00060000758 xây dựng sổ tay khái niệm và từ khóa trong công nghệ giáo dục = building a handbook of concepts and keywords in educational technology
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài:
XÂY DỰNG SỔ TAY KHÁI NIỆM VÀ TỪ KHÓA
TRONG CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
Mã số đề tài: QG.20.04 Chủ nhiệm đề tài: Lâm Thị Hòa Bình
Hà Nội - 2022
Trang 2DANH SÁCH CÁC SẢN PHẨM CỦA ĐỀ TÀI
1 BÁO CÁO TỔNG KẾT CỦA ĐỀ TÀI
2 MINH CHỨNG CÁC BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ (CÓ GHI CHÚ TÀI TRỢ)
3 BÁO CÁO TỔNG HỢP CỦA ĐỀ TÀI
Trang 31
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài:
XÂY DỰNG SỔ TAY KHÁI NIỆM VÀ TỪ KHÓA
TRONG CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
Mã số đề tài: QG.20.04 Chủ nhiệm đề tài: Lâm Thị Hòa Bình
Hà Nội - 2022
Trang 42
1.1 Tên đề tài
Xây dựng sổ tay khái niệm và từ khóa trong công nghệ giáo dục
Tên tiếng Anh: Building a handbook of concepts and keywords in educational technology
1.2 Mã số: QG.20.04
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
TT Chức danh, học hàm, học
vị, họ và tên Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 TS Lâm Thị Hòa Bình Khoa tiếng Anh Chủ trì đề tài
2 PGS.TS Lâm Quang Đông Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài Ủy viên
5 TS Tôn Quang Cường Trường Đại học giáo dục Ủy viên
từ tháng 04 năm 2020 đến tháng 04 năm 2022
Đề tài Xây dựng Sổ tay khái niệm và từ khóa CNGD được phát triển lên từ nhiệm vụ KHCN được ĐHQGHN giao cho nhóm nghiên cứu (trường Đại học Ngoại ngữ) từ tháng 6.2019 để
biên soạn Sổ tay công nghệ giáo dục đáp ứng yêu cầu cấp thiết trong học tập và nghiên cứu
trong ĐHQGHN Phiên bản đầu tiên của Sổ tay được bàn giao cho ĐHQGHN ngày 8 tháng 10 năm 2019 với 329 mục từ Để có được đóng góp cao hơn về mặt lý thuyết, đề tài được nhóm tác giả đề xuất và được hội đồng thẩm định thông qua (có chỉnh sửa) tháng 9.2019 Ngày 9 tháng 4 năm 2020, đề tài được chính thức phê duyệt thông qua quyết định số 1110/QĐ-ĐHQGHN Trong thời gian trên, nhóm nghiên cứu liên tục triển khai các hoạt động nghiên cứu, đào tạo để kịp tiến độ công việc nhằm đáp ứng thời hạn thực hiện đề tài được duyệt (1 năm) Điều này lý giải cho hoạt động đào tạo Thạc sĩ được thực hiện từ tháng 12 năm 2019
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân;
Trang 53
Ý
kiến của Cơ quan quản lý)
Không thay đổi
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 200 triệu đồng
Trang 64
PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Viết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:
Sự hiện diện của công nghệ trong các hệ thống giáo dục đã tạo ra một cuộc cách mạng không chỉ ở phương pháp mới, kĩ thuật khai thác thông tin và quản lí giáo dục tiên tiến mà còn tạo ra nhiều thay đổi trong quan niệm về giáo dục với đường hướng giáo dục hiện đại Mức độ tích hợp của công nghệ thông tin trong các công cụ dạy học, phương pháp, kĩ thuật kết hợp nội dung giảng dạy được thiết lập trong không gian tương tác đa chiều giữa người học, người dạy trong môi trường học thuật đa dạng ngày càng cao, dần thay thế những phương thức và nội dung dạy-học lỗi thời Hơn nữa, nguồn tri thức vô hạn từ các phương tiện đa truyền thông liên tục kết nối đang từng ngày thay đổi nhận thức và cách thức tiếp cận tri thức của người dạy và người học Tất cả những hoạt động giáo dục trên được phản ánh rõ nét nhất qua hệ thống khái niệm mới trong CNGD Việc nắm bắt tri thức trong CNGD hiện đại trở nên vô cùng cấp thiết trong việc mở ra cánh cửa của giáo dục thời đại số
Ở Việt Nam, Nghị quyết 29-NQ/TW của chính phủ ngày 4.11.2013 đã đề ra giải pháp căn bản trong đổi mới giáo dục đại học đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo, quản lí giáo dục và tăng cường hoạt động khoa học công nghệ Ngày 25.1.2017, Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số 117/QĐ-TTg phê
duyệt đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và hỗ trợ các hoạt động
dạy-học, nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2020, định hướng đến 2025” Ngày 15.1.2019, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Đề án
“Nâng cao chất lượng giáo dục đại học giai đoạn 2019-2025”, trong đó nhấn mạnh đến việc
tăng cường hoạt động khoa học công nghệ phục vụ đổi mới công tác giảng dạy, quản lí đào tạo
và chuyển giao công nghệ Những căn cứ pháp lí trên góp phần khẳng định tầm quan trọng của
Trang 7và ngày càng lớn mạnh trong giáo dục đa ngành Những quan niệm khác nhau về CNGD được thể hiện qua nhiều nghiên cứu, đặc biệt là từ điển, bách khoa thư và sổ tay từ vựng
Nghiên cứu về từ vựng trong CNGD cho thấy các từ và thuật ngữ liên quan đến CNGD được đề cập đến một phần trong các từ điển giáo dục vài thập kỷ gần đây (Wallace, 2015; Collins & O’Brien, 2003; Phillips, 2014),… Tuy nhiên, nhiều kiến thức về công nghệ trong giáo dục chỉ có thể tìm thấy trong các từ điển công nghệ máy tính loại đơn ngữ hoặc song ngữ (Rigdon, 2016; Đông Yên & Lương Tấn Lực, 2016 ; Pyper, 1989; Philipsborn, 1994), hoặc các từ điển trực tuyến về công nghệ máy tính Trong số các tài liệu tiếng nước ngoài chuyên nghiên cứu về CNGD cần kể đến từ điển giấy các trang thông tin, từ điển mạng, bách khoa thư trực tuyến (Malik & Pandith, 2011; Rather, 2004), đặc biệt là các ấn phẩm nghiên cứu khái
niệm và thuật ngữ trong CNGD của Ellington & Race (1993 & 2005), Hackbarth (1996);
Ottenbreit-Leftwich & Kimmons, 2020, Kovalchick & Dawson, 2004; Spector (2015)
Nhìn chung, các sách về từ vựng trong CNGD đều tập hợp thuật ngữ, khái niệm liên quan đến các hoạt động giáo dục, lí thuyết giáo dục, tích hợp giáo dục-công nghệ-nội dung dạy học (TPACK), các vấn đề về quản lí giáo dục và công nghệ, kể cả về mặt pháp lí lẫn quy phạm trong giáo dục trực tuyến Điều này phần nào cho thấy tính chất liên ngành giữa hoạt động giáo dục, nghiên cứu giáo dục cũng như việc tích hợp công nghệ trong giáo dục dưới một tên gọi chung là CNGD
Một điều đáng lưu ý là các từ điển và bách khoa thư CNGD thường không chứa nhiều mục từ (300-400 mục từ) và thiên về mảng giáo dục hơn là công nghệ ứng dụng trong giáo dục Liên quan đến công nghệ, các sách và từ điển trên cũng chú trọng đến cách thức quản lí công nghệ trong giáo dục hơn là kĩ thuật và công nghệ được sử dụng trong ngành
Trong khi đó, ở Việt Nam, thuật ngữ CNGD được biết đến từ cuối thập kỉ 70 nhưng được chính thức tiếp cận sau năm 1992 thông qua một số nghiên cứu của các tác giả như Hồ Ngọc Đại (1994, 1995, 2006,…), Nguyễn Cảnh Toàn (2002), Phạm Quang Tiến (2008, 2011),
Trang 86
