00060000752 hoạt Động quản lý nhà nước Đối với các tập Đoàn kinh tế tư nhân việt nam 00060000752 hoạt Động quản lý nhà nước Đối với các tập Đoàn kinh tế tư nhân việt nam
Trang 11
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM
Mã số: KT.22.03
Chủ nhiệm đề tài: TS Đỗ Vũ Phương Anh
Thành viên đề tài: NCS: Đỗ Minh Đức PGS.TS: Tô Thế Nguyên
Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG 5
DANH MỤC HÌNH 6
DANH MỤC HỘP 7
DANH MỤC VIẾT TẮT 8
MỞ ĐẦU 9
1 Tính cấp thiết đề tài 9
1.1 Tính cấp thiết về lý thuyết 9
1.2 Tính cấp thiết về thực tiễn 10
2 Tổng quan công trình nghiên cứu 11
2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 11
2.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam 14
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 21
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 21
4.1 Đối tượng nghiên cứu 21
4.2 Phạm vi nghiên cứu 21
5 Phương pháp nghiên cứu 21
6 Kết cấu đề tài 22
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM TRONG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH HIỆN NAY 23
1.1 Sự hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân trong nền kinh tế đất nước 23
1.2 Sự phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân 26
1.3 Xu hướng phát triển và đầu tư bền vững của khu vực kinh tế tư nhân 35
1.3.1 Hoạt động đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) 35
1.3.2 Phát triển đa lĩnh vực và cải tiến công nghệ của các tập đoàn kinh tế tư nhân 39
1.4 Vai trò của khu vực tư nhân và các doanh nghiệp, tập đoàn tư nhân đối với nền kinh tế 42
1.5 Kinh tế tư nhân Việt Nam thời kỳ đại dịch Covid-19 44
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC TƯ VÀ CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM 51
Trang 32.2 Nguyên tắc quản lý chung đối với khu vực tư và các tập đoàn kinh tế tư nhân 52
2.3 Một số quy định pháp luật trong việc tạo lập môi trường sản xuất kinh doanh
cho các tập đoàn kinh tế tư nhân 53
2.3.1 Quy định về vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp tư nhân 53
2.3.2 Quy định về quản lý, sử dụng đất đai 56
2.3.3 Quy định về quản lý các công ty tư nhân đặc thù 61
2.3.4 Quy định về các hoạt động của doanh nghiệp tư nhân mang tính đặc thù 65
2.3.5 Quy định về đầu tư Nhà nước và nhân dân cùng làm (đối tác công tư - PPP) 68
2.3.6 Chính phủ nâng cao chất lượng cạnh tranh và chống chuyển giá 71
2.4 Khái quát một số chính sách quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân Việt Nam thời kỳ đại dịch Covid-19 75
2.4.1 Chính sách hỗ trợ vốn đầu tư cho DN 77
2.4.2 Chính sách hỗ trợ khó khăn về chi phí tài chính 78
2.4.3 Chính sách hỗ trợ lao động, việc làm 80
2.5 Đánh giá thực trạng công tác quản lý của Nhà nước đối với khu vực tư và các tập đoàn kinh tế tư nhân 80
2.5.1 Ưu điểm 80
2.5.2 Hạn chế 82
CHƯƠNG 3: NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHU VỰC TƯ VÀ CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN VIỆT NAM 88
3.1 Khuyến nghị chung với Nhà nước, Chính phủ 88
3.1.1 Hoàn thiện chính sách, cải tổ quy trình, thủ tục, tạo điều kiện để doanh nghiệp thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình 91
3.1.2 Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu tư, thương mại, tài chính, tín dụng 92
3.1.3 Đảm bảo hoạt động hiệu quả của bộ máy Nhà nước, bao gồm hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp 94
3.1.4 Hoàn thiện bộ máy quản lý tại địa phương 96
3.1.5 Thúc đẩy các tập đoàn kinh tế tư nhân đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, y tế 96
3.1.6 Tạo môi trường thuận lợi, cơ chế chính sách thúc đẩy nền kinh tế số thông qua đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới số 97
Trang 43.1.7 Xây dựng hạ tầng dữ liệu quốc gia (Data) để phục vụ chiến lược kinh tế số 98
3.1.8 Khích lệ và tôn vinh các tập đoàn kinh tế tư nhân uy tín 99
3.2 Khuyến nghị chính sách kinh tế thời kỳ hậu Covid-19 99
3.2.1 Đối với chính sách chung 100
3.2.2 Đối với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về vốn đầu tư 101
3.2.3 Đối với chính sách hỗ trợ chi phí tài chính cho doanh nghiệp 101
3.2.4 Đối với chính sách lao động, việc làm, an sinh xã hội để thúc đẩy hoạt động của doanh nghiệp 103
3.3 Khuyến nghị với cộng đồng doanh nghiệp tư nhân Việt Nam mà tiêu biểu là các tập đoàn kinh tế lớn 103
3.3.1 Khuyến nghị đối với các hoạt động bên ngoài của doanh nghiệp 104
3.3.2 Khuyến nghị đối với các hoạt động bên trong của doanh nghiệp 105
3.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 107
3.4.1 Một số hạn chế 107
3.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 108
KẾT LUẬN 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Tài liệu trong nước 111
Tài liệu nước ngoài 115
Tài liệu internet 118
PHỤ LỤC 120
Phụ lục 1 Phân loại doanh nghiệp 120
Phụ lục 2 Xếp hạng 50 tập đoàn lớn nhất tại Việt Nam 2017-2021 120
Phụ lục 3 Xếp hạng 20 tập đoàn tư nhân lớn nhất tại Việt Nam 2017-2021 132
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Cơ cấu tổng sản phẩm (GDP) phân theo thành phần kinh tế, 2011-2021 27
Bảng 1.2 Số lượng DN tư nhân, quy mô vốn và lao động tại Việt Nam, 2011-2019 28 Bảng 1.3 Chi phí không chính thức, giai đoạn 2010-2021 29
Bảng 1.4 ROA, ROE của DN Việt Nam 2011-2019 31
Bảng 1.5 Kết quả hoạt động SXKD của DN tư nhân Việt Nam, 2017-2019 32
Bảng 1.6 Kết quả hoạt động SXKD của các tập đoàn Việt Nam, 2017-2019 34
Bảng 1.7 Một số chỉ số phản ánh sự cải thiện của các tập đoàn KTTN, 2011-2021 35
Bảng 1.8 Một số tập đoàn và ngành công nghiệp liên kết 40
Bảng 1.9 Cơ cấu doanh thu tập đoàn Vingroup, 2019-2020 42
Bảng 1.10 Một số chỉ số về DN Việt Nam, bình quân 2011-2020 43
Bảng 2.1 Một số luật quan trọng ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh tại Việt Nam 53
Bảng 2.2 Điều chỉnh lãi suất năm 2020 77
Bảng 2.3 Vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2010 - 2021 78
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Tương quan giữa tỷ lệ báo lỗ và tỷ lệ mở rộng kinh doanh của DN FDI, 2012-2021 33Hình 1.2 Cơ cấu chi phí một số tập đoàn KTTN Việt Nam, 2017-2020 (est.) 38Hình 1.3 Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội phân theo loại hình kinh tế theo giá hiện hành quý I các năm 2018-2022 44Hình 1.4 Khó khăn tài chính cho các khoản thanh toán của DN 45Hình 1.5 Những khó khăn phải đối mặt trong giai đoạn Covid-19 48Hình 1.6 Lý do khiến DN phải tạm ngừng hoạt động trong bối cảnh dịch bùng phát 49
Trang 7DANH MỤC HỘP
Hộp 1.1 Định nghĩa và điều kiện thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty 23
Hộp 1.2 Tập đoàn VBĐQ DOJI thực hiện ĐMST khi áp dụng công nghệ nâng cao trải nghiệm khách hàng 41
Hộp 2 1 Một số điều quy định tại "Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN" 54
Hộp 2.2 Nghị định hướng dẫn "Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư váo sản xuất, kinh doanh tại DN" 54
Hộp 2.3 Nghị định, Thông tư hướng dẫn “Luật đất đai” 56
Hộp 2.4 Nghị định, Thông tư hướng dẫn “Luật các tổ chức tín dụng” 62
Hộp 2.5 Nghị định, Thông tư hướng dẫn “Luật chứng khoán” 64
Hộp 2.6 Nghị định, Thông tư hướng dẫn hoạt động phát hành trái phiếu DN 65
Hộp 2.7 Nghị định, Thông tư hướng dẫn hoạt động kinh doanh vàng 66
Hộp 2.8 Nghị định, Thông tư hướng dẫn hoạt động đầu tư ra nước ngoài 67
Hộp 2.9 Nghị định, Thông tư hướng dẫn hoạt động ví điện tử, thẻ trả trước 68
Hộp 2.10 Các loại hợp đồng dự án PPP giữa Nhà nước và nhà đầu tư 68
Hộp 2.11 Một số văn bản quy phạm pháp luật về PPP hiện nay 70
Hộp 2.12 Một số văn bản quy phạm pháp luật về chống độc quyền và chuyển giá 75
Hộp 3.1 Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 theo “Nghị quyết số 76/NQ-CP” 88
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
KTTN: Kinh tế tư nhân
SXKD: Sản xuất kinh doanh
Trang 9mô lớn… qua đó tạo ra những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân (Lê Minh Trường, 2021) Bên cạnh đó, khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) cũng là động lực quan trọng để phát triển phong phú, đa dạng các thành phần, mô hình kinh tế, giải quyết công
ăn việc làm và phân bổ nguồn lực hiệu quả (Hakkala & Kokko, 2007) Mối quan hệ giữa kinh tế ngoài nhà nước và kinh tế nhà nước là mối quan hệ song hành, gắn bó chặt chẽ
và thúc đẩy cùng phát triển (Nguyên, 2020) Tuy nhiên hiện nay, chưa có nhiều công trình khoa học phân tích sâu sắc về các tập đoàn KTTN tại Việt Nam Trong khi, các tập đoàn kinh tế này đang ngày càng thể hiện được vị thế của chính mình, là cơ sở quan trọng dẫn dắt sự tăng trưởng Do vậy, nghiên cứu kỳ vọng sẽ đưa ra bức tranh tổng thể
về nền KTTN trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là sự phát triển và trỗi dậy nhanh chóng của các tập đoàn KTTN, những doanh nghiệp (DN) lớn, đầu tàu trên cả nước kể từ sau công cuộc đổi mới Đề tài cũng tập trung đánh giá vai trò của các DN lớn, các tập đoàn KTTN và sức ảnh hưởng của các tổ chức này đến nhiều hoạt động của nền kinh tế, thị trường vốn, thị trường tiêu dùng, thị trường lao động
Như vậy theo nhận định chung, khu vực KTTN sẽ ngày càng trở thành lực lượng chủ chốt trong việc phát triển kinh tế - xã hội đất nước Do đó, nhiều nghiên cứu đã phân tích về nền KTTN và hoạt động quản lý Nhà nước (QLNN) để hỗ trợ, duy trì và phát triển khu vực kinh tế này (Lê Hữu Toản, 2021; Huy Thắng, 2021; Nguyễn Hùng, 2021…) Các nhà nghiên cứu cho rằng, thay vì các can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế qua các thiết chế kinh tế nhà nước thì xu hướng trở thành Nhà nước điều tiết, Chính phủ kiến tạo đang trở nên ngày càng thành công và hiệu quả trên thế giới, đặc biệt các quốc gia công nghiệp mới nổi và đang chuyển đổi ở Châu Á Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa QLNN và KTTN Đặc biệt, Nhà nước, Chính phủ
đã ban hành rất nhiều Luật và văn bản dưới luật, cũng như liên tục thực hiện các cải cách hành chính để định hướng, dẫn dắt hoạt động của KTTN và các tập đoàn KTTN Nhưng các nghiên cứu hiện nay chưa làm rõ ở góc độ QLNN đối với các tập đoàn KTTN nói riêng và những tác động rõ ràng của hoạt động QLNN vĩ mô trong mọi sự vận hành SXKD của các tập đoàn KTTN, trong hỗ trợ và xây dựng hệ thống cạnh tranh bình đẳng Kết quả nghiên cứu của đề tài kỳ vọng sẽ phân tích được sâu hơn về vai trò của QLNN trong việc nâng cao hiệu quả SXKD của các tập đoàn KTTN tại Việt Nam Đi kèm với
