bước ngoặt quan trọng, làm trỗi dậy truyền thống văn hóa lâu đời, trở về với bản sắc Kiến trúc đô thị Thăng Long, Phố Hiến phát triển ở thời Mạc là bước khởi đầu cho sự lớn mạnh ở các thế kỷ sau Kiến trúc thời Mạc là giai đoạn bùng nổ sau thời kì dồn nén Lê Sơ Sự đa dạng trong phát triển và có sự kết hợp các yếu tố Mã Lai, Hán, Miến, Tây Tạng,…

5 Kiến trúc thời Lê Trung Hưng

Kiến trúc chùa có thành tựu rộng khắp nơi dưới sự bảo trợ đắc lực của các chúa Trịnh Nhiều chùa chiền được trùng tu chùa Côn Sơn ở Hải Dương , chùa Keo ở Thái Bình,…

Kiến trúc Phật giáo thời Lê Trung Hưng phát triển mạnh mẽ, có một bước tiến mới cả về bố cục và phong cách kiến trúc Nhiều ngôi chùa được xây dựng với quy mô rất lớn hòa nhập với cảnh sắc thiên nhiên Hầu hết các ngôi chùa đều xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc” Những ngôi chùa có kiến trúc độc đáo phải kể đến như Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Tây Phương (Hà Nội),…

Kiến trúc điện thời Lê Trung Hưng được xây dựng nhiều, phát triển rực rỡ với lầu son, gác tía Các công trình tiêu biểu có thể kể đến như Vương Phủ chúa Trịnh, lầu Ngũ Long, Giao Đàn

Kiến trúc lăng có mặt bằng lăng hình chữ nhật, có tường đá bao quanh, lớp trọng tâm có nhà mộ hình vuông 2 tầng mái tường đá xây 4 mặt trổ cửa Lớp ngoài đặt hương án, voi ngựa và đồ cúng Cổng ra có mái thường chạm nổi hình võ sĩ

Kiến trúc đình có quy mô lớn, kiến trúc phức tạp dần lên, cô đọng hơn chùa và lăng Thời Mạc đình chùa ở nhiều nơi kết hợp gần nhau tạo thành cụm văn hóa lớn Tuy vậy, trung tâm tôn giáo gần với thế tục và đời thường thì không phát triển mạnh Đình xây dựng trên nhiều tỉnh bắc bộ như Hà Tây, Nam Định, Hòa Bình,… Đặc biệt, các ngôi đình ngoài kiến trúc tinh vi, phức tạp còn có 1 hệ thống các hình khắc trang trí rất sinh động: cảnh đấu võ, cưỡi , đấu giáo, cảnh vui chơi trai gái yêu nhau,… Đặc điểm kiến trúc thời Lê Trung Hưng

Kiến trúc thời Thuộc địa

a Kiến trúc thuộc địa tiền kỳ (1873 – 1900)

Cấu trúc kiến trúc tổng thể thời kỳ này rất đơn đơn giản, chủ yếu dựa trên những nguyên tắc tổ chức kiến trúc thực dân kiểu trại lính của quân đội viễn chinh Pháp Với lối bố cục theo trục đối xứng và đường phố theo dạng hình học.

Người Pháp đã đưa phong cách Tân Cổ điển một cách tự nhiên hòa nhập cùng một số xu hướng kiến trúc khác vào các công trình xây dựng mà không rơi vào phong cách phục cổ. b Kiến trúc thuộc địa hình thành và khẳng định (1900 – 1920)

Kiến trúc thời này đã được nghiên cứu sâu để thoát khỏi chủ nghĩa công năng đơn giản của kiến trúc thực dân tiền kỳ Kiến trúc chủ yếu là các loại công thự, dinh thự, công sở hoặc nửa dinh thự nửa công sở, một số dạng công trình kiến trúc kiểu “chính thống” lợp mái bằng đá ardoise, có tầng hầm và tầng mái.

Phong cách kiến trúc tân cổ điển được dùng phổ biến trong các công sở của nên hành chính thực dân Pháp với bố cục đối xứng, thể hiện tính bề thế, hoành tráng qua các mặt chính có hình khối nặng nề ở các tầng dưới c Kiến trúc thuộc địa phát triển và định hình bản sắc (1920 – 1945)

Các phong cách kiến trúc mới được thể hiện thay thế cho phong cách kiến trúc cổ điển Pháp được du nhập từ chính quốc Đó là xu hướng tìm tòi các phong cách kết hợp Á – Âu, tức là khai thác các đặc điểm kiến trúc truyền thống cũng như chú ý đến khí hậu và vật liệu địa phương.