Ngô Anh Tuấn (2012),… Các nghiên cứu lí thuyết về CNGD trong nước hạn chế về mặt số lượng, chủ yếu tập trung vào công nghệ dạy học và ứng dụng công nghệ dạy học vào các bối cảnh dạy học cụ thể Trong hầu hết các nghiên cứu, CNGD được xem xét trên phương diện “tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học bằng một quy trình kĩ thuật được xử lí bằng giải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sư phạm” (Hồ Ngọc Đại, 1994) Các khái niệm về CNGD hiện đại ít được cập nhật hoặc làm rõ Do đó, mảng tư liệu về CNGD như sách, từ điển và sổ tay hầu như còn trống Cuốn sách Từ điển giáo dục học (Bùi Hiền, 2001) cung cấp thông tin sơ lược về giáo dục nhưng hầu như ít đề cập đến công nghệ giáo dục hiện đại
Từ góc độ nghiên cứu CNGD trong và ngoài nước, có thể đánh giá một số điểm nổi bật trong nghiên cứu từ vựng trong CNGD như sau:
- Sự chênh lệch rõ rệt về số lượng các nghiên cứu về CNGD trong nước và nước ngoài thể hiện tình trạng thiếu thông tin về lĩnh vực này ở các nghiên cứu trong nước
- Tồn tại khoảng trống khá lớn về số lượng tài liệu nghiên cứu CNGD trong nước, trong
đó có các tài liệu mang tính chất xương sống như từ điển, sổ tay thuật ngữ và khái niệm CNGD
- Tính một chiều trong quan niệm về CNGD của các nghiên cứu CNGD trong nước ở cả quy mô lớn và nhỏ
- Các sách và từ điển CNGD của nước ngoài chưa đáp ứng được nhu cầu tra cứu từ ngữ và khái niệm của đại đa số số người Việt do đều viết bằng tiếng nước ngoài
- Các sổ tay và từ điển CNGD nước ngoài thể hiện phương diện nghiên cứu khá rộng về CNGD, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lí công nghệ về mặt pháp lí Trong khi đó, các mảng từ liên quan đến thao tác công nghệ trong giáo dục ít được đề cập Trên thực tế, đây là mảng từ vựng rất quan trọng đối với nghiên cứu giáo dục nói chung ở Việt Nam trong quá trình tìm hiểu, lĩnh hội và phát triển CNGD đa ngành, đa lĩnh vực
- Các sách, cẩm nang, từ điển và bách khoa thư về CNGD bằng tiếng Anh thường trình bày theo hướng giới thiệu vấn đề và cung cấp lượng thông tin khá lớn trên mỗi một mục
từ (Mỗi mục từ được trình bày và diễn giải trong vài trang sách) Do đó, việc lọc, xử lí thông tin để hiểu nhanh khái niệm hoặc từ khóa mất nhiều thời gian, công sức, nhất là đối với các khái niệm chuyên ngành
Thực trạng nghiên cứu CNGD cho thấy để đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục ở Việt Nam theo hướng hiện đại và mang tính quốc tế, cần phải đẩy mạnh các nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực CNGD, giúp các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước tiếp cận với quan niệm và
Trang 97
các hoạt động CNGD hiện đại một cách toàn diện, hệ thống và hiệu quả Chính vì vậy, nghiên cứu phạm vi từ vựng trong CNGD là việc làm cấp thiết trước mắt hiện nay ở Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ tình hình nghiên cứu CNGD trong nước và nước ngoài, trên cơ sở phân
tích thực trạng nghiên cứu CNGD trong nước, đề tài xác định mục tiêu xây dựng sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, tra cứu từ vựng CNGD tiếng Anh
và tiếng Việt cũng như tìm hiểu các ứng dụng tích hợp công nghệ trong giảng dạy đa ngành (TPACK) Để thực hiện mục tiêu đề ra, ngay từ thuyết minh được phê duyệt, đề tài đã xác định
rõ các vấn đề cần nghiên cứu, gồm:
1 Tìm hiểu khái niệm CNGD và phạm vi ngôn ngữ trong CNGD
2 Xác định các tiêu chí hình thức (cấu trúc vĩ mô) của sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD
3 Xác định các tiêu chí nội dung (cấu trúc vi mô) của sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD
4 Xây dựng hệ thống từ khóa và khái niệm trong Sổ tay CNGD
Nghiên cứu sử dụng 3 nhóm tư liệu cơ bản gồm tài liệu, sách nghiên cứu về từ điển học bằng tiếng Anh và tiếng Việt làm cơ sở cho việc xác định tiêu chí nội dung cũng như hình thức của sổ tay Bên cạnh đó, các sách, bài báo, cẩm nang, từ điển, bách khoa thư về giáo dục, công nghệ thông tin và CNGD cũng được dùng làm tư liệu tham khảo để xây dựng và triển khai các mục từ Nhóm tài liệu nghiên cứu về CNGD và phạm vi hoạt động của CNGD được sử dụng làm cơ sở lí thuyết cho việc xây dựng hệ thống mục từ và các từ đầu mục Ngoài ra, các danh sách từ vựng và khái niệm liên quan đến CNGD trong các tài liệu, sách tham khảo và từ điển mạng cũng được chú trọng để đảm bảo kiến thức thu thập đủ bao quát về cả lí thuyết lẫn hoạt động trong lĩnh vực này
3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD được tiến hành trên cơ
sở vận dụng lý thuyết đề xác định phạm vi từ khóa, từ đó thiết lập hệ thống từ khóa theo từng mảng, từng lĩnh vực hoạt động của ngành Để thực hiện điều đó, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
1- Phương pháp tổng hợp lí thuyết
Phương pháp tổng hợp lí thuyết được thực hiện thông qua việc đọc và tổng hợp các quan niệm
từ các nghiên cứu, các sách, báo về CNGD và cách xây dựng sổ tay từ và khái niệm Trong quá
Trang 108
trình nghiên cứu biên soạn Sổ tay, chúng tôi đã tham khảo trên 50 tài liệu, sách, báo và hơn 400 trang web khác nhau, đưa vào mục tài liệu tham khảo có liên quan 48 tài liệu và 383 trang web Việc nghiên cứu các tài liệu này một mặt giúp tập hợp các quan niệm, hình thành nội dung xương sống của Sổ tay, từ đó xác định được phạm vi nghiên cứu của CNGD; mặt khác giúp tìm hiểu cách thức và hình thức biên soạn sổ tay song ngữ trong lĩnh vực CNGD, hỗ trợ thu thập và phân nhóm tư liệu theo từng mảng nghiên cứu cụ thể Quá trình tổng hợp lí thuyết còn giúp xác định nội hàm của những cụm từ và thuật ngữ tương đương trong CNGD, so sánh các quan niệm
để tập hợp thông tin đầy đủ, gần gũi và dễ hiểu của mỗi mục từ đối với các độc giả cả trong và ngoài ngành
2- Phương pháp chuyên gia (expert judgement)
Phương pháp chuyên gia được đề cập trước hết bởi sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD
đòi hỏi sự tổng hợp tri thức từ nhiều ngành khoa học như giáo dục, ngôn ngữ học, tâm lí học và công nghệ thông tin Trong nghiên cứu này, phương pháp chuyên gia được sử dụng ở nhiều giai đoạn đầu và cuối của quá trình nghiên cứu Trong giai đoạn đầu, các chuyên gia giúp xác định nguồn tư liệu có thể khai thác trước khi áp dụng các tiêu chí cụ thể hơn để phân loại và lựa chọn tư liệu phù hợp Trong giai đoạn thứ hai, với sự hỗ trợ của các chuyên gia, việc phân tích
và lựa chọn các đơn vị từ ngữ theo phân ngành trong CNGD được tiến hành khoa học và chính xác Cuối cùng, sau khi hoàn thiện, Sổ tay cần có sự đánh giá từ góc độ khoa học của các chuyên gia có chuyên môn sâu về công nghệ, giáo dục, dịch thuật, ngôn ngữ, từ điển học để có thể bổ sung, chỉnh lí và hoàn thiện nội dung cuối cùng