Trang 10đó là những khuyến nghị cho một hệ thống giải pháp đồng bộ trong thời gian tới nhằm thúc đẩy sự phục hồi sau Covid, tạo điều kiện phát triển và nâng cao chất lượng cạnh tranh, năng lực hội nhập quốc tế cho khu vực ngoài nhà nước, trong đó có các DN lớn, các tập đoàn KTTN hùng mạnh
2018, cả nước có 610.637 DN đang hoạt động có kết quả sản xuất, kinh doanh, trong đó
có 591.499 DN tư nhân, chiếm 96,9%, tăng 9,2% so với thời điểm năm 2017 Hiện nay Việt Nam cũng có khoảng 29 DN tư nhân có giá trị vốn hóa trên thị trường chứng khoán vượt con số 1 tỷ USD (Đỗ Thanh Hương, 2021) Bên cạnh đó, vốn đầu tư của khối tư nhân cũng tăng nhanh, từ 36,1% lên 43,27% (tương đương 803 nghìn tỷ đồng) trong giai đoạn 2010-2018 (Hiếu Công, 2021) Trong đó, nhiều tập đoàn KTTN đã trở thành những cánh chim đầu đàn tại một số lĩnh vực, ngành nghề như vận tải, bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng gia dụng, bất động sản, du lịch khách sạn, vàng bạc đá quý, công nghệ thông tin… Hơn thế, các tập đoàn khu vực tư nhân được xác định là thành phần quan trọng trong việc hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế - xã hội như giảm nghèo
đa chiều, cải thiện năng suất quốc gia, giảm bất bình đẳng, thúc đẩy hội nhập quốc tế đa phương, và đạt được các kỳ vọng tăng trưởng, phát triển bền vững Do đó, phát triển khu vực KTTN, đặc biệt là các tập đoàn KTTN quy mô lớn, có tầm vóc, vị thế trong và ngoài nước là một trong những nhiệm vụ quan trọng của kinh tế đất nước
Sự mở rộng quy mô và phát triển các tập đoàn KTTN, một mặt tạo ra nhiều công
ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng cao hiệu suất kinh tế, đóng góp cho ngân sách, thúc đẩy các hoạt động R&D, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, mặt khác hé lộ nhiều điểm nóng trong quản lý vĩ mô của Nhà nước
và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng Hơn nữa, sự phát triển của các tập đoàn KTTN quy mô lớn sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức hơn so với hệ thống DN
Trang 11tranh, giao thương quốc tế ngày càng sâu rộng Việc hỗ trợ của Nhà nước, Chính phủ để đạt sự minh bạch, công bằng và hiệu quả cho khu vực KTTN cũng sẽ là một trong những quyết sách chiến lược và nhiệm vụ then chốt trong giai đoạn tới
Những năm gần đây, trước sự biến động nhanh chóng của kinh tế toàn cầu và khu vực kết hợp với tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, xu hướng tăng trưởng đẩy nhanh sự cải tiến công nghệ, phát triển đa lĩnh vực và cải thiện trách nhiệm xã hội của các tổ chức KTTN là đáng chú ý Quá trình này một mặt tạo ra nhiều thời cơ, cơ hội cho mục tiêu phát triển kinh tế dài hạn, mặt khác cũng tạo ra những biến động và rủi ro cả dưới góc độ SXKD lẫn quản lý Chính vì thế, nghiên cứu này: (i) xem xét xu hướng phát triển của các tập đoàn KTTN và vai trò với nền kinh tế, (ii) xem xét và đưa ra các khuyến nghị về vai trò QLNN thông qua hệ thống luật pháp chính sách và những cải cách của Chính phủ nhằm giảm thiểu bất cập, ngăn ngừa rủi ro nhiều chiều, thúc đẩy phát triển
DN và (iii) đưa ra các khuyến nghị cho chính bản thân các tập đoàn KTTN
2 Tổng quan công trình nghiên cứu
2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Về KTTN Việt Nam
Khu vực tư nhân đóng vai trò nòng cốt, quan trọng trong nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội, đặc biệt tại các quốc gia đang chuyển đổi như Việt Nam (Deaton, 2008; Hakkala & Kokko, 2007; Jaax, 2020; Malesky & Mosley, 2021; Van Le & cộng sự, 2022) Về mặt lý thuyết, thị trường với cơ chế giá cả được vận hành bởi khu vực KTTN hiệu quả tạo ra cơ chế phân bổ nguồn lực tối ưu, qua đó tạo ra sự thịnh vượng cho kinh
tế đất nước (Rothbard, 2009) Có thể nhận thấy, khu vực KTTN đóng góp cho sự phát triển xã hội một cách ổn định thông qua một số cơ chế Một là, sự thịnh vượng kinh tế
do quá trình phân bổ nguồn lực đang góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, không chỉ mức sống cơ bản mà còn cải thiện sức khỏe và có nhiều lựa chọn hơn trong tiêu dùng hàng hóa/dịch vụ ngày càng rẻ và chất lượng (Deaton, 2008; Deaton, 2013) Hai là, các nghiên cứu gần đây (như Shahbaz & cộng sự, 2019; Van Le & cộng
sự, 2022) cho thấy vai trò của tư nhân trong tăng trưởng kinh tế bền vững thông qua cải thiện môi trường sống tự nhiên, giảm bất bình đẳng và nghèo đa chiều Scheyvens & cộng sự (2016) khẳng định khu vực tư nhân là một trong những trụ cột quan trọng đóng góp cho việc đạt được 17 mục tiêu Thiên niên kỷ trong giai đoạn tới
Hakkala & Kokko (2007) nhận định rằng trong giai đoạn đầu quá trình phát triển, đặc biệt giai đoạn chuyển đổi sau 1986 tại Việt Nam, KTTN là lực lượng quan trọng để phát triển phong phú và đa dạng các hoạt động kinh tế đất nước, giải quyết việc làm và phân bổ nguồn lực hiệu quả Theo đó, quá trình đổi mới, mở cửa nền kinh tế và chấp
Trang 12nhận thành phần KTTN với nhiều mô hình DN - mà nổi bật trong Luật DN 1999 - đã thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng.
Thêm vào đó, cần lưu ý rằng (i) mặc dù các tập đoàn tư nhân nước ngoài đầu tư góp vốn trực tiếp cho nền kinh tế đất nước nhưng giá trị gia tăng lại không đáng kể, ví
dụ tập đoàn Intel chỉ tạo ra 3% giá trị gia tăng cho nền kinh tế Việt Nam (Fulbright University Vietnam [FUV], 2017), và (ii) khu vực DN tư nhân phi chính thức có thể không đạt được các kết quả như khu vực chính thức (E Malesky & Taussig, 2009) Mặc dù có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội đất nước, khu vực tư nhân cũng để lại các hệ quả đối với nền kinh tế và đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình phát triển Bên cạnh sự linh hoạt, nhanh nhạy để thích ứng với bài toán thị trường thì các biến động của nền kinh tế thường tạo ra những cú sốc đối với người lao động chất lượng thấp, phụ nữ, và người yếu thế trong xã hội thông qua khu vực tư nhân một cách nghiêm trọng hơn so với khu vực nhà nước Cụ thể, Dang & Nguyen (2021) cho thấy: dưới tác động của Covid-19 thì đối tượng phụ nữ bị mất việc
và cắt giảm lương là cao hơn nhóm nam giới là 20-50% Trong khi đó, tình trạng sa thải người lao động và trốn thuế tại một số tập đoàn lớn (SAMSUNG) tạo ra nhiều hệ quả tới nền kinh tế Dẫu vậy, ở phía ngược lại, DN nhà nước có nhiều hạn chế trong quá trình vận hành theo hướng tối ưu hóa nguồn lực kinh tế khi chịu sự chi phối bởi nhiều mục tiêu Baccini & cộng sự (2019) thấy rằng trong quá trình hội nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), DN nhà nước đã không nắm bắt tốt được cơ hội so với khu vực tư nhân trong cải thiện năng suất Phan & Coxhead (2013) bổ sung thêm về cơ chế tiền lương tại các tập đoàn nhà nước là chưa tối ưu và vẫn phụ thuộc nhiều vào quan hệ thân hữu trong tuyển dụng Le & cộng sự (2014) cho rằng hiện nay quá trình cổ phần hóa tập đoàn nhà nước vẫn chưa thành công tại các ngành sở hữu nguồn lực sản xuất quan trọng của đất nước như viễn thông, điện, năng lượng Hơn nữa, đại dịch Covid-19 đã đẩy cao chi phí hoạt động của của DN, gián đoạn chuỗi cung ứng, và mất cơ hội tham gia vào
hệ thống cung ứng toàn cầu (Dang & Nguyen, 2021; E J Malesky, 2020)
Về các tập đoàn KTTN
Đã có một số nghiên cứu về các tập đoàn KTTN Việt Nam Trong khi các DNNVV (chiếm 97% số DN tư nhân) đóng góp tích cực tới chu trình tạo việc làm và giảm nghèo cho kinh tế Việt Nam (Van Le & cộng sự, 2022) thì các tập đoàn KTTN lại đi đầu trong quá trình phát triển sáng tạo, tiên phong và hội nhập toàn cầu (Baccini & cộng sự, 2019; Malesky & Mosley, 2021)
Hoạt động QLNN đối với KTTN
QLNN cấp tỉnh ở Việt Nam đã có chuyển biến tích cực trên cả nước, ví dụ Quảng
Trang 13đến 2020 (Malesky, 2020) Báo cáo này cũng chỉ ra thủ tục pháp lý đã được cải thiện đáng kể về các vấn đề liên quan đến SXKD của tư nhân, đặc biệt trong năm 2020, 89,3%
DN tin tưởng vào quyết định liên quan đến quyền tài sản, hợp đồng của toà án cấp tỉnh khi có tranh chấp (tăng 8% so với năm 2016) Hơn nữa, sự cải thiện trong cơ chế QLNN
đã giúp tỷ lệ các DN tư nhân trong nước chi trả các khoản phí cho thanh tra giảm từ 51,9% (năm 2016) xuống 27,9% (năm 2020) Bên cạnh đó, nhiều tỉnh thành duy trì hiệu quả các kênh đối thoại chính quyền - DN thường kỳ theo tháng, quý để giải quyết các
kiến nghị của DN như Hải Phòng, Ninh Bình…
Trước các vấn đề như vậy, vai trò của QLNN - như được chỉ ra tại các nghiên cứu trước đây - cần đảm bảo được một số nhiệm vụ trọng tâm: (i) phát triển môi trường SXKD công bằng và hoạt động cạnh tranh hiệu quả qua cơ chế giá cả; (ii) hỗ trợ và hợp tác hoạt động với DN tư nhân với “tinh thần doanh nhân công”; (iii) minh bạch, cụ thể hóa thông tin chính sách nhằm tạo ra môi trường kinh doanh chắc chắn và giảm chi phí không chính thức; và (iv) hỗ trợ DN thực hiện kinh doanh hiệu quả trong giai đoạn khó khăn, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch Covid-19 Mazzucato (2015) cho rằng “tinh thần doanh nhân công” đòi hỏi sự cởi mở trong hợp tác của khu vực công với tư Ở đó, nhà nước đóng vai trò là người kiến tạo không phải dẫn dắt và phải “nhúng mình” được với văn hóa DN địa phương Điều này đòi hỏi Chính phủ chủ động và quan tâm hơn đến các hoạt động đầu tư R&D và giáo dục đào tạo, hỗ trợ hoạt động DN tư nhân thông qua cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục, văn bản thành lập và vận hành DN Hơn thế, minh bạch thông tin là yếu tố quan trọng để Chính phủ đảm bảo được tính công bằng trong thực hiện chính sách và đảm bảo được sự tham gia của DN, người dân cùng các bên hữu quan trong quá trình vận hành và phát triển Cụ thể, sự không minh bạch trong các gói tiếp cận vốn và hoạt động hỗ trợ Covid-19 liên quan như đánh giá của Malesky (2020) tạo
ra nhiều hệ quả cho quá trình phát triển dài hạn
Bên cạnh đó, vai trò quản trị của nhà nước cũng phải hướng đến một môi trường