Trong thời kỳ này nổi bật với 2 phong cách là: Phong cách Đông Dương với xu hướng khai thác các đặc điểm kiến trúc phương Đông, khí hậu nhiệt đới, kết hợp kỹ thuật xây dựng phương Tây để tạo nên phong cách kiến trúc mới

Phong cách kiến trúc Art Deco với đặc trưng kiến trúc cổ điển hướng tới cách xử lý hình khối và đường nét hình học đơn giản. Đặc điểm kiến trúc thời Thuộc địa

Sự xâm nhập của kiến trúc Pháp vào Việt Nam dẫn đến sự tiếp thu các phong cách kiến trúc mới từ bên ngoài

Sự kết hợp giữa kiến trúc cổ truyền phương Đông và kiến trúc phương Tây đã cho những kết quả sáng tạo tuyệt vời trong kiến trúc

Tiếp thu các phương pháp xây dựng mới, vật liệu mới.

Các công trình kiến trúc nhà ở

9.1 Phân loại theo nhà ở Việt Nam a Kiến trúc đồng bằng Bắc Bộ

— Kiến trúc Việt Nam kể từ thời Pháp thuộc có nhiều biến đổi to lớn về phong cách, kỹ thuật.

Theo sách Mỹ thuật đại cương, không gian kiến trúc được chia thành 3 nhóm bao gồm:

— Các công trình kiến trúc văn hóa

— Các công trình kiến trúc nhà ở

— Các công trình kiến trúc công cộng

Tuy nhiên, nhận thấy những bất cập trong cách phân loại này nên nhóm tác giả giáo trình Các loại hình nghệ thuật Việt Nam đã tạm phân chia kiến trúc thành

— Các công trình kiến trúc cộng đồng: Gộp chung của triều đình (cung điện, thành trì, lăng mộ) và của cộng đồng (đền, chùa, miếu,…)

— Kiến trúc làng Việt và các công trình kiến trúc nhà ở: Làng Việt là không gian chung của một đơn vị dân cư phổ biến của người Việt, gắn với làng là nhà ở của mỗi gia đình Việt

II KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KIẾN TRÚC VIỆT NAM

1 Các công trình kiến trúc từ thời dựng nước đến triều Đinh – Tiền Lê

Vào thời kỳ tiền sử, tổ tiên chúng ta đã sử dụng hang động ở các núi đá vôi làm nơi sinh sống Đến giai đoạn sơ kỳ của thời kỳ đồ đá mới, con người có xu hướng rời bỏ hang động và sống theo phương thức vừa ở trong hang, vừa ở ngoài trời.

Thời kỳ Vua Hùng dựng nước Văn Lang, đã có những tập hợp dân cư người Việt theo quan hệ gia đình ruột thịt, chi tộc họ hàng – hàng xóm Những hình ảnh còn lại trên trống đồng cho ta thấy đặc điểm chính của nhà cửa thời kỳ này, là nhà sàn mái cong hình thuyền, giữa mái võng xuống, mái nhà có độ dốc lớn, cửa ở hai đầu hồi, mái dốc đổ xuống kết hợp làm nhiệm vụ tường bao che Bếp là nơi sinh hoạt chung, đặt giữa nhà, hai gian bên cạnh làm nơi ngủ và nghỉ ngơi Vật liệu làm nhà bằng tranh, tre, gỗ, nhà thường đặt trên gò đất cao, triền dốc, ít bằng phẳng.

Từ nửa sau thế kỷ thứ III TCN, An Dương Vương sáng lập ra nhà nước Âu Lạc chuyển kinh thành từ Phong Châu (vùng trung du) về Cổ Loa (vùng đồng bằng) Kiến trúc nổi bật nhất của thời kỳ này còn lại là ba vòng thành đất Cổ Loa, di tích này là minh chứng về một kinh đô cổ xưa nhất của nước ta.

