Những điểm mới và ý nghĩa của để tải Về mặt khoa học, đẻ tài cần có sự đánh giá của các nhà nghiên cửu quan lãm di van dé nảy, Tuy nhiên, tác giã cũng mạnh dạn đánh giả đây sẽ là công tr
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIÁ HÀ NOT
KHOA LUẬT
NGUYEN QUYNH HOA
PHAP LUAT VE NHAN HIEU HANG HOA
Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ
HOI NHAP KINH TE QUOC TE
LUAN VAN THAC SY
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Am Iiễu
Hà nậi - 2005
Trang 2
LOIMO BAU
1 Tĩnh cấp thiết của đề tài
11ệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam được xây đụng trong thời gian qua
đã đạt được nhiêu thành tựu đáng kể, tạo lập được các cơ sử pháp lý quan trọng cho
việc phát triển nên kinh tế thị trường theo định tướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên cần nhận thấy rằng so với các yêu cầu, đài hỏi và thách thức vẻ phương diện lập pháp trong bối cảnh quốc tế hiện nay với các không gian pháp lý mới đang được xác lập thì hệ
thông pháp luật sỡ hữu trí tuệ nước ta trong đó có các quy định pháp luật về nhấn hiệu
hang hoá hiện tại vẫn còn khá bắt cập, chua đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, việc nghiên cửu để tim ra những điểm chưa phù hợp trong các quy
định pháp luật hiện hành về nhân hiệu hàng hoá của Việt Nam di
sửa đổi, bổ sung cho
phủ hợp là một yêu cầu cấp thiết đẻ Việt Nam có thể sớm đán ửng các yêu cầu ra nhập
WTO
Tiên cạnh đó, thời gian qua, tình trạng vi phạm quyền sở hữu cổng nghiệp đặc
biết là đối với Nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) điễn ra ngày cảng phức tạp, đã và đang trễ thành một van dé mang tinh (hoi su Việt Nam dang lrên đà hội nhập vào hệ thông thương mại đa phương, khi Việt Nam trở thành thành viên của AFTA vá tổ chức
thương mại thể giới (WTO) vào năm 2006 Cạnh tranh sẽ trở nên sống, còn trên tắt cả
các (hi trường, tình trạng xâm phạm quyền sở hữu đối với NHHH và nguy co bị mắt các NHHE có ty tín trên thị trường trong nước và quốc tế sẽ ngày càng lớn
Nhận thức được tầm quan trọng của NHHH đối với sự phát triển và hội nhập
kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai Là một học viên lớp
cao học, với mong rauôn nghiền cửu một cách có hệ thống pháp luật vẻ NHI của
Việt Nam, tôi đã chọn để tài: " Pháp Inật vỀ nhấn hiệu hàng hod ở Liệt Nam trong
thời kỳ hội nhập kinh tỄ quốc tỄ" làm đề tái luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan dén dé tai
Sở hữu trí tuệ nói sung và NH1 nói riêng là một lĩnh vực phúc tạp và mói
mẽ ö Việt Nam, mặc dù đã tham gia Công wỏe quốc tế trong lĩnh vực này lừ rất sớm
Trang 3nhưng mãi đến đầu những năm 8O chủng ta mới thực sự xây dựng những văn bản pháp
ly đầu tiên quy định vẻ quyền SHCN Khi chuyển sang nên kinh té hang hoa nhieu thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nha nude theo định hưởng xã hội
lĩnh vực SHCN lần lượt ra đời: đầu tiên là pháp
chủ nghĩa, các văn bản pháp quy về
lệnh bảo hô quyền sở hữu công nghiệp và sau đỏ được thay thẻ bằng văn bản cỏ hiệu lực pháp lý cao hơn lả Bộ luật Dân sự năm 1995 Từ khi có BLDS vấn đẻ bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều cơ quan, ban
nghành, các nhà khoa học cũng như các cơ sở đảo tạo Luật Đã có nhiều hội thảo liên quan đến Quyền sở hữu trí tuê được tổ chức như Hội thảo vẻ Hiệp dinh TRIPs (thang
8/1998), Hội thảo vẻ thực thi quyền SHTT trong Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa
Kỳ (11/2001), Hội thảo sở hữu trí tuệ Châu ả và định hướng cho tương lai (tháng 5/2002), hội thảo “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng luật sở hữu trí tuệ ở Việt nam hiện nay” (tháng 11/2004); Hôi thảo "sở hữu trí tuệ với doanh nghiệp cơ hội và thách
thức trong quả trình hội nhập kinh tế quốc tế" của Hội sở hữu công nghiệp Việt Nam
(tháng 12/2004) Công trình nghiên cửu khoa cấp Bộ của Viện nghiên cứu khoa học
pháp lý về “Sở hữu trí hiệ thực trạng và xu hướng phát triển trong những năm đâu của
thé ky XX”, “Binh ludn khoa học các quy định của Bộ luật dân sự” của Viện nghiên cửu khoa học pháp lỷ- Bộ Tư pháp: tập bải giảng “Sở hữu tri tuệ” của khoa luật dân sự,
trường Đại học Luật Hà nội Đồng thời có nhiều bài viết của các tác giả trong nước về
sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học nảy chỉ đẻ cập tới các
vấn đẻ liên quan đến sở hữu trí tuệ nỏi chung chứ không đi sâu nghiên cửu riêng vẻ vẫn
để bảo hộ NHHH Trong lĩnh vục NHHH cỏ công trình nghiên cửu đảng chú ÿ là luận
văn của tác giả Vũ Thị Hải Yên "Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
đối với NHHH tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật Dân sự" thực hiện năm 2001-
Day lả công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên vẻ NHHH, song những nghiên cứu
của công trình này chủ yếu tập trung vào vấn để bảo hộ NHHH theo quy định của pháp
luật Việt Nam Công trình thứ hai là luận văn của tác giả Vũ Thị Phương Lan "So sánh
pháp luật về báo hộ nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam với các điều ước quốc tễ và pháp luật của một số nước phát triển" thực hiện năm 2002- Đây là công trình đâu tiên nghiên cứu về vấn để so sánh pháp luật bảo hộ NHHH, nhưng phạm vì so sánh rộng
Trang 4Tiên cạnh đỏ, tác giả cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phản tích chứng mình, phân tích tổng hợp, so sánh, điển giải, suy
diễn lôgich để làm sáng tỏ vẫn để nghiên cứu
6 Những điểm mới và ý nghĩa của để tải
Về mặt khoa học, đẻ tài cần có sự đánh giá của các nhà nghiên cửu quan lãm (di van dé nảy, Tuy nhiên, tác giã cũng mạnh dạn đánh giả đây sẽ là công trinh nghiên
cứu, phân tích một cách cỏ hệ thông những vân dé lý luận chung về nhãn hiệu hang
hoá, đồng thời phân tích thực trạng, pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá hiện nay ở Việt
Nam trên cơ sở so sánh, đốt chiều với các quy định của pháp luật quốc tế tìm ra những, điểm chưa tương thích trang bối cảnh hội nhập từ đó đưa ra kiến nghị đối với việc xây
dung và hoàn thiện pháp luật về nhăn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay
Dé tai đã đưa ra một số kiến nghị ban đầu cha việc tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong điều kiên hội nhập kinh tế quốc tế
7 Kết cầu cũa luận văn
Luan văn có bó cục như sau: Lời mở dẫu, ba chương, kết luận và danh mục tải
liện tham khảo.
Trang 5nên chỉ đi vảo các vẫn đẻ chung có tỉnh chất khải quát Vì vậy, việc chọn vả nghiên cứu đề tải "Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Uiệt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" là một đề tài độc lập, không có sự lặp lại Tuy nhiên, đề hoàn thành đề tài nảy, người viết phải tham khảo, sưu tâm, học hỏi các kiên thức cũng như kinh nghiệm trong các công trình khoa học có liên quan đến vẫn đẻ sở hữu trí tuệ đã được công bố và các
tạp chỉ nghiên cửu khoa học khác
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tải
Mục đích của việc nghiên cứu đề tải là tìm hiểu những quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trong quá trinh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích và chỉ ra những bất cập, đồng thời nêu một số
kiến nghị với hy vọng các quy định pháp luật Việt Nam vẻ nhãn hiệu hảng hoá sẽ ngày càng hoàn thiện hơn đặc biệt sẽ được hoàn thiện trong Luật sở hữu trí tuệ (dự kiện
thông qua tại kỳ họp Quốc Hội tháng 11/2005), tạo cơ sở pháp lỷ thúc đây sự phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khô giới hạn của một luận ản Thạc sỹ luật học, người viết không có tham vọng nghiên cứu toản bộ các quy định của pháp luật vẻ nhãn hiệu hang hoa ma chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:
~ Phân tích khái niêm NHHH theo quy định hiện hành các tiêu chỉ để một NHHH được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và vai trò của NHHH trong thời kỳ hôi nhập kinh tế
quốc tế
~ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về NHHH và việc bảo hộ quyền nảy trên thực
tế của Việt Nam
- Quan điểm của tác giả về một số vân để cân sửa đổi, bỗ sung qua việc nghiên
cứu pháp luật về NHHH ở Việt Nam trong sự so sánh với các điều ước quốc té va pháp luật về NHHH của một số nước công nghiệp phát triển
5 Phương pháp nghiên cứu đề tải
Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đẻ tải dựa trên phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin để tìm ra môi liên hệ giữa các hiện tượng
nhằm đánh giá các vẫn đề nghiên cửu một cách khoa học
3
Trang 6hơn “NHHH được cẩu thành bởi đầu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bắt kỳ của các đầu
hiệu có khả năng phản biệt hàng hóa hoặc địch vụ của một người với hàng hóa hoặc
địch vụ của người khác, bao gôm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tô hợp mẫu sắc, các yếu tổ hình hoặc hình dang của bàng hóa hoặc hình dạng của bao bì
hàng hóa Nhẫn hiệu hàng hóa bao gầm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Ki vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam Hoa Ky thi
cáo đấu hiệu có thể câu tạo nên NIIHII được mỏ rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình
ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, bình ảnh như quy định của BI Việt Nam má
còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc ngoài ra
Tiiệp định cỏn phân loại NITIIH thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu lập thể và nhân hiệu chứng nhận Tuy rhiên, các nhãn hiểu như âm (hanh, mủi vị
vẫn chưa được để cập đến trang nội đưng Hiệp định này
Xuất phát từ nhu cẩu cần thiết là phải hoàn thiện pháp luật để hội nhập, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó phần Số hữu trí Iuệ trong
Độ luật chỉ còn lại những, quy định mang tỉnh chất nguyên tắc, các quy định cụ thể về
sở hữu trí tuệ nói chung và nhăn hiệu hàng hóa nói riêng được quy định trong Luật sở
hữu trí luệ dự kiến được thông qua vào cuối năm 2005 và đương nhiên, khái niệm nhấn hiệu bảng hoá cũng không còn quy dịnh trong BLDS mả sẽ dược quy định trong luật SIITT Dự thảo 4 của Luật SITTT định nghĩa nhãn hiệu như sau:
1 Nhãn hiện là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, địch vụ của oáo cá nhân,
tổ chức kinh đoanh khác nhau
3 NHTT là
3 NHƠN là
4 Ntãn hiệu là đấu hiệu nhĩm thây được, cỏ thể lả chữ cái, từ, ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kế cả hình ảnh 3 chiêu hoặc sự kết hợp giữa các yêu tổ đó, dược thể hiện bằng một hoặc nhiều mà sắc [36]