3- Phương pháp phân tích ngữ liệu (Corpus method/ Corpus linguistics method)
Phương pháp phân tích ngữ liệu (Corpus method) được ứng dụng trong lĩnh vực ngôn ngữ học, đặc biệt là từ điển học, giúp thực hiện các phân tích thống kê trên một khối lượng lớn
dữ liệu ngôn ngữ (ngôn bản/văn bản) để nghiên cứu các đặc điểm của tập hợp ngôn ngữ Trong quá trình biên soạn Sổ tay, chúng tôi sử dụng phương pháp này để thống kê danh mục từ vựng cũng như tần số của chúng trong tập hợp văn bản đưa vào xử lý, tìm kiếm, xác định vị trí và truy xuất từ, cụm từ và các khái niệm tương ứng trên mỗi văn bản Phần mềm phân tích AntConc 3.5.9 được sử dụng để thực hiện công việc này
4- Thủ pháp thống kê ngôn ngữ (linguistic statistics)
Thủ pháp thống kê ngôn ngữ được áp dụng trên cơ sở ngữ liệu đã thu thập để thống kê mức độ
sử dụng của các đơn vị từ vựng trong CNGD và các lĩnh vực có liên quan Trên cơ sở định lượng được các đơn vị từ vựng, đề tài tiến hành lựa chọn từ ngữ và khái niệm phù hợp với tiêu
Trang 119
chí đề ra Thủ pháp thống kê ngôn ngữ được tích hợp trong phương pháp phân tích ngữ liệu (corpus linguistics method) và là một bước trong quá trình xử lí ngôn ngữ tự nhiên Trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa vào phân tích 12 tài liệu gồm danh sách từ vựng, từ điển nhỏ, bách khoa thư trong lĩnh vực giáo dục, công nghệ và CNGD với tổng số hiện dạng1 là 368.397,
số dạng từ2 là 14.616 Trên cơ sở tần số xuất hiện của dạng từ, chúng tôi lựa chọn các đơn vị thực từ, bỏ qua nhóm có tần số cao nhất thường là các hư từ (từ chức năng trong tiếng Anh) Kết hợp phương pháp phân tích ngữ liệu, phương pháp chuyên gia và phương pháp tổng hợp lí
thuyết, Sổ tay định hình số lượng từ vựng chuyên ngành CNGD gồm 980 mục từ như hiện nay
4 Tổng kết kết quả nghiên cứu
4.1 Về cơ sở lí luận của nghiên cứu
4.1.1 Khái niệm về CNGD
Đề tài tổng kết nhiều quan niệm về CNGD, từ các quan niệm ban đầu liên quan đến giao tiếp và giảng dạy theo hình thức nghe-nhìn (Ely, 1963; Morgan 1978; Reiser, 1987) đến quan niệm về hỗ trợ học tập thông qua việc tổ chức và sử dụng một cách hệ thống các tài nguyên học tập và quản lí các quá trình đó (AECT3, 1972; Mitchell, 1972) Từ góc độ hệ thống,
phạm vi của CNGD được mở rộng, vượt ra ngoài mục tiêu giảng dạy cụ thể và là “một quá trình phức tạp và tích hợp liên quan đến con người, quy trình, ý tưởng, thiết bị và tổ chức để phân tích vấn đề, hoạch định, thực hiện, đánh giá và quản lí giải pháp cho các vấn đề đó, liên quan đến mọi phương diện của việc học tập của con người” (AECT, 1977) Cũng theo quan
niệm này, CNGD được mô tả quá trình phát triển và quản lí học tập sử dụng việc thiết kế và đánh giá giảng dạy (Banathy, 1996; Michell, 1972; Plomp & Pals, 1989) tập trung ở ba phương diện: i) các phương tiện kĩ thuật được phát triển để hỗ trợ quá trình giảng dạy và học tập; ii) các quá trình được sử dụng cho phát triển, thiết kế và đánh giá giảng dạy; iii) lí thuyết tổng hợp để phân tích và giải quyết các vấn đề trong ngữ cảnh cụ thể từ nhiều phương diện và mối tương quan
Một số nghiên cứu khác về CNGD cũng hướng tới việc bao quát toàn bộ hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập cả về phương diện lí thuyết và thực hành trên cơ sở tài
1 Hiện dạng (token): sự xuất hiện của một dạng hay một đơn vị từ vựng trong một văn bản, một nhóm dữ liệu hoặc trong một đoạn hội thoại (Gardner, 2013)
2 Dạng từ/ Kiểu từ (word type): một hoặc một số ký tự đứng gần nhau tạo thành một từ riêng biệt (Gardner, 2013) Trong nghiên cứu định lượng ngôn ngữ, số dạng từ phân biệt với số hiện dạng ở số lượng các đơn vị từ vựng khác nhau (Lâm Thị Hòa Bình, 2017)
3 AECT (Association of Educational Communications and Technology): Hiệp hội thông tin và công nghệ giáo dục Hoa Kỳ
Trang 1210
nguyên công nghệ (Richey, Silber & Ely, 2008; Januszewski & Molenda, 2008) hoặc đề cập đếnsự phát triển, ứng dụng và đánh giá các hệ thống, kĩ thuật và trợ giúp trong lĩnh vực dạy và
học (IGNOU, 2009: 5) Ngoài ra, việc tiếp cận CNGD từ góc độ giáo dục chuyên ngành cũng
được quan tâm như phương pháp giảng dạy, tâm lí giáo dục, công nghệ giao tiếp, công nghệ máy tính,… (Arun Lakhana, 2014; Hlynka & Jacobsen, 2009, Dusek, 2006; Hickman, 2001)
Từ các khái niệm về CNGD đã nêu trên, có thể thấy khái niệm CNGD cần được nhìn nhận một cách khái quát không chỉ từ góc độ “kĩ thuật công nghệ” (thiết bị, phương tiện truyền thông, phần mềm) dành cho giáo dục (technology for education) mà còn từ góc độ “tri thức công nghệ” (kiến thức, phương pháp, tư duy sáng tạo) trong lĩnh vực giáo dục (technology of education) Các phương diện trên được khái quát qua định nghĩa CNGD của Michael Brückner (2015) “C ông nghệ giáo dục đề cập đến tất cả các khoa học giáo dục hợp lệ và đáng tin cậy như thiết bị, các quy trình, thủ tục đúc rút từ nghiên cứu khoa học và trong bối cảnh nhất định,
có thể là các quy trình lí thuyết, thuật toán hoặc kinh nghiệm CNGD không nhất thiết phải chỉ đến các công cụ công nghệ hữu hình” (Michael Brückner 2015:1)
4.1.2 Phạm vi nghiên cứu của CNGD
Trên cơ sở các quan niệm về CNGD, đặc biệt là khái niệm của AECT năm 2007 và
Brückner (2015), có thể thấy CNGD được xem xét từ hai phương diện công nghệ được sử dụng trong giáo dục và hỗ trợ các hoạt động giảng dạy và học tập (technology in education), và công nghệ thuộc về giáo dục (technology of education)
Công nghệ trong giáo dục là công nghệ được sử dụng để hỗ trợ giáo dục Giống như việc áp dụng công nghệ vào các lĩnh vực nghiên cứu, chế tạo hay sản xuất sản phẩm, công nghệ trong giáo dục tác động đến nhiều phương diện của quá trình dạy học, từ giảng dạy đến các hoạt động có liên quan tới giáo dục, gồm:
- Công cụ, máy móc, thiết bị là phần cứng vật lí như: máy tính, máy tính bảng, máy chiếu, các công cụ giảng dạy, các thiết bị kết nối, truyền dẫn thông tin,…
- Công cụ phần mềm bao gồm các phần mềm dạy học, chương trình máy tính, các hệ thống quản lí dạy-học trên máy tính hoặc trực tuyến, hệ thống quản lí tài nguyên số, quản trị giáo dục,…
- Hướng dẫn, đào tạo, trợ giúp các hoạt động giáo dục và quản lí giáo dục trên các hệ thống trang thiết bị nói trên
Công nghệ thuộc về giáo dục, không phải là yếu tố đưa vào từ bên ngoài Nó chính là hệ thống cách thức tiếp cận các vấn đề của giáo dục Công nghệ thuộc về giáo dục nằm trong thiết
Trang 1311
kế, đánh giá hệ thống học tập, bao gồm hiểu biết về phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá, tâm lí giáo dục, lí thuyết truyền thông và thông tin được sử dụng làm căn cứ cho việc thực hành giảng dạy sử dụng các phương tiện, hình thức cho phép giáo viên khai thác kĩ năng một cách hiệu quả, áp dụng rộng rãi để truyền thụ và tiếp thu tri thức
