1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

00060000746 nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ Ở Đại học quốc gia hà nội = research and development in media productions for science and technology communication at vietnam national

120 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả Bùi Thị Việt Hà, Ngô Thu Bình, Nguyễn Thị Thuý Hằng, Trang Thị Thuỳ Vân, Nguyễn Đức Phường, Nguyễn Thành Trung, Phan Hải
Trường học Vietnam National University, Hanoi
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 4,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

00060000746 nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ Ở Đại học quốc gia hà nội = research and development in media productions for science and technology communication at vietnam national

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN

CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Tên đề tài: Nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội Chủ nhiệm đề tài: ThS Bùi Thị Việt Hà

Hà Nội, 2022

Trang 2

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG

1.2 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài

TT Chức danh, học vị, họ và tên Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài

3 TS Nguyễn Thị Thuý Hằng Ban Khoa học - Công

nghệ, ĐHQGHN

Thành viên thực hiện chính

4 Trang Thị Thuỳ Vân Đài Truyền hình Thành viên thực hiện chính

5 ThS Nguyễn Đức Phường Văn phòng ĐHQGHN Thành viên thực hiện chính

1.4 Thời gian thực hiện:

1.4.1 Theo hợp đồng: từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 4 năm 2022

1.4.2 Gia hạn: đến tháng 10 năm 2022

1.4.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 4 năm 2021 đến tháng 10 năm 2022

1.5 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):

(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên

nhân; Ý kiến của Cơ quan quản lý)

1.6 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 300 triệu đồng

Trang 3

PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặt vấn đề

Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ luôn được Đảng và Nhà nước xác định là quốc sách hàng đầu Trong đó, khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế Đại hội XIII của Đảng đã coi phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào KH&CN, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số là một trong các đột phá chiến lược quan trọng nhất trong giai đoạn tới, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh

Song hành cùng các thành tựu KH&CN là hoạt động truyền thông, với nhiệm vụ là cầu nối chuyển tải thông tin, truyền bá văn hóa yêu khoa học đến công chúng, xây dựng xã hội trọng khoa học và phát triển đất nước dựa vào KH&CN và ĐMST Đặc biệt, truyền thông cung cấp các kiến thức và cơ hội trải nghiệm khoa học, kĩ thuật tiên tiến cho thế hệ trẻ; truyền lửa, chắp cánh, kết nối tình yêu khoa học giữa các nhà nghiên cứu với thế hệ trẻ Nhờ có truyền thông mà ngành khoa học và công nghệ gắn bó, gần gũi hơn với sản xuất và đời sống, nhiều thành tựu khoa học và công nghệ được ứng dụng để thúc đẩy phát triển kinh

tế - xã hội

Nhiều nước trên thế giới đã chú trọng làm truyền thông KH&CN từ rất lâu, bài bản

Họ coi truyền thông KH&CN là một trong những động lực, điều kiện quyết định thành công của hoạt động KH&CN, cũng như đưa nhanh các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào cuộc sống Thực tế cho thấy, hướng đi của các nước này đã khẳng định sự đúng đắn khi hàng loạt các kết quả nghiên cứu được toàn xã hội biết đến và khả năng ứng dụng vào thực tế rất cao

Các đại học lớn hoặc các trung tâm nghiên cứu lớn trên thế giới đặc biệt chú trọng hoạt động quảng bá, truyền thông KH&CN như là một cách hiệu quả vừa thúc đẩy nghiên cứu, vừa nâng cao vị thế, danh tiếng của mình

Ở Việt Nam, Bộ KH&CN đã thành lập Trung tâm Phát triển Truyền thông KH&CN nhằm quảng bá, giới thiệu rộng rãi các kết quả nghiên cứu vào xã hội, đồng thời là phổ biến các chính sách về KH&CN Trong bối cảnh thị trường giáo dục đại học ngày càng phát triển, sự cạnh tranh ngày càng lớn, đặc biệt là sự mới nổi của khối các trường đại học tư nhân với tiềm lực tài chính dồi dào, đã khiến các trường đại học bước vào một cuộc đua mới trong việc nâng cao vị thế nhằm thu hút thị phần giáo dục Các trường đại học coi truyền thông vừa là phương thức vừa là công cụ hiệu quả trong kế hoạch, chiến lược phát triển của mình Thực tế cho thấy, trong khoảng thời gian 5 năm gần đây, các trường đại học trong nước cũng đã quan tâm quảng bá, truyền thông các kết quả nghiên cứu, sản phẩm công nghệ như là một công cụ để gia tăng vị thế, thu hút các nguồn lực xã hội, tiêu biểu như: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Phenika, Trường Đại học Tôn Đức Thắng,…

Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao hàng đầu đất nước Chiến lược phát triển của ĐHQGHN đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt ra mục tiêu “Trở thành đại

Trang 4

học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, đạt các tiêu chí cơ bản của đại học nghiên cứu và đổi mới sáng tạo; phấn đấu đến năm 2025, ĐHQGHN thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á hoặc nhóm 500 đại học hàng đầu thế giới; đến năm 2030 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới” Trong đó nhấn mạnh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo lập và phát triển tiềm lực khoa học công nghệ để chuyển giao tri thức và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong thời gian qua, ĐHQGHN không ngừng gia tăng tiềm lực, phát triển các nguồn lực để phát triển KH&CN, hướng tới xây dựng thành công đại học nghiên cứu tiên tiến Những đóng góp trong lĩnh vực KH&CN của ĐHQGHN đối với sự phát triển của đất nước được bao trùm trong nhiều phương diện: cung cấp các luận cứ, kết quả nghiên cứu KH&CN tầm cỡ quốc gia và tiếp cận chuẩn quốc tế cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước; đóng góp quan trọng cho phát triển khoa học cơ bản của Việt Nam; kết hợp chặt chẽ nghiên cứu liên ngành để phục vụ xã hội: đóng góp về y học phục vụ nâng cao sức khỏe, chữa bệnh; Đóng góp lớn và thiết thực, kịp thời vào việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; góp phần xây dựng, phát triển, bảo tồn văn hóa, các di sản của dân tộc; Đóng góp quan trọng vào phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai; có nhiều kết quả nghiên cứu ứng dụng khác đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội;…

Nhờ sự quan tâm, đầu tư và tầm nhìn chiến lược của ĐHQGHN, vị thế KH&CN của ĐHQGHN đã được khẳng định trong hệ thống KH&CN Việt Nam Tuy nhiên, việc truyền thông, quảng bá các thành tựu, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ĐHQGHN ra xã hội còn những hạn chế nhất định Chính điều này dẫn đến việc nhiều kết quả nghiên cứu, công trình khoa học có tính thực tiễn cao chưa kết nối và tìm được địa chỉ ứng dụng hiệu quả; các hoạt động chuyển giao tri thức gặp nhiều khó khăn; xã hội chưa đánh giá hết những đóng góp to lớn của ĐHQGHN trong lĩnh vực KH&CN Bên cạnh đó, hoạt động truyền thông, quảng bá kết quả nghiên cứu chưa được đầu tư phát triển cũng góp phần làm giảm động lực nghiên cứu của các nhà khoa học khi không được tôn vinh kịp thời, kết quả nghiên cứu không được xã hội biết đến và ghi nhận

Nhiệm vụ đổi mới, thúc đẩy truyền thông KH&CN được đặt ra rất bức thiết, làm sao

để cả xã hội biết đến, ủng hộ, công nhận và phát triển là nhiệm vụ khó khăn của công tác truyền thông KH&CN Vì vậy, nhóm tác giả đã cho rằng việc nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về KH&CN là thiết thực, giúp nâng cao hiệu quả của công tác truyền thông KH&CN, là “cầu nối” cung và cầu đưa KH&CN thấm vào xã hội một cách tự nhiên

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhu cầu của công chúng về truyền thông KH&CN ngày càng tăng xuất phát từ chính nhu cầu của cộng đồng khoa học và xã hội Theo Burns - nhà nghiên cứu về truyền thông của Australia, truyền thông KH&CN có một phần quan trọng trong

xã hội hiện đại Hoạt động truyền thông KH&CN không chỉ đơn giản là việc các nhà khoa học nói nhiều hơn về công việc của họ hoặc tạo ra các sự kiện khoa học hấp dẫn, mà nó còn mang đến sự ủng hộ của công chúng cho hoạt động KH&CN

Trang 5

Ở một khía cạnh khác, Bultitude - một chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông và quan hệ công chúng của Pháp lưu ý rằng, nhiều nhà khoa học tham gia hoạt động truyền thông KH&CN là do yêu cầu xã hội, chứ không phải do thể chế, và lý do phổ biến nhất khi thông tin KH&CN được cung cấp bởi chính các nhà khoa học là đảm bảo rằng công chúng

có được thông tin tốt hơn về KH&CN Còn Dickson - chuyên gia về truyền thông KH&CN của UNESCO lại khẳng định, truyền thông KH&CN là một thành phần thiết yếu trong chiến lược phát triển và tất cả các bên liên quan phải có quyền biết thông tin KH&CN Mark Wolpork - Cố vấn khoa học của chính phủ Vương quốc Anh (2013- 2017) cho rằng khoa học không thể thành công trừ khi nó được truyền thông

Chuyên gia truyền thông KH&CN của Thụy Điển - Riise chỉ ra rằng, các tổ chức tài trợ nghiên cứu đều yêu cầu bên nhận tài trợ đề ra kế hoạch truyền thông kết quả đạt được, đây là một phần bắt buộc của các đề xuất nghiên cứu Các trường đại học cũng nhận thức được việc truyền thông các kết quả nghiên cứu mới đã giúp họ tăng tính cạnh tranh, thu hút sinh viên và tạo dựng uy tín trong xã hội “Truyền thông là trái tim của khoa học, có vai trò

vô cùng quan trọng trong việc công bố kiến thức mới và truyền bá tri thức đến các nhà khoa học và phổ biến ra xã hội”

Tại nhiều nước phát triển như Anh, Pháp, Đức,… ngoài việc thành lập các trung tâm truyền thông KH&CN, họ còn thiết lập các hiệp hội - bao gồm cả nhà báo và nhà khoa học - cùng làm việc, gặp gỡ để hiểu biết về nhau hơn Đặc biệt, các quốc gia này đã chú trọng tới việc đào tạo các nhà khoa học tương lai như học sinh, sinh viên những kỹ năng truyền thông

Để trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới chỉ với khoảng 25 triệu dân, Chính phủ Australia luôn đặt KH&CN là nền tảng, trong đó truyền thông KH&CN là một

bộ phận không thể thiếu trong chiến lược phát triển KH&CN Từ Thủ tướng Chính phủ đến người đứng đầu các cơ quan quản lý, tổ chức KH&CN, cơ quan truyền thông đại chúng, doanh nghiệp, đều ủng hộ công tác truyền thông KH&CN

Các trường đại học cũng nhận thức được việc truyền thông các kết quả nghiên cứu mới đã giúp họ tăng tính cạnh tranh, thu hút sinh viên và tạo dựng uy tín trong xã hội như: MIT, Caltech, Oxford, Yale, Tokyo, NUS,… hoặc các trung tâm nghiên cứu lớn như: CERN, NASA,… đặc biệt chú trọng hoạt động quảng bá, truyền thông KH&CN như là một cách hiệu quả vừa thúc đẩy nghiên cứu, vừa nâng cao vị thế, danh tiếng của nhà trường Kế hoạch bài bản, đầu tư hiệu quả đã chứng minh thành công của các đại học và trung tâm này

Tại Việt Nam, báo chí, truyền thông có sức mạnh đặc biệt trong tất cả các lĩnh vực trong đó có KH&CN, không chỉ là kênh cung cấp thông tin nhanh nhất, hiệu quả nhất về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân, về những thành tựu khoa học, công nghệ mới, phát hiện những nhân tố điển hình mới mà còn có vai trò định hướng

dư luận và là kênh tập hợp ý kiến, đề xuất, nguyện vọng của nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, người dân,… phục vụ việc xây dựng các cơ chế, chính sách phát triển KH&CN Đây cũng là công cụ hữu hiệu, là cầu nối kết nối giữa nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và người dân

Trang 6

Đối với các cơ quan quản lý như Bộ KH&CN cũng đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí nhằm đẩy mạnh hoạt động truyền thông KH&CN Đã có nhiều chương trình, chuyên trang khoa học và công nghệ ra đời với sự hợp tác của Bộ với các cơ quan thông tấn, báo chí như trên Đài Truyền hình Việt Nam (VTV1, VTV2), Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, báo Nhân Dân, Đồng thời các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh và thành phố, Sở khoa học và công nghệ địa phương,… cũng đã xây dựng nhiều chuyên trang hoặc chuyên mục về KH&CN Các hoạt động truyền thông này không chỉ là cầu nối gắn kết

3 nhà: Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp, mà còn góp phần tạo những chuyển biến lớn, thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển Thậm chí, Bộ KH&CN đã thành lập Trung tâm Phát triển Truyền thông KH&CN nhằm quảng bá, giới thiệu rộng rãi các kết quả nghiên cứu vào xã hội, đồng thời là phổ biến các chính sách về KH&CN

Đối với các cơ sở giáo dục đại học, trong bối cảnh thị trường giáo dục đại học ngày càng phát triển, sự canh tranh ngày càng lớn, đặc biệt là sự mới nổi của khối các trường đại học ngoài công lập với tiềm lực tài chính dồi dào, đã khiến các trường đại học bước vào một cuộc đua mới trong việc nâng cao vị thế nhằm thu hút thị phần giáo dục Các trường đại học coi truyền thông vừa là phương thức vừa là công cụ hiệu quả trong kế hoạch, chiến lược phát triển của mình Thời thời gian gần đây, các trường đại học trong nước cũng đã quan tâm quảng bá, truyền thông các kết quả nghiên cứu, sản phẩm công nghệ như là một công

cụ để gia tăng vị thế, thu hút các nguồn lực xã hội

3 Mục tiêu

* Mục tiêu chung

- Tăng cường truyền thông đến các bên có liên quan về sản phẩm, thành tựu KH&CN, cơ chế chính sách về KH&CN,… của ĐHQGHN; Góp phần thực hiện thành công Chiến lược KH&CN của ĐHQGHN giai đoạn 2021 - 2030 và Chiến lược phát triển ĐHQGHN đến năm 2030, tầm nhìn 2045