Như vậy, khái niệm tại Thr thảo Luật SIITT được định nghĩa theo tiêu chí chức
răng của nhấn hiệu Chúc nắng của nhấn hiệu là đừng để (cho người liêu đừng vả nhà
Trang 7hơn “NHHH được cẩu thành bởi đầu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bắt kỳ của các đầu
hiệu có khả năng phản biệt hàng hóa hoặc địch vụ của một người với hàng hóa hoặc
địch vụ của người khác, bao gôm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tô hợp mẫu sắc, các yếu tổ hình hoặc hình dang của bàng hóa hoặc hình dạng của bao bì
hàng hóa Nhẫn hiệu hàng hóa bao gầm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Ki vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam Hoa Ky thi
cáo đấu hiệu có thể câu tạo nên NIIHII được mỏ rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình
ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, bình ảnh như quy định của BI Việt Nam má
còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc ngoài ra
Tiiệp định cỏn phân loại NITIIH thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu lập thể và nhân hiệu chứng nhận Tuy rhiên, các nhãn hiểu như âm (hanh, mủi vị
vẫn chưa được để cập đến trang nội đưng Hiệp định này
Xuất phát từ nhu cẩu cần thiết là phải hoàn thiện pháp luật để hội nhập, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó phần Số hữu trí Iuệ trong
Độ luật chỉ còn lại những, quy định mang tỉnh chất nguyên tắc, các quy định cụ thể về
sở hữu trí tuệ nói chung và nhăn hiệu hàng hóa nói riêng được quy định trong Luật sở
hữu trí luệ dự kiến được thông qua vào cuối năm 2005 và đương nhiên, khái niệm nhấn hiệu bảng hoá cũng không còn quy dịnh trong BLDS mả sẽ dược quy định trong luật SIITT Dự thảo 4 của Luật SITTT định nghĩa nhãn hiệu như sau:
1 Nhãn hiện là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, địch vụ của oáo cá nhân,
tổ chức kinh đoanh khác nhau
3 NHTT là
3 NHƠN là
4 Ntãn hiệu là đấu hiệu nhĩm thây được, cỏ thể lả chữ cái, từ, ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kế cả hình ảnh 3 chiêu hoặc sự kết hợp giữa các yêu tổ đó, dược thể hiện bằng một hoặc nhiều mà sắc [36]
Như vậy, khái niệm tại Thr thảo Luật SIITT được định nghĩa theo tiêu chí chức
răng của nhấn hiệu Chúc nắng của nhấn hiệu là đừng để (cho người liêu đừng vả nhà
Trang 8Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhấn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là bửừ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được vá không có trong từ điển, vi đụ như Tilead, Yahoo 2} sử dụng từ thông dụng - là những từ hiện đùng và thục sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đỏ, ví dụ như: Rang Đông, Trung Thành 3) Sử đựng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện đúng và các âm liết
dế nhận biết, ví dụ như Vinamilk, Thinkpad 4) sử dụng các từ viết tắt- là những từ
thông thường được tạo thành từ những chữ cái đâu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng
có thể phát âm được và mang một thông điệp rào đó như ATA, TBM, LG, FPT,
Theo quy định lại điều 62s Nghị định 63/CP thị không phải bất kỳ chữ cái và
chữ số nào cũng déu dược đăng kỷ lâm NHHH, nhất là dỗi với chừ edi dig dơn lễ,
không được cách điệu thì sẽ đuợc xem là không có tính phân biệt nên không cỏ khả xăng đăng ký NHI], các chữ cái, chữ sổ, các chữ không cỏ khả năng phát âm như một
số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ khêng thông dung trừ trường hợp cáo đấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài ra, nếu chi bao gốm một từ chữ cải hoặc một chữ số thì sẽ bị xem lá quả đơn giân, ngược lại nếu
cá quả nhiều chữ cải hoặc có quá nhiều chữ số, đài quá thì cũng có thể không được bảo
hô, nhung néu cé thé doc được và viết theo ruột ký Lự riêng lại có thể được bão hộ
Tuy nhiên, tỉnh chất "khả răng lự phân biệt" không mang một ý nghĩa tuyệt đối
‘Tinh chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhân huệu trên thị trường Chẳng han như một nhãn hiệu là dẫu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ
cái, hình học đơn gián ) sau một thời gian đài được sử dụng liên tục với số lượng lớn
và rộng rãi, eó thể trở thảnh đâu hiệu cỏ khả năng tự phân biệt do người tiêu đảng vì
qua việc sử dụng rộng rãi này, nhấn hiệu đã trở nên nhận biết dược, phân biệt được cho người tiêu dùng, Ví đụ: "333" là một dâu hiệu dã trở thánh một nhăn hiệu thông, dụng
"PN" lả một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phâm của Shiseido
Về vấn dé nảy, pháp luật Nhật Bãn cũng không quy định việc kết hợp các chữ
cai hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được Nêu NIHHI chỉ bao gồm có
một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quả đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất
phải từ hai chữ cái trở lên Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà
Trang 9dầu hiệu được coi là NHHH có thể bao gồm cä hình anh ba chiếu, âm thanh hay mùi, trong khi đó ở một số nước khác thì chỉ các yêu tổ câu thành truyền thống như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được công nhận
* Khái niệm về NHHH theo pháp luật Ưiệt Nam
Tại Việt Nam, Điểu 785, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định “NHHE
là những đầu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dich vụ cùng loại của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh khác nhan NHHH có thể là từ ngữ, bình ảnh boặc sự kết hợp các yéu
tổ dỏ dược thể hiện bằng một hoặc nhiễu màu sắc”
Trên cơ sở Khoản L Điều 785 chúng ta nhận thấy rằng quy dịnh về nhân hiệu
hàng hoá trong BLDS V
chuẩn “cỏ khả năng phân biệt” là cơ sở để một dâu hiệu có thể được dùng làm KHHH
hay không Tuy nhiên so với quy định tại Điều L5 Hiệp định TRITs thi quy định nay
t Nam là phù hợp với quy định của TRIPs khi đưa ra tiêu
hạn chế hơn, không Lhế hiện sự “mạnh mế” như quy phạm tương ứng của Hiệp định TRIEs là: bất &ÿ dấu hiệu, l hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt dều co thé lan NHIIT BLDS Việt Nam quy định cé phan cụ thể hơn khi liệt kê các đầu hiệu này, theo đó các đân hiệu cỏ thể làm nhãn hiệu hàng hoả bao gêm tù ngữ, hình ảnh hoặc sụ kết hợp giữa từ ngữ và bình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc Quy đụ: này đã giới han các đấu hiệu có thể lựa chọn lâm nhấn hiệu trong ba loại đấu hiệu
Điều này có nghĩa là các đoanh nghiệp có ít sự lựa chọn hơn khi xây dựng nhãn hiệu
hang boa, họ không thể chọn các đầu hiệu nằm ngoài các dẫu hiện đã được liệt kẻ tại điều 785 BLDS Trong tỉnh hình hiện nay của Việt Nam thì 3 loại dấu hiệu nảy có lẽ là phủ hợp, tuy nhiên, trong tương lai với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khi mà các loạt hàng hoà, dịch vụ ngày càng phong phú đa dang, các nhả sản xuất luôn mong muốn tìm kiểm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo, hắp đẫn cho các sản phẩm của minh
đề thu hút công chúng và cùng với xu thể hội nhập kính lẻ quốc tế thì Việt Nam
chưa thể bắt nhịp được với thể giới nêu như chủng ta bổ qua những dấu hiệu đã được
cáo nước trên thể giới công nhận nhĩ âm thanh mũi vị
Quy định liên man đến bảo hô NHHH tại khoản L Điều 6 Hiệp định thương mại
Việt Nam - Hoa Kỷ đã thể hiện một khải miệm bao quát và gắn với chuẩn mục quốc tê
Trang 10sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ) phân biệt hàng, hoá, dịch vụ, vi vay đấu hiệu sử đụng làm nhấn hiệu phải lá dấu hiệu nhìn thấy được Định nghiia này thực ra cũng
tương tự như định nghĩa tại Diễu 785 Bộ luật Dân sự 1995 Tuy nhiền, so với pháp luật
hiện hành, điều này đã làm rõ nghĩa một loại dâu hiệu cỏ khã năng được bảo hô dưới
đanh nghĩa là nhãn hiệu, đỏ là hình ảnh ba chiều Tiấu hiệu nay được pháp luật các
nước trên thể giới thừa nhận bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu vả thực tế Việt Nam đã đăng,
ký bảo hệ Ví đụ như hình đáng của chai Cooa cola Bên cạnh đó, điểm mới tiếp theo
của đình nghĩa này so với pháp luật hiện hành là bỏ sung điều kiện "nhìn thấy được"
đối với nhấn hiệu,
Tôm lại, trên cơ sở những phân tích ở trên, để phủ hợp với sụ phát triển vừa tạo được một sự linh hoạt cần thiết trong quá trinh áp đựng, có thể đưa ra khái niệm về
nhăn hiệu hàng hoá như sau:
Tất cả những dấu hiệu, đặc biệt là từ ngữ, tên người, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt, các yêu tổ hình, 8 hop mau sắc hoặc các yêu tổ khác đêu có thể được bdo hộ là nhân hiệu hàng hoá nêu chúng có khả năng dùng để phân biệt được hàng hoặc dich vu của cơ sở sản xuất kinh doanh này với cơ sở sẵn xuất kinh doanh khác
1.1.2 Các đẫu hiệu câu thành nhãn hiệu hàng had
Theo xu hưởng quốc tế hiện nay thi các dau hiệu có thể được đăng ký làm NITHI rất phong phú, nó có thể cầu thành bởi dầu hiệu bat kỳ hoặc là sự kết hợp bất
kỹ của các đấu hiệu có khả năng phân biết hàng hoá, địch vụ của cơ sở sẵn xuất kinh
doanh mày với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của cơ sở sân xuất kinh doanh khác Trên
tỉnh thản của các Điều ước quốc lế thì có thể phân loại một số dẫu hiệu hiện may được
sử dụng làm NHHH như sau:
* Dấu hiệu từng:
Từ ngữ là dâu hiệu được đừng phổ biến nhất, có thể là một từ hoặc một lập hợp
từ Dấu hiệu “từ ngữ”
Mật bay nhiêu chữ cái, một hay nhiều số hoặc sụ kết bợp giữa chúng lá loại KHI
được hiểu là các dâu hiệu chữ bao gồm các chữ cái hoặc chữ số
phổ biên Ví dụ như :7 up, Trưng nguyên, NIKE
Trang 11Tiên cạnh đỏ, tác giả cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phản tích chứng mình, phân tích tổng hợp, so sánh, điển giải, suy
diễn lôgich để làm sáng tỏ vẫn để nghiên cứu
6 Những điểm mới và ý nghĩa của để tải
Về mặt khoa học, đẻ tài cần có sự đánh giá của các nhà nghiên cửu quan lãm (di van dé nảy, Tuy nhiên, tác giã cũng mạnh dạn đánh giả đây sẽ là công trinh nghiên
cứu, phân tích một cách cỏ hệ thông những vân dé lý luận chung về nhãn hiệu hang
hoá, đồng thời phân tích thực trạng, pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá hiện nay ở Việt
Nam trên cơ sở so sánh, đốt chiều với các quy định của pháp luật quốc tế tìm ra những, điểm chưa tương thích trang bối cảnh hội nhập từ đó đưa ra kiến nghị đối với việc xây
dung và hoàn thiện pháp luật về nhăn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay
Dé tai đã đưa ra một số kiến nghị ban đầu cha việc tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong điều kiên hội nhập kinh tế quốc tế
7 Kết cầu cũa luận văn
Luan văn có bó cục như sau: Lời mở dẫu, ba chương, kết luận và danh mục tải
liện tham khảo.