4.1.2 Phạm vi ngôn ngữ và từ khóa trong CNGD
Khái niệm “từ khóa” được xác định trên cơ sở kết hợp quan niệm từ hai lĩnh vực ngôn
ngữ và công nghệ Từ góc độ ngôn ngữ, từ khóa được từ điển Oxford định nghĩa là “từ hoặc khái niệm có ý nghĩa quan trọng” Từ góc độ công nghệ, từ khóa được hiểu là “một từ hay một cụm từ gắn với tài liệu hoặc mô tả nội dung của một tài liệu, như trong tìm kiếm mạng máy tính” (Từ điển Collins, 2022) Do đó, xét về hình thức, từ khóa có thể là các từ, cụm từ thường
được sử dụng để biểu đạt một khái niệm, sự vật hoặc hoạt động trong lĩnh vực đang nghiên cứu Xét về mặt ý nghĩa, các đơn vị từ vựng này có vị trí quan trọng trong văn bản ngành và mang nghĩa (hoặc nét nghĩa) đặc trưng của chuyên ngành Trong lĩnh vực CNGD, các từ khóa thể hiện nghĩa đặc thù ở hai mảng nghiên cứu là giáo dục và công nghệ Tuy nhiên, nếu đi sâu hoạt động ở mỗi mảng còn rất nhiều vấn đề ở nhiều lĩnh vực có liên quan
Các ấn phẩm nghiên cứu từ vựng chuyên ngành cho thấy phạm vi ngôn ngữ của một chuyên ngành được quyết định bởi phạm vi nghiên cứu của chuyên ngành đó Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là toàn bộ từ vựng chỉ các hoạt động trong lĩnh vực này đều được đưa vào các ấn phẩm như từ điển hoặc sổ tay từ vựng của ngành Tùy vào phạm vi nghiên cứu và mục đích biên soạn mà các từ vựng được lựa chọn Tuy nhiên, chắc chắn là để có một ấn phẩm nghiên cứu về từ vựng một cách đầy đủ và bao quát, các từ điển và sổ tay từ vựng chuyên ngành đều cần xây dựng một hệ thống mục từ chi tiết chia theo một hình thức nào đó
Đối với nghiên cứu từ vựng trong CNGD cũng vậy Hệ thống từ vựng mà nghiên cứu
này hướng đến là các từ khóa là các từ, cụm từ hoặc khái niệm có ý nghĩa quan trọng phản
ánh các phương diện mà CNGD đề cập, cụ thể hóa hai mảng nghiên cứu chính là giáo dục và công nghệ thông qua việc chi tiết hóa các hoạt động cụ thể hơn của mỗi lĩnh vực Nói một cách cụ thể, Sổ tay được thiết kế dưới dạng từ điển với mục từ là các từ khóa kèm khái niệm (ở phần đầu) và các từ khóa tiếng Anh ứng với tiếng Việt hoặc ngược lại ở phần 2 và 3 Từ khóa (mục từ) của Sổ tay tập hợp các danh từ, các cụm danh từ hoặc cụm tính từ mô tả khái niệm, phương pháp, kĩ thuật dạy học hoặc kiểm tra đánh giá, các đối tượng, chức danh, tên các đơn vị hoặc tổ chức trong bộ máy quản lí giáo dục Trong mảng nghiên cứu về công nghệ,
Trang 1412
tên của các phần mềm hoặc chương trình công nghệ được đưa vào để làm rõ chức năng và hoạt động của chúng Từ khóa được đưa vào trong Sổ tay được sắp xếp theo hệ thống như sau: 1- Các đơn vị từ vựng liên quan đến hoạt động giáo dục:
• Từ ngữ dùng để mô tả các kĩ thuật phương pháp dạy học
• Từ ngữ chỉ công cụ, giáo cụ trực quan, máy móc, tài liệu giảng dạy, học tập
• Từ ngữ chỉ các sản phẩm học tập, nghiên cứu, ghi nhận và đánh giá thành tích trong hoạt động học tập
• Từ ngữ chỉ các đối tượng tham gia ra vào quá trình dạy-học, quản lí học tập hỗ trợ các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu
• Từ ngữ chỉ không gian, môi trường diễn ra các hoạt động dạy-học
• Tên các học thuyết, lí thuyết thường được sử dụng để nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, áp dụng tạo ra sự thay đổi trong phương pháp dạy học Những hoạt động nghiên cứu lí thuyết này không chỉ nằm trong lĩnh vực giáo dục được sử dụng trong nhiều ngành mang tính triết lí, nhân sinh, tâm lí, văn hóa,,
2- Các đơn vị từ vựng liên quan đến công nghệ:
• Từ ngữ để gọi tên các phần mềm, các chương trình xử lí về công nghệ, các thành tựu về công nghệ ứng dụng trong giáo dục
• Từ ngữ mô tả một số kết cấu hoặc bộ phận kĩ thuật, các hoạt động, thao tác và vận hành chương trình máy tính, từ ngữ trong các giao diện hoặc chương trình phần mềm
• Từ ngữ về công nghệ thông tin, truyền thông
Do việc ứng dụng công nghệ rộng rãi trong giáo dục mà nhiều từ khóa, khái niệm được
sử dụng chung nên khó phân biệt rạch ròi từ khóa nào hoàn toàn thuộc về công nghệ và từ khóa nào chỉ thuộc về giáo dục Mặc dầu vậy, việc phân mảng bên trong Sổ tay sẽ giúp người đọc trong và ngoài ngành giáo dục hình dung rõ ràng hơn về hệ thống nghiên cứu và hoạt động giáo dục cũng như các hoạt động công nghệ tương ứng
4.2 Về tiêu chí vĩ mô của Sổ tay CNGD
Căn cứ vào định nghĩa từ điển học và định hướng biên soạn Sổ tay khái niệm và từ khóa CNGD (sau đây được gọi tắt là Sổ tay), chúng tôi xác định Sổ tay có cấu trúc căn bản của một
từ điển giải thích cỡ nhỏ thống kê từ và cụm từ, được sắp xếp theo chủ đề và thứ tự chứ cái, cung cấp từ ngữ tương đương ở một ngôn ngữ khác (tiếng Anh), giải nghĩa hoặc đưa ra thông tin để giải nghĩa các từ ngữ đó
Trang 1513
4.2.1 Cấu trúc vĩ mô trong tổ chức mục từ
Cấu trúc vĩ mô thể hiện danh sách và tổ chức các đơn vị từ vựng được đưa vào trong từ
điển Nói một cách đơn giản như Bejoint (2000: 11), cấu trúc vĩ mô “tương tự như danh sách từ (wordlist) trong tiếng Anh” Cấu trúc vĩ mô của các ấn phẩm dạng thức từ điển có thể được sắp
xếp theo thứ tự chữ cái, theo chủ đề, hoặc theo thời gian (R Hartmann & G James, 1998; R Hartmann, 2001)
Để đáp ứng tập hợp các nhóm từ ngữ đa ngành theo từng lĩnh vực trong CNGD để có thể tra cứu từ tiếng Việt và tiếng Anh tương ứng một cách nhanh chóng, Sổ tay được tổ chức thành 3 phần, tương đương với 3 từ điển thu nhỏ Ở mỗi phần, danh sách từ khóa và khái niệm (gồm 980 mục từ) được sắp xếp theo trật tự khác nhau
Phần thứ nhất thể hiện tổ chức ghép, phân chia danh sách từ vựng theo chủ đề Ở mỗi chủ đề được phân chia thành 2-3 tiểu chủ đề, trong đó, các mục từ được sắp xếp theo thứ tự chữ cái Cách phân chia này thể hiện rõ sự phân nhánh về tri thức trong các lĩnh vực mà Sổ tay đề cập Tổ chức theo chủ đề và tiểu chủ đề tạo ra khung kiến thức từ vựng mà Sổ tay khai thác và đảm bảo các yếu tố bổ sung hay điều chỉnh trong các tiểu mục không làm ảnh hưởng đến kết cấu chung cả về hình thức lẫn nội dung tri thức của Sổ tay Nhiều từ điển, sổ tay, cẩm nang và bách khoa thư chuyên ngành bằng tiếng Anh hiện nay cũng sử dụng kết cấu này (Ellington, 1993; Steven Hackbarth, 1996; Ottenbreit-Leftwich & Kimmons, 2020;…)
Trong phần thứ hai của Sổ tay, 980 mục từ là các từ khóa được sắp xếp theo trật tự chữ cái tiếng Anh, giống như cấu trúc của các từ điển thuật ngữ Tổ chức từ khóa theo thứ tự chữ cái đáp ứng mục tiêu tra cứu nhanh của đại đa số độc giả, đặc biệt là nhóm độc giả ngoài chuyên ngành Độc giả có thể tìm các từ, thuật ngữ và cụm từ tiếng Anh và nghĩa tương ứng của chúng bằng tiếng Việt một cách dễ dàng