- Góp phần thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, kết nối cung cầu, chuyển giao công nghệ, ứng dụng kết quả nghiên cứu của ĐHQGHN vào thực tiễn

- Góp phần nâng cao vị thế về KH&CN của ĐHQGHN ở trong nước và trên trường quốc tế

* Mục tiêu cụ thể:

- Xây dựng được quy trình truyền thông về KH&CN ở ĐHQGHN

- Xây dựng được khung nội dung truyền thông về KH&CN ở ĐHQGHN giai đoạn

2021 - 2030

- Xây dựng được khung nội dung Bản tin KH&CN định kỳ

- Nâng cấp được cổng thông tin điện tử về KH&CN của ĐHQGHN

- Phát triển được tối thiểu 6 sản phẩm truyền thông KH&CN cụ thể tương ứng với khung nội dung, đăng tải trên Fanpage và Kênh Youtube chuyên biệt về KH&CN và ĐMST của ĐHQGHN, góp phần thúc đẩy quá trình thương mại hóa, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Trang 7

- Đề xuất được giải pháp tăng cường hiệu quả truyền thông về KH&CN ở ĐHQGHN giai đoạn 2021 - 2030

Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài sẽ triển khai các nhóm nhiệm vụ gồm:

Thứ nhất, hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về truyền thông KH&CN

để từ đó xây dựng: quy trình truyền thông; khung nội dung truyền thông; cách thức và phương thức truyền thông; sản phẩm cần truyền thông

Thứ hai, xây dựng và phát triển được một số sản phẩm và công cụ truyền thông đăng tải lên Fanpage và Kênh Youtube chuyên biệt về KH&CN và ĐMST

Thứ ba, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả truyền thông về KH&CN ở ĐHQGHN giai đoạn 2021 - 2030

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu và nội dung, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: Phương pháp nghiên cứu chung: Dựa trên cơ sở nhận thức luận những vấn đề về lý luận về báo chí - truyền thông; Các vấn đề về truyền thông KH&CN và truyền thông đa phương tiện; Truyền thông trên mạng xã hội; Quan điểm chỉ đạo của Đảng, các chính sách

và pháp luật của Nhà nước về phát triển KH&CN

Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Đề tài sưu tầm và hệ thống hóa các văn bản pháp quy liên quan tới hoạt động truyền thông về KH&CN như Quyết định 418/QĐ-TTg năm 2012 của Thủ tướng chính phủ về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 20011- 2020; Luật KH&CN năm 2013; Nghị quyết số 20-NQ/TW trong Hội nghị BCH TWĐ khóa XI về phát triển KH&CN, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước,… Ngoài ra còn nghiên cứu các công trình nghiên cứu khoa học, sách, báo tư liệu, tài liệu có liên quan tới đề tài

Phương pháp thực nghiệm: Đề tài cũng sẽ thực hiện phỏng vấn các chuyên gia KH&CN; thu thập thông tin và số liệu thực nghiệm; triển khai xử lý thông tin, số liệu; triển khai phân tích đánh giá, thiết kế và xây dựng kịch bản,… trong quá trình xây dựng các sản phẩm, các công cụ truyền thông KH&CN

5 Tổng hợp kết quả nghiên cứu

5.1 Những vấn đề lý luận và thực tiễn truyền thông về khoa học và công nghệ

5.1.1 Những vấn đề lý luận truyền thông về khoa học và công nghệ

Truyền thông KH&CN là hoạt động tương tác xã hội nhằm chia sẻ thông tin về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về KH&CN; hoạt động KH&CN (từ các hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai, phát triển công nghệ, đổi mới công nghệ/thiết bị/sản phẩm đến các hoạt động dịch vụ KH&CN như thông tin, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, sở hữu công nghiệp,…); về thành tựu, kết quả của hoạt động KH&CN (nhận thức của xã hội về KH&CN, vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ KH&CN đạt được, khả năng áp dụng những kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ vào sản xuất, đời sống; đến những mô hình hoạt động tiên tiến, hiệu quả, những tổ chức, cá nhân điển hình,…) Mục tiêu của truyền thông

Trang 8

KH&CN là nhằm nâng cao nhận thức xã hội về hoạt động KH&CN, vai trò của KH&CN, làm cho xã hội hiểu đúng về vai trò của KH&CN đối với phát triển đất nước; kết nối giữa hoạt động KH&CN với sản xuất và đời sống Hình thức truyền thông thường thông qua các kênh để truyền tải thông tin, như các hội nghị, hội thảo, tập huấn, các cuộc thi, ấn phẩm xuất bản, báo, bản tin, trang web, đĩa DVD, đài, tivi,…

Như vậy, công tác truyền thông KH&CN là nhằm góp phần tạo ra một xã hội đổi mới sáng tạo, một thế hệ nhà khoa học, doanh nhân kiểu mới tận tụy nghiên cứu, ứng dụng KH&CN gắn với nhu cầu của đất nước, gắn với hoàn cảnh, môi trường hội nhập hiện nay; một xã hội văn minh biết tư duy khoa học trong các hoạt động của mình Công tác truyền thông KH&CN cần hướng vào tôn vinh, khích lệ tinh thần say mê sáng tạo, cống hiến tài năng và sức lực nhằm chấn hưng nền KH&CN nước nhà, khẳng định lòng tự tôn dân tộc

Hoạt động truyền thông KH&CN ngày nay không chỉ đơn thuần mang tính chất quảng bá, không chỉ là tuyên truyền - một công việc mang tính bị động mà cần phải chủ động phổ biến tới các đối tượng trong xã hội về các hoạt động KH&CN Nói cách khác, thông qua truyền thông KH&CN, những đối tượng được truyền thông sẽ được cung cấp thêm thông tin, kiến thức cần thiết và chính xác về sản phẩm, kết quả hoạt động của một tổ chức, một lĩnh vực KH&CN, để từ đó có thái độ và hành vi ứng xử phù hợp Về lâu dài, một cách gián tiếp, khi các đối tượng có được những hiểu biết và hành vi ứng xử phù hợp với kết quả hay sản phẩm của các cá nhân/tổ chức KH&CN, thì cũng thông qua hoạt động truyền thông các cá nhân/tổ chức KH&CN sẽ thuận lợi hơn trong việc đánh giá hay chủ động định hướng dư luận xã hội theo chủ đích của mình

Hoạt động truyền thông KH&CN rất phong phú, có nhiều hình thức khác nhau Các nội dung chủ yếu của hoạt động truyền thông KH&CN là:

- Tổ chức các sự kiện về KH&CN;

- Tổ chức các giải thưởng báo chí về KH&CN;

- Đào tạo, huấn luyện kỹ năng, nghiệp vụ viết báo về KH&CN và sản xuất chương trình truyền thông KH&CN;

- Sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình về KH&CN;

- In và phát hành các ấn phẩm về thành tựu KH&CN, viết các chuyên mục và chuyên

đề về KH&CN trên báo chí đưa ra công chúng;

- Xây dựng bảo tàng KH&CN,…

5.1.2 Những vấn đề thực tiễn truyền thông về khoa học và công nghệ

5.1.2.1 Khảo cứu hoạt động, loại hình, sản phẩm truyền thông về KH&CN ở nước ngoài

Một điều không thể phủ nhận là tất cả các nước có nền KH&CN phát triển thì hệ thống truyền thông của họ cũng rất phát triển Sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN tác động trực tiếp đến hoạt động cung cấp thông tin cũng như nhu cầu thông tin của công chúng Ví

dụ, Mỹ không chỉ là cường quốc số một về kinh tế, KH&CN, quân sự… mà còn là người khổng lồ trong lĩnh vực truyền thông Trung bình cứ 1 người dân Mỹ sở hữu tới 2 radio và 1 tivi Để đáp ứng nhu cầu thông tin của số lượng máy thu khổng lồ này, nước Mỹ có 1.300

Trang 9

đài truyền hình và hơn 10.000 đài phát thanh Đại bộ phận đài phát thanh và truyền hình Mỹ thuộc sở hữu tư nhân Tại Anh, trung bình mỗi người ngồi trước màn hình 3 giờ rưỡi để thu nhận thông tin Hơn 97% hộ gia đình Anh có tivi màu, 73% có đầu máy video Nhà nào cũng có radio và có tới 70% người Anh bắt sóng radio hàng ngày Ngành phát thanh, truyền hình phát triển khá mạnh nhờ KH&CN Đài phát thanh và truyền hình Anh (BBC) cung cấp thuê bao duy nhất với 2 kênh truyền hình BBC1, BBC2, 5 đài phát thanh phủ sóng toàn lãnh thổ Hệ thống điện tử Anh tăng trưởng với tốc độ chóng mặt về số lượng với 3 kênh truyền hình tư nhân, 3 đài phát thanh tư nhân phát sóng toàn quốc và khoảng 200 đài khu vực,

Trong thời đại phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, toàn cầu hóa truyền thông đại chúng, sự phát triển nhanh chóng của các phương thức, tư duy kỹ thuật đã khiến cho nhu cầu thông tin của con người và xã hội ngày càng cao Sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã đưa thế giới đến một kỷ nguyên của các phương tiện truyền thông dân chủ, trong đó con người tiếp cận với thông tin mà không bị giới hạn bởi những rào cản nào Sự đổi mới này đã làm xuất hiện các loại phương tiện truyền thông mới, với những phương thức phân phối, mua bán và sử dụng thông tin mới,

Dưới đây là hoạt động truyền thông KH&CN của một số nước

* Hoạt động truyền thông KH&CN ở Trung Quốc

Nhận thức được vị trí, vai trò của hoạt động truyền thông KH&CN, Hội Báo chí KH&CN Trung Quốc (CSSTJ) bao gồm các cá nhân trên toàn quốc hoạt động trong lĩnh vực truyền thông KH&CN, đó là các phóng viên khoa học, biên tập viên và nhà truyền thông, nhà quản lý, nhà nhà giáo dục - những người cống hiến hết mình cho truyền thông KH&CN Hiệp hội này là một trong những thành viên sáng lập của Liên đoàn các nhà báo khoa học thế giới (WFSJ)

Được thành lập vào tháng 2/1988, Hội hiện nay đã có 40 nhóm thành viên CSSTJ có nguồn tài nguyên phương tiện truyền thông rất lớn và những nhà báo tài năng Trong những năm qua, Hội đóng vai trò tích cực trong truyền thông KH&CN, cung cấp các đề xuất nghiên cứu học thuật quan trọng hoặc tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Các hoạt động chính của CSSTJ bao gồm: tổ chức chương trình đào tạo, hội thảo học thuật, tài trợ cho hội nghị quốc gia và quốc tế hàng năm để trao đổi học thuật, tổ chức các cuộc thi báo cáo tin tức khoa học Từ khi thành lập, CSSTJ đã đạt được nhiều kết quả trong việc công bố chuẩn khoa học để duy trì giá trị chân thật của khoa học và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người dân trong lĩnh vực KH&CN

Đối với hoạt động trong công tác trao đổi học thuật quốc tế, CSSTJ đã tổ chức thành công sáu phiên họp của Hội thảo châu Á - Thái Bình Dương về báo chí, khoa học và tiến bộ

xã hội Hoạt động truyền thông KH&CN của một số cơ quan báo chí Trung Quốc:

Nhật báo KH&CN Trung Quốc: Nhật báo KH&CN Trung Quốc ra đời năm 1986, thời kỳ mà Trung Quốc đang trong giai đoạn cải cách mạnh mẽ và KH&CN được các nhà Lãnh đạo Trung Quốc đặc biệt quan tâm Các ấn phẩm của Nhật báo KH&CN Trung Quốc gồm: 01 báo KH&CN ra hàng ngày, mang tính phổ quát, đại chúng, phát hành khoảng 20

Trang 10

vạn bản/ngày đến mọi tầng lớp nhân dân; 01 Tạp chí trích yếu KH&CN - một dạng tạp chí đăng công trình và có tính điểm khi làm nghiên cứu sinh như Việt Nam, ra hàng tháng hoặc

2 số/tháng hoặc 2 tháng/01 số tuỳ thuộc vào số lượng công trình; 6 tạp chí chuyên ngành, có tạp chí thì ra 01 số/ tháng, có tạp chí thì 2 tháng/01 số (Kinh tế KH&CN Trung Quốc; Mũi nhọn KH&CN; Nét đẹp KH&CN; Phần mềm; KH&CN cho thiếu nhi; Tin tức Hoạt động KH&CN) và một trang website

Nhật báo KH&CN Trung Quốc có 263 người, chia thành các bộ phận: Hành chính, Khai thác thông tin, Kinh doanh,… Ngoài trụ sở chính tại thành phố Bắc Kinh, Nhật báo KH&CN Trung Quốc có văn phòng đại diện ở mỗi tỉnh/thành phố, có phóng viên thường trú

ở 13 nước (Nhật Bản, Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Nam Phi, Nga, Hàn Quốc, Ucraina,…) Ngoài

ra, còn có đội ngũ cộng tác viên viết bài hoặc được mời biên tập Đội ngũ này không được hưởng lương chính thức mà hưởng thu nhập theo nhuận bút Toà soạn trả

Thời báo KH&CN Trung Quốc: thành lập năm 1959, trực thuộc Viện Khoa học Trung Quốc, Thời báo hiện nay có 01 báo mạng, 02 báo giấy (Thời báo KH&CN; Báo mạng) và 2 Tạp chí (Tin tức mới về KH&CN; Cuộc sống mới về KH&CN) Tổng số cán bộ, công nhân viên của Thời báo là 148 người với tuổi đời trung bình là 35, trong đó có 4 TS và