Trang 12Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhấn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là bửừ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được vá không có trong từ điển, vi đụ như Tilead, Yahoo 2} sử dụng từ thông dụng - là những từ hiện đùng và thục sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đỏ, ví dụ như: Rang Đông, Trung Thành 3) Sử đựng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện đúng và các âm liết
dế nhận biết, ví dụ như Vinamilk, Thinkpad 4) sử dụng các từ viết tắt- là những từ
thông thường được tạo thành từ những chữ cái đâu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng
có thể phát âm được và mang một thông điệp rào đó như ATA, TBM, LG, FPT,
Theo quy định lại điều 62s Nghị định 63/CP thị không phải bất kỳ chữ cái và
chữ số nào cũng déu dược đăng kỷ lâm NHHH, nhất là dỗi với chừ edi dig dơn lễ,
không được cách điệu thì sẽ đuợc xem là không có tính phân biệt nên không cỏ khả xăng đăng ký NHI], các chữ cái, chữ sổ, các chữ không cỏ khả năng phát âm như một
số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ khêng thông dung trừ trường hợp cáo đấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài ra, nếu chi bao gốm một từ chữ cải hoặc một chữ số thì sẽ bị xem lá quả đơn giân, ngược lại nếu
cá quả nhiều chữ cải hoặc có quá nhiều chữ số, đài quá thì cũng có thể không được bảo
hô, nhung néu cé thé doc được và viết theo ruột ký Lự riêng lại có thể được bão hộ
Tuy nhiên, tỉnh chất "khả răng lự phân biệt" không mang một ý nghĩa tuyệt đối
‘Tinh chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhân huệu trên thị trường Chẳng han như một nhãn hiệu là dẫu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ
cái, hình học đơn gián ) sau một thời gian đài được sử dụng liên tục với số lượng lớn
và rộng rãi, eó thể trở thảnh đâu hiệu cỏ khả năng tự phân biệt do người tiêu đảng vì
qua việc sử dụng rộng rãi này, nhấn hiệu đã trở nên nhận biết dược, phân biệt được cho người tiêu dùng, Ví đụ: "333" là một dâu hiệu dã trở thánh một nhăn hiệu thông, dụng
"PN" lả một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phâm của Shiseido
Về vấn dé nảy, pháp luật Nhật Bãn cũng không quy định việc kết hợp các chữ
cai hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được Nêu NIHHI chỉ bao gồm có
một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quả đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất
phải từ hai chữ cái trở lên Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà
Trang 13nên chỉ đi vảo các vẫn đẻ chung có tỉnh chất khải quát Vì vậy, việc chọn vả nghiên cứu đề tải "Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Uiệt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" là một đề tài độc lập, không có sự lặp lại Tuy nhiên, đề hoàn thành đề tài nảy, người viết phải tham khảo, sưu tâm, học hỏi các kiên thức cũng như kinh nghiệm trong các công trình khoa học có liên quan đến vẫn đẻ sở hữu trí tuệ đã được công bố và các
tạp chỉ nghiên cửu khoa học khác
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tải
Mục đích của việc nghiên cứu đề tải là tìm hiểu những quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trong quá trinh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích và chỉ ra những bất cập, đồng thời nêu một số
kiến nghị với hy vọng các quy định pháp luật Việt Nam vẻ nhãn hiệu hảng hoá sẽ ngày càng hoàn thiện hơn đặc biệt sẽ được hoàn thiện trong Luật sở hữu trí tuệ (dự kiện
thông qua tại kỳ họp Quốc Hội tháng 11/2005), tạo cơ sở pháp lỷ thúc đây sự phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khô giới hạn của một luận ản Thạc sỹ luật học, người viết không có tham vọng nghiên cứu toản bộ các quy định của pháp luật vẻ nhãn hiệu hang hoa ma chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:
~ Phân tích khái niêm NHHH theo quy định hiện hành các tiêu chỉ để một NHHH được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và vai trò của NHHH trong thời kỳ hôi nhập kinh tế
quốc tế
~ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về NHHH và việc bảo hộ quyền nảy trên thực
tế của Việt Nam
- Quan điểm của tác giả về một số vân để cân sửa đổi, bỗ sung qua việc nghiên
cứu pháp luật về NHHH ở Việt Nam trong sự so sánh với các điều ước quốc té va pháp luật về NHHH của một số nước công nghiệp phát triển
5 Phương pháp nghiên cứu đề tải
Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đẻ tải dựa trên phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin để tìm ra môi liên hệ giữa các hiện tượng
nhằm đánh giá các vẫn đề nghiên cửu một cách khoa học
3
Trang 14nên chỉ đi vảo các vẫn đẻ chung có tỉnh chất khải quát Vì vậy, việc chọn vả nghiên cứu đề tải "Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Uiệt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" là một đề tài độc lập, không có sự lặp lại Tuy nhiên, đề hoàn thành đề tài nảy, người viết phải tham khảo, sưu tâm, học hỏi các kiên thức cũng như kinh nghiệm trong các công trình khoa học có liên quan đến vẫn đẻ sở hữu trí tuệ đã được công bố và các
tạp chỉ nghiên cửu khoa học khác
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tải
Mục đích của việc nghiên cứu đề tải là tìm hiểu những quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trong quá trinh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích và chỉ ra những bất cập, đồng thời nêu một số
kiến nghị với hy vọng các quy định pháp luật Việt Nam vẻ nhãn hiệu hảng hoá sẽ ngày càng hoàn thiện hơn đặc biệt sẽ được hoàn thiện trong Luật sở hữu trí tuệ (dự kiện
thông qua tại kỳ họp Quốc Hội tháng 11/2005), tạo cơ sở pháp lỷ thúc đây sự phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khô giới hạn của một luận ản Thạc sỹ luật học, người viết không có tham vọng nghiên cứu toản bộ các quy định của pháp luật vẻ nhãn hiệu hang hoa ma chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:
~ Phân tích khái niêm NHHH theo quy định hiện hành các tiêu chỉ để một NHHH được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và vai trò của NHHH trong thời kỳ hôi nhập kinh tế
quốc tế
~ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về NHHH và việc bảo hộ quyền nảy trên thực
tế của Việt Nam
- Quan điểm của tác giả về một số vân để cân sửa đổi, bỗ sung qua việc nghiên
cứu pháp luật về NHHH ở Việt Nam trong sự so sánh với các điều ước quốc té va pháp luật về NHHH của một số nước công nghiệp phát triển
5 Phương pháp nghiên cứu đề tải
Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đẻ tải dựa trên phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin để tìm ra môi liên hệ giữa các hiện tượng
nhằm đánh giá các vẫn đề nghiên cửu một cách khoa học
3
Trang 15Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhấn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là bửừ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được vá không có trong từ điển, vi đụ như Tilead, Yahoo 2} sử dụng từ thông dụng - là những từ hiện đùng và thục sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đỏ, ví dụ như: Rang Đông, Trung Thành 3) Sử đựng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện đúng và các âm liết
dế nhận biết, ví dụ như Vinamilk, Thinkpad 4) sử dụng các từ viết tắt- là những từ
thông thường được tạo thành từ những chữ cái đâu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng
có thể phát âm được và mang một thông điệp rào đó như ATA, TBM, LG, FPT,
Theo quy định lại điều 62s Nghị định 63/CP thị không phải bất kỳ chữ cái và
chữ số nào cũng déu dược đăng kỷ lâm NHHH, nhất là dỗi với chừ edi dig dơn lễ,
không được cách điệu thì sẽ đuợc xem là không có tính phân biệt nên không cỏ khả xăng đăng ký NHI], các chữ cái, chữ sổ, các chữ không cỏ khả năng phát âm như một
số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ khêng thông dung trừ trường hợp cáo đấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài ra, nếu chi bao gốm một từ chữ cải hoặc một chữ số thì sẽ bị xem lá quả đơn giân, ngược lại nếu
cá quả nhiều chữ cải hoặc có quá nhiều chữ số, đài quá thì cũng có thể không được bảo
hô, nhung néu cé thé doc được và viết theo ruột ký Lự riêng lại có thể được bão hộ
Tuy nhiên, tỉnh chất "khả răng lự phân biệt" không mang một ý nghĩa tuyệt đối
‘Tinh chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhân huệu trên thị trường Chẳng han như một nhãn hiệu là dẫu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ
cái, hình học đơn gián ) sau một thời gian đài được sử dụng liên tục với số lượng lớn
và rộng rãi, eó thể trở thảnh đâu hiệu cỏ khả năng tự phân biệt do người tiêu đảng vì