Nhà nước Âu Lạc suy vong và đất nước rơi vào vòng đô hộ của phong kiến phương Bắc đã tạo điều kiện cho văn hóa phương Bắc xâm nhập, kiến trúc dinh thự, nhà cửa nước ta gần với các kiến trúc ở địa phương phía Nam của Trung Quốc Loại hình kiến trúc chùa tháp của Phật giáo cũng xâm nhập, làm cơ sở truyền bá đạo Phật vào nước ta

Thời kỳ độc lập Ngô – Đinh – Tiền Lê với nhiều công trình kiến trúc cung điện đáng kể còn ghi trong sử sách Ngoài kiến trúc thành luỹ và cung điện ở kinh đô, vào thời kỳ này kiến trúc Phật giáo khá phát triển đặt nền móng cho sự cường thịnh kinh tế và nghệ thuật kiến trúc phát triển mạnh mẽ sau này.

Thời Lý (1010 - 1225) đã xây dựng được một quốc gia độc lập tự chủ Sự phát triển về kinh tế xã hội đã thúc đẩy sự phát triển về kiến trúc, cả về số lượng và chất lượng.

Tiêu biểu cho kiến trúc thành lũy thời Lý là thành Thăng Long với kiểu kiến trúc “tam trùng thành quách” Trong thời kỳ đầu, thành Thăng Long gồm có hai vòng thành bao bọc lấy nhau Vòng ngoài chính là La Thành do Cao Biền xây dựng từ thời kỳ trước Vòng thành thứ hai bên trong được gọi là Cung thành. Đến đời Vua Lý Thái Tông, năm 1029 cho xây thêm Long thành.

Nhà Lý nổi bật bởi kiến trúc Phật Giáo Đạo Phật thời Lý được đề cao nên nhu cầu xây dựng chùa chiền rất lớn Tư tưởng Phật giáo Đại thừa phương Bắc được lồng vào mô hình kiến trúc đền miếu hoặc chùa núi phương Nam.

Kiến trúc chùa tháp thời nhà Lý phát triển cực thịnh Đây là dạng kiến trúc phát triển theo chiều cao, nhiều tầng chồng xếp, càng lên cao càng thu nhỏ dần. Đỉnh tháp gắn tán lọng, hồ lô, búp sen Mặt bằng của tháp hình vuông, lục giác, bát giác, phân tầng bằng các diềm mái nhô ra ngoài Trong mỗi ngôi chùa, kiến trúc thể hiện sự hài hòa tạo nên không khí của tâm linh Chùa tháp là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, thờ thần, thờ tam giáo (Phật, Lão, Khổng…)

Hai ngôi chùa tiêu biểu cho kiến trúc Phật giáo thời Lý là chùa Phật Tích và Chùa Một Cột Đặc điểm kiến trúc thời kỳ này bao gồm những nét sau đây:

Quy mô to lớn, bề thế: Sự phát triển về kinh tế, lòng mong muốn khẳng định một quốc gia độc lập "kinh bang tế thế" đã giúp cho các nhà kiến trúc thời Lý xây dựng nên nhiều công trình to lớn, bề thế

Chọn địa hình tiện lợi, đẹp đẽ: Chọn đất Thăng Long để xây dựng kinh đô, địa thế “ rồng cuộn hổ ngồi”.

Bố cục cân xứng, hài hòa: Bố cục mặt bằng của kiến trúc thời kỳ này lấy sự cân xứng, đăng đối làm chủ đạo

Có giao lưu, tiếp biến kiến trúc Chăm

8 Kiến trúc thời Thuộc địa a Kiến trúc thuộc địa tiền kỳ (1873 – 1900)

Cấu trúc kiến trúc tổng thể thời kỳ này rất đơn đơn giản, chủ yếu dựa trên những nguyên tắc tổ chức kiến trúc thực dân kiểu trại lính của quân đội viễn chinh Pháp Với lối bố cục theo trục đối xứng và đường phố theo dạng hình học.

Người Pháp đã đưa phong cách Tân Cổ điển một cách tự nhiên hòa nhập cùng một số xu hướng kiến trúc khác vào các công trình xây dựng mà không rơi vào phong cách phục cổ. b Kiến trúc thuộc địa hình thành và khẳng định (1900 – 1920)

MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 12 1 Xu hướng nghệ thuật kiến trúc VN đương đại

CÁC Ý KIẾN TRÁI CHIỀU VỀ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC

Ngày đăng: 05/08/2025, 07:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w