Phần thứ ba của Sổ tay sắp xếp các mục từ theo trật tự chữ cái tiếng Việt, hỗ trợ dịch ngược sang tiếng Anh Đối với các đối tượng học sinh, sinh viên, những người mới nghiên cứu
về CNGD, phần tra cứu này giúp tiếp cận kiến thức đơn giản và học từ vựng Việt-Anh hiệu quả
4.2.2 Cấu trúc vĩ mô về nội dung tri thức
Cấu trúc vĩ mô về hình thức của Sổ tay quan hệ chặt chẽ với cấu trúc vĩ mô về nội dung tri thức trong danh sách mục từ Để có một danh sách mục từ, trước hết cần có quan điểm hệ thống về các thành phần tri thức, tránh tình trạng mất mất cân đối hoặc tạo khoảng trống thông
Trang 1614
tin ngay từ bước đầu thu thập ngữ liệu Cấu trúc nội dung tri thức thể hiện khung tri thức cơ bản của Sổ tay về ngữ vực và hệ thống từ vựng trong phạm vi CNGD, đảm bảo từ vựng nằm trong hệ thống được tập hợp
Cấu trúc vĩ mô về nội dung tri thức được thể hiện rõ nhất ở phần 1 của Sổ tay khái niệm
và từ khóa trong CNGD Các phần 2 và 3 là tổ chức lại hệ thống này theo trình tự chữ cái
Về nguyên tắc, việc phân nhánh nội dung tri thức từ chủ đề đến các mục từ và tiểu mục trong Sổ tay cần đảm bảo tính hệ thống và logic chặt chẽ Để thực hiện nguyên tắc này, chúng tôi dựa vào định nghĩa về công nghệ giáo dục và phạm vi nghiên cứu của CNGD để xác định các nội dung chính, định hướng cho danh sách từ vựng Mỗi nội dung chính thể hiện một khối kiến thức tương đối hoàn chỉnh, bên trong bao gồm các tiểu mục được phân nhánh giúp thể hiện chi tiết các thành phần trong khối kiến thức đã xác định Dựa trên cấu trúc phân nhánh, việc biên soạn đảm bảo tính nhất quán theo định hướng ban đầu Cấu trúc này cũng giúp các nhà nghiên cứu và độc giả có thể tiếp cận phạm vi tri thức mà họ quan tâm một cách nhanh
nhất
4.2.3 Tiêu chí vĩ mô
Từ góc độ vĩ mô, việc hệ thống hóa kiến thức theo chủ đề và cơ cấu từ vựng cân đối cần được thể hiện rõ để định hướng nội dung chi tiết trong Sổ tay Do đó, tiêu chí lựa chọn mục từ cần có gồm:
Tiêu chí 1: Tiêu chí hệ thống:
Tiêu chí hệ thống xác định các mục từ trong Sổ tay nằm trong hệ thống kiến thức khoa học của CNGD và được tập hợp và thể hiện theo hệ thống sắp xếp về hình thức trong từ điển học Tính hệ thống đảm bảo sự logic giữa các cấu phần của Sổ tay và duy trì kết cấu tri thức cả trong điều kiện mở rộng phạm vi tập hợp mục từ
Tiêu chí 2: Tính trật tự, tầng bậc
Tính trật tự, tầng bậc hỗ trợ thể hiện tri thức trong từ điển một cách hệ thống Sắp xếp mục từ trong mỗi mảng hoạt động từ lớn đến nhỏ, từ hoạt động trọng tâm đến các hoạt động hỗ trợ giúp cho việc tra cứu và tìm hiểu thông tin dễ dàng hơn
Tiêu chí 3: Tính cân đối
Việc xác định số lượng mục từ trong mỗi chủ đề cần cân nhắc đến tổng số mục từ tối thiểu cần có và số lượng có thể biên soạn trong thời gian cho phép Ngoài ra, bằng việc xác
Trang 1715
định các nhóm lĩnh vực “giáo dục” và “công nghệ”, số lượng mục từ trong các chủ đề và tiểu chủ đề khi thu thập theo nhóm lĩnh vực cũng không quá chênh lệch
Tiêu chí 4: Tính ít phổ dụng trong ngôn ngữ toàn dân
Mặc dù trong nhiều ấn phẩm có hình thức từ điển thường lựa chọn các đơn vị phổ biến nhất, nhưng tập trung vào nhóm từ vựng ít phổ dụng trong ngôn ngữ toàn dân lại đảm bảo tính then chốt của các “từ khóa” và tính chất chuyên ngành của CNGD Trong giao tiếp xã hội, nhiều từ vựng hoặc thuật ngữ trong giáo dục được sử dụng quá thường xuyên, trong nhiều ngành nghề và cộng đồng giao tiếp đến mức đôi khi được “đánh đồng” trong ngôn ngữ giao
tiếp xã hội nói chung Tính ít phổ dụng trong lựa chọn các mục từ lược bớt các từ ngữ thông
thường, chỉ giữ lại các đơn vị mang kiến thức cốt lõi của CNGD, ít thông dụng hơn và chưa được giải thích nhiều trong các ấn phẩm cùng loại bằng tiếng Việt Tính ít phổ dụng thể hiện ở
tần số sử dụng và phạm vi tư liệu mà Sổ tay lựa chọn tập hợp
Tiêu chí 5: Tính hạn định
Cũng như bất kì bản ghi tri thức nào, Sổ tay cũng cần giới hạn về độ dài và mức độ khai thác thông tin, đáp ứng yêu cầu và điều kiện ban đầu Tính hạn định về mặt vĩ mô của Sổ tay thể hiện ở số lượng phân nhánh các tiểu chủ đề và mục từ Ngoài ra, từ góc độ liên ngành tri thức, tính chất này cũng đảm bảo mỗi nhánh kiến thức không phát triển quá sâu vào các chuyên
ngành hẹp
Tiêu chí 6: Tính linh hoạt
Mặc dù định hướng tập hợp từ ngữ và khái niệm theo tần số nhưng khi áp dụng các tiêu chí ít phổ dụng, tập hợp mục từ theo hệ thống tri thức, cũng như yêu cầu đảm bảo độ cân đối nhất định giữa các nhóm từ ngữ được tập hợp, cần có sự điều chỉnh nhất định Do đó, tính linh hoạt được coi là một trong những tiêu chí không thể thiếu trong quá trình lựa chọn từ và khái niệm cho Sổ tay
4.3 Tiêu chí vi mô trong biên soạn Sổ tay
Cấu trúc vi mô của từ điển là cấu trúc bên trong của mục từ, nói cách khác là sự sắp xếp
thông tin bên trong mỗi một mục từ (entry) (Jackson 2002: 26) Cấu trúc vi mô “đề cập đến
việc định dạng mục từ, cách đưa thông tin và trình bày thông tin trong từ khóa, thể hiện tính phù hợp của cấu trúc diễn ngôn của muc từ đáp ứng lợi ích của người dùng” (Hartman &
James 1998: xii) Cấu trúc này cho thấy không chỉ cách bố trí các phạm trù thông tin khác nhau
mà còn xác định cả hình thức chính tả, bao gồm kiểu chữ (typeface), cỡ chữ, dấu câu và kí hiệu
từ điển, … (Svensén 1993: 7)
Trang 1816
4.3.1 Cấu trúc thông tin của mục từ
Sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD được biên soạn như một loại từ điển chuyên ngành cỡ nhỏ chứa thông tin giải thích dưới dạng khái niệm Theo Hà Quang Năng (2013), “từ điển chuyên ngành là cẩm nang chứa đựng những miêu tả lớp từ vựng chuyên ngành của một hoặc một số ngôn ngữ”; lớp từ vựng chuyên ngành này đa phần là thuật ngữ của chuyên ngành
đó nên cần đảm bảo các nguyên tắc về phân loại, lựa chọn từ ngữ chuyên ngành, thuật ngữ
chuyên ngành riêng biệt cũng như nguyên tắc thống nhất để “miêu tả hiệu quả nhất (giải thích,
chuyển dịch) và định nghĩa các từ thuật ngữ trong từ điển chuyên ngành”
Trong phạm vi kích thước, quy mô của một từ điển chuyên ngành cỡ nhỏ, Sổ tay sẽ
không cung cấp thông tin chi tiết về ngữ âm, ngữ pháp liên quan đến mục từ, hay cách thức sử dụng từ ngữ trong câu Thay vào đó, sách tập trung vào việc giới thiệu từ ngữ và các thông tin giúp làm rõ các đối tượng mà từ ngữ đó thể hiện trong lĩnh vực công nghệ giáo dục Như vậy
mỗi mục từ tiếng Anh sẽ kèm theo từ ngữ được chuyển dịch tương đương trong tiếng Việt,
thông tin giải nghĩa và/hoặc khái niệm bằng tiếng Việt, tài liệu hoặc đường link tới các tài liệu/dẫn chứng liên quan để người đọc có thể tham khảo Các từ/ thuật ngữ Anh-Việt được in đậm để việc tra cứu được thực hiện thuận tiên hơn Các thông tin này sẽ được bố trí trên 3 cột thể hiện mục từ tiếng Anh, từ/ cụm từ tương ứng trong tiếng Việt và khái niệm, tài liệu/ đường dẫn để truy cập thông tin
4.3.2 Nội dung khái niệm trong các mục từ
Phần quan trọng nhất, hạt nhân của cấu trúc vi mô của Sổ tay, là thông tin giải thích/ khái niệm của các mục từ Các thông tin này được đặt ngay sau thuật ngữ hoặc từ khóa tiếng Việt tương đương và tùy thuộc vào tính chất của từ khóa hay thuật ngữ để có cách lí giải phù hợp Trong đề tài, chúng tôi áp dụng lí thuyết về thuật ngữ và khái niệm đối với thuật ngữ của
các nhà nghiên cứu Moixeev (1978), Nguyễn Thiện Giáp (1998), Đỗ Hữu Châu (1998), Nguyễn Đức Tồn (2012); Hà Quang Năng (2013) để xác định cách thức đưa ra khái niệm đối với 7 nhóm mục từ dựa trên tính chất và đặc điểm của mỗi nhóm
4.3.3 Tiêu chí vi mô
Trên cơ sở tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt trong ngôn ngữ và nghĩa của các
từ khóa trong Sổ tay, tiêu chí vi mô của Sổ tay được xác định cho cả 3 yếu tố nội dung của mục
từ gồm từ khóa tiếng Anh, từ khóa tương ứng trong tiếng Việt, khái niệm và tham chiếu trong
và ngoài của mục từ Tiêu chí vi mô được áp dụng cho cả nội dung và hình thức trình bày của nội dung mục từ
Trang 19Tiêu chí 2: Tính nhất quán
Trong thể hiện ngôn ngữ, tính nhất quán được đặc biệt chú trọng bởi nó đảm bảo tư duy
hệ thống trong nhận diện kiến thức chuyên ngành về mặt ngôn ngữ, tránh hiện tượng sử dụng quá nhiều diễn đạt khác nhau cho một từ khóa, hoặc thuật ngữ Tính nhất quán cũng giúp đảm bảo sự thống nhất trong sử dụng ngôn từ trong dịch thuật chuyên ngành Ngoài ra, nhất quán trong trình bày về hình thức cũng là một tiêu chí cần xác lập để đảm bảo sự thống nhất trong trình bày văn bản, nội dung, các tham chiếu trong và ngoài của mục từ
Tiêu chí 3: Tính ngắn gọn, hàm súc
Sử dụng ngôn ngữ ngắn gọn, hàm súc là đặc điểm cơ bản cần có khi diễn đạt thuật ngữ
và khái niệm Tính chất này đảm bảo thông tin truyền đạt mang tính khoa học, không dài dòng,
đủ cô đọng để có thể tiếp thu một cách nhanh chóng Tiêu chí ngắn gọn cũng giúp hạn chế lượng từ vựng trong thể hiện nội dung cần truyền đạt, đồng thời mang lại sự cân đối trong trình bày các mục từ trong Sổ tay
Tiêu chí 4: Tính ph ù hợp
Tính phù hợp được đặt ra với mục dích định hướng tri thức trong lựa chọn từ vựng, nghĩa tiếng Việt và khái niệm của mỗi mục từ Trong CNGD, sự gắn kết công nghệ trong giáo dục được thể hiện khá nhiều mảng tri thức Khi lựa chọn nghĩa tiếng Việt cũng như diễn tả khái niệm cần xác định rõ nghĩa chính thể hiện ở mảng nào trong kiến thức liên ngành Việc mô tả cũng nhờ có tính phù hợp mà làm rõ các mảng nghiên cứu thể hiện trong cấu trúc vi mô
Tiêu chí 5: Tính thực dụng
Tính thực dụng đảm bảo các mục từ thể hiện đầy đủ nội dung mà nhóm độc giả mục tiêu hướng tới một cách cụ thể, rõ ràng, giảm thiểu các chi tiết về ngữ pháp, ngữ âm, hay các diễn đạt đồng nghĩa, trái nghĩa, từ nguyên,… như trong từ điển ngôn ngữ thông thường Tiêu
Trang 204.4 Hệ thống từ khóa và khái niệm trong Sổ tay CNGD
Quá trình triển khai nghiên cứu về CNGD trên thực tế cho thấy việc tiếp cận ban đầu là hoàn toàn đúng đắn Với những ứng dụng của công nghệ đối với các mảng hoạt động của giáo dục đã tạo ra mối liên hệ mật thiết giữa giảng dạy, nghiên cứu giáo dục và quản lý giáo dục với công nghệ Nhiều hoạt động giáo dục, nghiên cứu và quản lý giáo dục đã sử dụng công nghệ và nhờ công nghệ mà thay đổi, phát triển, tác động trở lại công nghệ, điều chỉnh công nghệ phục
vụ hiệu quả các hoạt động đặc thù trong giáo dục Chính vì vậy, ngôn ngữ thể hiện các hoạt động giáo dục và công nghệ được xây dựng tương ứng hỗ trợ cho hoạt động đó có nhiều điểm tương đồng cả về cách gọi lẫn ý nghĩa Hơn thế nữa, quá trình này vẫn luôn tiếp diễn Sự tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến những thay đổi để cùng tồn tại và phát triển giữa công nghệ và giáo dục Điều này phản ánh rõ qua nội dung của các mục từ
Trang 2119
Hình 1: Mối quan hệ giữa các mục từ trong công nghệ giáo dục
Để thể hiện rõ mối quan hệ trên, đồng thời phần nào tách biệt giữa các phạm vi nghiên cứu ứng với các đối tượng nghiên cứu trong giáo dục, chúng tôi sắp xếp lại các mục từ theo trật tự từ các hoạt động dạy-học đến các hoạt động nghiên cứu và quản lý giáo dục và chi tiết hóa thành các tiểu mục Các từ khóa liên quan đến công nghệ đưa vào giáo dục bao gồm từ chỉ phương tiện kĩ thuật, các hoạt động thao tác và xử lý công nghệ cùng các phần mềm và ứng dụng được dùng trong giáo dục sẽ được tách thành một mảng từ riêng Cách sắp xếp này cũng giúp cho việc mã hóa theo từng cấp độ, từng phạm vi từ vựng được rõ ràng hơn
4.3 Các mục từ đã được biên soạn
Các mục từ được biên soạn căn cứ vào các nhóm hoạt động trong giáo dục gồm hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và quản lý giáo dục Bên cạnh đó là hệ thống các ứng dụng kỹ thuật và công nghệ hỗ trợ các hoạt động này Từ căn cứ trên, Sổ tay đưa ra hệ thống từ vựng như sau:
1- Các đơn vị từ vựng chỉ hoạt động giáo dục
+ Hoạt động dạy-học: gồm các hình thức dạy-học, các phương pháp, kĩ thuật dạy-học
áp dụng trong lớp học trực tiếp, trực tuyến và trong môi trường ngoài lớp học, các phương thức giao tiếp trong môi trường học tập giữa các đối tượng tham gia vào quá
trình học tập, các hoạt động học cụ thể, các đối tượng liên quan đến quá trình dạy-học + Sản phẩm dạy-học: gồm các chương trình học tập được giáo viên thiết kế phù hợp với
đối tượng học tập; tài liệu giảng dạy, môn học, các hình thức bài tập được thiết kế để
Trang 2220
phục vụ quá trình giảng dạy, các hình thức học tập, nghiên cứu mà người dạy và người học thực hiện, các kĩ năng đạt được sau quá trình đào tạo
+ Kiểm tra đánh giá: gồm các hình thức kiểm tra, đánh giá trước, trong và sau quá trình
học tập, các loại bài thi, bài kiểm tra, các tiêu chí trong kiểm tra đánh giá quá trình học tập và các sản phẩm khoa học, các hình thức tính điểm, các loại điểm số, các loại giấy
tờ, hồ sơ, chứng nhận trong kiểm tra đánh giá
2- Các đơn vị từ vựng về nghiên cứu giáo dục
+ Lí thuyết giáo dục: gồm các lí thuyết, học thuyết được sử dụng trong giáo dục, các
phương pháp và cách tiếp cận trong giáo dục, các hình thức giáo dục và nghiên cứu trong giáo dục
+ Mô hình giáo dục và các chỉ số giáo dục: gồm các mô hình giáo dục, các hình thức
đào tạo và các loại khóa học triển khai theo mô hình đào tạo, các chỉ số trong giáo dục 3- Các đơn vị từ vựng về quản lý giáo dục
+ Hệ thống, cách thức quản lí, cơ cấu tổ chức: gồm các tổ chức giáo dục quốc tế, các cơ
quan quản lí giáo dục các cấp, các đơn vị hành chính trong ngành giáo dục
+ Các bậc và loại hình đào tạo: gồm các hình thức đào tạo, các cơ sở giáo dục theo bậc
học, các hình thức tổ chức lớp học
+ Chức danh, bằng cấp, chứng chỉ: chức danh về tổ chức hành chính trong giáo dục,
chức danh khoa học, chức danh nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục, bằng cấp, chứng
chỉ ở bậc đại học và sau đại học
4- Các đơn vị từ vựng về kĩ thuật và công nghệ giáo dục
+ Phương tiện kĩ thuật, trang thiết bị: gồm các trang thiết bị hữu hình trong giáo dục,
máy móc, giáo cụ trực quan, các tính năng của trang thiết bị, công cụ (ứng dụng) và thao tác kĩ thuật trực tuyến
+ Chương trình phần mềm hoàn chỉnh: gồm tên các phần mềm đang được sử dụng phổ
biến trong giáo dục để tìm kiếm tài liệu giảng dạy, thiết kế, biên tập, chỉnh sửa nội dung giảng dạy, quản lí bài giảng, hỗ trợ tương tác trong lớp học trực tuyến và các hoạt động kiểm tra đánh giá, phản hồi,…
Trang 23Từ tiếng Anh Từ tiếng Việt
Từ ngắn *
Từ trung bình **
Từ dài ***
Từ ngắn *
Từ trung bình **
Từ dài ***
4 KĨ THUẬT VÀ CÔNG NGH Ệ GIÁO DỤC 388
4.1 Phương tiện kĩ thuật, trang thiết bị 64 54 10 0 8 37 19 4.2 Công cụ và thao tác kĩ thuật trực tuyến 218 173 43 2 24 123 71 4.3 Chương trình phần mềm hoàn chỉnh 106 102 4 0 0 5 101 (*) Từ ngắn: Từ có 1-2 thành tố
(**) Từ trung bình: Từ có 3-4 thành tố
(***) Từ dài: Từ có 5 thành tố trở lên
4.4 Hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu
Đề tài Xây dựng sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD là một nghiên cứu có tính
ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực như nghiên cứu giáo dục, sử dụng công nghệ dạy-học, giảng dạy ngoại ngữ và từ điển học
Đề tài tích hợp các phương pháp nghiên cứu lý thuyết dạy học, nghiên cứu ngôn ngữ, từ điển học, kết hợp ứng dụng công nghệ xử lý ngữ liệu để tìm kiếm, thu thập, phân loại tài liệu, phân tích, lựa chọn ngữ liệu để xây dựng Sổ tay gồm 980 khái niệm và từ khóa dạng in và dạng
số (từ điển trực tuyến) phục vụ tra cứu trực tiếp và trực tuyến Hai sản phẩm này giúp tra cứu
Trang 2422
thông tin về các từ khóa và khái niệm trong CNGD ở hai thứ tiếng Anh-Việt một cách nhanh chóng và thuận lợi, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về CNGD của các nhà giáo dục, các giáo viên đang giảng dạy ở nhiều chuyên ngành Sách và từ điển trực tuyến cũng đáp ứng nhu cầu học tập và tra cứu thuật ngữ và từ khóa tiếng Anh-Việt trong lĩnh vực CNGD của sinh viên và học viên nói chung và trong Đại học Quốc gia Hà Nội nói riêng Ngoài ra, sách và từ điển còn có giá trị như một tư liệu trong nghiên cứu ngôn ngữ và từ điển học
Trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc vĩ mô và vi mô của tập hợp từ khóa CNGD, đề tài tiến hành phân tích đặc điểm ngôn ngữ của hai hệ thống từ khóa CNGD Anh-Việt, giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà từ điển học và các chuyên gia trong ngành có cái nhìn sâu sắc hơn về hình thái và ngữ nghĩa của nhóm từ vựng này trong cả hai ngôn ngữ
Với việc cung cấp hệ thống các chương trình và phần mềm phổ biến trong giảng dạy và quản lý học tập, đề tài giúp thay đổi phần nào quan niệm và cách tiếp cận của giáo viên và học sinh, gắn kết công nghệ với mọi hoạt động nghiên cứu & đào tạo, xây dựng môi trường học tập công nghệ cao, đa ngành, đa lĩnh vực và ứng dụng đa chiều
5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận
Nhìn chung, đề tài đã hoàn thành đầy đủ và đạt chất lượng tốt các nhiệm vụ nghiên cứu
được mục tiêu đề ra Thứ nhất, đề tài hệ thống được các quan niệm cập nhật nhất về CNGD, nghiên cứu để đưa ra các tiêu chí vĩ mô và vĩ mô để xây dựng Sổ tay CNGD Trong quá trình nghiên cứu, đề tài cũng đưa ra được qui trình thực hiện việc xây dựng sổ tay, đồng thời mô tả chi tiết cả về hình thức và nội dung tri thức Điều này giúp cho việc hình thành cấu trúc hệ thống mục từ của Sổ tay và phân nhánh tri thức rõ ràng Thứ hai, đề tài đã hoàn thành việc biên
soạn Sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD gồm 980 mục từ (so với 700 mục từ đã đăng ký),
đồng thời đưa lên thành từ điển trực tuyến, đáp ứng nhu cầu tìm kiếm tri thức của đông đảo người học và các nhà nghiên cứu Thứ ba, đề tài đã phân tích hệ thống từ khóa CNGD ở hai thứ tiếng Anh-Việt từ góc độ ngôn ngữ và đưa ra một số nhận xét về đặc điểm hình thức cũng như nội dung của các từ khóa Phân tích này giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và giảng dạy ngoại ngữ có một cái nhìn bao quát hơn về cách sử dụng ngôn ngữ chuyên ngành CNGD ở hai ngôn ngữ Trong tương lai, chúng tôi hi vọng rằng các nghiên cứu về từ vựng chuyên ngành CNGD cũng như các nghiên cứu về CNGD tiếp tục được mở rộng, các kiến thức công nghệ được áp dụng rộng rãi và trở thành một phần không thể thiếu trong giáo dục ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nâng cao hơn nữa hiệu quả và chất lượng giảng dạy và học tập
Trang 2523
6 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)
Nghiên cứu về công nghệ giáo dục ở Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào kỹ thuật dạy học bậc phổ thông hoặc mầm non hơn là các nghiên cứu khái quát, nghiên cứu cặn kẽ về lí thuyết hay tổng hợp các thông tin cơ bản về lĩnh vực này Trên cơ sở kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, kết hợp ứng dụng công nghệ với các nghiên cứu lý thuyết trong dạy-học, nghiên cứu ngôn ngữ, từ điển học, đề tài tìm kiếm, thu thập, phân loại tài liệu, định hướng, phân tích, xác định phạm vi và lựa chọn ngữ liệu để xây dựng nên Sổ tay dạng in và dạng số thống kê 980 từ khóa và khái niệm được dùng phổ biến trong CNGD Sổ tay tập hợp từ vựng ở 4 mảng kiến thức gồm hoạt động giáo dục, nghiên cứu giáo dục, quản lý giáo dục, và kĩ thuật và công nghệ giáo dục ở hai thứ tiếng Anh-Việt Trên cơ sở phân tích phạm vi nghiên cứu và đặc điểm CNGD, đề tài xây dựng cấu trúc vĩ mô trong tổ chức mục và nội dung tri thức, đưa ra được các tiêu chí bên trong và tiêu chí ngoài để xây dựng Sổ tay chuyên ngành CNGD phù hợp với yêu cầu giảng dạy, học tập và nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam Bên cạnh đó, đề tài cũng tiến hành một số phân tích về đặc điểm ngôn ngữ của hai hệ thống từ khóa Anh-Việt, giúp các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và các nhà giáo dục có cái nhìn sâu sắc hơn về cách lựa chọn và sử dụng từ khóa và khái niệm trong lĩnh vực CNGD
Từ khóa: Công nghệ giáo dục, mục từ, từ khóa, khái niệm, tiêu chí
Abstract: Currently, there have been few researches on educational technology in Vietnam