qua việc sử dụng rộng rãi này, nhấn hiệu đã trở nên nhận biết dược, phân biệt được cho người tiêu dùng, Ví đụ: "333" là một dâu hiệu dã trở thánh một nhăn hiệu thông, dụng
"PN" lả một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phâm của Shiseido
Về vấn dé nảy, pháp luật Nhật Bãn cũng không quy định việc kết hợp các chữ
cai hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được Nêu NIHHI chỉ bao gồm có
một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quả đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất
phải từ hai chữ cái trở lên Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà
Trang 16Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhấn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là bửừ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được vá không có trong từ điển, vi đụ như Tilead, Yahoo 2} sử dụng từ thông dụng - là những từ hiện đùng và thục sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đỏ, ví dụ như: Rang Đông, Trung Thành 3) Sử đựng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện đúng và các âm liết
dế nhận biết, ví dụ như Vinamilk, Thinkpad 4) sử dụng các từ viết tắt- là những từ
thông thường được tạo thành từ những chữ cái đâu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng
có thể phát âm được và mang một thông điệp rào đó như ATA, TBM, LG, FPT,
Theo quy định lại điều 62s Nghị định 63/CP thị không phải bất kỳ chữ cái và
chữ số nào cũng déu dược đăng kỷ lâm NHHH, nhất là dỗi với chừ edi dig dơn lễ,
không được cách điệu thì sẽ đuợc xem là không có tính phân biệt nên không cỏ khả xăng đăng ký NHI], các chữ cái, chữ sổ, các chữ không cỏ khả năng phát âm như một
số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ khêng thông dung trừ trường hợp cáo đấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài ra, nếu chi bao gốm một từ chữ cải hoặc một chữ số thì sẽ bị xem lá quả đơn giân, ngược lại nếu
cá quả nhiều chữ cải hoặc có quá nhiều chữ số, đài quá thì cũng có thể không được bảo
hô, nhung néu cé thé doc được và viết theo ruột ký Lự riêng lại có thể được bão hộ
Tuy nhiên, tỉnh chất "khả răng lự phân biệt" không mang một ý nghĩa tuyệt đối
‘Tinh chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhân huệu trên thị trường Chẳng han như một nhãn hiệu là dẫu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ
cái, hình học đơn gián ) sau một thời gian đài được sử dụng liên tục với số lượng lớn
và rộng rãi, eó thể trở thảnh đâu hiệu cỏ khả năng tự phân biệt do người tiêu đảng vì
qua việc sử dụng rộng rãi này, nhấn hiệu đã trở nên nhận biết dược, phân biệt được cho người tiêu dùng, Ví đụ: "333" là một dâu hiệu dã trở thánh một nhăn hiệu thông, dụng
"PN" lả một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phâm của Shiseido
Về vấn dé nảy, pháp luật Nhật Bãn cũng không quy định việc kết hợp các chữ
cai hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được Nêu NIHHI chỉ bao gồm có
một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quả đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất
phải từ hai chữ cái trở lên Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà
Trang 17CHƯƠNG 1
TONG QUAN VE PHAP LUAT KHAN HIEU HÀNG HỐ
1.1 Khái niệta nhãn hiện hàng hố
1.1.1 Khơi niệm về NHHH trong Hiệp dịnh TRIPs và pháp tugt Viet Nam
* Khải niệm về NIH1] trong liiệp dink TRIPs
Tiện nay, pháp luật quốc gia và pháp luật quỏc tê đều rất quan tâm đến bảo hộ
'NHHH Trên thế giới đã cĩ rất nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương điều
chỉnh các lĩnh vực liên quan đến nhãn liệu hàng hố như Cơng ước Paris (1883), Thộ
ude Madrid (1891 ), [gp định vẻ các khia cạnh liên quan liên quan đến thương mại của SHTT (TRITs), Hiệp định vẻ luật NHTTH ký giữa các nước thành viên trong khuơn khổ
WIPO trong đỏ điển hình hơn cả là Hiệp định TRIPs đã đưa khái niệm nhãn hiệu hàng hố như sau:
“Bắt kỳ một dấu biệu, hoặc tổ hợp dấu biệu nào, cĩ khả năng phân biệt hàng hĩa hoặc địch vụ của các daanh nghiệp khác nhau đều cĩ thể làm NIHH1 Các dầu
hiệu đĩ, đặc biệt là các từ kế cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yêu tơ hình họa và
16 hop các sắc màu cũng như tƠ hợp bắt kỳ của các dẫu hiệu đĩ phải cĩ khả năng được
đăng lý là NIHHI”.(Diễu 15 THập định TRIPs)
Cĩ thể thấy khái niêm NIIIH trong Hiệp định TRIPs được quy định rất khái quất, và do đỏ mang tính quy chuẩn Việc xác định một đổi tượng bất kỳ cĩ phải là
'NHHH hay khơng sẽ căn cử vào tỉnh phân biệt của hàng hố dịch vụ Điều này thể hiện
rổ nhất trong các quy định lương ứng của TRIPs là bắt kỳ một đấu hiệu nào, cho đủ là hình ảnh, màu sắc, âm thanh hay mũi vị cĩ khã năng phân biệt được hàng hố, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hố, dịch vụ củng loại của doanh nghiệp khác đều được cai là NHHH Đây cũng là cách tiếp cận chưng của các nước khi định nghĩa NHHH trong pháp luật của mình Tuy nhiên, các nước cũng cĩ những quan điểm khác nhau
liên quan đến những yêu tổ cĩ thể phân biệt hàng hoa, dich vụ củng loại của các doanh:
nghiện Sự khác biệt này đổi khi bắt nguẫn tử sự phát triển kinh té hay mức độ đa dang
của nền kinh lế Vì thể, cỏ Iruờng hợp chỉmg ta thấy ở một số nuéc phát triển thì các
3
Trang 18CHƯƠNG 1
TONG QUAN VE PHAP LUAT KHAN HIEU HÀNG HỐ
1.1 Khái niệta nhãn hiện hàng hố
1.1.1 Khơi niệm về NHHH trong Hiệp dịnh TRIPs và pháp tugt Viet Nam
* Khải niệm về NIH1] trong liiệp dink TRIPs
Tiện nay, pháp luật quốc gia và pháp luật quỏc tê đều rất quan tâm đến bảo hộ
'NHHH Trên thế giới đã cĩ rất nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương điều
chỉnh các lĩnh vực liên quan đến nhãn liệu hàng hố như Cơng ước Paris (1883), Thộ
ude Madrid (1891 ), [gp định vẻ các khia cạnh liên quan liên quan đến thương mại của SHTT (TRITs), Hiệp định vẻ luật NHTTH ký giữa các nước thành viên trong khuơn khổ
WIPO trong đỏ điển hình hơn cả là Hiệp định TRIPs đã đưa khái niệm nhãn hiệu hàng hố như sau:
“Bắt kỳ một dấu biệu, hoặc tổ hợp dấu biệu nào, cĩ khả năng phân biệt hàng hĩa hoặc địch vụ của các daanh nghiệp khác nhau đều cĩ thể làm NIHH1 Các dầu
hiệu đĩ, đặc biệt là các từ kế cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yêu tơ hình họa và
16 hop các sắc màu cũng như tƠ hợp bắt kỳ của các dẫu hiệu đĩ phải cĩ khả năng được
đăng lý là NIHHI”.(Diễu 15 THập định TRIPs)
Cĩ thể thấy khái niêm NIIIH trong Hiệp định TRIPs được quy định rất khái quất, và do đỏ mang tính quy chuẩn Việc xác định một đổi tượng bất kỳ cĩ phải là
'NHHH hay khơng sẽ căn cử vào tỉnh phân biệt của hàng hố dịch vụ Điều này thể hiện
rổ nhất trong các quy định lương ứng của TRIPs là bắt kỳ một đấu hiệu nào, cho đủ là hình ảnh, màu sắc, âm thanh hay mũi vị cĩ khã năng phân biệt được hàng hố, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hố, dịch vụ củng loại của doanh nghiệp khác đều được cai là NHHH Đây cũng là cách tiếp cận chưng của các nước khi định nghĩa NHHH trong pháp luật của mình Tuy nhiên, các nước cũng cĩ những quan điểm khác nhau
liên quan đến những yêu tổ cĩ thể phân biệt hàng hoa, dich vụ củng loại của các doanh:
nghiện Sự khác biệt này đổi khi bắt nguẫn tử sự phát triển kinh té hay mức độ đa dang
của nền kinh lế Vì thể, cỏ Iruờng hợp chỉmg ta thấy ở một số nuéc phát triển thì các
3
Trang 19dầu hiệu được coi là NHHH có thể bao gồm cä hình anh ba chiếu, âm thanh hay mùi, trong khi đó ở một số nước khác thì chỉ các yêu tổ câu thành truyền thống như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được công nhận
* Khái niệm về NHHH theo pháp luật Ưiệt Nam
Tại Việt Nam, Điểu 785, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định “NHHE
là những đầu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dich vụ cùng loại của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh khác nhan NHHH có thể là từ ngữ, bình ảnh boặc sự kết hợp các yéu
tổ dỏ dược thể hiện bằng một hoặc nhiễu màu sắc”
Trên cơ sở Khoản L Điều 785 chúng ta nhận thấy rằng quy dịnh về nhân hiệu
hàng hoá trong BLDS V
chuẩn “cỏ khả năng phân biệt” là cơ sở để một dâu hiệu có thể được dùng làm KHHH
hay không Tuy nhiên so với quy định tại Điều L5 Hiệp định TRITs thi quy định nay
t Nam là phù hợp với quy định của TRIPs khi đưa ra tiêu
hạn chế hơn, không Lhế hiện sự “mạnh mế” như quy phạm tương ứng của Hiệp định TRIEs là: bất &ÿ dấu hiệu, l hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt dều co thé lan NHIIT BLDS Việt Nam quy định cé phan cụ thể hơn khi liệt kê các đầu hiệu này, theo đó các đân hiệu cỏ thể làm nhãn hiệu hàng hoả bao gêm tù ngữ, hình ảnh hoặc sụ kết hợp giữa từ ngữ và bình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc Quy đụ: này đã giới han các đấu hiệu có thể lựa chọn lâm nhấn hiệu trong ba loại đấu hiệu