ổn định về thể chế và chính sách nhằm hạn chế tính không chắc chắn của nền kinh tế Một số báo cáo trước đây như Thạch & cộng sự (2019) cho thấy một chính sách vĩ mô của Việt Nam như gói kích cầu nền kinh tế 17.000 tỷ đồng năm 2009 và các áp lực kiểm soát tiền tệ giai đoạn trước đây đã tạo ra nhiều hệ quả không tích cực của nền kinh tế, tác động đến xu hướng đầu tư nguồn vốn FDI vào Việt Nam Do đó, sự ổn định các thông số vĩ mô và tính có thể đoán định của chính sách góp phần giảm độ rủi ro nền kinh tế, tăng sự hấp dẫn cho môi trường đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam
Các nước đang phát triển có bối cảnh kinh tế xã hội tương đối đặc thù so với các giả định kinh tế phương Tây (Xu, 2011) và có sự khác biệt đáng kể giữa hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc (E Malesky & London, 2014) Do đó, các hàm ý chính sách
Trang 14của các học giả cần đòi hỏi sự am hiểu về đặc điểm của mỗi nền kinh tế đất nước Cụ thể, như giả định về tư hữu hóa quyền sở hữu đất đai được kỳ vọng sẽ tạo ra sự bùng nổ
về vốn tại các quốc gia phát triển (De Soto, 2001), có thể chưa phù hợp với bối cảnh Việt Nam (sở hữu đất đai toàn dân) Thu & Perera (2011) nhận thấy rằng Việt Nam hình thành sở hữu đa chiều với đất đai thay vì quyền sở hữu rõ ràng dựa theo hợp đồng kinh
tế của các nước phương Tây, trong khi Xu (2011) nhấn mạnh sự cạnh tranh nhiều cấp bậc (cấp Trung ương, giữa các tỉnh/thành) của Trung Quốc là nhân tố quan trọng cho tăng trưởng quốc gia này thay vì cạnh tranh thuần túy trên hợp đồng cấp độ cá nhân - tổ chức - tập đoàn kinh tế Có thể nói, khu vực KTTN sẽ ngày càng trở thành điểm tựa quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước Cuối cùng, để quản trị và phát triển kinh tế bền vững trong giai đoạn tới, Chính phủ Việt Nam cần đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu phát triển R&D, giáo dục đào tạo cơ bản, minh bạch và lành mạnh hóa thông tin, cắt giảm thủ tục kinh doanh và tăng cạnh tranh vốn một cách bình đẳng trong nền kinh tế hướng ra hội nhập toàn cầu
Hoạt động QLNN với các tập đoàn KTTN
Theo đánh giá của Le & cộng sự (2014), cạnh tranh công bằng của Chính phủ phải được đảm bảo trong quá trình tiếp cận vốn (i) giữa khu vực công và tư và (ii) giữa khu vực tư nhân nội địa và nước ngoài Việc chuyển giá của các tập đoàn nước ngoài tạo ra nhiều hệ lụy trong cạnh tranh bình đẳng tới khu vực tư nhân và tập đoàn KTTN nội địa,
do đó, cần thiết phải có những hoạt động kiểm soát và hạn chế trong tương lai Phải nói thêm rằng, vấn đề cạnh tranh vốn công bằng khu vực công-tư và chuyển giá của các tập đoàn nước ngoài bao hàm nhiều mặt phức tạp và liên ngành khi kinh tế chỉ là một trong những khía cạnh cần xem xét của các nhà quản lý chính sách, bên cạnh các vấn đề như bảo vệ chủ quyền quốc gia từ ngành viễn thông và ổn định điện cho đời sống người dân Vai trò của QLNN cũng phải hướng đến một môi trường ổn định về thể chế và chính sách nhằm hạn chế tính không chắc chắn của nền kinh tế
2.2 Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
Về KTTN Việt Nam
Tại Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII năm 2017 đã khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy phát triển khu vực KTTN trở thành động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Lê Duy Bình, 2018) Nghị quyết được đánh giá là bước tiến mới tạo đòn bẩy phát triển cho
cả khu vực KTTN nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung (Trần Quốc Hùng, 2019) Trước bối cảnh đại dịch Covid-19, khu vực KTTN được nhận định là phần đóng góp quan trọng trên tổng vốn đầu tư toàn xã hội Tính chung 9 tháng đầu năm 2021, giá
Trang 15vực KTTN Cụ thể, vốn đầu tư từ khu vực tư nhân đạt 1.100,5 nghìn tỷ đồng (bằng 58,9% và tăng 3,9% so với cùng kỳ và là khu vực duy nhất có vốn đầu tư tăng trưởng dương, trong khi khu vực nhà nước và khu vực có vốn FDI giảm lần lượt là 4,7% và 3,4% (Minh Hương, 2021)
Khu vực KTTN cũng tạo nhiều việc làm mới cho người lao động (Trần Quốc Hùng, 2019) Năm 2019, khu vực DN tư nhân và khu vực DN FDI sử dụng lần lượt con số 9,1
và 5,0 triệu lao động, tương ứng 59,9% và 32,8% tổng số lao động việc làm tính trong khu vực DN; tăng lần lượt 1,5% và 5,4% so với cùng kỳ năm 2018 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2021) Có thể nói, khu vực tư nhân đã góp phần quan trọng trong việc huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển SXKD, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, cải thiện đời sống nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội Đặc biệt, lực lượng doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm thay đổi diện mạo đất nước, tạo dấu ấn, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; hình thành nhiều thương hiệu
có tính cạnh tranh trong khu vực và quốc tế (Minh Hương, 2021)
Mặc dù có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhưng khu vực tư nhân phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình phát triển Báo cáo Năng suất Lao động ở cấp độ DN do Tổng Cục Thống kê (2019) công bố cho thấy năng suất lao động trong những năm gần đây gần như không tăng, hoặc tăng không đáng
kể Bên cạnh đó, bà Phạm Chi Lan (trích dẫn trong Khánh Vũ, 2021) nhận định năng suất của khu vực KTTN còn tương đối thấp Cụ thể, theo thống kê từ Bộ kế hoạch và Đầu tư, năng suất lao động bình quân của khu vực KTTN năm 2020 chỉ bằng 34% năng suất lao động của khu vực kinh tế nhà nước và khoảng 69% năng suất lao động của DN FDI (Đỗ Thanh Phương, 2021) Tình trạng năng suất lao động thấp nằm ở nguyên nhân phần lớn các DN Việt Nam có quy mô siêu nhỏ và nhỏ (Lê Duy Bình, 2018) Năm 2017,
số lượng các DN khu vực tư nhân có quy mô siêu nhỏ và nhỏ chiếm 97,3% trong khi tỷ trọng này chỉ có 1,3% với các DN tư nhân lớn (Lê Duy Bình, 2019) Ông Đinh Trường Hinh (trích dẫn trong Lê Duy Bình, 2019) nhận định việc thiếu vắng các DN vừa và lớn cho thấy thách thức đối với nền KTTN trong quá trình phát triển, vươn ra thị trường quốc tế Hơn nữa, xuất phát điểm về năng lực nội tại của KTTN nhìn chung còn thấp, chủ yếu vẫn là kinh tế tư, cá thể (Trần Quốc Hùng, 2019) Bên cạnh đó, ông Nguyễn Chí Dũng (trích dẫn trong Huy Thắng, 2021) nhận định năng lực khoa học công nghệ của các DN còn yếu và lạc hậu Ước tính 95% DN tư nhân có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ thấp, chậm đổi mới, năng lực tài chính, hiệu quả kinh tế thấp, tính liên kết giữa các
DN tư nhân còn yếu, khả năng tham gia vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế còn thấp (Trần Quốc Hùng, 2019) Hiện tại, chỉ có 10% số DN đã từng đăng ký, hoặc đăng ký
Trang 16thành công một bằng sáng chế trong vòng ba năm liên tiếp; đầu tư của DN cho đổi mới công nghệ chỉ chiếm khoảng 0,3% doanh thu, thấp hơn nhiều so với các nước như Ấn
Độ (5%), Hàn Quốc (10%)… Thêm vào đó, chỉ ghi nhận khoảng 21% DN nhỏ và vừa tham gia được một phần chuỗi giá trị toàn cầu, 14% thành công trong việc liên kết với đối tác nước ngoài, kết quả này không thể so sánh với các DN FDI đầu tư tại Việt Nam (Huy Thắng, 2021) Như vậy, bên cạnh sự phát triển ngày càng mạnh mẽ đáng khích lệ, KTTN vẫn còn đang tồn tại khá nhiều những trở ngại, thách thức cần được vượt qua để
có thể vươn lên trở thành một trụ cột to lớn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam Gần đây báo cáo về tăng trưởng khu vực KTTN của Việt Nam của Lê Duy Bình (2018) đã đánh giá một số điểm quan trọng: (i) số lượng DN hoạt động thực tế thấp hơn đáng kể số DN đăng ký; (ii) sự thay thế của các hình thức kinh doanh hợp tác xã và khu vực không chính thức sang hình thức tư nhân chính thức, (iii) khu vực tư nhân đóng góp đáng kể trong sự đảm bảo an sinh xã hội và sự thành công các chương trình đầu tư công của Chính phủ Hơn thế, đóng góp ngân sách của khu vực tư nhân nội địa tăng từ 3 tỷ tới 7 tỷ USD theo giá tuyệt đối từ năm 2010 đến 2016, tương ứng với 11.9% và 14.3% ngân sách Dẫu vậy, việc thiếu các DN tư nhân tầm cỡ dẫn đến hạn chế trong cạnh tranh dài hạn của khu vực này so với tập đoàn quốc tế Nguyễn Đình Luận (2015) đồng ý với quan điểm trên và bổ sung rằng KTTN có bản chất riêng so với kinh tế nhà nước và cần được phát huy trong sự cạnh tranh, đối xử công bằng và bình đẳng
Trong bối cảnh cụ thể tại Hải Dương giai đoạn 2008-2017, Phan Thị Huê (2019) khẳng định khu vực tư nhân chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển khu vực nông nghiệp tại đây, đồng thời đang phải đối diện với nhiều thách thức, khó khăn trong việc cạnh tranh thiếu tường minh và hạn chế về (i) vốn, (ii) cơ sở hạ tầng cơ bản, (iii)
và lao động chất lượng cao Không chỉ lĩnh vực nông nghiệp, Báo cáo Phát triển Việt Nam (2012) bổ sung thêm về vai trò của KTTN trong phát triển công nghiệp, dịch vụ, kết nối các ngành và hình thành nên các thiết chế kinh tế quan trọng cho sự phát triển năng động và sáng tạo của quốc gia kể từ công cuộc đổi mới cho đến những năm 2010 Báo cáo cũng cho thấy các điểm còn hạn chế trong tiếp cận vốn và hệ thống tài chính của Việt Nam trong giai đoạn này cũng như gợi mở một số hàm ý cho tiếp cận bình đẳng vốn Trước bối cảnh đó, “Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc - UNDP (2022)” hàm ý về phát triển một hệ thống tài chính hiệu quả cho sự mở rộng của khu vực KTTN Việt Nam trong giai đoạn tới với một số hàm ý về: (i) ổn định và cắt giảm các chi tiêu thường xuyên trong khu vực nhà nước nhằm tạo điều kiện chi đầu tư phát triển, đặc biệt
hỗ trợ DN địa phương; (ii) hạn chế các khoản vay viện trợ cho các hoạt động đầu tư Chính phủ, thay vào đó, nhờ đến khu vực tư nhân nội địa; (iii) hỗ trợ các dự án đầu tư
Trang 17xanh; (iv) tăng cạnh tranh nguồn vốn và môi trường cạnh tranh giữa khu vực tư nhân và tập đoàn nước ngoài; (v) cải thiện hệ thống thuế theo hướng hỗ trợ DNNVV
Về các tập đoàn KTTN
Các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới thường là các công ty xuyên quốc gia kinh doanh đa ngành nghề, có nhà máy, cửa hàng, chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều nước, tiềm lực kinh tế mạnh (Lê Minh Trường, 2021) Các tập đoàn kinh tế là nhân tố chủ chốt trong việc huy động tối đa các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực lớn trong xã hội vào sản xuất - kinh doanh với quy mô lớn, từ đó tạo ra sự chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất - kinh doanh; thúc đẩy việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ… qua
đó tạo ra những đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia (Lê Minh Trường, 2021)