39 ThS Thời báo đã xây dựng được quy trình quản lý phóng viên và biên tập viên một cách toàn diện và cụ thể

* Truyền thông KH&CN ở Ấn Độ

Việc quan tâm đến tầm quan trọng của giáo dục khoa học, văn bản khoa học và phổ biến các kết quả khoa học trong xã hội Ấn Độ đã có một lịch sử lâu dài Khoa học phổ thông là một chủ đề luôn được quan tâm phát triển kể từ đầu thế kỷ XIX bởi một số nhà lãnh đạo tiêu biểu Có hai loại hình truyền thông KH&CN đã được xác định tại Ấn Độ trong suốt thời kỳ này Một là truyền thông khoa học thuộc cơ quan nhà nước và các chương trình giáo dục khoa học Những chương trình này được thực hiện dưới sự bảo trợ của Hội đồng Quốc gia về KH&CN (NCSTC) Hình thức thứ hai là phổ biến thông tin khoa học trong nhân dân

Tại Ấn Độ, có Hiệp hội những người viết về KH&CN Ấn Độ (ISWA) là một cơ quan chuyên nghiệp của những nhà báo, các nhà truyền thông và các dịch giả tự do chuyên viết

về KH&CN Mục tiêu của Hiệp hội là phát triển báo chí KH&CN, truyền thông KH&CN Đây là đại diện cho gần như tất cả các nhà báo khoa học làm việc tại Ấn Độ

Mục đích và mục tiêu chính của Hiệp hội là: phổ biến khoa học trong cộng đồng; tổ chức các hội thảo, hội nghị chuyên đề… để nâng cao các kỹ năng của các phóng viên trẻ viết về KH&CN và những người mới vào nghề; xuất bản định kỳ các ấn phẩm về KH&CN;

tổ chức trao các giải thưởng hàng năm cho những bài báo khoa học tốt nhất

* Truyền thông KH&CN tại Nhật Bản

Hiệp hội các nhà báo KH&CN Nhật Bản (JASTJ) là một tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ được thành lập năm 1994 bởi một nhóm các phóng viên khoa học Nhật Bản Hội

có 150 thành viên bao gồm các phóng viên khoa học của báo chí, truyền hình và tạp chí

Trang 11

khoa học; các nhà văn tự do, biên tập viên; nhà quản lý trong lĩnh vực quan hệ công chúng, các cơ sở nghiên cứu và kinh doanh,

Mục tiêu của JASTJ là kích thích tìm hiểu về hoạt động truyền thông KH&CN giữa các thành viên, nâng cao vai trò các nhà báo và các nhà truyền thông, làm sâu sắc thêm sự hiểu biết và kiến thức của công chúng trong các lĩnh vực KH&CN Mỗi năm 1 lần, JASTJ

tổ chức các cuộc họp giữa các nhà khoa học, kỹ sư, các nhà sản xuất và các chính trị gia; tổ chức các chuyến đi tới các cơ sở nghiên cứu; tổ chức các hội thảo công cộng cho những người không phải là thành viên với mục đích kích thích sự quan tâm trong nhóm và xuất bản một bản tin hàng quý Từ năm 2002, JASTJ thường xuyên tổ chức khóa đào tạo nhằm giúp nâng cao kiến thức cho các nhà báo chuyên viết về KH&CN

Hoạt động thường xuyên của hội bao gồm: tổ chức "Hội nghị hàng tháng" cho các nhà báo chuyên viết về KH&CN để giao tiếp giữa các thành viên và các nhà khoa học; xuất bản bản tin nội bộ của Hiệp hội, chuyên về các tin tức KH&CN; tổ chức trao giải thưởng

"JASTJ" (từ năm 2006) cho các bài báo xuất sắc, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội

* Truyền thông KH&CN Hàn Quốc - Nghiên cứu trường hợp của Dong A Science

Dong A Science có 3 ấn phẩm: Tạp chí Khoa học (dành cho độ tuổi từ học sinh THPT trở lên) ra đời năm 1986; Dong A toán học (dành cho học sinh từ tiểu học đến THCS)

ra đời năm 2009; Khoa học dành cho trẻ em ra đời năm 2004

Ngày đầu mới thành lập, Dong A Science có 8 nhân viên, đến nay con số này đã lên đến 120 nhân viên Ví dụ như Tạp chí Khoa học có 12 người, trong đó có 3 - 4 thiết kế (họa

sĩ trình bày), một biên tập viên, còn lại là các phóng viên

Tôn chỉ và mục đích xuất bản của Dong A Science là tạo ra sự yêu thích khoa học, từ

đó kích thích ứng dụng KH&CN vào sản xuất và đời sống Giá trị cốt lõi là chuyên nghiệp

và ấn tượng

Qua khảo sát tại Dong A Science, có thể học hỏi được bài học quan trọng từ đơn vị làm công tác truyền thông về KH&CN của đất nước Hàn Quốc, đó là đơn giản hóa, thú vị hóa các vấn đề KH&CN Ở Dong A Science, các sự kiện, vấn đề KH&CN phức tạp, khó khăn được chuyển hóa thành những vấn đề đơn giản, lý thú để thu hút độc giả, từ đó kích thích niềm đam mê với KH&CN, đặc biệt là độc giả ở tuổi thanh thiếu niên Đây vừa là mục tiêu cũng vừa là động lực phát triển của Dong A Science trong nhiều năm qua Điều này vừa mang lại lợi ích cho cộng đồng (kích thích sự đam mê KH&CN cho mọi người nói chung và lứa tuổi thanh thiếu niên nói riêng), vừa mang lại lợi ích cho Tập đoàn Dong A (thu về hàng trăm tỷ đồng mỗi năm)

Để có được sự đơn giản, thú vị hóa các vấn đề KH&CN, Dong A Sience bắt đầu từ vấn đề nhân sự Nhân sự được đơn vị truyền thông về KH&CN này tuyển hầu hết là những

cử nhân, kỹ sư tốt nghiệp mỹ thuật (chuyên cho trình bày) hoặc các ngành KH&CN (cho phóng viên và biên tập viên) chứ không phải là các cử nhân tốt nghiệp ngành báo chí Cơ cấu các chức danh trong tòa soạn thường là: 30% là họa sỹ thiết kế, trình bày; 60% là phóng viên và 10% là biên tập viên - đồng thời phụ trách tạp chí Vị trí và vai trò của từng chức

Trang 12

danh như sau: phóng viên có vai trò đưa ra ý tưởng, nội dung của bài; biên tập viên hoàn thiện lại bài và họa sỹ có nhiệm vụ trình bày bài

Một khía cạnh khác tạo ra được sự đơn giản, thú vị hóa các vấn đề KH&CN là Dong

A Science coi trọng sự sáng tạo Thông thường, trước khi chuẩn bị cho một số mới, tòa soạn của tạp chí họp lại với nhau, bao gồm đầy đủ cả người phụ trách tạp chí - biên tập viên, phóng viên và họa sỹ Cuộc họp này nhằm đưa ra nội dung, kịch bản của số tạp chí sắp tới Trước tiên, phóng viên căn cứ vào các sự kiện sắp tới hoặc ý tưởng riêng của mình đưa ra các ý tưởng về nội dung để mọi người cùng thảo luận Sau khi thảo luận, biên tập viên tập hợp lại và thường chỉ lựa chọn được 1/2 ý tưởng (1/2 ý tưởng sẽ được thực hiện và 1/2 ý tưởng còn lại sẽ bỏ) Những ý tưởng về nội dung được duyệt sẽ được các phóng viên khẩn trương triển khai Trong quá trình triển khai thường xuyên phối hợp với biên tập viên, họa

sỹ trong tòa soạn, đồng thời tham vấn ý kiến của các nhà khoa học có chuyên môn nhằm đảm bảo tính chân thực khi đơn giản, lý thú hóa các vấn đề KH&CN Tham vấn ý kiến của các nhà khoa học là một quá trình rất quan trọng vì nó đảm bảo không có sự sai sót về nội dung dẫn đến phải đính chính

Để tạo được sự thu hút độc giả và thương mại hóa ấn phẩm, Dong A Science rất coi trọng khâu thiết kế, trình bày Các ấn phẩm, đặc biệt là những ấn phẩm dành cho trẻ em thì tranh, ảnh chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với phần chữ Điều thú vị trong cách truyền thông của Dong A Science là với một sản phẩm khoa học nào đó, tòa soạn đã biến nó thành một câu chuyện và trình bày nó dưới dạng chuyện tranh

5.1.2.2 Khảo cứu hoạt động, loại hình, sản phẩm truyền thông về KH&CN trong nước

Có thể nói, hệ thống truyền thông KH&CN ở Việt Nam được tổ chức khá rộng rãi từ Trung ương đến địa phương

* Ở cấp Trung ương

Nhiều cơ quan truyền thông báo chí trong các lĩnh vực KH&CN cũng đã có những kênh, chuyên trang, chuyên mục về KH&CN như: Kênh Khoa học - giáo dục VTV2; Tạp chí KH&CN - Truyền hình thông tấn xã Việt Nam; các trang http://www.khoahoc.com.vn/; kienthuc.net.vn; www.vast.ac.vn (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam); www.vass.gov.vn (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); các chuyên trang khoa học - công nghệ của các báo lớn như: Thanh niên, Tuổi trẻ, Đất Việt, Vietnam+,… đã cung cấp khá đầy đủ và kịp thời những tin tức, kiến thức, các vấn đề liên quan đến hoạt động KH&CN của Việt Nam và thế giới

Nghị định số 20/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ KH&CN đã đề cập đến công tác tuyên truyền, truyền thông KH&CN như sau: Điều 2:

Khoản 4: … chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ sau khi được ban hành, phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về KH&CN…

Khoản 6: Về hoạt động KH&CN:

Trang 13

d) Khai thác, ứng dụng, công bố, tuyên truyền kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Khoản 7: Về phát triển tiềm lực KH&CN:

d) … Hướng dẫn hoạt động thông tin, truyền thông, thư viện, thống kê trong lĩnh vực KH&CN, phát triển thị trường công nghệ; xây dựng hạ tầng thông tin, thống kê KH&CN quốc gia; tổ chức các chợ công nghệ và thiết bị, các trung tâm giao dịch công nghệ, triển lãm KH&CN; xây dựng hệ thống các cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN; đầu tư phát triển các mạng thông tin KH&CN tiên tiến kết nối với khu vực và quốc tế

Ngay từ giai đoạn 2007-2010, trong Đề án khung triển khai nhiệm vụ tuyên truyền về hoạt động KH&CN đã chỉ rõ những nhiệm vụ sau:

Mục tiêu chiến lược: tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước về KH&CN, từ đó nâng cao nhận thức về vai trò của KH&CN là quốc sách hàng đầu, nền tảng, động lực đối với phát triển kinh tế - xã hội, tạo sự ủng hộ mạnh mẽ của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội đối với hoạt động KH&CN nước nhà

Mục tiêu tổng quát: thông qua công tác tuyên truyền về hoạt động KH&CN làm cho mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội hiểu rõ tầm quan trọng đặc biệt của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong việc ứng dụng KH&CN vào sản xuất và đời sống, tăng cường đầu tư cho phát triển KH&CN, nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN

Yêu cầu cụ thể:

- Nâng cao nhận thức xã hội;

- Đưa KH&CN vào cuộc sống;

- Hình thành mạng lưới tuyên truyền KH&CN

Các giải pháp thực hiện:

- Tăng cường các hình thức tuyên truyền;

- Xây dựng, chuẩn hoá và hiện đại hoá các nội dung tuyên truyền về KH&CN;

- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ tuyên truyền về KH&CN;

- Trang bị và nâng cấp cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ tuyên truyền KH&CN;

- Tổ chức sự kiện KH&CN thường niên, định kỳ ở quy mô quốc gia

Từ năm 2007 đến nay, các đơn vị báo chí trong Bộ KH&CN và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Truyền thông KH&CN đã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ truyền thông trên cơ sở sử dụng nguồn kinh phí do Bộ giao hàng năm Kết quả, đã hình thành được mạng lưới cộng tác viên chủ chốt trong và ngoài Bộ; tổ chức được mạng lưới cán bộ đầu mối tuyên truyền KH&CN là các cán bộ, công chức của các đơn vị thuộc Bộ và nhiều phóng viên thuộc các báo, đài có uy tín; bước đầu thiết lập được mối quan hệ với các cơ quan báo chí, các phóng viên chuyên theo dõi về KH&CN; thực hiện ký kết một số chương trình phối hợp công tác với Đài truyền hình Việt Nam, các báo, tạp chí trong và ngoài Bộ, triển khai thành công các hợp đồng thực hiện tuyên truyền KH&CN,…

Trang 14

Tại Bộ KH&CN có các cơ quan làm công tác truyền thông về KH&CN: Tạp chí KH&CN Việt Nam, Tạp chí Tia sáng, Báo Khoa học và Phát triển, Trung tâm Nghiên cứu

và Phát triển Truyền thông KH&CN, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật; các website, tạp chí/bản tin của các đơn vị thuộc Bộ: Vụ Pháp chế, Trường Nghiệp vụ quản lý, Cục Sở hữu trí tuệ, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng,…

Nhờ có sự quan tâm sâu sát của Lãnh đạo Bộ nên những năm gần đây, hoạt động truyền thông KH&CN của Bộ KH&CN đã có chuyển biến và đạt được một số kết quả nhất định Các cơ quan báo chí, truyền thông của Bộ đã đóng góp đáng kể trong công tác chuyển tải thông tin về hoạt động KH&CN đến với công chúng Thông tin KH&CN được đăng tải kịp thời, phong phú và đã có những phản hồi tích cực từ công chúng, như các bài viết về chính sách KH&CN, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, năng lượng nguyên tử, công nghệ cao… Đã có nhiều bài viết về các tổ chức, doanh nghiệp KH&CN hoạt động hiệu quả, những mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN mang lại hiệu quả kinh tế lớn,…

Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Truyền thông KH&CN là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ, được thành lập ngày 28/10/2008 Trung tâm có các chức năng, nhiệm vụ chính sau:

- Tổ chức thực hiện công tác truyền thông KH&CN của ngành và Bộ KH&CN;

- Nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới về truyền thông;

- Tổ chức các sự kiện KH&CN;

- Đào tạo trong lĩnh vực truyền thông KH&CN;

- Sản xuất - kinh doanh và dịch vụ trong lĩnh vực truyền thông KH&CN

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, với vai trò là cơ quan đầu mối trong công tác truyền thông của Bộ, trong những năm qua Trung tâm đã nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ truyền thông KH&CN phục vụ chương trình tuyên truyền của Bộ Hàng năm, Trung tâm có hơn 1.000 tin và 500 bài viết được đăng tải trên các chuyên trang hợp tác với các báo: Nhân dân, Đại biểu nhân dân, Lao động, Đất Việt, Hà Nội mới, Đối ngoại Việt Nam, các ấn phẩm của Thông tấn xã Việt Nam (Bản tin trong nước, Báo Tin tức, Tuần tin ), cổng thông tin điện tử của Bộ KH&CN (http://www.most.gov.vn), cổng thông tin điện tử của Trung tâm (http://www.truyenthongkhoahoc.vn)… Riêng cổng thông tin Bộ KH&CN, Trung tâm đã cung cấp trên 70% số lượng tin, bài

Đồng thời, Trung tâm thường xuyên phối hợp với các Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các báo đối tác thực hiện nhiều phóng sự, tọa đàm, chương trình truyền hình trực tiếp, giao lưu trực tuyến về các sự kiện, nội dung liên quan đến hoạt động KH&CN Bên cạnh đó, Trung tâm còn tổ chức các lớp tập huấn về nghiệp vụ truyền thông KH&CN cho đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin, tuyên truyền của các cơ quan trực thuộc Bộ KH&CN và các sở KH&CN trên toàn quốc; cho các phóng viên, biên tập viên các báo, tạp chí thuộc Bộ KH&CN và các cơ quan báo chí lớn tại Trung ương và các địa phương Đã tổ chức truyền thông thành công nhiều sự kiện lớn của Bộ và của ngành KH&CN, như: Hội nghị Bộ trưởng các nước ASEAN; Lễ trao Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về KH&CN; Giải thưởng Chất lượng Quốc gia; Giải thưởng Chất

Trang 15

lượng châu Á - Thái Bình Dương; Giải thưởng báo chí về KH&CN; Tuần lễ truyền thông KH&CN; cung cấp thông tin kịp thời về sự cố nhà máy điện hạt nhân của Nhật Bản,…

Tạp chí KH&CN Việt Nam ra mắt bạn đọc số đầu tiên vào tháng 6.1959 với tên ban đầu là Tin tức Hoạt động Khoa học Từ tháng 1.1971 đến nay đổi tên thành Tạp chí Hoạt động Khoa học 55 năm qua, Tạp chí luôn làm tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, đó là:

- Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về KH&CN trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước;

- Trao đổi, phổ biến kinh nghiệm quản lý và tổ chức hoạt động KH&CN; tuyên truyền các kết quả, thành tựu KH&CN của tổ chức, cá nhân;

- Giới thiệu những kinh nghiệm quản lý, thành tựu KH&CN nổi bật của thế giới;

- Đăng tải các công trình nghiên cứu trong các ngành, lĩnh vực;

- Là diễn đàn của các nhà quản lý, nhà KH&CN về các vấn đề có liên quan đến sự phát triển KH&CN của đất nước

Đặc biệt, từ đầu năm 2013 đến nay, Tạp chí KH&CN Việt Nam đã được Lãnh đạo

Bộ KH&CN cho phép thực hiện đề án cấp bộ: “Nâng cấp Tạp chí theo tiêu chuẩn quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn 2030” Việc tập trung đầu tư xây dựng một tờ tạp chí khoa học đa ngành, liên ngành, đã có nền móng vững chắc và kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực KH&CN, trực thuộc sự quản lý của Bộ KH&CN trở thành một tạp chí khoa học đạt tiêu chuẩn quốc tế là một việc làm cần thiết và phù hợp với xu hướng cũng như đòi hỏi thực tế của KH&CN Việt Nam, đó là: góp phần thúc đẩy hội nhập quốc tế về KH&CN, nâng cao uy tín và tầm ảnh hưởng của Bộ KH&CN với cộng đồng KH&CN trong và ngoài nước, đồng thời giúp Tạp chí phát triển lên một bước mới, đáp ứng yêu cầu của Bộ và nhu cầu đăng tải kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học

Tạp chí Tia Sáng được coi là một diễn đàn của giới trí thức và các nhà quản lý trong

và ngoài nước về những vấn đề liên quan đến sự phát triển KH&CN, kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, văn hóa - nghệ thuật Các chuyên mục của Tạp chí đã giới thiệu được nhiều thành tựu, tấm gương điển hình, nhân tố tích cực trong hoạt động KH&CN Bên cạnh việc xuất bản 2 kỳ/tháng với tổng số 24 số tạp chí/năm, Tạp chí còn xây dựng được website với nhiều tin tức cập nhật hàng ngày về KH&CN, tạo diễn đàn cho các nhà khoa học trao đổi về các lĩnh vực đổi mới hoạt động KH&CN Bên cạnh đó, Tạp chí còn tổ chức các hội thảo, tọa đàm khoa học, hoàn thành tốt chức năng tuyên truyền và một số nhiệm vụ cụ thể do Bộ giao

Báo Khoa học và Phát triển luôn bám sát những sự kiện liên quan tới hoạt động KH&CN của Bộ, ngành, cũng như các sự kiện liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước Báo thường xuyên đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách và các hoạt động trong lĩnh vực KH&CN, giới thiệu các công trình khoa học mới trong nước và thế giới

Ngoài các cơ quan báo chí, truyền thông nêu trên, các đơn vị khác thuộc Bộ cũng chú trọng phát triển tốt các kênh thông tin trên internet, hiện có gần 40 website Các nội dung

Trang 16

trên các website nhìn chung phong phú và thường xuyên được cập nhật, nhờ đó lượng độc giả không ngừng tăng, trong đó phải kể đến những website có lượng độc giả truy cập lớn như:

Xét về tổng thể các hoạt động truyền thông của các đơn vị trong Bộ KH&CN thời gian qua có thể thấy rằng:

* Các sản phẩm tuyên truyền cơ bản mới chỉ ngắm tới các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong nội bộ ngành, còn ít sản phẩm đến tay công chúng và những người có quan tâm hoặc cần quan tâm (đặc biệt là doanh nghiệp, các cán bộ quản lý và hoạch định chính sách cấp cao)

* Trong quá trình tổ chức các hoạt động truyền thông, các đơn vị của Bộ chưa có sự phối hợp tích cực và hiệu quả nên việc đưa tin, cung cấp các ấn phẩm hay tổ chức sự kiện

về KH&CN chưa được tổ chức, sắp xếp một cách bài bản Điều này dẫn đến việc khó giám sát và đánh giá hiệu quả chung của hoạt động tuyên truyền Mặt khác, việc thiếu thống nhất

và đồng bộ trong việc tổ chức hoạt động truyền thông cũng gây khó khăn cho việc tư vấn xây dựng kế hoạch truyền thông cho những năm tiếp theo

* Để truyền thông hiệu quả, các cơ quan tổ chức hoạt động truyền thông cần phải có

sự tìm hiểu, nghiên cứu đầy đủ về đối tượng được truyền thông Trên phương diện này, mặc

dù mỗi đơn vị tuyên truyền nêu trên đã có phân định đối tượng cụ thể cần tiếp nhận các sản phẩm, dịch vụ thông tin tuyên truyền nhưng chưa có sự nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu kỹ

về đặc thù của các đối tượng để có được các sản phẩm đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của họ

* Các đơn vị làm công tác tuyên truyền của Bộ hạn chế trong việc tạo được sự kết nối hay hợp tác hiệu quả với giới truyền thông, dẫn đến không cung cấp kịp thời những thông tin, sự kiện về KH&CN để giới thiệu hoặc định hướng dư luận xã hội Nguyên nhân một phần là do thiếu cơ chế để hỗ trợ triển khai thực hiện

* Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền mặc dù

có đề cập đến, nhưng trên thực tế, còn rất hạn chế

* Các đơn vị tuyên truyền cũng rất hạn chế trong việc tạo lập các kênh hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực truyền thông về KH&CN

Trang 17

* Công tác truyền thông KH&CN ở nước ta hiện nay vẫn còn có một số khó khăn, bất cập cần được tháo gỡ, giải quyết trong thời gian tới, đó là:

- Về nội dung truyền thông: vẫn còn nghèo nàn, chưa có được chương trình tổng thể, dài hơi và có trọng điểm, tại trung ương cũng như địa phương

- Báo chí là công cụ chủ yếu trong lĩnh vực truyền thông về KH&CN Tuy nhiên, trong gần 1.000 cơ quan báo chí hiện nay, ngoài một số tờ báo, tạp chí của ngành KH&CN, chỉ có một số tờ báo có thêm trang chuyên đề về KH&CN với tần số phát hành thấp (1 hoặc

2 tuần/trang)

- Chất lượng tin, bài còn hạn chế, số bài viết chuyên sâu về KH&CN chưa nhiều

- Các chương trình phát thanh, truyền hình về KH&CN ở cả đài trung ương và các địa phương vẫn còn rất ít cả về tần suất và thời lượng phát sóng, và nếu được phát sóng thì cũng chỉ được phát vào thời gian có rất ít người xem, nghe

- Các Bộ, ngành, địa phương, các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức KH&CN, tuy đã có cổng thông tin điện tử (website) nhưng thông tin KH&CN còn nghèo nàn, việc duy trì, cập nhật chưa kịp thời

- Chưa có các phương pháp và phương tiện truyền thông đầy đủ để thực hiện hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của truyền thông

- Việc đánh giá hiệu quả công tác truyền thông theo các sự kiện lớn chưa được thực hiện, nên chưa có sự đúc rút kinh nghiệm cho việc tổ chức sự kiện đợt sau

- Đội ngũ làm truyền thông KH&CN, đặc biệt là các phóng viên, biên tập viên (của khối cơ quan báo chí, truyền thông) còn thiếu về mặt số lượng, yếu về mặt chất lượng, chưa chuyên nghiệp (thiếu kinh nghiệm làm việc, thiếu kiến thức về quản lý KH&CN, việc nghiên cứu học hỏi còn hạn chế,…)

- Mạng lưới cộng tác viên (trong nước và ngoài nước) chưa nhiều, đặc biệt là các nhà khoa học, các chuyên gia quản lý KH&CN làm công tác truyền thông

- Sự gắn bó giữa các cơ quan quản lý về KH&CN với các cơ quan truyền thông còn yếu, chưa được chặt chẽ, thường xuyên (do cơ quan quản lý chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác truyền thông, nên việc cung cấp thông tin còn hạn chế, thậm chí còn nhiều trường hợp né tránh giới báo chí, truyền thông)

* Ở cấp địa phương

Hệ thống truyền thông đại chúng về KH&CN ở địa phương hiện nay ngoài các đài, báo của Trung ương tiếp cận đến địa phương thì chủ yếu là đài phát thanh - truyền hình, báo (giấy và mạng), tạp chí/bản tin KH&CN trực thuộc Sở KH&CN và một số ấn phẩm của các sở/ngành khác Tuy nhiên, việc truyền thông về KH&CN của đài phát thanh - truyền hình, báo, các ấn phẩm của các sở/ngành khác còn bị động, chưa thường xuyên và không được coi trọng

Các đài phát thanh - truyền hình, báo ở địa phương gần như chưa có chuyên mục KH&CN riêng được phát sóng hay đăng tải định kỳ hoặc nếu có thì chuyên mục KH&CN được ghép với chuyên mục khác như khoa học, giáo dục và môi trường, chính sách và cuộc sống,… Trong một vài năm trở lại đây, thông qua một số chương trình, hoạt động với sự hỗ

Trang 18

trợ của Trung ương hay địa phương như: Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ, đài phát thanh - truyền hình, báo của nhiều địa phương đã có chuyên mục liên quan đến sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, các chuyên mục kiểu như vậy cũng chỉ tồn tại sau khi chương trình kết thúc

Bên cạnh đó, công tác truyền thông về KH&CN ở các địa phương hiện nay cũng được tiến hành theo các phương thức khác như hội nghị/hội thảo khoa học; tập huấn ngắn hạn về KH&CN; các hội thảo đầu bờ, chuyên ngành của sở nông nghiệp phát triển nông thôn, khuyến nông,… về việc đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất,…

Trực thuộc 63 Sở KH&CN đều có các tạp chí/bản tin KH&CN,… tạp chí/bản tin KH&CN địa phương thực hiện nhiệm vụ phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về KH&CN, cũng như việc vận dụng và triển khai các chủ trương, chính sách đó tại địa phương; tuyên truyền về việc ứng dụng các tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống; là cầu nối giữa nhà quản lý với doanh nghiệp và

bà con nông dân ở địa phương Với những chức năng và nhiệm vụ như vậy, tạp chí/bản tin KH&CN ở các địa phương đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công tác truyền thông cũng như phổ biến kiến thức về KH&CN ở các địa phương

Mặc dù có những thành tựu nhất định, nhưng trên thực tế, công tác truyền thông về KH&CN ở địa phương vẫn chưa được các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức Những khó khăn

và bất cập đó là:

- Về nội dung truyền thông: vẫn còn nghèo nàn, chưa có được chương trình tổng thể, dài hơi và có trọng điểm, tại trung ương cũng như địa phương

- Chất lượng tin, bài còn hạn chế, số bài viết chuyên sâu về KH&CN chưa nhiều

- Các chương trình phát thanh, truyền hình về KH&CN ở địa phương vẫn còn rất ít

cả về nội dung và thời lượng phát sóng, và nếu được phát sóng thì cũng chỉ được phát vào thời gian có rất ít người xem, nghe