Điều này có nghĩa là các đoanh nghiệp có ít sự lựa chọn hơn khi xây dựng nhãn hiệu
hang boa, họ không thể chọn các đầu hiệu nằm ngoài các dẫu hiện đã được liệt kẻ tại điều 785 BLDS Trong tỉnh hình hiện nay của Việt Nam thì 3 loại dấu hiệu nảy có lẽ là phủ hợp, tuy nhiên, trong tương lai với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khi mà các loạt hàng hoà, dịch vụ ngày càng phong phú đa dang, các nhả sản xuất luôn mong muốn tìm kiểm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo, hắp đẫn cho các sản phẩm của minh
đề thu hút công chúng và cùng với xu thể hội nhập kính lẻ quốc tế thì Việt Nam
chưa thể bắt nhịp được với thể giới nêu như chủng ta bổ qua những dấu hiệu đã được
cáo nước trên thể giới công nhận nhĩ âm thanh mũi vị
Quy định liên man đến bảo hô NHHH tại khoản L Điều 6 Hiệp định thương mại
Việt Nam - Hoa Kỷ đã thể hiện một khải miệm bao quát và gắn với chuẩn mục quốc tê
Trang 20dầu hiệu được coi là NHHH có thể bao gồm cä hình anh ba chiếu, âm thanh hay mùi, trong khi đó ở một số nước khác thì chỉ các yêu tổ câu thành truyền thống như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được công nhận
* Khái niệm về NHHH theo pháp luật Ưiệt Nam
Tại Việt Nam, Điểu 785, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định “NHHE
là những đầu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dich vụ cùng loại của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh khác nhan NHHH có thể là từ ngữ, bình ảnh boặc sự kết hợp các yéu
tổ dỏ dược thể hiện bằng một hoặc nhiễu màu sắc”
Trên cơ sở Khoản L Điều 785 chúng ta nhận thấy rằng quy dịnh về nhân hiệu
hàng hoá trong BLDS V
chuẩn “cỏ khả năng phân biệt” là cơ sở để một dâu hiệu có thể được dùng làm KHHH
hay không Tuy nhiên so với quy định tại Điều L5 Hiệp định TRITs thi quy định nay
t Nam là phù hợp với quy định của TRIPs khi đưa ra tiêu
hạn chế hơn, không Lhế hiện sự “mạnh mế” như quy phạm tương ứng của Hiệp định TRIEs là: bất &ÿ dấu hiệu, l hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt dều co thé lan NHIIT BLDS Việt Nam quy định cé phan cụ thể hơn khi liệt kê các đầu hiệu này, theo đó các đân hiệu cỏ thể làm nhãn hiệu hàng hoả bao gêm tù ngữ, hình ảnh hoặc sụ kết hợp giữa từ ngữ và bình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc Quy đụ: này đã giới han các đấu hiệu có thể lựa chọn lâm nhấn hiệu trong ba loại đấu hiệu
Điều này có nghĩa là các đoanh nghiệp có ít sự lựa chọn hơn khi xây dựng nhãn hiệu
hang boa, họ không thể chọn các đầu hiệu nằm ngoài các dẫu hiện đã được liệt kẻ tại điều 785 BLDS Trong tỉnh hình hiện nay của Việt Nam thì 3 loại dấu hiệu nảy có lẽ là phủ hợp, tuy nhiên, trong tương lai với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khi mà các loạt hàng hoà, dịch vụ ngày càng phong phú đa dang, các nhả sản xuất luôn mong muốn tìm kiểm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo, hắp đẫn cho các sản phẩm của minh
đề thu hút công chúng và cùng với xu thể hội nhập kính lẻ quốc tế thì Việt Nam
chưa thể bắt nhịp được với thể giới nêu như chủng ta bổ qua những dấu hiệu đã được
cáo nước trên thể giới công nhận nhĩ âm thanh mũi vị
Quy định liên man đến bảo hô NHHH tại khoản L Điều 6 Hiệp định thương mại
Việt Nam - Hoa Kỷ đã thể hiện một khải miệm bao quát và gắn với chuẩn mục quốc tê
Trang 21CHƯƠNG 1
TONG QUAN VE PHAP LUAT KHAN HIEU HÀNG HỐ
1.1 Khái niệta nhãn hiện hàng hố
1.1.1 Khơi niệm về NHHH trong Hiệp dịnh TRIPs và pháp tugt Viet Nam
* Khải niệm về NIH1] trong liiệp dink TRIPs
Tiện nay, pháp luật quốc gia và pháp luật quỏc tê đều rất quan tâm đến bảo hộ
'NHHH Trên thế giới đã cĩ rất nhiều Điều ước quốc tế đa phương và song phương điều
chỉnh các lĩnh vực liên quan đến nhãn liệu hàng hố như Cơng ước Paris (1883), Thộ
ude Madrid (1891 ), [gp định vẻ các khia cạnh liên quan liên quan đến thương mại của SHTT (TRITs), Hiệp định vẻ luật NHTTH ký giữa các nước thành viên trong khuơn khổ
WIPO trong đỏ điển hình hơn cả là Hiệp định TRIPs đã đưa khái niệm nhãn hiệu hàng hố như sau:
“Bắt kỳ một dấu biệu, hoặc tổ hợp dấu biệu nào, cĩ khả năng phân biệt hàng hĩa hoặc địch vụ của các daanh nghiệp khác nhau đều cĩ thể làm NIHH1 Các dầu
hiệu đĩ, đặc biệt là các từ kế cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yêu tơ hình họa và
16 hop các sắc màu cũng như tƠ hợp bắt kỳ của các dẫu hiệu đĩ phải cĩ khả năng được
đăng lý là NIHHI”.(Diễu 15 THập định TRIPs)
Cĩ thể thấy khái niêm NIIIH trong Hiệp định TRIPs được quy định rất khái quất, và do đỏ mang tính quy chuẩn Việc xác định một đổi tượng bất kỳ cĩ phải là
'NHHH hay khơng sẽ căn cử vào tỉnh phân biệt của hàng hố dịch vụ Điều này thể hiện
rổ nhất trong các quy định lương ứng của TRIPs là bắt kỳ một đấu hiệu nào, cho đủ là hình ảnh, màu sắc, âm thanh hay mũi vị cĩ khã năng phân biệt được hàng hố, dịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hố, dịch vụ củng loại của doanh nghiệp khác đều được cai là NHHH Đây cũng là cách tiếp cận chưng của các nước khi định nghĩa NHHH trong pháp luật của mình Tuy nhiên, các nước cũng cĩ những quan điểm khác nhau
liên quan đến những yêu tổ cĩ thể phân biệt hàng hoa, dich vụ củng loại của các doanh:
nghiện Sự khác biệt này đổi khi bắt nguẫn tử sự phát triển kinh té hay mức độ đa dang
của nền kinh lế Vì thể, cỏ Iruờng hợp chỉmg ta thấy ở một số nuéc phát triển thì các
3
Trang 22sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ) phân biệt hàng, hoá, dịch vụ, vi vay đấu hiệu sử đụng làm nhấn hiệu phải lá dấu hiệu nhìn thấy được Định nghiia này thực ra cũng
tương tự như định nghĩa tại Diễu 785 Bộ luật Dân sự 1995 Tuy nhiền, so với pháp luật
hiện hành, điều này đã làm rõ nghĩa một loại dâu hiệu cỏ khã năng được bảo hô dưới
đanh nghĩa là nhãn hiệu, đỏ là hình ảnh ba chiều Tiấu hiệu nay được pháp luật các
nước trên thể giới thừa nhận bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu vả thực tế Việt Nam đã đăng,
ký bảo hệ Ví đụ như hình đáng của chai Cooa cola Bên cạnh đó, điểm mới tiếp theo
của đình nghĩa này so với pháp luật hiện hành là bỏ sung điều kiện "nhìn thấy được"
đối với nhấn hiệu,
Tôm lại, trên cơ sở những phân tích ở trên, để phủ hợp với sụ phát triển vừa tạo được một sự linh hoạt cần thiết trong quá trinh áp đựng, có thể đưa ra khái niệm về
nhăn hiệu hàng hoá như sau:
Tất cả những dấu hiệu, đặc biệt là từ ngữ, tên người, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt, các yêu tổ hình, 8 hop mau sắc hoặc các yêu tổ khác đêu có thể được bdo hộ là nhân hiệu hàng hoá nêu chúng có khả năng dùng để phân biệt được hàng hoặc dich vu của cơ sở sản xuất kinh doanh này với cơ sở sẵn xuất kinh doanh khác
1.1.2 Các đẫu hiệu câu thành nhãn hiệu hàng had
Theo xu hưởng quốc tế hiện nay thi các dau hiệu có thể được đăng ký làm NITHI rất phong phú, nó có thể cầu thành bởi dầu hiệu bat kỳ hoặc là sự kết hợp bất
kỹ của các đấu hiệu có khả năng phân biết hàng hoá, địch vụ của cơ sở sẵn xuất kinh
doanh mày với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của cơ sở sân xuất kinh doanh khác Trên
tỉnh thản của các Điều ước quốc lế thì có thể phân loại một số dẫu hiệu hiện may được
sử dụng làm NHHH như sau:
* Dấu hiệu từng:
Từ ngữ là dâu hiệu được đừng phổ biến nhất, có thể là một từ hoặc một lập hợp
từ Dấu hiệu “từ ngữ”
Mật bay nhiêu chữ cái, một hay nhiều số hoặc sụ kết bợp giữa chúng lá loại KHI
được hiểu là các dâu hiệu chữ bao gồm các chữ cái hoặc chữ số
phổ biên Ví dụ như :7 up, Trưng nguyên, NIKE
Trang 23Tiên cạnh đỏ, tác giả cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phản tích chứng mình, phân tích tổng hợp, so sánh, điển giải, suy
diễn lôgich để làm sáng tỏ vẫn để nghiên cứu
6 Những điểm mới và ý nghĩa của để tải
Về mặt khoa học, đẻ tài cần có sự đánh giá của các nhà nghiên cửu quan lãm (di van dé nảy, Tuy nhiên, tác giã cũng mạnh dạn đánh giả đây sẽ là công trinh nghiên
cứu, phân tích một cách cỏ hệ thông những vân dé lý luận chung về nhãn hiệu hang
hoá, đồng thời phân tích thực trạng, pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá hiện nay ở Việt
Nam trên cơ sở so sánh, đốt chiều với các quy định của pháp luật quốc tế tìm ra những, điểm chưa tương thích trang bối cảnh hội nhập từ đó đưa ra kiến nghị đối với việc xây
dung và hoàn thiện pháp luật về nhăn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay
Dé tai đã đưa ra một số kiến nghị ban đầu cha việc tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong điều kiên hội nhập kinh tế quốc tế
7 Kết cầu cũa luận văn
Luan văn có bó cục như sau: Lời mở dẫu, ba chương, kết luận và danh mục tải
liện tham khảo.