Tập đoàn KTTN được hình thành bằng sự tăng trưởng quy mô và mở rộng phạm
vi hoạt động của chính các DN Việc hình thành tập đoàn hoàn toàn là do nhu cầu và nội lực của DN và không có bất cứ một quyết định chuyển đổi hay sắp xếp hành chính nào (Mô hình tập đoàn kinh tế tại một số nước và gợi ý cho Việt Nam, 2021) Trong giai đoạn hiện nay, mô hình tập đoàn KTTN chưa được công nhận là một đơn vị chính thống, nhiều tập đoàn buộc phải lấy những tên chưa chính danh như “công ty cổ phần tập đoàn” hoặc “công ty trách nhiệm hữu hạn tập đoàn” (Đặc điểm KTTN Việt Nam, 2012) Tuy nhiên, hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang chứng kiến sự phát triển ngày càng lớn mạnh của các tập đoàn KTTN, khẳng định được tầm vóc, sức vươn mạnh mẽ và có nhiều đóng góp quan trọng cho nền kinh tế ở cả phương diện GDP, lao động, ngân sách…, trở thành
“cánh chim đầu đàn tại một số lĩnh vực đầu tư như du lịch, chế biến thực phẩm, công nghệ viễn thông… (Nguyễn Hùng, 2021), điển hình trong đó là Sun Group, Vingroup, Thaco, Masan, FPT, DOJI, Hòa Phát…
Trong 5 năm qua, mặc dù đã tạo được dấu ấn và đạt được rất nhiều kết quả đáng khích lệ, hiệu quả SXKD của khu vực DN tư nhân trong nước vẫn còn gặp nhiều thách thức và chưa được cải thiện đáng kể so với kỳ vọng (Nguyễn Hùng, 2021) Trong cộng đồng các DN tư nhân đang hoạt động, những DN, tập đoàn lớn chỉ chiếm khoảng 2%, còn lại là các DN vừa, nhỏ và siêu nhỏ Điều này được lý giải vì khu vực KTTN đang phải đối mặt với nhiều khó khăn như: chưa có sự thống nhất cao về nhận thức, sự phát triển và mô hình kinh doanh chưa phù hợp với mục tiêu và định hướng lâu dài Bên cạnh
đó, sự bất bình đẳng về chính sách tiếp cận vốn giữa khu vực KTTN và khu vực kinh tế nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn lớn cũng khiến DN tư nhân nói chung
và các tập đoàn tư nhân nói riêng phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình phát triển (Hiếu Công, 2020)
Trang 18Nhận thấy thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết để khẳng định vị thế to lớn của khu vực KTTN và khẳng định vị thế, vai trò của các tập đoàn lớn đóng góp vào công cuộc kiến thiết đất nước Cụ thể, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X và XII chỉ ra KTTN được khẳng định có vai trò quan trọng lâu dài Đến năm
2017, Đại hội Đảng lần thứ XII KTTN tái khẳng định “yêu cầu phát triển KTTN trở thành động lực của nền kinh tế Nghị quyết cũng khuyến khích việc chính thức hóa các
hộ kinh doanh, chuyển đổi thành mô hình DN đăng ký chính thức, và khuyến khích sự hình thành các tập đoàn KTTN đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, có đủ khả năng tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.”
Hoạt động QLNN đối với KTTN
Hoạt động QLNN đối với KTTN được thể hiện trong nhiều Luật như “Luật DN, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại DN, Luật các tổ chức tín dụng, Luật chứng khoán…” Đi kèm theo đó là rất nhiều các văn bản để hướng dẫn thực hiện như các Nghị định, Thông tư, điều chỉnh hoạt động của các mối quan hệ kinh tế, trong đó có khu vực KTTN đặc thù
Trong thời gian những năm trở lại đây, hoạt động QLNN đối với KTTN đã đạt được nhiều bước tiến đáng ghi nhận Cụ thể, QLNN ở địa phương tích cực đổi mới thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Từ cơ chế quản lý kinh tế theo cơ chế bao cấp, mệnh lệnh chuyển sang quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho
SXKD (Lê Hữu Toản, 2021)
Mặc dù Nhà nước đã liên tục đưa ra những thay đổi, cải cách tích cực về cơ chế quản lý đối với KTTN, hiện nay vẫn còn khá nhiều những tồn tại tiêu cực và nặng nề về
cơ chế xin - cho (Nguyễn Hồng Sơn, 2017) Cơ hội tiếp cận kinh doanh, nguồn lực phát triển chưa thực sự bình đẳng, phát sinh nhiều chi phí trung gian, chi phí không chính thức Hệ thống pháp luật dù đã có nhiều sửa đổi song vẫn còn vướng mắc, chưa có sự tổng hợp rà soát hiệu quả để tạo thành một hệ thống quy định đúng đắn thống nhất (Huy Thắng, 2021) Các DN tư nhân còn bị đối xử chưa công bằng so với các đối tượng DN khác, nhiều điều kiện cho DN tư nhân trong nước còn cao, bất bình đẳng hơn so với DN FDI (Thanh Hằng, 2018) Cụ thể, trong lĩnh vực giáo dục, DN tư nhân phải tuân theo Nghị định 46 trong khi DN FDI hoạt động theo Nghị định 73 Hơn nữa, DN tư nhân còn gặp nhiều vướng mắc trong giải quyết thủ tục giấy tờ, hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh, quy định pháp lý không rõ ràng, không hợp lý tạo ra chi phí tuân thủ cao, can thiệp hành chính sâu vào quản trị nội bộ của DN (Hà Anh, 2021) QLNN đối với KTTN
Trang 19chủ trương, chính sách về phát triển KTTN Đặc biệt, nhiều địa phương còn thiếu những chính sách mang tính đặc thù của riêng mình để đột phá thu hút KTTN và xử lý vướng mắc, bất cập đang tồn tại (Lê Hữu Toản, 2021)
Hoạt động QLNN với các tập đoàn KTTN
Trên thế giới, nhiều quốc gia đã chú trọng vào việc phát triển nền KTTN nói chung
và các tập đoàn KTTN nói riêng Điển hình vào năm 1961, Hàn Quốc đã đưa ra nhiều chính sách cải tổ kinh tế, trong đó chú trọng tạo ra nhiều bệ phóng, điều kiện cho các
DN tư nhân phát triển thành các tập đoàn KTTN lớn (Nguyễn Thanh Huyền & Lê Nữ Minh Quyên, 2021) Nghiên cứu trên đã chỉ ra hệ thống các giải pháp mà Chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng để hỗ trợ các tập đoàn KTTN như: cung cấp tín dụng với lãi suất thấp ưu đãi từ Ngân hàng Nhà nước, bảo lãnh để các DN tư nhân có thể dễ dàng tiếp cận với thị trường các nguồn vốn bên ngoài, giảm thuế đối các mặt hàng của các DN này để thúc đẩy sản xuất nhiều sản phẩm Như vậy, nghiên cứu trên cũng chỉ ra với những chính sách, phương án ưu đãi này, các tập đoàn KTTN ngày càng phát triển vững mạnh và kết quả là đã tạo ra 80% GDP và thúc đẩy nền kinh tế của Hàn Quốc tăng trưởng vượt bậc vào thời điểm lúc bấy giờ Tương tự, Hoa Kỳ cũng chú trọng thực hiện nhiều chính sách tạo đà cho các tập đoàn KTTN phát triển, thúc đẩy môi trường SXKD, nâng cao năng lực cạnh tranh Điều này lý giải nguyên nhân các tập đoàn KTTN tại Hoa Kỳ phát triển rất nhanh và nằm trong danh sách những DN lớn trên toàn cầu (Nguyễn Thanh Huyền
& Lê Nữ Minh Quyên, 2021)
Tại Việt Nam, từ năm 1986, sau công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, kinh tế Việt Nam đã có bước chuyển mình và tăng trưởng đáng
kể cho đến hiện tại Nghị quyết 10 năm 2017 của Ban chấp hành Trung ương đã khẳng định: “phát triển tư nhân đã khuyến khích việc hình thành nên DN lớn, các tập đoàn tư nhân đa dạng sở hữu, có đủ khả năng tham gia và thích ứng với mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị cung ứng trên toàn cầu…” Sự tăng trưởng trong khu vực KTTN nói chung
và sự hình thành, phát triển của các tập đoàn KTTN nói riêng trong bối cảnh đất nước đang trên con đường phát triển và hội nhập quốc tế là cơ hội để thu hút nhiều nguồn vốn FDI, tiếp thu kiến thức khoa học - công nghệ và trình độ quản trị tiên tiến Xét dưới góc
độ QLNN, Chính phủ luôn tạo điều kiện để các tập đoàn KTTN Việt Nam được tự do SXKD ở tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm và được bình đẳng Từ đó, các tập đoàn KTTN ở Việt Nam hiện nay đã có phạm vi hoạt động rộng khắp, SXKD ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực nên việc quản lý vĩ mô đối với các tập đoàn KTTN liên quan đến nhiều bộ luật và các văn bản pháp quy như: quy định về vốn Nhà nước đầu tư vào DN tư nhân; quy định về quản lý, sử dụng đất đai; Trong những năm gần đây, diễn ra liên tục các sự kiện sáp nhập và mua lại (M&A) với quy mô lớn trong nền
Trang 20KTTN điển hình như các thương vụ liên quan tới các tập đoàn Vingroup, Vinamilk, Masan, Thaco, (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2021) Điều này dẫn tới sự phát triển bùng
nổ của nhiều tập đoàn KTTN lớn và tạo nên những xu hướng phát triển và đầu tư ở Việt Nam
Mặc dù đã có nhiều thay đổi, cải thiện đáng kể trong cơ chế chính sách, tuy nhiên Việt Nam vẫn còn lúng túng trong xây dựng đội ngũ DN lớn và hùng hậu, nếu không làm được điều này thì nền kinh tế của chúng ta sẽ khó có thể phát triển vượt bậc (Nỗi buồn thiếu vắng đội ngũ DN tư nhân lớn, 2021) Cụ thể, Việt Nam cần có thêm các chính sách, điều khoản, điều kiện ưu đãi, ủng hộ DN chấp nhận rủi ro, tăng cường khả năng quản lý, làm chủ công nghệ tương lai để các tập đoàn KTTN có thể là “đầu tàu” liên kết, tạo ra tiếng nói chung để nâng cao năng lực cốt lõi, năng lực cạnh tranh, tham gia được đầy đủ vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu Nhìn từ các nước như Hoa Kỳ và Hàn Quốc rất thành công khi dành nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm và đã tạo nên nhiều DN
kỳ lân cho nền kinh tế Hơn nữa, Nhà nước cần đầu tư cho khối DN nhỏ và siêu nhỏ để lọc ra các DN có thể thoát nhỏ và từ đó sẽ tạo ra một lứa DN lớn trong tương lai
Như vậy, tổng quan tài liệu tham khảo đến nay có một số điểm nổi bật Một là,
mặc dù DN tư nhân, đặc biệt các tập đoàn nội địa, có vai trò và vị trí ngày càng quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội và ĐMST cho đất nước nhưng chưa phát huy được
hết tiềm năng và hỗ trợ đúng mức Hai là, các ảnh hưởng trong bối cảnh mới đòi hỏi sự
phát triển mạnh mẽ của các tập đoàn KTTN nội địa so với nước ngoài, đồng thời cần có
các rào cản pháp lý quan trọng cho thúc đẩy môi trường kinh doanh Ba là, xu hướng
phát triển DN cũng sẽ có nhiều sự biến chuyển đáng kể liên quan đến tương tác khách hàng, các bên liên quan và cấu trúc SXKD của DN Chính vì thế, việc nghiên cứu vai trò của các tập đoàn KTTN Việt Nam và các hoạt động QLNN cho các DN này là hết sức cần thiết bởi một số lý do nổi bật: (i) đây là khu vực có thể cạnh tranh mạnh mẽ và nhanh chóng trong thời gian tới với các DN nước ngoài và là một trong những nguồn ĐMST chính cho đất nước; (ii) các tập đoàn KTTN nội địa đóng góp đáng kể cho lao động, việc làm và những hoạt động mang tính chất an sinh xã hội nhưng gặp nhiều trở ngại trong cạnh tranh công bằng, lành mạnh với các tập đoàn quốc tế, đặc biệt liên quan đến vấn đề chuyển giá, do đó cần thiết phải có các cơ chế thúc đẩy cạnh tranh cho khu vực này; (iii) hiện nay chưa có nhiều công trình trong và ngoài nước chú trọng đến sự hình thành và phát triển của các tập đoàn tư nhân và (iv) chưa có nhiều nghiên cứu trong