Most of them focus on instructional techniques for secondary education or lower (to kindergarten) rather than general research targeting on educational technology theories or significant information in the field Based on the combination of research methods, technology application, theoretical studies in teaching-learning, linguistic research, lexicography, this Project defines, collects, classifies, analyzes appropriate materials to build a handbook and digital dictionary with 980 keywords and concepts commonly used in educational technology The handbook’s vocabulary covers four knowledge areas including educational activities, educational research, educational management, and educational techniques and technology in two languages of English-Vietnamese On analyzing the scope and characteristics of education technology, the Project also builds the macro structure of the lexical items and their knowledge content organization It also provides internal and external criteria for specialized handbook compilation to meet the demand of current teaching, learning and research in Vietnam Moreover, the Project conducts an analysis on linguistic characteristics of the two English-Vietnamese keyword systems, provides language researchers and educators a deeper
Trang 2624
understanding of keywords and concepts selection and usage in the field of educational technology
Key words: Educational Technology, entry, keyword, definition, criteria
PHẦN III SẢN PHẨM, CÔNG BỐ VÀ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Kết quả nghiên cứu
Yêu cầu khoa học hoặc/và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật Đăng ký Đạt được
2 Sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD (sách in) (700 từ khóa) 01 (980 từ khóa) 01
3 Sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD (trực tuyến) 01 01
4 Bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành trong nước 01 02
được cấp giấy xác nhận SHTT/ xác nhận sử dụng sản phẩm)
Ghi địa chỉ
và cảm ơn
sự tài trợ của ĐHQGHN đúng quy định
Đánh giá chung
(Đạt, không đạt)
1 Công trình công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống ISI/Scopus
1.1
2 Sách chuyên khảo được xuất bản hoặc ký hợp
2.1 Sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD Đã in √ Đạt
3.1 Sổ tay khái niệm và từ khóa trong CNGD Đã có chứng nhận √ Đạt
4 Bài báo quốc tế không thuộc hệ thống ISI/Scopus
4.1
5
Bài báo trên các tạp chí khoa học của
ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành
quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ
yếu hội nghị quốc tế
01
5.1
Vũ Thị Thanh Nhã (2021) Understanding validity
and reliability from qualitative and quantitative
research traditions Tạp chí nghiên cứu nước ngoài
– VNU journal of foreign studies Vol 37- No.3
Trang 2725
1-9.
5.2
Lâm Thị Hòa Bình (2022) Educational
Technology – Concepts and identification of
Vocabulary in the domain Tạp chí nghiên cứu
nước ngoài – VNU journal of foreign studies
Kết quả dự kiến được ứng dụng tại các cơ quan
hoạch định chính sách hoặc cơ sở ứng dụng
KH&CN
7.1
Ghi chú:
- Cột sản phẩm khoa học công nghệ: Liệt kê các thông tin các sản phẩm KHCN theo thứ tự <tên tác giả, tên
công trình, tên tạp chí/nhà xuất bản, số phát hành, năm phát hành, trang đăng công trình, mã công trình đăng tạp chí/sách chuyên khảo (DOI), loại tạp chí ISI/Scopus>
- Các ấn phẩm khoa học (bài báo, báo cáo KH, sách chuyên khảo…) chỉ được chấp nhận nếu có ghi nhận địa
chỉ và cảm ơn tài trợ của ĐHQGHN theo đúng quy định
- Bản phô tô toàn văn các ấn phẩm này phải đưa vào phụ lục các minh chứng của báo cáo Riêng sách chuyên khảo cần có bản phô tô bìa, trang đầu và trang cuối có ghi thông tin mã số xuất bản
3.3 Kết quả đào tạo
Thời gian và kinh phí tham gia đề tài
(số tháng/số tiền)
Công trình công bố
liên quan (Sản phẩm
KHCN, luận án, luận văn)
- Gửi kèm bản photo trang bìa luận án/ luận văn/ khóa luận và bằng hoặc giấy chứng nhận
nghiên cứu sinh/thạc sỹ nếu học viên đã bảo vệ thành công luận án/ luận văn;
- Cột công trình công bố ghi như mục III.1
PHẦN IV TỔNG HỢP KẾT QUẢ CÁC SẢN PHẨM KH&CN VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐỀ TÀI
thành
1 Bài báo công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống ISI/Scopus
Trang 2826
2 Sổ tay được xuất bản hoặc ký hợp đồng xuất bản 01 (700 từ khóa) 01 (980 từ khóa)
3 Sổ tay phiên bản trực tuyến 01 (700 từ khóa) 01 (980 từ khóa)
4 Bài báo quốc tế không thuộc hệ thống ISI/Scopus
5 Số lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa
học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế 01 02
6 Báo cáo khoa học kiến nghị, tư vấn chính sách theo đặt hàng của đơn vị sử dụng
7 Kết quả dự kiến được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định chính sách hoặc cơ sở ứng dụng KH&CN
8 Đào tạo/hỗ trợ đào tạo NCS
bằng) PHẦN V TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KINH PHÍ
TT Nội dung chi Kinh phí được duyệt
(triệu đồng)
Kinh phí thực hiện
PHẦN VI PHỤ LỤC (minh chứng các sản phẩm nêu ở Phần III)
1 Lâm Quang Đông (chủ biên), Lâm Thị Hòa Bình, Đỗ Hoàng Ngân, Vũ Thị Thanh Nhã (2021) Sổ tay khái niệm và từ khóa trong công nghệ giáo dục NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
2 Lâm Quang Đông, Lâm Thị Hòa Bình, Đỗ Hoàng Ngân, Vũ Thị Thanh Nhã (2021) Sổ tay khái niệm và từ khóa trong công nghệ giáo dục (Online)
http://dictionary.trianh.edu.vn/
3 Chứng nhận đăng ký quyền tác giả cho tác phẩm “Sổ tay khái niệm và từ khóa trong công nghệ giáo dục” Sổ 4834/2021/QTG ngày 7 tháng 7 năm 2021 do Cục Bản quyền tác giả - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp
Trang 2927
4 Vũ Thị Thanh Nhã (2021) Understanding validity and reliability from qualitative and quantitative research traditions Tạp chí nghiên cứu nước ngoài – VNU journal of foreign studies Vol 37- No.3
5 Lâm Thị Hòa Bình (2022) Educational Technology – Concepts and identification
of Vocabulary in the domain Tạp chí nghiên cứu nước ngoài – VNU journal of foreign studies (Proceeding)
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Trang 30ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
SẢN PHẨM BÀI VIẾT CÔNG BỐ CỦA ĐỀ TÀI KH&CN CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài:
XÂY DỰNG SỔ TAY KHÁI NIỆM VÀ TỪ KHÓA
TRONG CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
Mã số đề tài: QG.20.04 Chủ nhiệm đề tài: Lâm Thị Hòa Bình
Hà Nội - 2022
Trang 31DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
5 Lâm Thị Hòa Bình (2022) Educational Technology – Concepts and identification of Vocabulary
in the domain Tạp chí nghiên cứu nước ngoài – VNU journal of foreign studies (Proceeding)
Trang 32Scanned with CamScanner