Trang 24hơn “NHHH được cẩu thành bởi đầu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bắt kỳ của các đầu
hiệu có khả năng phản biệt hàng hóa hoặc địch vụ của một người với hàng hóa hoặc
địch vụ của người khác, bao gôm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tô hợp mẫu sắc, các yếu tổ hình hoặc hình dang của bàng hóa hoặc hình dạng của bao bì
hàng hóa Nhẫn hiệu hàng hóa bao gầm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Ki vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam Hoa Ky thi
cáo đấu hiệu có thể câu tạo nên NIIHII được mỏ rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình
ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, bình ảnh như quy định của BI Việt Nam má
còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc ngoài ra
Tiiệp định cỏn phân loại NITIIH thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu lập thể và nhân hiệu chứng nhận Tuy rhiên, các nhãn hiểu như âm (hanh, mủi vị
vẫn chưa được để cập đến trang nội đưng Hiệp định này
Xuất phát từ nhu cẩu cần thiết là phải hoàn thiện pháp luật để hội nhập, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó phần Số hữu trí Iuệ trong
Độ luật chỉ còn lại những, quy định mang tỉnh chất nguyên tắc, các quy định cụ thể về
sở hữu trí tuệ nói chung và nhăn hiệu hàng hóa nói riêng được quy định trong Luật sở
hữu trí luệ dự kiến được thông qua vào cuối năm 2005 và đương nhiên, khái niệm nhấn hiệu bảng hoá cũng không còn quy dịnh trong BLDS mả sẽ dược quy định trong luật SIITT Dự thảo 4 của Luật SITTT định nghĩa nhãn hiệu như sau:
1 Nhãn hiện là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, địch vụ của oáo cá nhân,
tổ chức kinh đoanh khác nhau
3 NHTT là
3 NHƠN là
4 Ntãn hiệu là đấu hiệu nhĩm thây được, cỏ thể lả chữ cái, từ, ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kế cả hình ảnh 3 chiêu hoặc sự kết hợp giữa các yêu tổ đó, dược thể hiện bằng một hoặc nhiều mà sắc [36]
Như vậy, khái niệm tại Thr thảo Luật SIITT được định nghĩa theo tiêu chí chức
răng của nhấn hiệu Chúc nắng của nhấn hiệu là đừng để (cho người liêu đừng vả nhà
Trang 25nên chỉ đi vảo các vẫn đẻ chung có tỉnh chất khải quát Vì vậy, việc chọn vả nghiên cứu đề tải "Pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Uiệt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" là một đề tài độc lập, không có sự lặp lại Tuy nhiên, đề hoàn thành đề tài nảy, người viết phải tham khảo, sưu tâm, học hỏi các kiên thức cũng như kinh nghiệm trong các công trình khoa học có liên quan đến vẫn đẻ sở hữu trí tuệ đã được công bố và các
tạp chỉ nghiên cửu khoa học khác
3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tải
Mục đích của việc nghiên cứu đề tải là tìm hiểu những quy định của pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra trong quá trinh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích và chỉ ra những bất cập, đồng thời nêu một số
kiến nghị với hy vọng các quy định pháp luật Việt Nam vẻ nhãn hiệu hảng hoá sẽ ngày càng hoàn thiện hơn đặc biệt sẽ được hoàn thiện trong Luật sở hữu trí tuệ (dự kiện
thông qua tại kỳ họp Quốc Hội tháng 11/2005), tạo cơ sở pháp lỷ thúc đây sự phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khô giới hạn của một luận ản Thạc sỹ luật học, người viết không có tham vọng nghiên cứu toản bộ các quy định của pháp luật vẻ nhãn hiệu hang hoa ma chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:
~ Phân tích khái niêm NHHH theo quy định hiện hành các tiêu chỉ để một NHHH được đăng ký bảo hộ tại Việt Nam và vai trò của NHHH trong thời kỳ hôi nhập kinh tế
quốc tế
~ Nghiên cứu thực trạng pháp luật về NHHH và việc bảo hộ quyền nảy trên thực
tế của Việt Nam
- Quan điểm của tác giả về một số vân để cân sửa đổi, bỗ sung qua việc nghiên
cứu pháp luật về NHHH ở Việt Nam trong sự so sánh với các điều ước quốc té va pháp luật về NHHH của một số nước công nghiệp phát triển
5 Phương pháp nghiên cứu đề tải
Cơ sở lý luận và phương pháp luận của đẻ tải dựa trên phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin để tìm ra môi liên hệ giữa các hiện tượng
nhằm đánh giá các vẫn đề nghiên cửu một cách khoa học
3
Trang 26Tiên cạnh đỏ, tác giả cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: phản tích chứng mình, phân tích tổng hợp, so sánh, điển giải, suy
diễn lôgich để làm sáng tỏ vẫn để nghiên cứu
6 Những điểm mới và ý nghĩa của để tải
Về mặt khoa học, đẻ tài cần có sự đánh giá của các nhà nghiên cửu quan lãm (di van dé nảy, Tuy nhiên, tác giã cũng mạnh dạn đánh giả đây sẽ là công trinh nghiên
cứu, phân tích một cách cỏ hệ thông những vân dé lý luận chung về nhãn hiệu hang
hoá, đồng thời phân tích thực trạng, pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá hiện nay ở Việt
Nam trên cơ sở so sánh, đốt chiều với các quy định của pháp luật quốc tế tìm ra những, điểm chưa tương thích trang bối cảnh hội nhập từ đó đưa ra kiến nghị đối với việc xây
dung và hoàn thiện pháp luật về nhăn hiệu hàng hoá ở Việt Nam hiện nay
Dé tai đã đưa ra một số kiến nghị ban đầu cha việc tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam trong điều kiên hội nhập kinh tế quốc tế
7 Kết cầu cũa luận văn
Luan văn có bó cục như sau: Lời mở dẫu, ba chương, kết luận và danh mục tải
liện tham khảo.
Trang 27hơn “NHHH được cẩu thành bởi đầu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bắt kỳ của các đầu
hiệu có khả năng phản biệt hàng hóa hoặc địch vụ của một người với hàng hóa hoặc
địch vụ của người khác, bao gôm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tô hợp mẫu sắc, các yếu tổ hình hoặc hình dang của bàng hóa hoặc hình dạng của bao bì
hàng hóa Nhẫn hiệu hàng hóa bao gầm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Ki vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam Hoa Ky thi
cáo đấu hiệu có thể câu tạo nên NIIHII được mỏ rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình
ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, bình ảnh như quy định của BI Việt Nam má
còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc ngoài ra
Tiiệp định cỏn phân loại NITIIH thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu lập thể và nhân hiệu chứng nhận Tuy rhiên, các nhãn hiểu như âm (hanh, mủi vị
vẫn chưa được để cập đến trang nội đưng Hiệp định này
Xuất phát từ nhu cẩu cần thiết là phải hoàn thiện pháp luật để hội nhập, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó phần Số hữu trí Iuệ trong
Độ luật chỉ còn lại những, quy định mang tỉnh chất nguyên tắc, các quy định cụ thể về
sở hữu trí tuệ nói chung và nhăn hiệu hàng hóa nói riêng được quy định trong Luật sở
hữu trí luệ dự kiến được thông qua vào cuối năm 2005 và đương nhiên, khái niệm nhấn hiệu bảng hoá cũng không còn quy dịnh trong BLDS mả sẽ dược quy định trong luật SIITT Dự thảo 4 của Luật SITTT định nghĩa nhãn hiệu như sau:
1 Nhãn hiện là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, địch vụ của oáo cá nhân,
tổ chức kinh đoanh khác nhau
3 NHTT là
3 NHƠN là
4 Ntãn hiệu là đấu hiệu nhĩm thây được, cỏ thể lả chữ cái, từ, ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kế cả hình ảnh 3 chiêu hoặc sự kết hợp giữa các yêu tổ đó, dược thể hiện bằng một hoặc nhiều mà sắc [36]
Như vậy, khái niệm tại Thr thảo Luật SIITT được định nghĩa theo tiêu chí chức
răng của nhấn hiệu Chúc nắng của nhấn hiệu là đừng để (cho người liêu đừng vả nhà
Trang 28hơn “NHHH được cẩu thành bởi đầu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bắt kỳ của các đầu
hiệu có khả năng phản biệt hàng hóa hoặc địch vụ của một người với hàng hóa hoặc
địch vụ của người khác, bao gôm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tô hợp mẫu sắc, các yếu tổ hình hoặc hình dang của bàng hóa hoặc hình dạng của bao bì
hàng hóa Nhẫn hiệu hàng hóa bao gầm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Ki vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam Hoa Ky thi
cáo đấu hiệu có thể câu tạo nên NIIHII được mỏ rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình
ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, bình ảnh như quy định của BI Việt Nam má
còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc ngoài ra
Tiiệp định cỏn phân loại NITIIH thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu lập thể và nhân hiệu chứng nhận Tuy rhiên, các nhãn hiểu như âm (hanh, mủi vị
vẫn chưa được để cập đến trang nội đưng Hiệp định này
Xuất phát từ nhu cẩu cần thiết là phải hoàn thiện pháp luật để hội nhập, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó phần Số hữu trí Iuệ trong
Độ luật chỉ còn lại những, quy định mang tỉnh chất nguyên tắc, các quy định cụ thể về
sở hữu trí tuệ nói chung và nhăn hiệu hàng hóa nói riêng được quy định trong Luật sở
hữu trí luệ dự kiến được thông qua vào cuối năm 2005 và đương nhiên, khái niệm nhấn hiệu bảng hoá cũng không còn quy dịnh trong BLDS mả sẽ dược quy định trong luật SIITT Dự thảo 4 của Luật SITTT định nghĩa nhãn hiệu như sau:
1 Nhãn hiện là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, địch vụ của oáo cá nhân,
tổ chức kinh đoanh khác nhau
3 NHTT là
3 NHƠN là
4 Ntãn hiệu là đấu hiệu nhĩm thây được, cỏ thể lả chữ cái, từ, ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kế cả hình ảnh 3 chiêu hoặc sự kết hợp giữa các yêu tổ đó, dược thể hiện bằng một hoặc nhiều mà sắc [36]
Như vậy, khái niệm tại Thr thảo Luật SIITT được định nghĩa theo tiêu chí chức
răng của nhấn hiệu Chúc nắng của nhấn hiệu là đừng để (cho người liêu đừng vả nhà
Trang 29hơn “NHHH được cẩu thành bởi đầu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bắt kỳ của các đầu
hiệu có khả năng phản biệt hàng hóa hoặc địch vụ của một người với hàng hóa hoặc
địch vụ của người khác, bao gôm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tô hợp mẫu sắc, các yếu tổ hình hoặc hình dang của bàng hóa hoặc hình dạng của bao bì
hàng hóa Nhẫn hiệu hàng hóa bao gầm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Ki vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam Hoa Ky thi
cáo đấu hiệu có thể câu tạo nên NIIHII được mỏ rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình
ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, bình ảnh như quy định của BI Việt Nam má
còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc ngoài ra
Tiiệp định cỏn phân loại NITIIH thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu lập thể và nhân hiệu chứng nhận Tuy rhiên, các nhãn hiểu như âm (hanh, mủi vị
vẫn chưa được để cập đến trang nội đưng Hiệp định này
Xuất phát từ nhu cẩu cần thiết là phải hoàn thiện pháp luật để hội nhập, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó phần Số hữu trí Iuệ trong
Độ luật chỉ còn lại những, quy định mang tỉnh chất nguyên tắc, các quy định cụ thể về
sở hữu trí tuệ nói chung và nhăn hiệu hàng hóa nói riêng được quy định trong Luật sở
hữu trí luệ dự kiến được thông qua vào cuối năm 2005 và đương nhiên, khái niệm nhấn hiệu bảng hoá cũng không còn quy dịnh trong BLDS mả sẽ dược quy định trong luật SIITT Dự thảo 4 của Luật SITTT định nghĩa nhãn hiệu như sau:
1 Nhãn hiện là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, địch vụ của oáo cá nhân,
tổ chức kinh đoanh khác nhau
3 NHTT là
3 NHƠN là
4 Ntãn hiệu là đấu hiệu nhĩm thây được, cỏ thể lả chữ cái, từ, ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kế cả hình ảnh 3 chiêu hoặc sự kết hợp giữa các yêu tổ đó, dược thể hiện bằng một hoặc nhiều mà sắc [36]
Như vậy, khái niệm tại Thr thảo Luật SIITT được định nghĩa theo tiêu chí chức
răng của nhấn hiệu Chúc nắng của nhấn hiệu là đừng để (cho người liêu đừng vả nhà
Trang 30dầu hiệu được coi là NHHH có thể bao gồm cä hình anh ba chiếu, âm thanh hay mùi, trong khi đó ở một số nước khác thì chỉ các yêu tổ câu thành truyền thống như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được công nhận
* Khái niệm về NHHH theo pháp luật Ưiệt Nam
Tại Việt Nam, Điểu 785, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định “NHHE
là những đầu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dich vụ cùng loại của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh khác nhan NHHH có thể là từ ngữ, bình ảnh boặc sự kết hợp các yéu
tổ dỏ dược thể hiện bằng một hoặc nhiễu màu sắc”
Trên cơ sở Khoản L Điều 785 chúng ta nhận thấy rằng quy dịnh về nhân hiệu
hàng hoá trong BLDS V
chuẩn “cỏ khả năng phân biệt” là cơ sở để một dâu hiệu có thể được dùng làm KHHH
hay không Tuy nhiên so với quy định tại Điều L5 Hiệp định TRITs thi quy định nay
t Nam là phù hợp với quy định của TRIPs khi đưa ra tiêu
hạn chế hơn, không Lhế hiện sự “mạnh mế” như quy phạm tương ứng của Hiệp định TRIEs là: bất &ÿ dấu hiệu, l hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt dều co thé lan NHIIT BLDS Việt Nam quy định cé phan cụ thể hơn khi liệt kê các đầu hiệu này, theo đó các đân hiệu cỏ thể làm nhãn hiệu hàng hoả bao gêm tù ngữ, hình ảnh hoặc sụ kết hợp giữa từ ngữ và bình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc Quy đụ: này đã giới han các đấu hiệu có thể lựa chọn lâm nhấn hiệu trong ba loại đấu hiệu
Điều này có nghĩa là các đoanh nghiệp có ít sự lựa chọn hơn khi xây dựng nhãn hiệu
hang boa, họ không thể chọn các đầu hiệu nằm ngoài các dẫu hiện đã được liệt kẻ tại điều 785 BLDS Trong tỉnh hình hiện nay của Việt Nam thì 3 loại dấu hiệu nảy có lẽ là phủ hợp, tuy nhiên, trong tương lai với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khi mà các loạt hàng hoà, dịch vụ ngày càng phong phú đa dang, các nhả sản xuất luôn mong muốn tìm kiểm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo, hắp đẫn cho các sản phẩm của minh
đề thu hút công chúng và cùng với xu thể hội nhập kính lẻ quốc tế thì Việt Nam
chưa thể bắt nhịp được với thể giới nêu như chủng ta bổ qua những dấu hiệu đã được
cáo nước trên thể giới công nhận nhĩ âm thanh mũi vị
Quy định liên man đến bảo hô NHHH tại khoản L Điều 6 Hiệp định thương mại
Việt Nam - Hoa Kỷ đã thể hiện một khải miệm bao quát và gắn với chuẩn mục quốc tê
Trang 31Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhấn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là bửừ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được vá không có trong từ điển, vi đụ như Tilead, Yahoo 2} sử dụng từ thông dụng - là những từ hiện đùng và thục sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đỏ, ví dụ như: Rang Đông, Trung Thành 3) Sử đựng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện đúng và các âm liết
dế nhận biết, ví dụ như Vinamilk, Thinkpad 4) sử dụng các từ viết tắt- là những từ
thông thường được tạo thành từ những chữ cái đâu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng
có thể phát âm được và mang một thông điệp rào đó như ATA, TBM, LG, FPT,
Theo quy định lại điều 62s Nghị định 63/CP thị không phải bất kỳ chữ cái và
chữ số nào cũng déu dược đăng kỷ lâm NHHH, nhất là dỗi với chừ edi dig dơn lễ,
không được cách điệu thì sẽ đuợc xem là không có tính phân biệt nên không cỏ khả xăng đăng ký NHI], các chữ cái, chữ sổ, các chữ không cỏ khả năng phát âm như một
số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ khêng thông dung trừ trường hợp cáo đấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài ra, nếu chi bao gốm một từ chữ cải hoặc một chữ số thì sẽ bị xem lá quả đơn giân, ngược lại nếu
cá quả nhiều chữ cải hoặc có quá nhiều chữ số, đài quá thì cũng có thể không được bảo
hô, nhung néu cé thé doc được và viết theo ruột ký Lự riêng lại có thể được bão hộ
Tuy nhiên, tỉnh chất "khả răng lự phân biệt" không mang một ý nghĩa tuyệt đối
‘Tinh chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhân huệu trên thị trường Chẳng han như một nhãn hiệu là dẫu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ
cái, hình học đơn gián ) sau một thời gian đài được sử dụng liên tục với số lượng lớn
và rộng rãi, eó thể trở thảnh đâu hiệu cỏ khả năng tự phân biệt do người tiêu đảng vì
qua việc sử dụng rộng rãi này, nhấn hiệu đã trở nên nhận biết dược, phân biệt được cho người tiêu dùng, Ví đụ: "333" là một dâu hiệu dã trở thánh một nhăn hiệu thông, dụng
"PN" lả một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phâm của Shiseido
Về vấn dé nảy, pháp luật Nhật Bãn cũng không quy định việc kết hợp các chữ
cai hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được Nêu NIHHI chỉ bao gồm có
một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quả đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất
phải từ hai chữ cái trở lên Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà
Trang 32Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhấn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là bửừ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được vá không có trong từ điển, vi đụ như Tilead, Yahoo 2} sử dụng từ thông dụng - là những từ hiện đùng và thục sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đỏ, ví dụ như: Rang Đông, Trung Thành 3) Sử đựng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện đúng và các âm liết
dế nhận biết, ví dụ như Vinamilk, Thinkpad 4) sử dụng các từ viết tắt- là những từ
thông thường được tạo thành từ những chữ cái đâu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng
có thể phát âm được và mang một thông điệp rào đó như ATA, TBM, LG, FPT,
Theo quy định lại điều 62s Nghị định 63/CP thị không phải bất kỳ chữ cái và
chữ số nào cũng déu dược đăng kỷ lâm NHHH, nhất là dỗi với chừ edi dig dơn lễ,
không được cách điệu thì sẽ đuợc xem là không có tính phân biệt nên không cỏ khả xăng đăng ký NHI], các chữ cái, chữ sổ, các chữ không cỏ khả năng phát âm như một
số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ khêng thông dung trừ trường hợp cáo đấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài ra, nếu chi bao gốm một từ chữ cải hoặc một chữ số thì sẽ bị xem lá quả đơn giân, ngược lại nếu
cá quả nhiều chữ cải hoặc có quá nhiều chữ số, đài quá thì cũng có thể không được bảo
hô, nhung néu cé thé doc được và viết theo ruột ký Lự riêng lại có thể được bão hộ
Tuy nhiên, tỉnh chất "khả răng lự phân biệt" không mang một ý nghĩa tuyệt đối
‘Tinh chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhân huệu trên thị trường Chẳng han như một nhãn hiệu là dẫu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ
cái, hình học đơn gián ) sau một thời gian đài được sử dụng liên tục với số lượng lớn
và rộng rãi, eó thể trở thảnh đâu hiệu cỏ khả năng tự phân biệt do người tiêu đảng vì
qua việc sử dụng rộng rãi này, nhấn hiệu đã trở nên nhận biết dược, phân biệt được cho người tiêu dùng, Ví đụ: "333" là một dâu hiệu dã trở thánh một nhăn hiệu thông, dụng
"PN" lả một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phâm của Shiseido
Về vấn dé nảy, pháp luật Nhật Bãn cũng không quy định việc kết hợp các chữ
cai hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được Nêu NIHHI chỉ bao gồm có
một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quả đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất
phải từ hai chữ cái trở lên Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà
Trang 33dầu hiệu được coi là NHHH có thể bao gồm cä hình anh ba chiếu, âm thanh hay mùi, trong khi đó ở một số nước khác thì chỉ các yêu tổ câu thành truyền thống như tên gọi, hình ảnh, màu sắc là được công nhận
* Khái niệm về NHHH theo pháp luật Ưiệt Nam
Tại Việt Nam, Điểu 785, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 quy định “NHHE
là những đầu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dich vụ cùng loại của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh khác nhan NHHH có thể là từ ngữ, bình ảnh boặc sự kết hợp các yéu
tổ dỏ dược thể hiện bằng một hoặc nhiễu màu sắc”
Trên cơ sở Khoản L Điều 785 chúng ta nhận thấy rằng quy dịnh về nhân hiệu
hàng hoá trong BLDS V
chuẩn “cỏ khả năng phân biệt” là cơ sở để một dâu hiệu có thể được dùng làm KHHH
hay không Tuy nhiên so với quy định tại Điều L5 Hiệp định TRITs thi quy định nay
t Nam là phù hợp với quy định của TRIPs khi đưa ra tiêu
hạn chế hơn, không Lhế hiện sự “mạnh mế” như quy phạm tương ứng của Hiệp định TRIEs là: bất &ÿ dấu hiệu, l hợp dấu hiệu có khả năng phân biệt dều co thé lan NHIIT BLDS Việt Nam quy định cé phan cụ thể hơn khi liệt kê các đầu hiệu này, theo đó các đân hiệu cỏ thể làm nhãn hiệu hàng hoả bao gêm tù ngữ, hình ảnh hoặc sụ kết hợp giữa từ ngữ và bình ảnh được thể hiện bằng một hay nhiều màu sắc Quy đụ: này đã giới han các đấu hiệu có thể lựa chọn lâm nhấn hiệu trong ba loại đấu hiệu