và ngoài nước về vai trò QLNN vĩ mô và đi cùng với chúng là vấn đề cải cách hành chính hướng tới các tập đoàn KTTN Do đó, có một khoảng trống nghiên cứu đáng kể trong việc xem xét các tập đoàn KTTN dưới góc độ là đối tượng chính trong cơ chế
Trang 21QLNN nói chung và việc vận hành, đổi mới của QLNN nhằm thúc đẩy các tập đoàn KTTN lớn mạnh để đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế xã hội đất nước
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao hoạt động QLNN đối với các tập đoàn KTTN Việt Nam trong thời gian tới
Để đạt mục tiêu nghiên cứu, đề tài có 03 nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Thứ nhất, khái quát hóa cơ sở lý luận về sự phát triển và vai trò của khu vực KTTN,
các tập đoàn KTTN Việt Nam cũng như hoạt động QLNN đối với KTTN;
- Thứ hai, khái quát hóa hiện trạng hoạt động QLNN trong pham vi tạo lập môi
trường SXKD đối với khu vực tư và các tập đoàn KTTN Việt Nam;
- Thứ ba, đề xuất các giải pháp, khuyến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN
đối với các tập đoàn KTTN Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động QLNN đối với các tập đoàn KTTN Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi về thời gian: đề tài sử dụng dữ liệu và phân tích trong giai đoạn 10 năm
từ 2011-2021, khi nền kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng ổn định với những kết quả, thành tựu đáng ghi nhận và thể hiện vị thế, vai trò cao trong khu vực
• Phạm vi về không gian: đề tài thực hiện nghiên cứu hoạt động QLNN đối với các
tập đoàn KTTN Việt Nam không phân biệt giới hạn địa lý
• Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động QLNN
đối với các tập đoàn KTTN hàng đầu thuộc nhóm DN tư nhân lớn, từ đó đưa ra các khuyến nghị, giải pháp hoàn thiện hoạt động QLNN đối với các tập đoàn
KTTN Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tác giả thu thập các nghiên cứu trước đó theo chủ đề: DN tư nhân Việt Nam, tập đoàn KTTN Việt Nam, các văn bản pháp
lý liên quan đến hoạt động kinh tế Các tài liệu được thu thập đều là các tài liệu
từ nguồn tin cậy gồm các dữ liệu từ cơ sở google, các bài báo, tạp chí khoa học quốc tế và trong nước, thống kê từ tổng cục thống kê và bộ kế hoạch đầu tư, các trang web của một số tập đoàn KTTN
Trang 22• Phương pháp tổng hợp: Hình thức nghiên cứu này được sử dụng để tổng hợp các thông tin thu thập được để đưa ra những tính toán, đánh giá, nhận xét có tính quy nạp và mô phỏng
• Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Tác giả phỏng vấn sâu 02 nhóm đối tượng để đánh giá và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN đối với các tập đoàn KTTN Việt Nam
- Nhóm đối tượng bên trong DN:
+ Lãnh đạo một số tập đoàn KTTN, những người rất am hiểu về khu vực KTTN,
có kinh nghiệm điều hành, quản lý DN lâu năm
+ Nhân sự quản lý cấp trung trong một số tập đoàn KTTN, những người nắm các
vị trí then chốt và đóng góp quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển của các tập đoàn KTTN
- Nhóm đối tượng bên ngoài DN:
+ Một số chuyên gia quản lý kinh tế, kinh tế chính trị đang nghiên cứu, giảng dạy trong các trường Đại học, Viện nghiên cứu
+ Một số chuyên gia quản lý kinh tế nhà nước trong các cơ quan công quyền + Một số chuyên gia am hiểu về luật pháp
Trang 23CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ TƯ NHÂN
VIỆT NAM TRONG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH HIỆN NAY
1.1 Sự hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân trong nền kinh tế đất nước
Khi các hoạt động SXKD diễn ra, các chủ thể sẽ có sự hợp tác, liên kết hình thành thông qua hoạt động góp vốn, đầu tư… và về giác độ pháp lý, các tập đoàn kinh tế được hình thành từ những sự hợp tác, liên kết đó Trong một tập đoàn kinh tế, các hình thức, mối quan hệ liên kết hết sức phức tạp, gắn với các giao kết theo hình thức hợp đồng như: hợp đồng góp vốn, hợp đồng chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, hợp đồng chuyển quyền
sử dụng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp, hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp…
Hộp 1.1 Định nghĩa và điều kiện thành lập tập đoàn kinh tế, tổng công ty
Trang 24Nguồn:
https://luatminhkhue.vn/muon-thanh-lap-tap-doan-phai-co-it-nhat-5-cong-ty-con-co-dung-khong-.aspx
Trang 25Như vậy, thông qua các hoạt động góp vốn, đầu tư, mua bán, sáp nhập, tái cơ cấu, cấu trúc lại, các tập đoàn, tổng công ty được hình thành như là một tổ hợp kinh tế chuyên môn với quy mô lớn, thực hiện các chức năng, hoạt động SXKD, đầu tư, thương mại, trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề Liên kết kinh doanh được thực hiện theo hình thái tập đoàn, tổng công ty nhằm mục tiêu tập trung các nguồn lực cần thiết để gia tăng năng lực cạnh tranh, tối ưu vận hành và tối đa hóa lợi nhuận
Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào quy định một cách cụ thể về điều kiện thành lập tập đoàn, tổng công ty tư nhân Việc hình thành, thành lập các đơn vị kinh doanh như các tập đoàn, tổng công ty tư nhân hoàn toàn tự nhiên dựa trên quyền công dân được tự do SXKD, tự do giao kết hợp đồng Trong phạm vi đề tài này, tập đoàn KTTN Việt Nam hàng đầu được định nghĩa là các DN tư nhân có quy mô lao động trên
300 người với tổng vốn trên 100 tỷ, có thương hiệu lớn và uy tín trên thị trường, hoạt động ở phạm vi rộng khắp trên đất nước và cả quốc tế Theo đó, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP đã chi tiết phân loại DN (phụ lục 1) nên khái niệm “Tập đoàn KTTN” hay “DN lớn” được sử dụng tương đồng trong xuyên suốt chuyên đề
Đối với DN nhà nước, hiện có quy định giữa Tập đoàn thành lập theo NĐ 91 của
CP và Tổng công ty thành lập theo NĐ 90 Tập đoàn KTNN do Thủ tướng phê duyệt và
ký QĐ thành lập, Tổng Công ty do các Bộ Ngành thành lập theo phương án được Thủ tướng phê chuẩn
Dựa trên quan hệ sở hữu và lịch sử hình thành các liên kết kinh doanh, nền kinh tế
sẽ có 03 hình thái: tập đoàn, tổng công ty nhà nước; tập đoàn, tổng công ty FDI và tập đoàn, tổng công ty tư nhân Phân tích riêng về mô hình tư nhân, có thể thấy, xuất phát
từ nhu cầu SXKD thực tiễn cũng như nhu cầu mở rộng, phát triển, các thiết chế tập đoàn, tổng công ty tư nhân sẽ được hình thành Khi đạt đến một mức độ quy mô tương đối, nhu cầu liên kết, tập hợp lại cũng như nhu cầu khẳng định tầm vóc DN trên thị trường,
sự liên kết trong nội bộ DN diễn ra, tạo nên các tổ hợp DN Trong các tập đoàn kinh tế, tổng công ty tư nhân, mỗi công ty là một pháp nhân hoạt động một cách độc lập theo luật DN và hệ thống pháp lý về công ty, theo mô hình công ty mẹ - con Các công ty mẹ trong các tổ hợp KTTN này thường sẽ không có phần sở hữu của Nhà nước hoặc mức
độ góp vốn của Nhà nước không đủ chi phối theo quy định
Ngày 29/10/2009, theo đề xuất của Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam, việc thành lập
ra các tập đoàn KTTN đã được Thủ tướng phê duyệt về mặt nguyên tắc Kể từ đó, các tập đoàn KTTN đã được hình thành và phát triển rất đa dạng ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề như sản xuất, bán lẻ, thương mại, xuất nhập khẩu…
Qua hơn 10 năm hình thành và phát triển, các tổ hợp KTTN lớn dưới hình thức tập đoàn đã và đang thể hiện tiềm lực, sức mạnh của mình thông qua quy mô vốn, quy mô
Trang 26lao động cũng như lĩnh vực ngành nghề và phạm vi hoạt động Ví dụ, tập đoàn Vingroup
có lĩnh vực SXKD chính là bất động sản, nghỉ dưỡng, thương mại, bán lẻ thì mở rộng
cả sang lĩnh vực sản xuất ô tô, điện thoại, lĩnh vực y tế, giáo dục Tập đoàn Vàng bạc
Đá quý DOJI có lĩnh vực kinh doanh cốt lõi là sản xuất chế tác, bán buôn và bán lẻ các sản phẩm vàng bạc đá quý, trang sức, đã lấn sân sang lĩnh vực tài chính, bất động sản, nhà hàng, khách sạn Trong khi đó, tuy cùng một mô hình nhưng các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vốn chỉ đơn ngành hoặc rất ít ngành, do chủ trương của Nhà nước là tập trung đầu tư, SXKD những ngành nghề chính yếu, cốt lõi Ví dụ Tập đoàn điện lực chủ yếu vận hành khai thác trong lĩnh vực điện năng, từ sản xuất, kinh doanh mua bán, xuất nhập khẩu, điều tiết điện năng cho đến quản lý các dự án điện Hay tập đoàn dầu khí Việt Nam, được đánh giá là một trong những DN lớn nhất đất nước thì chủ yếu tập trung trong lĩnh vực dầu khí như thăm dò, khai thác, kinh doanh các chế phẩm dầu khí (điện năng, phân bón, năng lượng tái tạo)
1.2 Sự phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân
Thành phần KTTN đóng góp hơn 50% tổng GDP trong suốt giai đoạn 2017-2021 Theo đó, khu vực nước ngoài chiếm khoảng 20% GDP cả nước (Bảng 1.1) Đóng góp kinh tế của các tập đoàn lớn chiếm khoảng 65% khu vực KTTN, với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng khoảng 8-10%/năm Mức lương trung bình đóng góp của các tập đoàn cũng cao nhất so với các khu vực kinh tế (khoảng 10 triệu đồng/lao động so với 8 triệu đồng/lao động của trung bình các khu vực khác năm 2020) Hơn thế, trong giai đoạn Covid-19, khu vực tư nhân đã và đang duy trì và phát triển chính là nền tảng quan trọng
để đảm bảo việc làm và đời sống người lao động và giảm tải các áp lực về phúc lợi (Malesky, 2020) Các nghiên cứu gần đây cũng đã đưa ra mối tương quan thuận chiều ngày càng rõ ràng hơn về vai trò của DN tư nhân nói chung và các tập đoàn KTTN nói riêng trong việc giảm nghèo đa chiều, bất bình đẳng, hội nhập quốc tế, cải thiện năng suất quốc gia và là nhân tố thúc đẩy cho quá trình ĐMST của đất nước (Baccini, Impullitti, & Malesky, 2019; Van Le, Tran, & Doan, 2022) Theo đó, Van Le, Tran, & Doan (2022) chứng minh rằng với mỗi 1% gia tăng KTTN sẽ đóng góp giảm nghèo đa chiều tại Việt Nam 0.3% Trong khi đó, Baccini, Impullitti, & Malesky (2019) khẳng định vai trò của khu vực tư trong cải thiện năng suất quốc gia khi gia nhập WTO khoảng 40% năng suất Các nghiên cứu khác cũng chứng minh vai trò của KTTN trong đạt được các mục tiêu tăng trưởng bền vững (Rashed & Shah, 2021)
Trang 27Bảng 1.1 Cơ cấu tổng sản phẩm (GDP) phân theo thành phần kinh tế, 2011-2021
Năm TỔNG SỐ (Tỷ đồng) Kinh tế Nhà nước Kinh tế ngoài Nhà nước Khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm
Nguồn: Niên giám thống kê [GSO](2022).