- Các cơ quan truyền thông đại chúng hoặc các sở/ngành liên quan ở địa phương tuy

đã có cổng thông tin điện tử (website), nhưng việc duy trì, cập nhật thông tin KH&CN còn nghèo nàn, chưa kịp thời

- Chưa có các phương pháp và phương tiện truyền thông đầy đủ để thực hiện hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của truyền thông

- Việc đánh giá hiệu quả công tác truyền thông theo các sự kiện lớn chưa được thực hiện, nên chưa có sự đúc rút kinh nghiệm cho việc tổ chức sự kiện đợt sau

- Đội ngũ làm truyền thông KH&CN, đặc biệt là các phóng viên, biên tập viên (của khối cơ quan báo chí, truyền thông) còn thiếu về mặt số lượng, yếu về mặt chất lượng, chưa chuyên nghiệp (thiếu kinh nghiệm làm việc, thiếu kiến thức về quản lý KH&CN, kỹ năng truyền thông không có, không chịu nghiên cứu học hỏi…)

- Mạng lưới cộng tác viên chưa nhiều, đặc biệt là các nhà khoa học, các chuyên gia quản lý KH&CN làm công tác truyền thông

- Sự gắn bó giữa các cơ quan quản lý về KH&CN với các cơ quan truyền thông còn yếu, chưa được chặt chẽ, thường xuyên (do cơ quan quản lý chưa nhận thức đúng về tầm

Trang 19

quan trọng của công tác truyền thông, nên việc cung cấp thông tin còn hạn chế, thậm chí còn nhiều trường hợp né tránh giới báo chí, truyền thông)

Tóm lại, truyền thông nói chung và truyền thông KH&CN nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, nó đảm bảo thực hiện một số chức năng cơ bản: thông tin,

tư tưởng, tổ chức - quản lý xã hội, phát triển văn hóa và giải trí, chỉ đạo - giám sát xã hội Truyền thông về KH&CN ở nước ta trong thời gian qua đã được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, được thể chế hóa qua nhiều văn bản pháp quy Chính vì vậy, công tác truyền thông về KH&CN ở trung ương đã đạt được những thành quả nhất định Tuy nhiên, công tác này ở địa phương vẫn chưa được thường xuyên, liên tục Ấn phẩm chuyên ngành về KH&CN hiện nay ở các địa phương là tạp chí/bản tin KH&CN địa phương, song ấn phẩm này được xuất bản và phát hành chưa bài bản, còn nhiều hạn chế

5.1.3 Nhận diện xu thế và đề xuất cho các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam

Trên cơ sở khái quát kinh nghiệm thực tiễn trong xây dựng chính sách thông tin KH&CN trên thế giới, nhóm tác giả xin đưa ra một số nhận diện về xu hướng trong xây dựng chính sách này như sau:

Thứ nhất, chính sách thông tin KH&CN của các cơ sở giáo dục đại học trên thế giới được xây dựng dựa trên mục tiêu có tính chất nền tảng đó là bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của mọi tổ chức, cá nhân trong đó tự do, bình đẳng và dân chủ hóa trong tiếp cận là yếu

tố then chốt trên cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại

Thứ hai, Chính phủ có vai trò điều tiết thông qua chính sách, khuyến khích tổ chức

xã hội dân sự, thành phần kinh tế tư nhân trong việc cung ứng các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng yêu cầu tiếp cận thông tin của công dân

Thứ ba, chính sách thông tin KH&CN cần đảm bảo sự đa dạng về thành phần; trong

đó các thiết chế hướng đến cộng đồng như: thư viện, bảo tàng, lưu trữ và các trung tâm thông tin ở địa phương được xem là đối tượng để hiện thực hóa chính sách

Thứ tư, chính sách thông tin KH&CN thiết lập một hệ thống đảm bảo thông tin KH&CN được xây dựng trên nền tảng các thiết chế có tính phục vụ cộng đồng cao, đó là: thư viện, lưu trữ, trung tâm thông tin, Đồng thời, gắn chặt với hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp thông qua các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ

Thứ năm, chính sách thông tin KH&CN thiết lập một mạng lưới tổ chức thông tin KH&CN với sự đa dạng, bao gồm cả khu vực công và khu vực tư, trong đó khu vực công, các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò nền tảng, khu vực tư giữ vai trò chủ yếu trong cung ứng sản phẩm và dịch vụ Chính phủ giữ vai trò điều tiết vĩ mô thông qua các chính sách khuyến khích, kích cầu thị trường thông tin KH&CN với những tổ chức đặc thù, chuyên biệt

Từ những phân tích trên, chính sách thông tin KH&CN tại các cơ sở giáo dục đại học

ở Việt Nam cần được xây dựng dựa trên nền tảng triết lý: hoạt động thông tin KH&CN lấy việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin KH&CN của tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp làm trung tâm Thông tin KH&CN luôn đi trước, mở đường, hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động đổi mới Hoạt động thông tin KH&CN được xây dựng dựa trên nền

Trang 20

tảng phát triển của công nghệ thông tin và các thành tựu KH&CN khác Lấy việc xây dựng sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN là trọng tâm, xác định các sản phẩm và dịch vụ chiến lược, chủ lực, tạo ra lợi nhuận, doanh thu trong hoạt động thông tin KH&CN Nhà khoa học, giảng viên trở thành chủ thể chính trong hoạt động thông tin KH&CN bằng việc tạo ra thông tin, tìm kiếm, tiếp nhận, phổ biến, trao đổi và sử dụng thông tin; được sử dụng các sản phẩm và dịch vụ từ các thiết chế cung cấp thông tin KH&CN trên nguyên tắc tự do, bình đẳng trong tiếp cận

5.2 Thực trạng truyền thông khoa học và công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay

5.2.1 Tổng quan về hoạt động khoa học và công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội

Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao hàng đầu đất nước Chiến lược phát triển của ĐHQGHN đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đặt ra mục tiêu “Trở thành đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực, đạt các tiêu chí cơ bản của đại học nghiên cứu và đổi mới sáng tạo; phấn đấu đến năm 2025, ĐHQGHN thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á hoặc nhóm 500 đại học hàng đầu thế giới; đến năm 2030 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới” Trong đó nhấn mạnh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo lập và phát triển tiềm lực khoa học công nghệ để chuyển giao tri thức và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong thời gian qua, ĐHQGHN không ngừng gia tăng tiềm lực, phát triển các nguồn lực để phát triển KH&CN, hướng tới xây dựng thành công đại học nghiên cứu tiên tiến Những đóng góp trong lĩnh vực KH&CN của ĐHQGHN đối với sự phát triển của đất nước được bao trùm trong nhiều phương diện: cung cấp các luận cứ, kết quả nghiên cứu KH&CN tầm cỡ quốc gia và tiếp cận chuẩn quốc tế cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước; đóng góp quan trọng cho phát triển khoa học cơ bản của Việt Nam; kết hợp chặt chẽ nghiên cứu liên ngành để phục vụ xã hội: đóng góp về y học phục vụ nâng cao sức khỏe, chữa bệnh; Đóng góp lớn và thiết thực, kịp thời vào việc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; góp phần xây dựng, phát triển, bảo tồn văn hóa, các di sản của dân tộc; Đóng góp quan trọng vào phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai; có nhiều kết quả nghiên cứu ứng dụng khác đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội;…

5.2.3 Thành tựu và những hạn chế bất cập trong truyền thông khoa học và công nghệ ở ĐHQGHN hiện nay

i) Ưu điểm, thế mạnh

Truyền thông online qua Báo/đài: Các phương tiện truyền thông chính thống đã đưa tin phong phú, chính xác về các hoạt động, các sự kiện và nhân vật cụ thể mà ĐHQGHN định hướng truyền thông Thông qua các bài báo, các phóng sự truyền hình, các chương

trình phát thanh… đã tuyên truyền các hoạt động KH&CN tại ĐHQGHN Công tác truyền

thông thời gian qua đã gắn kết chặt chẽ với các cơ quan như báo Nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam, Cổng thông tin điện tử chính phủ, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam và Đài PT-TH Hà Nội, báo Hà Nội mới, Giáo dục và Thời đại, Vietnamnet, Dân trí,

VnExpress… tạo hiệu ứng tốt (khoảng gần 300 tin, bài trên các báo)

Trang 21

Truyền thông online: Trong năm 2021, Phòng TT&QTTH đã hoàn thiện và phát

triển hệ thống mạng xã hội như: facebook, youtube,… góp phần lan tỏa KH&CN của

ĐHQGHN đến cộng đồng được nhanh hơn

Website ĐHQGHN: Từ 1/1/2021 đến thời điểm 31/12/2021, website ĐHQGHN đã

có gần 1500 tin bài (cả tiếng Việt và tiếng Anh) với trên 22 triệu lượt truy cập Số lượng truy cập đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 2020 Nhiều tin bài có hàng chục nghìn lượt đọc, cá

biệt có tin bài lên đến 100 nghìn lượt đọc

Mạng xã hội Facebook: Fanpage Đại học Quốc gia Hà Nội đã được Facebook cấp

chứng nhận tích xanh từ tháng 6/2021 Các nội dung thông tin về KH&CN cập nhật liên tục mỗi ngày tối thiểu 3 tin, phong phú về hình thức và chủng loại nhằm thu hút được nhiều lượt

vị đào tạo báo chí hàng đầu tại Việt Nam;

+ Chưa có quy hoạch tổng thể cho Truyền thông KH&CN của ĐHQGHN;

+ Chưa có quy trình truyền thông KH&CN, hiện nay cách truyền thông KHCN của ĐHQGHN vẫn chạy theo vụ việc và sự kiện;

+ Chưa có sự phối hợp giữa đơn vị truyền thông và đơn vị chuyên môn KH&CN; + Công tác Truyền thông chưa tập trung, chuyên sâu, phân tán, nhỏ lẻ, rải rác ở các đơn vị, các kênh còn đơn điệu, chưa đa dạng;

+ Chưa đầu tư nguồn lực thỏa đáng cho Truyền thông KH&CN

5.2.3 Những vấn đề đặt ra đối với truyền thông KH&CN ở ĐHQGHN hiện nay

Hiện nay, có một số xu hướng liên quan đến giáo dục 4.0 với mức độ ảnh hưởng lớn Dựa trên những thành tựu nền tảng của cuộc CMCN 4.0, mô hình đại học 4.0/đại học thông minh đổi mới sáng tạo được xây dựng và phát triển dựa trên mô hình quản trị chia sẻ nhằm hình thành hệ sinh thái kết nối giữa nội dung và công nghệ, thực hiện các mục tiêu phát triển chung của trường đại học Hoạt động KH&CN trong các đại học đang có xu hướng quốc tế hóa ngày càng mạnh mẽ, trở thành xu thế bắt buộc Quá trình này tạo ra nhiều cơ hội cho đại học các nước đang phát triển tiếp cận nhanh với trình độ quốc tế khi tạo được sức ép nâng cao chất lượng đào tạo và KH&CN, thúc đẩy hợp tác quốc tế, tiếp cận nguồn lực quốc tế và có các chỉ tiêu chung trong đánh giá, xếp hạng Điều này cũng đặt ra nhiều thách thức cho đại học ở các nước đang phát triển trong quản lý

Sự hình thành một thế hệ công dân mới dưới tác động của môi trường số đó là thế hệ

Z (hay còn gọi là gen Z, iGen - được sinh ra trong giai đoạn 1996 - 2010) cũng là một yếu tố tác động lớn đến phương thức giáo dục đại học Thế hệ này là những người được lớn lên

Trang 22

cùng với sự phát triển công nghệ, internet, truyền thông xã hội nên đặc điểm của những đối tượng này cũng hoàn toàn khác biệt so với những đối tượng người học trước đây: sáng tạo hơn, năng động hơn, thực dụng hơn và tự tin hơn Thế hệ này tham gia tích cực vào xuyên suốt quá trình học tập, thích những thách thức, thích thảo luận nhóm và những môi trường

có độ tương tác cao Đối với nhóm đối tượng này thì việc học tập và nghiên cứu là không có ranh giới, có thể ở bất kỳ đâu, bất kỳ lúc nào và không giới hạn quyền truy cập vào các thông tin mới Và trên hết, việc sử dụng kỹ thuật số và diễn đàn trực tuyến được ưu tiên trong quá trình học tập và nghiên cứu Các phương thức tiếp cận truyền thống không cập nhật thường xuyên sẽ khó đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu thông tin và nhu cầu sáng tạo

Những nguy cơ tiềm tàng về bệnh dịch, bất ổn chính trị, thương mại,… có ảnh hưởng lớn tới nền giáo dục Đơn cử như năm 2020, toàn thế giới đã và đang phải đối mặt với dịch bệnh COVID-19 Không chỉ gây khủng hoảng lớn đến kinh tế, chính trị mà dịch bệnh này còn tác động sâu sắc đến giáo dục Tính đến hết tháng 6/2020 , đã có 1.067.968.447 người học bị ảnh hưởng và 111 quốc gia đóng cửa trường học do đại dịch COVID-19 Đây được coi là sự “gián đoạn giáo dục đột ngột và chưa từng có” Chính từ trong hoàn cảnh như vậy, cũng đã mở ra cho giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng những cơ hội, những xu hướng giáo dục mở và linh hoạt hơn trong tương lai Trong đó, chú trọng vào một số yếu tố cốt lõi như: cần có những thay đổi về chính sách đào tạo và nghiên cứu, đánh giá chất lượng; bồi dưỡng kỹ năng về công nghệ thông tin cho cán bộ; người học cũng phải thay đổi cách thức tiếp thu kiến thức, chú trọng phát triển kỹ năng làm việc từ xa, phát triển các nền tảng trực tuyến đảm bảo an toàn và tiện dụng,…