Điều này có nghĩa là các đoanh nghiệp có ít sự lựa chọn hơn khi xây dựng nhãn hiệu
hang boa, họ không thể chọn các đầu hiệu nằm ngoài các dẫu hiện đã được liệt kẻ tại điều 785 BLDS Trong tỉnh hình hiện nay của Việt Nam thì 3 loại dấu hiệu nảy có lẽ là phủ hợp, tuy nhiên, trong tương lai với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, khi mà các loạt hàng hoà, dịch vụ ngày càng phong phú đa dang, các nhả sản xuất luôn mong muốn tìm kiểm những nhãn hiệu mới lạ, độc đáo, hắp đẫn cho các sản phẩm của minh
đề thu hút công chúng và cùng với xu thể hội nhập kính lẻ quốc tế thì Việt Nam
chưa thể bắt nhịp được với thể giới nêu như chủng ta bổ qua những dấu hiệu đã được
cáo nước trên thể giới công nhận nhĩ âm thanh mũi vị
Quy định liên man đến bảo hô NHHH tại khoản L Điều 6 Hiệp định thương mại
Việt Nam - Hoa Kỷ đã thể hiện một khải miệm bao quát và gắn với chuẩn mục quốc tê
Trang 34hơn “NHHH được cẩu thành bởi đầu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bắt kỳ của các đầu
hiệu có khả năng phản biệt hàng hóa hoặc địch vụ của một người với hàng hóa hoặc
địch vụ của người khác, bao gôm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tô hợp mẫu sắc, các yếu tổ hình hoặc hình dang của bàng hóa hoặc hình dạng của bao bì
hàng hóa Nhẫn hiệu hàng hóa bao gầm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận” Ki vậy, theo nội dung của HĐTM Việt Nam Hoa Ky thi
cáo đấu hiệu có thể câu tạo nên NIIHII được mỏ rộng hơn, không chỉ là từ ngữ, hình
ảnh hoặc sự kết hợp giữa các từ ngữ, bình ảnh như quy định của BI Việt Nam má
còn có thể là từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp màu sắc ngoài ra
Tiiệp định cỏn phân loại NITIIH thành nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu lập thể và nhân hiệu chứng nhận Tuy rhiên, các nhãn hiểu như âm (hanh, mủi vị
vẫn chưa được để cập đến trang nội đưng Hiệp định này
Xuất phát từ nhu cẩu cần thiết là phải hoàn thiện pháp luật để hội nhập, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự sửa đổi, trong đó phần Số hữu trí Iuệ trong
Độ luật chỉ còn lại những, quy định mang tỉnh chất nguyên tắc, các quy định cụ thể về
sở hữu trí tuệ nói chung và nhăn hiệu hàng hóa nói riêng được quy định trong Luật sở
hữu trí luệ dự kiến được thông qua vào cuối năm 2005 và đương nhiên, khái niệm nhấn hiệu bảng hoá cũng không còn quy dịnh trong BLDS mả sẽ dược quy định trong luật SIITT Dự thảo 4 của Luật SITTT định nghĩa nhãn hiệu như sau:
1 Nhãn hiện là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, địch vụ của oáo cá nhân,
tổ chức kinh đoanh khác nhau
3 NHTT là
3 NHƠN là
4 Ntãn hiệu là đấu hiệu nhĩm thây được, cỏ thể lả chữ cái, từ, ngữ, hình vẽ, hình
ảnh, kế cả hình ảnh 3 chiêu hoặc sự kết hợp giữa các yêu tổ đó, dược thể hiện bằng một hoặc nhiều mà sắc [36]
Như vậy, khái niệm tại Thr thảo Luật SIITT được định nghĩa theo tiêu chí chức
răng của nhấn hiệu Chúc nắng của nhấn hiệu là đừng để (cho người liêu đừng vả nhà
Trang 35sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ) phân biệt hàng, hoá, dịch vụ, vi vay đấu hiệu sử đụng làm nhấn hiệu phải lá dấu hiệu nhìn thấy được Định nghiia này thực ra cũng
tương tự như định nghĩa tại Diễu 785 Bộ luật Dân sự 1995 Tuy nhiền, so với pháp luật
hiện hành, điều này đã làm rõ nghĩa một loại dâu hiệu cỏ khã năng được bảo hô dưới
đanh nghĩa là nhãn hiệu, đỏ là hình ảnh ba chiều Tiấu hiệu nay được pháp luật các
nước trên thể giới thừa nhận bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu vả thực tế Việt Nam đã đăng,
ký bảo hệ Ví đụ như hình đáng của chai Cooa cola Bên cạnh đó, điểm mới tiếp theo
của đình nghĩa này so với pháp luật hiện hành là bỏ sung điều kiện "nhìn thấy được"
đối với nhấn hiệu,
Tôm lại, trên cơ sở những phân tích ở trên, để phủ hợp với sụ phát triển vừa tạo được một sự linh hoạt cần thiết trong quá trinh áp đựng, có thể đưa ra khái niệm về
nhăn hiệu hàng hoá như sau:
Tất cả những dấu hiệu, đặc biệt là từ ngữ, tên người, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt, các yêu tổ hình, 8 hop mau sắc hoặc các yêu tổ khác đêu có thể được bdo hộ là nhân hiệu hàng hoá nêu chúng có khả năng dùng để phân biệt được hàng hoặc dich vu của cơ sở sản xuất kinh doanh này với cơ sở sẵn xuất kinh doanh khác
1.1.2 Các đẫu hiệu câu thành nhãn hiệu hàng had
Theo xu hưởng quốc tế hiện nay thi các dau hiệu có thể được đăng ký làm NITHI rất phong phú, nó có thể cầu thành bởi dầu hiệu bat kỳ hoặc là sự kết hợp bất
kỹ của các đấu hiệu có khả năng phân biết hàng hoá, địch vụ của cơ sở sẵn xuất kinh
doanh mày với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của cơ sở sân xuất kinh doanh khác Trên
tỉnh thản của các Điều ước quốc lế thì có thể phân loại một số dẫu hiệu hiện may được
sử dụng làm NHHH như sau:
* Dấu hiệu từng:
Từ ngữ là dâu hiệu được đừng phổ biến nhất, có thể là một từ hoặc một lập hợp
từ Dấu hiệu “từ ngữ”
Mật bay nhiêu chữ cái, một hay nhiều số hoặc sụ kết bợp giữa chúng lá loại KHI
được hiểu là các dâu hiệu chữ bao gồm các chữ cái hoặc chữ số
phổ biên Ví dụ như :7 up, Trưng nguyên, NIKE
Trang 36Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhấn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là bửừ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được vá không có trong từ điển, vi đụ như Tilead, Yahoo 2} sử dụng từ thông dụng - là những từ hiện đùng và thục sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đỏ, ví dụ như: Rang Đông, Trung Thành 3) Sử đựng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện đúng và các âm liết
dế nhận biết, ví dụ như Vinamilk, Thinkpad 4) sử dụng các từ viết tắt- là những từ
thông thường được tạo thành từ những chữ cái đâu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng
có thể phát âm được và mang một thông điệp rào đó như ATA, TBM, LG, FPT,
Theo quy định lại điều 62s Nghị định 63/CP thị không phải bất kỳ chữ cái và
chữ số nào cũng déu dược đăng kỷ lâm NHHH, nhất là dỗi với chừ edi dig dơn lễ,
không được cách điệu thì sẽ đuợc xem là không có tính phân biệt nên không cỏ khả xăng đăng ký NHI], các chữ cái, chữ sổ, các chữ không cỏ khả năng phát âm như một
số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ khêng thông dung trừ trường hợp cáo đấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài ra, nếu chi bao gốm một từ chữ cải hoặc một chữ số thì sẽ bị xem lá quả đơn giân, ngược lại nếu
cá quả nhiều chữ cải hoặc có quá nhiều chữ số, đài quá thì cũng có thể không được bảo
hô, nhung néu cé thé doc được và viết theo ruột ký Lự riêng lại có thể được bão hộ
Tuy nhiên, tỉnh chất "khả răng lự phân biệt" không mang một ý nghĩa tuyệt đối
‘Tinh chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhân huệu trên thị trường Chẳng han như một nhãn hiệu là dẫu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ
cái, hình học đơn gián ) sau một thời gian đài được sử dụng liên tục với số lượng lớn
và rộng rãi, eó thể trở thảnh đâu hiệu cỏ khả năng tự phân biệt do người tiêu đảng vì
qua việc sử dụng rộng rãi này, nhấn hiệu đã trở nên nhận biết dược, phân biệt được cho người tiêu dùng, Ví đụ: "333" là một dâu hiệu dã trở thánh một nhăn hiệu thông, dụng
"PN" lả một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phâm của Shiseido
Về vấn dé nảy, pháp luật Nhật Bãn cũng không quy định việc kết hợp các chữ
cai hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được Nêu NIHHI chỉ bao gồm có
một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quả đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất
phải từ hai chữ cái trở lên Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà
Trang 37Thông thường các chuyên gia thường áp dụng 04 cách đặt tên nhấn hiệu: 1) sử dụng từ tự tạo- đó là bửừ được tổ hợp từ những ký tự, tạo thành một từ mới phát âm được vá không có trong từ điển, vi đụ như Tilead, Yahoo 2} sử dụng từ thông dụng - là những từ hiện đùng và thục sự có ý nghĩa trong một ngôn ngữ nào đỏ, ví dụ như: Rang Đông, Trung Thành 3) Sử đựng từ ghép- là sự kết hợp các từ hiện đúng và các âm liết
dế nhận biết, ví dụ như Vinamilk, Thinkpad 4) sử dụng các từ viết tắt- là những từ
thông thường được tạo thành từ những chữ cái đâu tiên của tên công ty, từ viết tắt cũng
có thể phát âm được và mang một thông điệp rào đó như ATA, TBM, LG, FPT,
Theo quy định lại điều 62s Nghị định 63/CP thị không phải bất kỳ chữ cái và
chữ số nào cũng déu dược đăng kỷ lâm NHHH, nhất là dỗi với chừ edi dig dơn lễ,
không được cách điệu thì sẽ đuợc xem là không có tính phân biệt nên không cỏ khả xăng đăng ký NHI], các chữ cái, chữ sổ, các chữ không cỏ khả năng phát âm như một
số từ ngữ, chữ nước ngoài thuộc các ngôn ngữ khêng thông dung trừ trường hợp cáo đấu hiệu này đã được sử dụng và được thừa nhận một cách rộng rãi Ngoài ra, nếu chi bao gốm một từ chữ cải hoặc một chữ số thì sẽ bị xem lá quả đơn giân, ngược lại nếu
cá quả nhiều chữ cải hoặc có quá nhiều chữ số, đài quá thì cũng có thể không được bảo
hô, nhung néu cé thé doc được và viết theo ruột ký Lự riêng lại có thể được bão hộ
Tuy nhiên, tỉnh chất "khả răng lự phân biệt" không mang một ý nghĩa tuyệt đối
‘Tinh chất này có thể thay đổi, tuỳ thuộc vào việc sử dụng thực tế của nhân huệu trên thị trường Chẳng han như một nhãn hiệu là dẫu hiệu đơn giản (chữ cái, tập hợp các chữ
cái, hình học đơn gián ) sau một thời gian đài được sử dụng liên tục với số lượng lớn
và rộng rãi, eó thể trở thảnh đâu hiệu cỏ khả năng tự phân biệt do người tiêu đảng vì
qua việc sử dụng rộng rãi này, nhấn hiệu đã trở nên nhận biết dược, phân biệt được cho người tiêu dùng, Ví đụ: "333" là một dâu hiệu dã trở thánh một nhăn hiệu thông, dụng
"PN" lả một nhãn hiệu được sử dụng rộng rãi cho các sản phẩm mỹ phâm của Shiseido
Về vấn dé nảy, pháp luật Nhật Bãn cũng không quy định việc kết hợp các chữ
cai hoặc chữ số phải theo một thứ tự có thể phát âm được Nêu NIHHI chỉ bao gồm có
một chữ cái hoặc chữ số thì sẽ bị coi là quả đơn giản và không được bảo hộ, ít nhất
phải từ hai chữ cái trở lên Tuy nhiên, nếu sự kết hợp đó lại tạo thành một thứ tự mà