Sự phát triển của các tập đoàn KTTN Việt Nam trong xuyên suốt 2011-2019 có
một số điểm nổi bật chính Thứ nhất, mặc dù có số lượng hạn chế nhưng chiếm hơn 60%
nguồn lực (vốn đầu tư và lao động) của KTTN tại Việt Nam Theo đó, trong xuyên suốt giai đoạn từ 2011-2019 DN lớn chỉ chiếm 2-3% về số lượng nhưng chiếm hơn 62% nguồn vốn đầu tư và sử dụng 60% lực lượng lao động của khối DN tư nhân Trong khi
đó, khối DN tư nhân cùng với DN FDI chiếm đến hơn 70% nguồn vốn đầu tư và hơn 95% số lao động việc làm tính chung cả nền kinh tế (Niên giám thống kê [GSO], 2022)
Thứ hai, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư của các tập đoàn tư nhân có xu hướng suy giảm
mạnh từ kể từ 2018; Theo đó, Bảng 1.2 cho thấy lượng tăng trưởng vốn của các tập đoàn
tư nhân chỉ khoảng 6.7% so với hơn 10% của các loại quy mô DN khác Dẫu vậy, nếu
xét cả giai đoạn 2011-2019 tăng trưởng vốn của các tập đoàn là đáng kể Thứ ba, ngược
lại với xu hướng tăng trưởng vốn thì các tập đoàn tư nhân lớn đang ngày càng sử dụng nhiều nhân công hơn; theo đó, tăng trưởng số việc làm trong khu vực này là cao nhất
Trang 28với 3.7% tăng trưởng năm 2019 Điều này được lý giải bởi các hợp đồng lao động được đảm bảo hơn và xu hướng thực hiện mạnh mẽ các cam kết với người lao động, với khách hàng và trách nhiệm xã hội DN (CSR) (Nguyen, Bensemann, & Kelly, 2018)
Bảng 1.2 Số lượng DN tư nhân, quy mô vốn và lao động tại Việt Nam,
2011-2019
Nguồn: Bộ Kế hoạch & Đầu tư [MPI], 2021
Môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam trong xuyên suốt giai đoạn đoạn này cũng được cải thiện thông qua sự cởi mở về hỗ trợ Chính phủ tới hệ thống DN (E J Malesky, 2022) Sự hội nhập ngày càng đa chiều và sâu rộng của Việt Nam trên quốc tế
Trang 29ACE và AKFTA năm 2015, VCUFTA năm 2016 và CPTPP năm 2018 Thực tế, độ mở của nền kinh tế Việt Nam với bên ngoài - tính trên tỷ trọng xuất nhập khẩu trên quy mô chung của toàn nền kinh tế - đã tăng từ 141.9% (2010) đã tăng lên đến hơn 210% (2020) với tốc độ mở trung bình khoảng 3.88%/năm Các công trình nghiên cứu cũng cho thấy những lợi ích của việc gia nhập các hiệp định này không chỉ ở việc cải thiện tổng sản phẩm quốc gia mà còn trực tiếp tăng doanh thu và năng suất tập đoàn tư nhân (Kikuchia, Yanagida, & Vo, 2018) Hơn thế, môi trường SXKD thuận lợi được thể hiện qua các con số chi phí không chính thức của Việt Nam đã có sự suy giảm đáng kể trong suốt giai đoạn 2010-2021 (Bảng 1.2)
Bảng 1.3 Chi phí không chính thức, giai đoạn 2010-2021
Tỷ lệ doanh nghiệp chịu chi phí không chính thức trên 5%
Tỷ lệ DN bị phiền hà vì thanh tra kiểm tra (%)
19.1 20.5
3.3 4.2
9.8 9.3
Nguồn: E Malesky, 2019 và báo cáo PCI 2020
Tỷ lệ vốn đầu tư vào hoạt động kinh tế nước ta giai đoạn 2010-2021, mặc dù có xu hướng suy giảm nhất định nhưng vẫn được duy trì ở mức trên 30%, tương tự như các quốc gia công nghiệp mới nổi thời kỳ phát triển Cụ thể như Hàn Quốc là 30.8-37.6% (1996-1998), Nhật Bản là 30-35% (giai đoạn 70-90 của thế kỷ trước) và Trung Quốc trước những năm 2000 là hơn 30% (Asian Development Bank [ADB], 2009) Dẫu vậy, giai đoạn 2010-2018, tỷ lệ tiết kiệm, dự trữ tại Việt Nam đã giảm dưới 30% hàm ý về quy mô đầu tư nền kinh tế giảm trong tương lai (Niên giám thống kê [GS0], 2022) Song song với đó là chỉ số đo lường hiệu quả đầu tư vốn (ICOR), bất lợi cũng phản ánh xu hướng tăng trưởng của các tập đoàn sẽ chịu ảnh hưởng từ nền kinh tế vĩ mô trong vài năm tới Và mặc dù các thông số về kiểm soát vĩ mô tại Việt Nam là tương đối chắc chắn, ổn định (như chỉ số lạm phát, tỷ giá, tăng trưởng kinh tế) nhưng sự khó lường trước của một số chính sách can thiệp trực tiếp từ Chính phủ có thể tạo ra các rủi ro lớn với DN (Thach, Oanh, & Chuong, 2019) Hơn nữa, làn sóng Covid-19 đã tác động một cách đáng kể tới cấu trúc DN thông qua sự gián đoạn, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu
Trang 30và nhu cầu thị trường thay đổi, suy giảm Các DN đã chú trọng hơn tới hoạt động đổi mới, cải tiến, đa dạng hóa thêm các sản phẩm công nghệ, và thay đổi đáng kể cơ cấu tổ chức của DN Trước những khó khăn của DN chịu tác động tiêu cực từ đại dịch Covid-
19, mặc dù đã có nhiều động thái hỗ trợ của Nhà nước, Chỉnh phủ về lãi suất, thuế, lệ phí, giá thuê đất… nhưng theo đánh giá của (E J Malesky, 2020) là còn nhiều bất cập
và chưa đạt được như mong đợi, đặc biệt liên quan đến tính công khai, minh bạch, sự công bằng và hiệu quả trong việc phân bổ các gói hỗ trợ
Cạnh tranh nguồn lực giữa khu vực tư nhân và Nhà nước
Bên cạnh các rủi ro về môi trường kinh doanh, sự bất ổn vĩ mô và đại dịch
Covid-19, một trong những vấn đề hết sức lưu tâm của các tập đoàn khu vực tư lại có liên quan đến sự cạnh tranh nguồn lực và thị phần trước tập đoàn, DN nhà nước Tính bình quân giai đoạn 2017-2020, số DN nhà nước mặc dù chiếm chưa đến 0.5% nhưng sử dụng tới gần 30% vốn và 8.3% số lượng lao động nền kinh tế, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020) Hơn nữa, các ngành nghề SXKD của các tập đoàn, DN nhà nước chủ yếu liên quan đến nguồn lực trọng yếu trên thị trường như điện năng, nhiên liệu, viễn thông,… (Le, Cabalu, & Salimb, 2014)
Sự tồn tại của hệ thống các DN nhà nước tại các quốc gia đang chuyển đổi thường mang lại nhiều hệ lụy không mấy tích cực cho một môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng Theo đó, cơ chế trả lương của các DN nhà nước được ghi nhận thiếu tính cạnh tranh so với khu vực tư nhân ở một số điểm: (i) việc tuyển dụng người lao động mang nặng tính phân bổ, giới thiệu, điều chuyển, thân hữu so với cơ chế cạnh tranh năng lực; (ii) trong khi hệ thống trả lương và tăng lương chưa theo hướng cạnh tranh lành mạnh (Phan & Coxhead, 2013) Điều này tạo ra các “tín hiệu kinh tế” sai lệch, dưới quan điểm các nhà kinh tế học tân cổ điển, theo hướng tìm kiếm các mối quan hệ thay vì nâng cao năng suất và cải tiến từ học hỏi kinh nghiệm/tri thức từ bên ngoài Cũng cần chú ý rằng xu hướng này không phải xảy ra ở tất cả các tập đoàn nhà nước nhưng được ghi nhận phổ biến trong nghiên cứu của (Phan & Coxhead, 2013) Hơn nữa, Le, Cabalu,
& Salimb (2014) nhận định thêm rằng quá trình cổ phần hóa DN diễn ra theo cách thức
“giữ lớn, bỏ nhỏ”; Cụ thể, phần lớn DN nhà nước quy mô hạn chế với lợi nhuận thấp được cổ phần hóa trong khi các tập đoàn lớn chưa thể cổ phần hóa thành công và gặp nhiều trở ngại trong tiến trình này Có thể nhìn thấy điện, dầu khí và viễn thông là ba trong số lĩnh vực vẫn được nắm giữ bởi các tập đoàn nhà nước với hiệu quả kinh tế đang được giữ vững ở mức tương đối cao và ổn định Các phân tích nhận định thêm rằng, việc thiếu hụt hoặc thiếu cạnh tranh trong các nguồn lực quan trọng có thể khiến chi phí
DN gia tăng đáng kể Dẫu vậy, cần tỉnh táo nhận thức rõ ràng rằng các vấn đề về điện
Trang 31năng, dầu khí, khoáng sản và viễn thông đóng vai trò rất quan trọng trong an ninh quốc gia và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước
Các nghiên cứu về DN nhà nước trong tiến trình hội nhập quốc tế cũng tương đối phong phú (Baccini et al., 2019) Theo đó, tác giả có góc nhìn thiếu tích cực về quá trình hội nhập của các DN nhà nước và chỉ ra rằng: các tập đoàn này có xu hướng bước đi chậm hơn trong việc thích ứng với các quy định mới và sự thay đổi, phát triển nhanh chóng của xu thế toàn cầu hóa Hệ quả là, nhiều các cơ hội kinh doanh mới bị bỏ lỡ và việc thiếu linh hoạt này làm giảm khoảng 40% năng suất tiềm năng theo góc nhìn của tác giả
Bảng 1.4 ROA, ROE của DN Việt Nam 2011-2019
(thay đổi) (tăng) (1.2 lần) (giảm) (tăng) (1.2 lần) (giảm)
Nguồn: Dữ liệu Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2020)
Tình hình hoạt động kinh doanh của tập đoàn tư nhân Việt Nam
Bảng 1.5 tổng hợp một số chỉ số hoạt động của hơn 1,844 DN quy mô lớn/tập đoàn
tư nhân tại Việt Nam so với 6,708 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Theo đó, một
số chỉ số được quan tâm như: (i) doanh thu bình quân năm, (ii) lợi nhuận trung bình năm, (iii) tiền lương bình quân người lao động, (iv) và (v) lợi nhuận DN trên tài sản (ROA) và trên vốn chủ sở hữu (ROE) Ngoài ra, các chỉ số về hoạt động cải tiến cũng được mô tả nhằm xem xét xu hướng vận hành của tập đoàn tư nhân trong tương lai Trong giai đoạn 2017-2019, một cách rõ ràng, trung bình doanh thu của các tập đoàn
Trang 32gấp hơn 10 lần so với các DNNVV, đồng thời lợi nhuận hằng năm gấp bình quân hơn
20 lần một cách tương ứng Tiền lương của cán bộ công nhân viên cũng được đảm bảo bình quân ở mức 8.72 triệu đồng so với chỉ khoảng 7.65 triệu đồng tại khu vực DNNVV; Điều này kết hợp với chất lượng hợp đồng lao động được đảm bảo tại các tập đoàn, lý giải vì sao xu hướng chuyển dịch lao động vào khu vực này trong xuyên suốt giai đoạn 2011-2020 Hơn nữa, nếu so sánh với dữ liệu về tiền lương và lợi nhuận bình quân của
DN tư nhân giai đoạn 2011-2015 thì tỷ lệ tăng trưởng bình quân hằng năm là khoảng 6%/năm Ngược lại, tỷ lệ DN phải tạm dừng hoặc tuyên bố phá sản cũng gia tăng đáng
2-kể (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020, 2021) Tỷ lệ thực hiện các cải tiến của tập đoàn tư nhân về quy trình hoạt động, dây chuyền sản xuất, quy trình chế biến và chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cũng cao hơn các DNNVV, ngược lại, quy trình công nghệ ổn định hơn tại các tập đoàn cũng là nguyên nhân vì sao hoạt động nâng cấp công nghệ ở đơn vị lớn thường thấp hơn so với DNNVV Hơn nữa, số liệu về độ lệch chuẩn cũng cho thấy mức độ đồng nhất hơn trong hoạt động cải tiến và trả lương của các tập đoàn Dẫu vậy, sự khác biệt lớn giữa doanh thu và lợi nhuận hàng năm của các tập đoàn KTTN, kết hợp với lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bị âm bình quân hàm ý mức độ rủi ro khi vận hành các tập đoàn kinh tế lớn so với khu vực DNNVV là cao hơn
Bảng 1.5 Kết quả hoạt động SXKD của DN tư nhân Việt Nam,
2017-2019
Nguồn: Bộ dữ liệu điều tra DN 2017-2019
Phân tích sâu hơn vào sự khác biệt các chỉ số kinh doanh của hai loại tập đoàn tư nhân nội địa và DN, tập đoàn nước ngoài - và phân biệt giữa DN có hoạt động cải tiến
Trung bình Độ lệch Trung bình Độ lệch Doanh thu bình quân hàng năm Triệu đồng 116,153.57 284,048.66 1,137,963.99 2,525,779.03
Lợi nhuận bình quân hàng năm Triệu đồng 3,475.08 25,859.23 71,903.51 439,717.07
Tiền lương bình quân/tháng Triệu đồng 7.65 17.07 8.72 4.61
Số DN khảo sát
Đơn vị Loại hình DN
6,708 1,844
Trang 33tiêu chí trung bình, các tập đoàn nước ngoài có doanh thu hằng năm và chi trả lương cho cán bộ nhân viên cao hơn so với tập đoàn nội địa Dẫu vậy, tổng lợi nhuận hằng năm, lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) lại thấp hơn, thậm chí là -0.28% tại ROE Điều này có thể phản ánh tình trạng trốn thuế, tránh thuế của các tập đoàn nước ngoài Thực tế, dữ liệu từ 2012-2020 cho thấy tỷ lệ DN nước ngoài báo
lỗ lại tương quan thuận với tỷ lệ DN trong khu vực này mở rộng các hoạt động đầu tư
và SXKD (Hình 1.1)
Hình 1.1 Tương quan giữa tỷ lệ báo lỗ và tỷ lệ mở rộng kinh doanh của DN FDI,
2012-2021
Nguồn: Báo cáo PCI 2021
Thú vị hơn, kết quả SXKD của các tập đoàn có thực hiện việc đổi mới, cải tiến đương nhiên vượt trội hơn so với các tập đoàn không có các hoạt động tương tự Tuy nhiên, các tập đoàn có hoạt động cải tiến lại có sự dao động đáng kể hơn, hàm ý về độ rủi ro trong hoạt động khi thực hiện các cải tiến này Tốc độ tăng lương của các tập đoàn
y = 0.8677x + 22.383R² = 0.2519
Tỷ lệ doanh nghiệp tăng quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ
doanh nghiệp FDI báo lỗ (%)
y = 0.4719x + 31.326R² = 0.0486
Trang 34KTTN, đặc biệt tập đoàn có các hoạt động cải tiến, cũng nhanh hơn đáng kể so với trung bình khu vực DN so với giai đoạn 2011-2015 (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2020, 2021) Thêm vào đó, nghiên cứu của (E J Malesky, 2020) khẳng định rằng trước những hệ lụy nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, xu hướng đổi mới, cải tiến là không thể thoái thác, đồng thời các DN thực hiện hoạt động đổi mới, cải tiến trong một giai đoạn đủ dài sẽ có năng lực thích ứng tốt hơn và đạt được mức hiệu quả lâu dài trong các hoạt động SXKD
Bảng 1.6 Kết quả hoạt động SXKD của các tập đoàn Việt Nam, 2017-2019
Nguồn: Bộ dữ liệu điều tra DN 2017-2019
Hơn nữa, sự mở rộng và phát triển ngày càng nhanh chóng của khu vực ngoài nhà nước tại Việt Nam được thể hiện thông qua sự góp mặt ngày càng đông đúc các tập đoàn KTTN lớn trong bảng xếp hạng 50 DN lớn nhất Việt Nam Cụ thể, 18/50 DN trong danh sách này là DN thuộc khu vực tư trong năm 2021 so với 16/50 DN năm 2017 và 7/50
DN năm 2011 Thứ bậc xếp hạng của tập đoàn KTTN cũng cải thiện đáng kể, theo đó,
ba tập đoàn tư nhân lớn nhất Việt Nam năm 2021 bao gồm Vingroup, Thế giới di động
và DOJI có tổng thứ bậc là 25 so với thứ bậc 40 của 3 tập đoàn lớn tư nhân lớn nhất là vào năm 2017 là Vingroup, Ô tô Trường Hải và Vinamilk Trong khi đó năm 2011 và
2015, 3 DN tư nhân hàng đầu Việt Nam có tổng thứ hạng thứ 88 và 77, tương ứng Vingroup cũng đã trở thành tập đoàn tư nhân lớn thứ 5 trong số các tập đoàn cả nước năm 2021, so với năm 2017 (Bảng 1.7)
1,101
1,500
325
Trang 35Bảng 1.7 Một số chỉ số phản ánh sự cải thiện của các tập đoàn KTTN, 2011-2021
Nguồn: VN Reprort (xem thêm phụ lục 2, 3)
Một cách rõ ràng, hoạt động của các tập đoàn lớn sẽ có nhiều yếu tố rủi ro hơn so với các DNNVV, đặc biệt trong bối cảnh mà đại dịch Covid-19 để lại nhiều hệ lụy như hiện nay và sự cạnh tranh gay gắt của DN nhà nước, DN FDI đối với tư nhân khi Việt Nam đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa Xu hướng phát triển trong dài hạn đòi hỏi các tập đoàn phải tiến hành gấp rút và tốt hơn các hoạt động ĐMST…, đồng thời nảy sinh thêm các vấn đề trong QLNN đối với các hoạt động vận hành của các tập đoàn KTTN Một nội dung chính yếu của đề tài này là rà soát lại các chính sách nhà nước trong điều hành môi trường kinh doanh tại Việt Nam, đặc biệt trước hoạt động của các tập đoàn tư nhân
1.3 Xu hướng phát triển và đầu tư bền vững của khu vực kinh tế tư nhân
1.3.1 Hoạt động đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR)
Liên quan đến tác động của các hoạt động thực hiện trách nhiệm xã hội (CSR) tới hoạt động kinh doanh của các tập đoàn, một số nghiên cứu như Aupperle & cộng sự, (1985) và Singh & Misra (2021) bi quan rằng các hoạt động CSR giống như một loại chi phí trong vận hành DN mà không đem lại nhiều hiệu quả hay lợi ích nhãn tiền cho hoạt động kinh doanh Nghiêm trọng hơn, Brammer & Millington (2008) và Flammer (2015) cho rằng một số lãnh đạo DN còn tận dụng các hoạt động CSR để thúc đẩy, đánh bóng tên tuổi cá nhân thay vì mang lại danh tiếng, lợi ích thực sự cho công ty Hiểu một cách khác, họ hợp lý hóa các khoản thất thoát tài chính DN thông qua các hoạt động này
và làm xung đột lợi ích các cổ đông Ngược lại, nhiều nghiên cứu khác khẳng định hoạt động CSR là một hoạt động đầu tư có tính dài hạn để thúc đẩy danh tiếng của DN, tập đoàn, cải thiện sự hài lòng khách hàng, cải thiện năng suất nhân viên thông qua sự hài lòng, và tăng trưởng thị trường nhanh chóng (Freeman, 1994) Theo đó, hoạt động CSR như từ thiện, tổ chức các chương trình cộng đồng, gây quỹ khi tiêu dùng sản phẩm là
Số tập đoàn tư nhân
Trang 36một cách thức tốt để quảng bá hình ảnh tới cổ đông, nhân viên, nhà cung cấp, khách hàng, môi trường và cộng đồng về triết lý kinh doanh và mong muốn đóng góp xây dựng
xã hội chung Sự hài lòng của cộng đồng, công chúng, khách hàng và nhân viên nội bộ một mặt giúp tập đoàn mở rộng thị phần, mặt khác giúp cải thiện năng suất hoạt động vì nhân viên tin tưởng rằng họ chính là một phần quan trọng trong một tổ chức với những đóng góp cộng đồng
Thực tế, nghiên cứu của Lins & cộng sự (2017) và Janney & Gove (2011) cho thấy những tập đoàn triển khai tốt các hoạt động CSR có khả năng phục hồi sau những khủng hoảng tốt hơn do tạo dựng được niềm tin với các bên hữu quan và khách hàng trung thành Các nhánh nghiên cứu khác lại cho rằng, việc thành công hay thất bại từ các hoạt động CSR lại phải xuất phát từ nhiều điều kiện khác nhau Cụ thể, Gao & cộng sự (2014) cho rằng sự thành công các hoạt động CSR phải đảm bảo được bất đối xứng thông tin giữa lãnh đạo DN và cổ đông, theo đó, các hành động cá nhân riêng lẻ của lãnh đạo có thể chuyển hướng từ hoạt động CSR sang mục đích vụ lợi cá nhân Tác giả cũng cho rằng các hoạt động CSR phải tạo ra được các cam kết vô hình của người nhận với DN, thông qua các hoạt động trao quà, hỗ trợ tiền thực tế, thông qua các kế hoạch chương trình có tính lưu trữ và quảng bá tốt Ngoài ra, các học giả cũng đồng ý rằng hoạt động CSR đòi hỏi một chiến lược đầu tư lâu dài và đủ lớn để xây dựng thương hiệu, hình ảnh
DN và chuyển hóa tích cực tới hoạt động của DN trong dài hạn Trong bối cảnh cụ thể hơn tại Việt Nam, Malesky & cộng sự (2015) đã nhấn mạnh vai trò của CSR tới các DN lớn nhờ việc xây dựng triết lý và đường hướng hoạt động cụ thể mà ở đó, các quyết định đầu tư thông minh và hiệu quả DN sẽ được cải thiện
Có thể nói, hoạt động CSR luôn được các DN, tập đoàn tư nhân chú trọng Nhiều tập đoàn tư nhân đã thành lập các quỹ riêng trong DN để thực hiện công tác cộng đồng
- xã hội một cách thường xuyên, liên tục, hệ thống Nếu như trước đây CSR của DN thường chỉ tập trung xoay quanh vào hoạt động từ thiện, thiện nguyện, cứu trợ lũ lụt, đóng góp quỹ người nghèo thì hiện nay, các DN đã thực hiện bài bản các hoạt động khích lệ khởi nghiệp, thúc đẩy phong trào sáng kiến ý tưởng, ĐMST trong học sinh - sinh viên, hỗ trợ nhà nước trong nhiệm vụ chống dịch bệnh, bồi dưỡng nhân tài… Điển hình là việc các DN tư nhân lớn, các ngân hàng TMCP đã đóng góp cho quỹ phòng chống Covid, quỹ vắc xin quốc gia hàng ngàn tỷ đồng trong hai năm 2020-2021; cũng như việc ra đời của quỹ Vinfuture - do Ông Phạm Nhật Vượng chủ tịch Vingroup và phu nhân là bà Phạm Thu Hương sáng lập - với số vốn khởi đầu là 2.000 tỷ đồng nhằm tôn vinh các sản phẩm, công trình nghiên cứu khoa học, các ứng dụng có tính ĐMST về mặt công nghệ ở trong và ngoài nước
Trang 37Xét đến mối quan hệ giữa hoạt động cải tiến, ĐMST tới SXKD của các tập đoàn, trong đó là các tập đoàn tư nhân, phần đa các nghiên cứu thực nghiệm chứng tỏ mối quan hệ đồng biến Theo đó, các hoạt động cải tiến cho phép DN tạo ra lợi thế về sản phẩm đồng thời xây dựng được văn hóa DN theo hướng cải tiến sáng tạo không ngừng
Quá trình cải tiến sáng tạo cũng được hậu thuẫn và thúc đẩy bởi sự phát triển với tốc độ
chóng mặt của công nghệ và nhu cầu, thị hiếu ngày càng gia tăng của thị trường Dẫu vậy, hoạt động cải tiến cũng có thể đem lại nhiều rủi ro đối với phát triển các tập đoàn KTTN Các công trình mang tính thực nghiệm của Rosenbusch và cộng sự (2011) cho thấy tại các quốc gia đang thực hiện chuyển đổi, các đất nước đang phát triển, việc DN dồn nguồn lực đầu tư vào một số hoạt động ĐMST đòi hỏi một lượng chi phí và công sức, thời gian rất lớn Chúng khuếch đại các rủi ro của DN trong giai đoạn suy thoái; do đó, tác động tiêu cực tới hoạt động SXKD của tập đoàn KTTN Trong khi
đó, Lumpkin & Dess (1996) đồng ý rằng mở rộng hoạt động cải tiến đòi hỏi không chỉ thời gian và tài chính mà còn đòi hỏi một DN phải có văn hóa sáng tạo, chấp nhận rủi
ro và đổi mới không ngừng Việc tham gia hoạt động ĐMST đồng nghĩa với việc chấp nhận các thách thức, rủi ro, không chỉ đối với thói quen và thị hiếu tiêu dùng vốn có của người tiêu dùng mà còn có thể ảnh hưởng đến các nhà cung cấp và cổ đông liên quan Tương tự như vậy, Damanpour & Evan (1984) chỉ ra rằng thời gian thành công của các
dự án đổi mới sản phẩm, quy trình có thể vượt quá khả năng chịu đựng của nhiều tập đoàn, đặc biệt các tập đoàn còn non trẻ
Hơn nữa, Cefis & Marsili (2012) phân biệt các loại cải tiến khác nhau, bối cảnh và tính chất hoạt động đổi mới ảnh hưởng sâu sắc đến sự thành công hay thất bại của dự
án Expósito & Sanchis-Llopis (2019) bổ sung thêm về yếu tố am hiểu thị trường của tập đoàn và văn hóa đổi mới của tập đoàn là yếu tố quyết định tới sự thành công của các
dự án mang tính cải tiến, ĐMST Thông thường, chi phí điều tra, khảo sát, nghiên cứu thị trường cũng quyết định đáng kể tới liệu rằng hoạt động cải tiến nào nên được triển khai; Theo đó, phản ứng của thị trường và các xu hướng vận động như yếu tố môi trường, chiến tranh, xung đột… mà tác động tới sự thay đổi trong cấu trúc sản phẩm sẽ mang tính quyết định cho sự khả thi và thành công của hoạt động đổi mới Chẳng hạn như sản phẩm có đáp ứng được tiêu chuẩn thân thiện với môi trường hay không, xuất xứ của các dòng/loại nguyên vật liệu được sử dụng trong sản phẩm mới có nhạy cảm khi đang có chiến tranh hay xung đột ở vùng đó hay không Ví dụ rõ nét là các sản phẩm cải tiến của Adidas không nhận được nhiều sự hưởng ứng, thậm chí tẩy chay của người tiêu dùng phương Tây khi nguồn gốc nguyên liệu có xuất xứ từ vùng Tân Cương (Trung Quốc) - nơi bị cáo buộc liên quan đến cuộc diệt chủng người Duy Ngô Nhĩ Tương tự vậy, hàng
Trang 38loạt các dự án cải tiến tốn kém về đường ống dẫn dầu tại Nga tới phương Tây chỉ khiến các tập đoàn nước này thất bại nhanh chóng hơn khi xung đột Nga - Ukraine bùng nổ Việc đầu tư của các tập đoàn KTTN tại Việt Nam cho hoạt động ĐMST, nhìn chung, còn tương đối hạn chế Hình 1.2 mô tả cơ cấu chi phí trung bình của hơn 1,800
DN lớn tại Việt Nam, giai đoạn 2017-2019 và có xu hướng tương tự so với giai đoạn 2011-2015 Theo đó, chỉ khoảng 4% chi phí được sử dụng cho các hoạt động cải tiến sản phẩm và công nghệ Cũng cần nhấn mạnh rằng, các loại cải tiến này tập trung chính vào nâng cấp quy trình, chuỗi sản xuất, cải tiến sản phẩm, nâng cấp công nghệ thay vì chỉ tập trung vào công nghệ cơ bản Trong khi đó, năm 2020 ở Việt Nam, đi cùng sự xuất hiện và quấy nhiễu của đại dịch Covid-19, các tập đoàn phải đẩy chi phí sản xuất bình quân từ 20-40% so với trước đó nhằm kiểm soát dịch bệnh như chi phí cách ly tập trung, phun khử khuẩn, test nhanh, test PCR, cũng như thêm các thủ tục quy trình phòng dịch (E J Malesky, 2020) Tác giả cũng muốn nhấn mạnh thêm rằng, trình độ kỹ thuật công nghệ và các sản phẩm ĐMST tại DN tư nhân còn hạn chế trong khi yêu cầu về công nghệ mới nhằm thích ứng với đại dịch và quốc tế hóa ngày càng cấp thiết Ngoài
ra, thêm một điểm đáng chú ý nữa là không phải lĩnh vực nào cũng có thể dễ dàng đem ứng dụng công nghệ vào hoạt động SXKD nhanh chóng, đặc biệt các loại hình SXKD mang tính truyền thống lâu năm Dẫu vậy, xu hướng chung cho các tập toàn tư nhân muốn tăng trưởng đều đặn và hướng tới phát triển bền vững là cải tiến liên tục, ĐMST không ngừng và kết nối hoạt động mạnh mẽ hơn với các giá trị chung (môi trường, hoạt động trách nhiệm xã hội)
Hình 1.2 Cơ cấu chi phí một số tập đoàn KTTN Việt Nam, 2017-2020 (est.)
Nguồn: Bộ dữ liệu điều tra DN 2017-2020
Cơ cấu chi phí, 2017-2019
Chi phí tiền lương lao động Chi phí bảo hiểm lao động Chi phí bảo hiểm xã hội Chi phí năng lượng Chi phí cải tiến sản phẩm/CN Chi phí nguyên vật liệu
Trang 391.3.2 Phát triển đa lĩnh vực và cải tiến công nghệ của các tập đoàn kinh tế tư nhân
Trước các rủi ro, biến động và cạnh tranh ngày càng gia tăng của thị trường, Nguyen Xuan Thanh (2019) đã có những tổng hợp về sự mở rộng của các đơn vị KTTN,
mà điển hình là các tập đoàn trong giai đoạn mới Theo đó, phân tích nhận thấy rằng phần lớn các tập đoàn tư nhân nội địa tại Việt Nam có xuất phát điểm hoặc đầu tư lấn sân khá lớn vào các dự án phát triển căn hộ, nhà ở, bất động sản Đây được xem như một loại hình đầu tư quan trọng và giúp các tập đoàn đảm bảo được tính ổn định của tài sản khi thị trường Việt Nam trong xuyên suốt giai đoạn dài vẫn liên tục tăng trưởng và
mở rộng nhanh chóng Sự mở rộng của các tập đoàn sẽ liên quan đến việc mở rộng các hoạt động về dịch vụ tài chính, ngân hàng và một số lĩnh vực sản xuất công nghiệp Cụ thể, Bảng 1.7 tổng hợp một số các tập đoàn lớn có liên kết và mở rộng ngành nghề, lĩnh vực, loại hình SXKD Ví dụ như: tập đoàn Him Lam Group, Lien Viet Post Bank và Sacombank đều có người sở hữu đáng kể là Dương Công Minh và ba tổ hợp này nằm trong lĩnh vực bất động sản và ngân hàng Tương tự với một số tập đoàn khác, xu hướng
mở rộng, đa dạng hóa các lĩnh vực nhằm giảm các thiệt hại từ rủi ro thị trường
Trang 40Bảng 1.8 Một số tập đoàn và ngành công nghiệp liên kết
Nguồn: (Nguyen Xuan Thanh, 2019) và VNR
Bên cạnh đó, sự mở rộng về công nghệ và liên tục cải tiến sản phẩm là yếu tố then chốt ảnh hưởng tới sự thích ứng và mở rộng SXKD của các tập đoàn