Trước những phân tích trên có thể thấy, sức mạnh của công nghệ ngày càng tăng và

đã tạo ra một loạt thay đổi đối với giáo dục trong giai đoạn tới để đảm bảo lực lượng lao động có thể thích ứng với thị trường việc làm và đời sống xã hội đang thay đổi

Trong hơn hai thập kỷ qua, khu vực giáo dục đại học của Việt Nam đã đến gần hơn với thị trường trong điều kiện tự chủ cao hơn (tự chủ về tổ chức và quản lý, tự chủ về học thuật, tự chủ về tài chính) Quyền tự chủ của các trường được thể hiện trong các chính sách như Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập,… Điều này có tác động lớn đến phát triển quy mô đào tạo, phát triển hoạt động KH&CN, thu hút nhân lực KH&CN chất lượng cao và hơn hết là cách thức quản lý và phát triển giáo dục đại học trong các tổ chức Đồng thời, xu hướng tự chủ sẽ giúp các trường tái

cơ cấu nguồn lực theo hướng xã hội hóa, phát huy các nguồn lực bên ngoài để tham gia nâng cao chất lượng và phát triển giáo dục đại học

Xu thế KH&CN phát triển tập trung vào liên ngành, xuyên ngành, đa ngành và đề cao tính ứng dụng: môi trường phát triển của KH&CN cũng như của con người đòi hỏi những kỹ năng tổng hợp, không phải khu trú, chuyên biệt trong một lĩnh vực chuyên môn

Trang 23

Chính vì vậy đào tạo liên ngành trong các trường đại học tại Việt Nam hiện nay là một xu thế mang tính thích ứng Điều này thúc đẩy việc hình thành các nhóm/mạng lưới/tổ chức nghiên cứu kết hợp giữa các ngành khoa học, các tổ chức khác nhau Tính ứng dụng cũng được đề cao khi lấy thị trường, lấy doanh nghiệp làm trung tâm để triển khai các hoạt động nghiên cứu và đào tạo của các trường đại học, gắn kết giữa nghiên cứu và nhu cầu thị trường nhằm phát triển thị trường KH&CN, thúc đẩy hình thành nền kinh tế thị trường Việc liên kết trong đào tạo với các doanh nghiệp là giúp tiếp cận nhanh hơn với thị trường lao động và hạn chế việc đào tạo lại

Thêm vào đó, những nỗ lực của hệ thống giáo dục đại học trong nước đang ngày càng được ghi nhận ở trong nước và quốc tế được thể hiện qua uy tín, sự tin tưởng của người học, người sử dụng lao động trong nước, quốc tế hay các bước tiến trên bảng xếp hạng đại học của thế giới của các tổ chức uy tín như Times Higher Education (THE) hay

QS World University Rankings đã nâng tầm và tạo động lực cho các trường đại học Việt Nam tiếp tục phát triển Tuy nhiên, điều này cũng khiến áp lực cạnh tranh giữa các trường đại học trong nước (cả công lập và tư thục) lớn hơn bao giờ hết tại các bảng xếp hạng đại học thế giới Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho các trường đại học Việt Nam khi mà các tiêu chí xếp hạng phải đảm bảo cân đối giữa giảng dạy - nghiên cứu - trích dẫn nghiên cứu khoa học và một số nhóm tiêu chí khác về triển vọng quốc tế cũng như thu nhập từ chuyển giao tri thức

ĐHQGHN ra đời với sứ mệnh thực hiện các nhiệm vụ mang tầm vóc quốc gia Liên tục có mặt trong các bảng xếp hạng có uy tín trên thế giới (QS, THE, Webometrics, URAP), ĐHQGHN đang được ghi nhận là đại học hàng đầu tại Việt Nam và trong nhóm 1000 đại học hàng đầu thế giới, tiếp cận nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á Tuy nhiên, trong tương quan với các trường đại học hàng đầu trong khu vực và thế giới, vị trí của ĐHQGHN còn rất khiêm tốn và có khoảng cách khá xa Bối cảnh phát triển của các đại học trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy, để trở thành một đại học hàng đầu với danh tiếng và uy tín ở tầm khu vực và thế giới, ĐHQGHN cần phải có chiến lược phát triển phù hợp với những giải pháp mạnh mẽ mang tính đột phá

Trên nhiều phương diện, các nguồn lực của ĐHQGHN còn ở mức thấp, yếu tố đầu vào căn bản, mang tính chất quyết định là tài chính và con người đều đang bộc lộ những điểm yếu Về đầu ra, ĐHQGHN chưa tạo được những dấu ấn riêng thực sự rõ nét cả về sản phẩm đào tạo và sản phẩm nghiên cứu khoa học Trong khi đó, bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang đặt ra nhiều thách thức đối với ĐHQGHN

Về chất lượng sinh viên tốt nghiệp, ĐHQGHN cần tạo ra một lực lượng lao động “tinh hoa” không chỉ có tri thức mới mẻ, cập nhật, có năng lực thích ứng với sự thay đổi không ngừng của bối cảnh công việc, mà còn được trang bị những kỹ năng thiết yếu như: kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phản biện, kỹ năng giao tiếp, cộng tác, sáng tạo, đổi mới

Quan điểm phát triển KH&CN của ĐHQGHN trong chiến lược phát triển đến năm

2030 tầm nhìn 2045 thể hiện rõ: “… Ưu tiên đầu tư trọng tâm, tạo bước đột phá để tăng quy

mô các chương trình đào tạo tài năng, tiên tiến, chất lượng cao và các ngành mới có tính liên ngành cao, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực bậc cao của đất nước Lựa chọn, đầu tư

Trang 24

phát triển các hướng nghiên cứu khoa học trọng điểm, mũi nhọn để tạo các sản phẩm KH&CN chủ lực, mang thương hiệu ĐHQGHN, tham gia trực tiếp vào hệ thống đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia”

Trên cơ sở quan điểm phát triển, mục tiêu chung về phát triển KH&CN của ĐHQGHN thực hiện được vai trò trụ cột trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có khả năng thích ứng cao với bối cảnh toàn cầu hóa và đáp ứng kịp thời với những yêu cầu phát triển đất nước trong các bối cảnh phát triển khác nhau; Khẳng định được vai trò tiên phong, dẫn dắt hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo quốc gia, tham gia giải quyết những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh quốc gia; Trở thành hình mẫu điển hình của

hệ thống giáo dục đại học trong quản lý, quản trị đại học dựa trên nền tảng công nghệ số và tiếp cận giáo dục thông minh Đến năm 2025, ĐHQGHN thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu châu Á hoặc nhóm 500 đại học hàng đầu thế giới; đến năm 2030 thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới Cụ thể:

- Phát triển đột phá về nghiên cứu đỉnh cao, đổi mới sáng tạo và thiết lập được nền tảng tiềm lực khoa học mạnh mẽ để tham gia giải quyết các vấn đề mang tầm quốc gia và quốc tê, bao gồm:

- Thiết lập và triển khai được các chương trình nghiên cứu khoa học cơ bản theo các định hướng của Chiến lược phát triển KH&CN quốc gia, gắn với gia tăng đột phá về công

bố quốc tế và các giải pháp khoa học, công nghệ lõi

- Hình thành được năng lực công bố quốc tế rộng khắp trong giảng viên; gia tăng đột phá số công trình khoa học thuộc cơ sở dữ liệu ISI/Scopus

- Xây dựng được hệ thống phòng nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, vườn ươm khoa học, công nghệ hiện đại, gắn với các thế mạnh KH&CN của ĐHQGHN và xu thế KH&CN quốc tế

- Thiết lập được hệ sinh thái nghiên cứu, sáng tạo, khởi nghiệp với sự tham gia mạnh

mẽ của các doanh nghiệp, tổ chức

- Phát huy được vị thế quốc tế thông qua việc xây dựng và vận hành các nhóm nghiên cứu mạnh ở quy mô quốc tế, phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu quốc tế; hình thành và phát triển được mạng lưới đội ngũ các nhà khoa học thế giới

Từ những mục tiêu đặt ra về phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2030 tầm nhìn 2045, ĐHQGHN xác định những giải pháp cụ thể trong nhóm giải pháp trọng tâm về khoa học và công nghệ như sau:

- Tiếp tục triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ KH&CN lớn, mang tầm thời đại và có ảnh hưởng quốc gia

- Kiến nghị Chính phủ giao ĐHQGHN chủ trì hoặc tham gia triển khai các chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về công nghệ thông tin và truyền thông, cơ điện tử, công nghệ mới trong lĩnh vực năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, điện tử y sinh

- Xác định rõ hướng nghiên cứu trọng điểm cho từng giai đoạn 5 năm và tập trung đầu tư để tạo sản phẩm khoa học đỉnh cao mang danh tiếng ĐHQGHN

Trang 25

- Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp của ĐHQGHN phù hợp với các xu thế phát triển, với các doanh nghiệp đóng vai trò là đối tác chiến lược

- Xây dựng và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh đã có và phát triển các nhóm nghiên cứu trẻ mới, nhiều tiềm năng; các trung tâm nghiên cứu xuất sắc; phòng thí nghiệm trọng điểm đạt trình độ quốc tế; thành lập các giải thưởng, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp KH&CN; nhóm tư vấn chiến lược cho Chính phủ, doanh nghiệp và xã hội; đẩy mạnh hoạt động của Câu lạc bộ Nhà khoa học ĐHQGHN

- Thúc đẩy các hướng nghiên cứu cơ bản làm nền tảng cho các hướng nghiên cứu ứng dụng, đi đến sản phẩm cuối cùng

- Tăng cường hợp tác doanh nghiệp để nghiên cứu, triển khai, chuyển giao ứng dụng sản phẩm KH&CN

- Quốc tế hoá tạp chí khoa học

- Xây dựng cơ chế hợp tác công tư, đồng tài trợ thực hiện nhiệm vụ KH&CN; cơ chế đặt hàng, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ KH&CN; thực hiện mô hình quỹ và khoán chi

- Xây dựng và triển khai các chính sách đầu tư, ưu đãi, khen thưởng, khuyến khích nhà khoa học để gia tăng chất lượng và số lượng công bố quốc tế; sách chuyên khảo; bằng độc quyền sáng chế; bằng độc quyền giải pháp hữu ích; sản phẩm KH&CN được chuyển giao/thương mại hóa; giải thưởng khoa học quốc gia và quốc tế,…

- Tăng cường công tác truyền thông khoa học, đề xuất các giải pháp hỗ trợ phù hợp

để thu hút ngày càng nhiều sinh viên giỏi tham gia học các ngành khoa học cơ bản

- Phát triển hài hòa các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn - tự nhiên và công nghệ

Theo Chiến lược khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và giải pháp truyền thông KH&CN của ĐHQGHN giai đoạn 2021 - 2030, đến năm 2030, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (ĐMST) của ĐHQGHN đóng vai trò nòng cột, góp phần quan trọng trong thực hiện Chiến lược phát triển ĐHQGHN thành đại học nghiên cứu và ĐMST thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới, tham gia giải quyết một số thách thức quốc gia Các mục tiêu cụ thể bao gồm:

a) Phát triển tiềm lực KH&CN của ĐHQGHN theo định hướng đổi mới sáng tạo gắn kết với nhu cầu thị trường, theo đó, đến năm 2030 phát triển 50 hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với hạt nhân là các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm - trung tâm nghiên cứu trọng điểm, doanh nghiệp spin-off, công ty khởi nghiệp

b) Đến năm 2030, tạo ra 05 sản phẩm công nghệ cao hoặc sản phẩm quốc gia ứng dụng trong thực tiễn, chuyển giao và thương mại hoá

Trang 26

c) Tăng tỉ lệ công bố kết quả KH&CN trong giai đoạn 2021 – 2030: (i) Gia tăng số lượng và chất lượng công bố quốc tế Trung bình số bài báo ISI/Scopus trên tổng số cán bộ khoa học/năm đạt tỷ lệ 1,5 vào năm 2025 và tỷ lệ 1,8 vào năm 2030 Trong đó, số lượng các công bố có chất lượng thuộc nhóm Q1, Q2 trên tổng số công bố quốc tế đạt 50% vào năm

2025 và đạt 60% vào năm 2030; (ii) Gia tăng số đơn đăng ký giải pháp hữu ích, sáng chế được chấp nhận hợp lệ/ năm là 100 vào năm 2025 và 150 vào năm 2030

d) Tăng nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ KH&CN, chuyển giao và thương mại hoá sản phẩm KH&CN đạt 15% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030/tổng nguồn thu KH&CN

e) Đến năm 2030, ĐHQGHN có được hệ thống cơ chế, chính sách và mô hình tổ chức hoạt động KH&CN hoàn chỉnh tạo dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

ĐHQGHN đặt ra các nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2021-2030 về KH&CN như sau:

a) Phát triển các tổ chức KH&CN

- Liên kết để hình thành phòng thí nghiệm liên ngành, liên lĩnh vực phối hợp với các doanh nghiệp trong khu công nghệ cao Hoà Lạc hình thành hệ sinh thái ĐMST quy mô thành phố Hà Nội và khu vực

- Tổ chức hình thành doanh nghiệp spin-off và công ty khởi nghiệp để hỗ trợ phát triển sản phẩm ứng dụng và thương mại hoá

- Phát triển trung tâm cơ sở dữ liệu số phục vụ nghiên cứu, đào tạo, quản lý tài sản trí tuệ và thương mại hoá sản phẩm KH&CN

b) Tổ chức các nhiệm vụ/ chương trình KH &CN

- Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ KH&CN trọng điểm cấp Quốc gia: chương trình Tây Bắc và nhiệm vụ Quốc chí

- Xây dựng mới các chương trình nghiên cứu KH, CN và ĐMST cấp Bộ và cấp Quốc gia: chương trình liên kết giữa đại học với doanh nghiệp để phát triển các sản phẩm ứng dụng; chương trình KH&CN phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng ven biển; chương trình phát triển khoa học xã hội và nhân văn quốc gia

- Xây dựng và triển khai chương trình/nhiệm vụ KH&CN hợp tác với doanh nghiệp, địa phương trong và ngoài nước

c) Phát triển dịch vụ KH, CN và ĐMST

- Phát triển nguồn thu từ dịch vụ (tư vấn, phân tích, kiểm nghiệm, kiểm định,…) trên nền tảng của hệ thống các phòng thí nghiệm/trung tâm nghiên cứu trọng điểm đạt tiêu chuẩn: Vilas (Bộ Khoa học và Công nghệ), Vimcerts (Bộ Tài nguyên và Môi trường), GMP (Bộ Y tế),…

- Tăng cường các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ đăng ký và chuyển giao tài sản sở hữu trí tuệ

- Tổ chức tập huấn, đào tạo chuyên gia đạt các chứng chỉ theo tiêu chuẩn trong nước

và quốc tế gắn với chuyển giao KH&CN từ đại học cho các doanh nghiệp và địa phương

d) Chuyển đổi số trong hoạt động KH&CN

- Tổ chức chuyển đổi mô hình quản lý dựa vào các hệ thống phần mềm ứng dụng trên nền tảng các dữ liệu thời gian thực

- Xây dựng các chương trình phát triển cơ sở dữ liệu chuyên ngành để phục vụ cho tổ chức các hoạt động nghiên cứu KH&CN trong các lĩnh vực phù hợp với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Trang 27

- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu tích hợp giữa khoa học xã hội với công nghệ thông tin tạo ra sản phẩm công nghệ số Phát triển các cơ sở dữ liệu số, các sản phẩm ứng dụng trong nền kinh tế số, chính phủ số và xã hội số

- Tổ chức hình thành không gian kết nối sản phẩm công nghệ trong và ngoài ĐHQGHN trên môi trường số

e) Đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức hoạt động KH&CN và ĐMST

- Tổ chức thí điểm các cơ chế và mô hình hoạt động KH&CN gắn với ĐMST, gắn với doanh nghiệp cùng thực hiện nhiệm vụ tạo sản phẩm có giá trị ứng dụng và thương mại hóa

- Đổi mới phương thức quản lý và tổ chức hoạt động của các tổ chức KH&CN trọng điểm trong ĐHQGHN (nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu trọng điểm)

- Đổi mới phương thức hợp tác về KH&CN và ĐMST giữa ĐHQGHN với doanh nghiệp và địa phương theo hình thức công - tư

- Đổi mới phương thức đầu tư thu hút nhà khoa học, chuyên gia, nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia các hoạt động KH&CN và ĐMST tại ĐHQGHN

ĐHQGHN đề ra các nhóm giải pháp về truyền thông KH&CN:

Chiến lược đặt ra 05 giải pháp chính về truyền thông KH&CN, bao gồm:

- Triển khai đồng bộ các kênh và công cụ truyền thông nhằm truyền tải, quảng bá một cách hiệu quả cho KH, CN và ĐMST của ĐHQGHN

- Tăng cường tuyên truyền về Chiến lược KH,CN và ĐMST của ĐHQGHN giai đoạn

2021 - 2030

- Gắn truyền thông với việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN

- Tổ chức các giải thưởng KH&CN định kỳ mang thương hiệu ĐHQGHN

- Phối hợp với các tổ chức truyền thông trong và ngoài nước quảng bá các sản phẩm KH&CN của ĐHQGHN

5.3 Giải pháp tăng cường truyền thông khoa học và công nghệ ở Đại học Quốc gia Hà Nội

Trên cơ sở phân tích thực trạng truyền thông khoa học và công nghệ ở ĐHQGHN, những ưu điểm, thế mạnh, tồn tại, hạn chế và những thách thức đặt ra đối với truyền thông KH&CN của ĐHQGHN, nhóm nghiên cứu đề xuất một số giải pháp sau:

5.3.1 Hoàn thiện quy trình truyền thông về KH&CN ở ĐHQGHN

5.3.1.1 Căn cứ đề xuất

- Quyết định số 800/QĐ-ĐHQGHN ngày 29/3/2021 của Giám đốc ĐHQGHN về việc ban hành Chiến lược Phát triển ĐHQGHN đến năm 2030, tầm nhìn 2045 và Kế hoạch phát triển ĐHQGHN giai đoạn 2021-2025

- Quyết định số 286/QĐ- ĐHQGHN ngày 8/02/2022 của Giám đốc ĐHQGHN về việc ban hành Chiến lược Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo của ĐHQGHN giai đoạn 2021-2030

- Quyết định số 3416/QĐ-ĐHQGHN ngày 02/11/2021 của Giám đốc ĐHQGHN về việc ban hành Quy định quản lý tài sản trí tuệ ở ĐHQGHN

- Quyết định số 3273/QĐ-ĐHQGHN ngày 25/10/2021 của Giám đốc ĐHQGHN về việc ban hành hướng dẫn phát triển và chế độ ưu đãi nhóm nghiên cứu mạnh ở ĐHQGHN

Trang 28

- Quyết định số 3828/QĐ-ĐHQGHN ngày 30/11/2021 của Giám đốc ĐHQGHN Ban hành Quy định về công nhận, quản lý và phát triển phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm nghiên cứu trọng điểm cấp ĐHQGHN

5.3.1.1 Quy trình truyền thông về KH&CN ở ĐHQGHN

Trên cơ sở thực trạng công tác truyền thông KH&CN ở ĐHQGHN hiện nay, trong nghiên cứu này tác giả xin được đề xuất hoàn thiện quy trình truyền thông theo các bước sau:

a) Sơ đồ quy trình triển khai truyền thông KH&CN tại ĐHQGHN

b) Xác định đối tượng cốt lõi truyền thông

- Nhà khoa học, cán bộ, giảng viên, sinh viên, nghiên cứu sinh, học viên

- Các ban, bộ, ngành trung ương

- Các đối tác của ĐHQGHN (địa phương và doanh nghiệp,…)

Rà soát, phân loại nội

dung, lựa chọn kênh

Phòng Truyền thông & Quản trị Thương hiệu (Phối hợp)

Thiết kế nội dung phù

hợp với từng loại hình

truyền thông

(Công đoạn 3 và 4) 4 Kiểm tra, nghiệm thu, Thông qua thiết kế

Ban Khoa học - Công nghệ (Chủ trì) Tạp chí Khoa học (Phối hợp)

Triển khai và đánh giá

hiệu quả truyền thông

(Công đoạn 5, 6 và 7)

3 Thiết kế nội dung, loại hình truyền thông

Tạp chí Khoa học (Chủ trì);

Phòng Truyền thông & Quản trị Thương hiệu (Phối hợp)

5 Triển khai các kênh truyền thông

Tạp chí Khoa học (Chủ trì);

Phòng Truyền thông & Quản trị Thương hiệu (Phối hợp)

7 Đánh giá hiệu quả công tác truyền thông

Ban Khoa học - Công nghệ (Chủ trì) Tạp chí Khoa học (Phối hợp)

6 Đối tượng tiếp nhận thụ hưởng thông tin

Các nhà khoa học, cán bộ, giảng viên, sinh viên,…

Ban, bộ, ngành trung ương, địa phương và doanh nghiệp,

Các đối tác của ĐHQGHN

Trang 29

Với quy trình truyền thông và xác định được đối tượng cốt lõi thì truyền thông KH&CN ĐHQGHN sẽ đạt được các mục tiêu Thứ nhất, sẽ huy động tối đa các bên liên quan tham gia nhằm đạt được hiệu quả truyền thông tối ưu nhất Thứ hai, khắc phục được những hạn chế, bất cập của quy trình truyền thông KHCN trước đó Thứ 3, thông tin phổ rộng đến đa dạng các đối tượng quan tâm theo dõi hoạt động KHCN ở ĐHQGHN Thứ tư, thúc đẩy kết nối Viện nghiên cứu - Trường Đại học - Doanh nghiệp và địa phương; chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

5.3.2 Xây dựng khung nội dung truyền thông về KH&CN ở ĐHQGHN

5.3.2.1 Đối tượng truyền thông

Hoạt động truyền thông KH&CN sẽ xây dựng, tổ chức các kênh và công cụ truyền thông phù hợp với tính chất của từng nội dung nhằm truyền tải, quảng bá một cách hiệu quả những vấn đề trong lĩnh vực KH&CN của ĐHQGHN Mỗi sản phẩm truyền thông sẽ phục

vụ các phân khúc truyền thông và đối tượng truyền thông khác nhau Các sản phẩm trong đề tài sẽ tập trung vào cả truyền thông nội bộ và truyền thông xã hội với các cấp đối tượng:

- Nhà khoa học, cán bộ, giảng viên, sinh viên, nghiên cứu sinh, học viên

- Các ban, bộ, ngành trung ương

- Các địa phương và doanh nghiệp hợp tác với ĐHQGHN

- Các đối tác của ĐHQGHN,…

- Các đối tượng trong xã hội quan tâm đến KH&CN,…

5.3.2.2 Khung nội dung truyền thông về KH&CN ở ĐHQGHN

Tại Chiến lược về KH&CN giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045, ĐHQGHN đặt ra mục tiêu: Đến năm 2030, hoạt động KH,CN&ĐMST của ĐHQGHN đóng vai trò nòng cột, góp phần quan trọng trong thực hiện Chiến lược phát triển ĐHQGHN thành đại học nghiên cứu và đổi mới sáng tạo thuộc nhóm 300 đại học hàng đầu thế giới, tham gia giải quyết một

số thách thức và cấp bách của quốc gia Cụ thể:

- Phát triển tiềm lực KH,CN&ĐMST của ĐHQGHN theo định hướng đổi mới sáng tạo gắn kết với nhu cầu thị trường, theo đó, đến năm 2030 phát triển 50 hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với hạt nhân là các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm - trung tâm nghiên cứu trọng điểm, doanh nghiệp spin-off, doanh nghiệp khởi nghiệp

- Đến năm 2030, tạo ra 05 sản phẩm công nghệ cao hoặc sản phẩm quốc gia ứng dụng trong thực tiễn, chuyển giao và thương mại hoá

- Gia tăng kết quả KH,CN&ĐMST: i) Số lượng và chất lượng công bố quốc tế: trung bình số bài báo ISI/Scopus trên tổng số cán bộ khoa học/năm đạt tỷ lệ 1,5 vào năm 2025 và

tỷ lệ 1,8 vào năm 2030 Trong đó, số lượng các công bố có chất lượng thuộc nhóm Q1, Q2 trên tổng số công bố quốc tế đạt 50% vào năm 2025 và đạt 60% vào năm 2030; ii) Số đơn đăng ký giải pháp hữu ích, sáng chế được chấp nhận hợp lệ/ năm: 100 vào năm 2025 và 150 vào năm 2030

- Tăng nguồn thu từ các hoạt động dịch vụ, chuyển giao và thương mại hoá sản phẩm KH,CN&ĐMST: đạt 15% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030/tổng nguồn thu KH,CN & ĐMST

- Đến năm 2030, ĐHQGHN có mô hình tổ chức hoạt động KH,CN&ĐMST hoàn chỉnh gắn với tạo dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thành phố Hà Nội và quốc gia Để đạt được mục tiêu nêu trên giải pháp về truyền thông khoa học và công nghệ được thể hiện

tại bảng 1

Trang 30

BẢNG 1: KHUNG NỘI DUNG TRUYỀN THÔNG VỀ KH&CN Ở ĐHQGH GIAI ĐOẠN 2021 - 2030

TT Nội dung truyền

- Xây dựng chân dung nhà khoa học tiêu biểu với các hình thức:

+) Bản tin +) phim tư liệu +) video ngắn giới thiệu +) livetream phát sóng trực tiếp định

kỳ hằng tuần hoặc tháng đưới dạng chuyên mục

+) Kết nối các địa chỉ có thể ứng dụng các kết quả nghiên cứu xây dựng các tọa đàm/trao đổi (dưới dạng trường quay trực tiếp hoặc ảo (kỹ thuật số)

Ban KH&CN

+) Phòng TT và QTTH

+) Tạp chí khoa học ĐHQG +) Các đơn vị thành viên và trực thuộc

+) Các Bộ, ngành, địa

phương

- Tối thiểu 10 chân dung nhà khoa học tiêu biểu/ tháng được giới thiệu trên:

Website, Mạng xã hội (fanpage, youtube,…); Bản tin,…

- Tối thiểu 03 tin bài/ tháng

mô tả chi tiết kết quả nghiên cứu của từng công trình

- Xây dựng chân dung nhà sáng chế

+) Phòng TT và QTTH

+) Tạp chí khoa học ĐHQG +) Các đơn vị thành viên và trực thuộc

+) Các Bộ, ngành, địa

phương

- Tối thiểu 4 chân dung nhà sáng chế tiêu biểu/ tháng được giới thiệu trên: Website, Mạng xã hội(fanpage, youtobe, facebook); Bản tin

- Tối thiểu 04 tin bài/ tháng mô tả chi tiết từng sáng chế, giải pháp hữu ích được giới thiệu trên: Website, Mạng xã hội(fanpage, youtobe, facebook); Bản tin

4 Phòng thí nghiệm,

trung tâm nghiên cứu

- Video, tin bài, phỏng vấn, phim ngắn giới thiệu về các phòng thí

+) Phòng TT và QTTH

+) Tạp chí khoa học ĐHQG

- 01 Video, tin bài, phỏng vấn, phim ngắn giới thiệu về từng

Trang 31

thiệu về nhóm nghiên cứu mạnh

- 01 Video, tin bài, phỏng vấn, phim ngắn/1 quý giới thiệu về doanh nghiệp spinoff, doanh

nghiệp khởi nghiệp

+) Các Bộ, ngành, địa

phương

- Thường niên và định kỳ có Video, tin bài, phỏng vấn, phim ngắn giới thiệu về từng nhà khoa học đạt giải thưởng

Ban KH&CN

+) Phòng TT và QTTH

+) Tạp chí khoa học ĐHQG +) Các đơn vị thành viên và trực thuộc

+) Các Bộ, ngành, địa

phương

- Định kỳ video giới thiệu 05 sản phẩm/ tháng được giới thiệu trên: Website, Mạng xã hội(fanpage, youtobe, facebook); Bản tin

- Tối thiểu phải kết nối 03 doanh nghiệp/ 05 sản phẩm truyền thông/ tháng có nhu cầu tiếp cận sản phẩm

7

Các hoạt động sự kiện:

hội nghị, hội thảo, diễn

đàn, ngày hội liên

quan đến KH,CN&ĐMST

+) Các Bộ, ngành, địa

phương

Định kỳ và thường xuyên theo sự kiện truyền thông trên các trang thông tin của ĐHQGHN

5.3.2.3 Sản phẩm KH&CN của ĐHQGHN cần được xây dựng kịch bản truyền thông nhằm chuyển giao, thương mại hóa (phụ lục 1)

Trang 32

5.3.3 Xây dựng khung nội dung Bản tin KH&CN định kỳ

5.3.3.1 Nội dung Bản tin KH&CN

i) Về nội dung: Bản tin KH&CN phục vụ hiệu quả truyền thông nội bộ, lan toả văn

hoá nghiên cứu trong cộng đồng “ONE VNU”, đồng thời cũng là kênh thông tin có giá trị tới các bộ, ban ngànhh, doanh nghiệp, địa phương và các đối tác của ĐHQGHN

- Nội dung Bản tin KH&CN bám sát mục tiêu và tôn chỉ đề ra, chất lượng phải luôn được chú trọng nâng cao; truyền thông kịp thời, chính xác, đảm bảo đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu truyền thông về KH&CN của ĐHQGHN: truyền thông nội bộ và truyền thông ngoài xã hội Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích SWOT cũng như mục tiêu phát triển

- Cần nâng cao chất lượng các tin tức, bài báo bằng việc chọn chủ đề nổi bật, thời sự,

có sức ảnh hưởng, tác động xã hội lớn, thiết thực; Thu hút các nhà khoa học, các học giả trong và ngoài nước tham gia xây dựng bài báo, mang lại giá trị thiết thực Đa dạng hoá nội dung; Xây dựng chủ đề cho từng số Nội dung phải phản ánh đa dạng, mang hàm lượng trí thức cao, phù hợp với đối tượng độc giả đa dạng, xứng tầm là cơ quan ngôn luận về KH&CN của một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu đất nước

1 Mảng thông tin/sự kiện

Hội thảo, hội nghị, triển lãm, seminar, Xếp hạng đại học

Các chỉ số KH&CN

2 Cơ chế, chính sách KH&CN của ĐHQGHN

3

Các sản phẩm KHCN; Các đề xuất chính sách;

Các công trình, đề tài, dự án, bài báo khoa

học, sách chuyên khảo tiêu biểu; Các

chương trình nghiên cứu lớn;

Trích xuất ngược những giá trị, kết quả KH&CN đặc sắc, đột phá, tiêu biểu của ĐHQGHN ra xã hội

4 Những tấm gương tiêu biểu trong hoạt

động KH&CN

5 Những hướng nghiên cứu tiềm năng, mới

nổi trong nước và thế giới

Review các hướng nghiên cứu nổi bật hiện nay;

Những thành tựu, đột phá KH&CN thế giới

6 Những đơn vị, nhóm nghiên cứu mạnh,

phòng thí nghiệm điển hình

Giới thiệu những nhóm nghiên cứu mạnh, nhóm nghiêm cứu tiềm năng, nhóm nghiên cứu

PTN tiêu biểu trong ĐHQGHN

7

Thông tin kết nối chuyển giao tri thức, thương

mại hóa kết quả nghiên cứu; hợp tác trường

đại học - doanh nghiệp; những thành công

trong hoạt động chuyển giao tri thức

Hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

trong ĐHQGHN

Danh mục các sản phẩm ứng dụng tiềm năng

Giới thiệu chuyên sâu các sản phẩm tiêu biểu

Ý kiến, trao đổi, thông tin của doanh nghiệp/ tổ chức xã hội có nhu cầu chuyển giao

Những xu hướng tiềm năng trong

Trang 33

9

Thông tin hỗ trợ, tư vấn trong hoạt động

KH&CN, sở hữu trí tuệ;

Giới thiệu CSDL chuyên gia, công trình/

ii) Về tính mỹ thuật, khoa học: Đổi mới về hình thức, góp phần làm tăng giá trị của

của các kênh thông tin - truyền thông KH&CN nói riêng và góp phần gia tăng giá trị thương hiệu chung của ĐHQGHN, chẳng hạn như Trang tin KH&CN điện tử thiết kế đẹp, chuyên nghiệp, trang nhã theo format các tạp chí khoa học nổi tiếng như: Nature, Science, Scientific American,… để tăng tính hấp dẫn và phù hợp với tôn chỉ của một tờ chuyên san về KH&CN

iii) Hình thức xuất bản: Ấn phẩm điện tử (định dạng PDF) phát hành trên website và

hệ thống email, các trang mạng xã hội: Ấn phẩm được thiết kế đẹp mắt, chuyên nghiệp, có các chuyên mục hấp dẫn như một tạp chí (chuyên san) Ấn phẩm điện tử sẽ tổng hợp tin tức, các thành tựu KH&CN của ĐHQGHN và thế giới tiêu biểu, nổi bật nhất được lựa chọn trong tháng

- Bản tin KH&CN điện tử phát hành 01 số/ tháng

+ Upload lên hệ thống website và mạng xã hội

5.3.3.2 Khung nội dung Bản tin KH&CN, ĐHQGHN định kì

Khung nội dung Bản tin được xây dựng với cấu trúc bao gồm các chuyên mục, tiểu mục Mỗi chuyên mục truyền thông đều có chức năng truyền tải một nhóm chuyên đề về KH&CN Tuy nhiên, các chuyên mục này vẫn có thể linh hoạt thay đổi theo chiến lược phát triển trọng tâm KH&CN của ĐHQGHN trong từng giai đoạn

(From the Editor)

Tổng Biên tập tạp chí viết thông điệp ngắn (khoảng 300 từ) nhấn mạnh chủ đề, hoặc nội dung nổi bật của từng số

1

Được Tạp chí Nature, Science, Scientific American áp dụng

2 Tin tức

(Hightline)

Giới thiệu vắn tắt, điểm tin, ngắn gọn nhất các hoạt động, sự kiện, thành tựu KH&CN nổi bật nhất của

3

Tin tức ngắn về hội nghị, hội thảo, seminar khoa học, techmart; văn bản,

Trang 34

ĐHQGHN trong tháng;

Cập nhật số bài ISI/Scopus; sáng chế, giải pháp hữu ích

chính sách nổi bật;… Inforgraphic con số nổi bật

3 Tiêu điểm

(Forcus)

Phân tích, bình luận, phản ánh về các vấn đề KH&CN nóng bỏng, nổi bật; hoặc những đột phá khoa học của ĐHQGHN, trong nước và thế giới dưới lăng kính phân tích, nhận định chuyên sâu của các chuyên gia, nhà khoa học trong ĐHQGHN

6

Đối tượng tham gia: các nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia của ĐHQGHN

Hình thức: phỏng vấn, ghi chép, bài phản ánh,

Bài review về công trình khoa học tiêu biểu trong tháng;

Giới thiệu các chương trình nghiên cứu lớn, tiêu biểu của ĐHQGHN;

Phân tích, bình luận, phản ánh và truyền thông những vấn đề nổi bật, thành tựu trong tháng trong lĩnh vực KH&CN của ĐHQGHN; Giới thiệu những thành tựu mới nhất của KH&CN thế giới dựa trên dịch thuật, tổng hợp từ các nguồn KH&CN uy tín như Science, Nature, Scientific American,…bài viết của các nhà khoa học uy tín trong và ngoài nước

20

Đối tượng tham gia: các nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia của ĐHQGHN

Hình thức: phỏng vấn, ghi chép, bài phản ánh,

Các nhà khoa học ĐHQGHN phân tích, cho ý kiến về những đề xã hội đang được chú ý, nổi bật

8

Đối tượng tham gia: các nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia của ĐHQGHN

Hình thức: phỏng vấn, ghi chép, bài phản ánh,

transfer & Startup)

Giới thiệu, kết nối các sản phẩm KH&CN, giải pháp hữu ích, sáng chế tiêu biểu của các nhà khoa học trong ĐHQGHN

Đồng thời đăng tải ý kiến, nhu cầu phát triển KHCN của doanh nghiệp,

xã hội nhằm góp phần cung cấp những thông tin gợi mở cho phát

8

Đối tượng tham gia: các nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia của ĐHQGHN doanh nhân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội Hình thức: phỏng vấn, ghi chép, bài phản ánh,

Trang 35

triển hướng nghiên cứu ứng dụng trong các đơn vị nghiên cứu của ĐHQGHN;

Giới thiệu các PTN, nhóm nghiên cứu mạnh, nhóm nghiên cứu tiềm năng;

Nội dung này thúc đẩy kết nối cung

- cầu, thúc đẩy hoạt động chuyển giao tri thức, thương mại hoá kết quả nghiên cứu; tăng cường hợp tác trường đại học - doanh nghiệp

cơ bản trở thành đại học số

8

Các nhà quản lí, nhà khoa học, giảng viên VNU

Hình thức: phỏng vấn, phản ánh

Đó là những kiến thức trong đời sống hàng ngày, những biến chuyển xung quanh chúng ta được lý giải bằng khoa học, cung cấp cho chúng

ta thông tin hữu ích,…

2

Đối tượng tham gia là các nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia của ĐHQGHN

9 Sách hay

(Books)

Giới thiệu những cuốn sách chuyên khảo tiêu biểu, các công trình, đề tại, dự án KH&CN nghiệm thu 2

Sản phẩm của các nhà khoa học ĐHQGHN

10 Hỏi - Đáp (Q&A)

Nội dung này giúp giải đáp các câu hỏi, thắc mắc về chính sách, hỗ trợ công bố quốc tế, sở hữu trí tuệ, các thủ tục đăng kí sở hữu trí tuệ,…

2

Đối thoại giữa các nhà quản lí, chuyên gia của ĐHQGHN với bạn đọc

5.3.3.3 Nhận diện thương hiệu Bản tin KH&CN

i) Nhận diện về hình ảnh

+ Khổ thiết kế: Khuôn khổ tối đa của Bản tin là 19cm x 27cm, số trang tối đa là 64 trang Không được quảng cáo trong bản tin;

+ Hình thức thể hiện trên trang bìa 1:

Măng séc: Phần trên của trang một bản tin phải đề chữ “BẢN TIN”, cụm từ viết tắt ĐHQGHN dưới chữ “BẢN TIN”, tên cơ quan: ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI, tổ chức xuất bản và ngày, tháng, năm xuất bản bản tin dưới tên của bản tin;

Trên măng séc ghi rõ số, ngày, tháng, năm số xuất bản

Màu sắc: ĐHQGHN (C90M70Y0K55); nền dưới chữ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ (C56M17Y100K0); BẢN TIN (C44M35Y51K4)

+ Hình thức thể hiện các chuyên mục:

Các chuyên mục được thể hiện bằng chữ song ngữ tiếng Việt và tiếng Anh Nội dung các chuyên mục được thiết kế cách điệu đơn giản trên bar màu ngang trên đầu các trang

+ Hình thức thể hiện chân trang: Số trang chẵn ghi nội dung: BẢN TIN KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ; Số trang lẻ ghi thông tin: Số phát hành bản tin trong tháng và năm

Trang 37

ii) Nhận diện về khung nội dung:

Bản tin KH&CN sẽ bao gồm các chuyên mục sau:

1 TIN TỨC - HEADLINE

2 TIÊU ĐIỂM – FORCUS

Trang 38

3 GƯƠNG MẶT – PEOPLE OF VNU

4 CHUYỂN ĐỔI SỐ - DIGITAL TRANSFORMATION

Trang 39

5 KH-CN & ĐỔI MỚI SÁNG TẠO – S, T & INNOVATION

6 ONE VNU

Trang 40

7 CHUYỂN GIAO TRI THỨC VÀ KHỞI NGHIỆP – KNOWLEDGE TRANSFER & STARTUP

8 KHOA HỌC THƯỜNG THỨC – POPULAR SCIENCE

Ngày đăng: 03/08/2025, 19:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 1:    KHUNG NỘI DUNG TRUYỀN THÔNG VỀ KH&CN Ở ĐHQGH GIAI ĐOẠN 2021 - 2030 - 00060000746 nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ Ở Đại học quốc gia hà nội = research and development in media productions for science and technology communication at vietnam national
BẢNG 1 KHUNG NỘI DUNG TRUYỀN THÔNG VỀ KH&CN Ở ĐHQGH GIAI ĐOẠN 2021 - 2030 (Trang 30)
Hình  thức:  phỏng  vấn,  ghi chép, bài phản ánh, - 00060000746 nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ Ở Đại học quốc gia hà nội = research and development in media productions for science and technology communication at vietnam national
nh thức: phỏng vấn, ghi chép, bài phản ánh, (Trang 34)
Hình  thức:  phỏng  vấn,  phản ánh - 00060000746 nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ Ở Đại học quốc gia hà nội = research and development in media productions for science and technology communication at vietnam national
nh thức: phỏng vấn, phản ánh (Trang 35)
Hình khối - 00060000746 nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ Ở Đại học quốc gia hà nội = research and development in media productions for science and technology communication at vietnam national
Hình kh ối (Trang 41)
2. Hình thức thể hiện các chuyên mục - 00060000746 nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ Ở Đại học quốc gia hà nội = research and development in media productions for science and technology communication at vietnam national
2. Hình thức thể hiện các chuyên mục (Trang 46)
Hình  liên - 00060000746 nghiên cứu xây dựng cơ sở thực tiễn và phát triển một số sản phẩm truyền thông về khoa học và công nghệ Ở Đại học quốc gia hà nội = research and development in media productions for science and technology communication at vietnam national
nh liên (Trang 83)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm