BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI TRẦN THỊ KIM LIÊN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH PHỔI MÔ KẼ TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC
TỔNG QUAN
Tổng quan về bệnh phổi mô kẽ
1.1.1 Định nghĩa và phân loại bệnh phổi mô kẽ
Bệnh phổi mô kẽ (Interstitial lung disease – ILD) là một thuật ngữ chung đại diện cho một nhóm bệnh phổi đa dạng, biểu hiện bởi tình trạng rối loạn nhu mô phổi lan tỏa và xơ hóa không hồi phục Các bệnh lý trong nhóm có sự khác biệt về nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng, mức độ nghiêm trọng [2, 9]
Vào thế kỷ XIX, khái niệm “xơ hóa phổi” được đề cập đầu tiên bởi tiến sĩ William Osler Sau này, vào năm 2013, cùng với sự phát triển của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh và nghiên cứu bệnh lý, Hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ/ Hiệp hội Hô hấp Châu Âu (ATS/ERS) đã phân loại ILD thành 4 loại chính [2, 10]:
- Bệnh phổi mô kẽ lan tỏa có nguyên nhân: ILD do thuốc, dị nguyên, bệnh hệ thống (viêm khớp dạng thấp (RA-ILD), bệnh phổi mô kẽ liên quan đến xơ cứng bì (SSC-ILD) và các bệnh mô liên kết)
- Bệnh phổi mô kẽ vô căn: Xơ phổi vô căn (IPF), viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu vô căn (iNSIP), RB-ILD, DIP, COP, AIP
- Bệnh phổi kẽ u hạt: sarcoidosis…
- Các bệnh phổi mô kẽ hiếm gặp khác: bệnh u lympho bạch huyết (LAM), bệnh tích protein phế nang (PLCH), bệnh u sợi thần kinh, bệnh u cơ trơn bạch huyết
1.1.2 Dịch tễ học bệnh phổi mô kẽ
Theo dữ liệu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2019 (Global Burden of Disease), ước tính có 2,28 triệu nam giới và 2,43 triệu nữ giới mắc bệnh phổi mô kẽ [3] Trong nhóm bệnh phổi mô kẽ, các bệnh lý được tập trung nghiên cứu dịch tễ bao gồm IPF, SSc- ILD, ILD liên quan đến tự miễn dịch Hầu hết dữ liệu dịch tễ được thu thập tại Hoa Kỳ, các nước phương tây và một số nước châu Á [11]
Nhìn chung, tỷ lệ lưu hành IPF dao động từ 7 đến 42 trên 100.000 người, ngoại trừ một nghiên cứu của Hoa Kỳ trên các người bệnh cựu chiến binh ghi nhận tỷ lệ lưu hành
4 từ 725 đến 1160 trên 100.000 người [12] Với IPF ở châu Á, chỉ có một nghiên cứu ở Hàn Quốc (2016) báo cáo về tỷ lệ lưu hành, dao động từ 23,4 đến 39,7 trên 100.000 người [13]
Mặt khác, tỷ lệ hiện mắc ILD cũng được khảo sát trong phạm vi hệ thống bệnh tự miễn Tỷ lệ mắc ILD trong nhóm SSc dao động từ 26,1% (Úc, 2015 [14]) đến 88,1% (Ấn Độ, 2013 [15]) Đối với RA-ILD, tỷ lệ lưu hành trong nhóm RA của dữ liệu Medicare là 2% [11] Tỷ lệ lưu hành ILD trong nhóm RA ở Ai Cập có sự chênh lệch đáng kể trong các nghiên cứu, với 0,8% và 63,7% [11]
Cũng như tỷ lệ lưu hành, tỷ lệ mắc mới ILD có sự khác biệt đáng kể theo bối cảnh nghiên cứu và loại nguồn dữ liệu Theo tổng quan hệ thống các nghiên cứu dịch tễ trong khoảng thời gian 2015 – 2021, tỷ lệ mắc IPF dao động từ 2,3 – 183,3 trên 100.000 người; tỷ lệ mắc ILD theo từng nhóm bệnh cụ thể dao động từ 0,2 (PLCH – bệnh tích protein phế nang) đến 58,8 (SSc-ILD) trên 100.000 người trên năm [11]
1.1.3 Đặc điểm sinh lý bệnh của bệnh phổi mô kẽ
Bệnh phổi mô kẽ là một nhóm gồm số lượng lớn các bệnh lý phổi với nhiều nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng, đặc điểm bệnh lý khác nhau Trong hầu hết các phân nhóm bệnh, thành phế nang phổi bị thâm nhiễm bởi nhiều sự kết hợp khác nhau của các tế bào viêm, xơ hoá và tăng sinh của một số tế bào tạo thành phế nang Các bất thường chiếm ưu thế ở mô kẽ phổi nên nhóm bệnh này được đặt tên là bệnh phổi mô kẽ hay bệnh phổi kẽ Quá trình xơ hóa và tăng sinh thường không thể đảo ngược và nặng dần theo thời gian, trong hầu hết các trường hợp, sẽ dẫn tới việc suy giảm chức năng phổi cũng như nhiều biến chứng, bao gồm khó thở và các đợt cấp tính [2, 16]
1.1.4 Nguyên nhân gây bệnh phổi mô kẽ và các yếu tố nguy cơ
Một số bệnh phổi mô kẽ có thể xác định được nguyên nhân (bệnh phổi mô kẽ biết rõ căn nguyên) như bệnh hệ thống, do thuốc… Mặt khác, một số bệnh phổi mô kẽ không xác định được nguyên nhân (vô căn), gồm xơ phổi vô căn và các bệnh phổi mô kẽ vô căn khác như viêm phổi mô kẽ bong vảy, viêm phổi mô kẽ cấp tính, viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu…
1.1.4.1 Nhóm nguyên nhân do phơi nhiễm
Hút thuốc liên quan đến nhiều bệnh lý phổi mô kẽ với vai trò là nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ Theo mức độ ảnh hưởng của thuốc lá, có thể chia làm 4 nhóm ILD như sau [17]:
- Nhóm ILD mãn tính có liên quan chặt chẽ với hút thuốc: Viêm tiểu phế quản hô hấp liên quan đến ILD, viêm phổi mô kẽ bong tróc, bệnh tế bào Langerhans phổi ở người lớn
- Nhóm ILD cấp tính liên quan đến hút thuốc: Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan cấp tính, hội chứng xuất huyết phổi
- Nhóm ILD phổ biến hơn ở người hút thuốc: Xơ phổi vô căn, RA-ILD
- Nhóm ILD có thể ít phổ biến hơn ở người hút thuốc: Viêm phổi quá mẫn, Sarcoidosis
Hút thuốc thúc đẩy những thay đổi biểu sinh kéo dài trong nhiều năm ngay cả sau khi cai thuốc Trong xơ phổi vô căn, hút thuốc hiện là một yếu tố nguy cơ có khả năng tương tác với khuynh hướng di truyền và các yếu tố nguy cơ khác Những người đang hoặc đã từng hút thuốc đều có khả năng mắc IPF cao hơn gần 60% so với những người không hút thuốc [18, 19]
Theo nghiên cứu Đánh giá Dân số về Thuốc lá và Sức khỏe của Hoa Kỳ (2020)
[20], tình trạng sử dụng thuốc lá được đánh giá theo hai khía cạnh là số điếu thuốc trung bình mỗi ngày và mức độ sử dụng thuốc lá so với trước đây
Số điếu thuốc trung bình mỗi ngày được chia thành 4 mức độ:
Mức độ sử dụng thuốc so với trước đây được chia thành 4 mức độ:
- Bỏ thuốc: ngừng thuốc lá hoàn toàn
- Giảm: giảm ít nhất 50% so với trước đây
- Tăng: tăng ít nhất 50% so với trước đây
- Duy trì: trong khoảng 50% - 150% so với trước đây
- Bụi amiang: gây bệnh bụi phổi amiang (xơ phổi)
- Bụi silic: gây bệnh bụi phổi silic
- Bụi kim loại cứng (vonfram và coban): dẫn đến xơ phổi, bụi phổi kim loại cứng
- Công nhân khai thác than: bệnh bụi phổi ở công nhân khai thác than (CWP) với xơ hóa tiến triển nhẹ hoặc nặng phụ thuộc vào chất lượng than và hàm lượng carbon
- Thợ mỏ, kỹ thuật viên nha khoa: nguy cơ mắc bệnh bụi phổi silic, chủ yếu gặp ở thợ mỏ
- Nông dân: nguy cơ tiếp xúc với đất, phân bón chứa thành phần silica gây bệnh bụi phổi silic, các kháng nguyên gia cầm gây viêm phổi quá mẫn
- Lính cứu hỏa: việc tiếp xúc với nhiều chất độc hại trong công việc làm tỷ lệ lính cứu hỏa mắc bệnh phổi mô kẽ gia tăng Theo nghiên cứu của Cathryn
T Lee (2022) [23], đây có thể là phơi nhiễm nghề nghiệp mới trong ILD
1.1.4.2 Các yếu tố nguy cơ khác
Một số yếu tố nguy cơ của bệnh phổi mô kẽ bao gồm [2]:
- Môi trường ẩm ướt, bụi ngũ cốc
1.1.5 Các triệu chứng của bệnh phổi mô kẽ
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe ở người bệnh phổi mô kẽ
1.2.1 Khái quát về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
Chất lượng cuộc sống là một khái niệm rộng và phức tạp mà cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất Theo Tổ chức Y tế thế giới WHO, Chất lượng cuộc sống được định nghĩa là “Nhận thức của mỗi cá nhân về vị trí của họ trong cuộc sống, trong bối cảnh nền văn hóa và hệ thống các giá trị ở nơi họ đang sống, liên quan đến những mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ” [41]
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (HRQoL) là một phần của chất lượng cuộc sống, phản ánh sự ảnh hưởng của bệnh tật và những liệu pháp điều trị lên bệnh nhân, do chính họ cảm nhận Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe không đánh giá các khía cạnh khác như hạnh phúc hay tình hình tài chính [42]
Thực tế, không thể phân biệt rõ ràng hai khái niệm chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, bởi tất cả các khía cạnh trong chất lượng cuộc sống đều có liên quan đến sức khỏe, theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp Do đó, trong các nghiên cứu về sức khỏe, hai thuật ngữ chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe đều thể hiện một định nghĩa hẹp về sức khỏe và thường được sử dụng thay thế cho nhau [42, 43]
Mô hình các khía cạnh chất lượng cuộc sống
Chưa có mô hình chất lượng cuộc sống dành riêng cho người bệnh ILD Theo một tổng quan hệ thống năm 2012, ba mô hình phổ biến nhất trong các nghiên cứu chất lượng cuộc sống là [44]:
- Mô hình của Wilson và Cleary [45]
- Mô hình của Ferrans và cộng sự [46, 47]
- Mô hình của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [48]
Trong đó, mô hình của Wilson và Cleary là mô hình phổ biến nhất, hoàn thiện khái niệm tổng thể về chất lượng cuộc sống từ góc độ y sinh và khoa học xã hội, có thể áp dụng cho cá nhân ở mọi lứa tuổi, mọi tình trạng sức khỏe và bệnh tật, phù hợp với nhiều nền văn hóa Từ mô hình của Wilson và Cleary, Ferrans và cộng sự đã đề xuất bản sửa đổi, với ba nội dung chính là chỉ ra yếu tố sinh lý học cũng bị ảnh hưởng bởi các đặc điểm cá nhân và môi trường, xóa các nhãn mũi tên có xu hướng hạn chế việc mô tả đặc điểm của các mối quan hệ, và đặc biệt, loại bỏ các yếu tố phi y tế Mô hình sửa đổi cũng cung cấp thêm các khái niệm và bổ sung về công cụ đo lường [47] Đặc điểm cá nhân
Yếu tố chức năng - sinh học
Nhận thức chung về sức khỏe
Chất lượng cuộc sống Đặc điểm môi trường Hình 1.2 Mô hình chất lượng cuộc sống của Ferrans (2005)
1.2.2 Thước đo chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi mô kẽ
Chất lượng cuộc sống thường phản ánh quan điểm của mỗi cá nhân về sức khỏe của chính họ và được chấp nhận như một trong những kết quả quan trọng nhất lấy người bệnh làm trung tâm Do vậy, chất lượng cuộc sống thường được đánh giá bằng các kết quả do người bệnh tự báo cáo (PROM) Theo đánh giá của Aronson và Suzuki (2021), kết quả đo chất lượng cuộc sống do người bệnh tự báo cáo (PROM HRQoL) chủ yếu được phân loại thành 3 nhóm: HRQoL cho từng triệu chứng, HRQoL dành riêng cho bệnh và HRQoL chung [25] Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi mô kẽ được trình bày trong bảng 1.1:
Bảng 1.1 Các bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi mô kẽ
ILD đã được chuẩn hóa
Phát triển và dịch thuật
Sử dụng thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm/ quốc gia trong ILD Điểm tối thiểu làm thay đổi về mặt lâm sàng (MCID)
CTD-IPF Phiên bản Anh – Mỹ được phát triển vào
Sửa đổi năm 1976 Phiên bản Anh - Anh được phát triển vào
12 bản dịch Phiên bản tiếng Việt đã được thẩm định
SSc-ILD Phiên bản Anh – Mỹ được công bố vào
LCQ [52] IPF Phiên bản Anh – Anh được công bố vào
ILD đã được chuẩn hóa
Phát triển và dịch thuật
Sử dụng thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm/ quốc gia trong ILD Điểm tối thiểu làm thay đổi về mặt lâm sàng (MCID)
23 bản dịch CQLQ [53] IPF Phiên bản Anh – Mỹ được phát triển vào
Phiên bản tiếng Hà Lan được phát triển vào 2003
HADS [55] IPF Phiên bản Anh – Anh được phát triển vào
ESS [56] IPF Được phát triển vào
1983, phiên bản Anh – Úc được sửa đổi vào 1997
HRQoL cho bệnh cụ thể
CTD-ILD Phiên bản Anh - Anh được phát triển vào
IPF Phiên bản Anh - Anh được phát triển vào
CTD-ILD Phiên bản Anh - Anh được công bố vào
ILD đã được chuẩn hóa
Phát triển và dịch thuật
Sử dụng thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm/ quốc gia trong ILD Điểm tối thiểu làm thay đổi về mặt lâm sàng (MCID)
ILD Phiên bản Anh - Anh được công bố vào
6 bản dịch Đã có bản dịch tại Việt Nam
[61] Phiên bản Anh – Mỹ được công bố vào
Phiên bản Anh – Mỹ được công bố vào
2020 Đang trong quá trình dịch thuật
Chưa có Đang thẩm định
Phiên bản Anh – Mỹ được phát triển vào
[64] ILD Được phát triển vào năm 2011 với các phiên bản tiếng Hà Lan, Anh - Anh, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển
SSc-ILD Phiên bản Anh – Mỹ được công bố vào
Chưa có N/A a PROM HRQoL cho từng triệu chứng
PROM HRQoL cho từng triệu chứng tập trung vào các triệu chứng cụ thể của người bệnh phổi mô kẽ, bao gồm khó thở (UCSD – SOBQ, mMRC, BDI-TDI), ho (LCQ,
CQLQ), mệt mỏi (FAS), trầm cảm/ lo âu (HADS) và rối loạn giấc ngủ (ESS) Mặc dù các kết quả này không được chuyển thành điểm chất lượng cuộc sống tổng thể của người bệnh nhưng chúng đóng vai trò quan trọng giúp đề cập đến các triệu chứng về thể chất và tâm lý, là động lực thúc đẩy phát triển các thước đo chất lượng cuộc sống và hỗ trợ đánh giá, thực hiện mục tiêu chăm sóc giảm nhẹ b PROM HRQoL dành riêng cho bệnh
PROM HRQoL dành riêng cho bệnh cụ thể (các bệnh phổi, ILD hoặc từng bệnh trong ILD) thường cung cấp thông tin về tác động của bệnh phổi lên chất lượng cuộc sống của người bệnh Các bảng câu hỏi thường được sử dụng cho nhóm bệnh phổi mô kẽ là Bảng câu hỏi hô hấp của St George (SGRQ), Bảng câu hỏi dành cho người bệnh phổi mô kẽ của King (K-BILD) Ngoài ra còn có một số bộ câu hỏi dành riêng cho từng bệnh lý cụ thể trong nhóm như SGRQ-I, CAT ATAQ-IPF, L-IPF, L-PF dành cho bệnh xơ phổi vô căn
Bảng câu hỏi hô hấp của St George (SGRQ) là bộ câu hỏi được sử dụng rộng rãi để đo lường chất lượng cuộc sống cho người bệnh ILD và IPF, theo dạng đơn lẻ hoặc kết hợp [57, 66, 67] Phiên bản dành riêng cho người bệnh IPF (SGRQ-I) đã được phát triển và chuẩn hóa, tuy nhiên chưa được sử dụng rộng rãi [58] SGRQ được đánh giá là phù hợp để được sử dụng như một PROM HRQoL cho bệnh phổi mô kẽ Tuy nhiên, SGRQ là một bảng câu hỏi dài với 50 câu gây hạn chế trong áp dụng lâm sàng Hơn nữa, do ban đầu bảng câu hỏi được thiết kế cho người bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính và hen suyễn, một số mục, ví dụ như các mục về đờm, sốt, ho ra máu, thiếu liên quan đến các bệnh phổi mô kẽ
Bảng câu hỏi dành cho người bệnh phổi mô kẽ của King (K-BILD), được công bố năm 2009, đã được chuẩn hóa và có bản dịch tiếng Việt, là thước đo chất lượng cuộc sống đầu tiên và duy nhất tính đến hiện tại cho người bệnh phổi mô kẽ K-BILD là bộ công cụ ngắn gọn, do người bệnh tự đánh giá, gồm 15 câu hỏi cho 3 lĩnh vực: triệu chứng khó thở và các hoạt động (câu hỏi 1, 4, 11, 13), triệu chứng trong lồng ngực (câu hỏi 2,
7, 9), sức khỏe tâm thần (câu hỏi 3, 5, 6, 8, 10, 12, 14) Mỗi câu hỏi được trả lời bằng
18 cách sử dụng thang điểm likert – 7 Điểm số dao động từ 0 – 100, trong đó 100 biểu thị chất lượng cuộc sống tốt nhất K-BILD có xu hướng được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống người bệnh phổi mô kẽ trong các nghiên cứu lâm sàng Bản dịch tiếng Việt của bộ công cụ được Bộ Y tế công bố trong Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh phổi mô kẽ với vai trò nhằm đánh giá chất lượng cuộc sống, phục vụ quá trình điều trị chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ phục hồi chức năng hô hấp [2, 60] c PROM HRQoL chung
PROM HRQoL chung là bộ công cụ được thiết kế để đánh giá giá chất lượng cuộc sống của toàn bộ dân số, bất kể loại bệnh mãn tính mắc phải nào Các PROM HRQoL chung có khả năng ứng dụng cao, tổng quát được các khía cạnh sức khỏe, cho phép so sánh mức chất lượng cuộc sống giữa các bệnh, nhóm bệnh với nhau nhờ giá trị thỏa dụng Tuy nhiên, những bộ công cụ này thường thiếu độ chuyên sâu, ít nhạy với những đặc điểm bệnh lý, thay đổi trong điều trị ở một số bệnh cụ thể
SF-36, EQ-5D và PROMIS-29 là các bộ câu hỏi HRQoL được sử dụng rộng rãi, được dịch sang nhiều ngôn ngữ và chuẩn hóa trong đối tượng ILD Trong đó, EQ-5D là một công cụ đa thuộc tính, được sử dụng để đo lường chất lượng cuộc sống trong nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau EQ-5D gồm 2 phần: hệ thống mô tả 5 chiều và thang đo tương tự trực quan (VAS), với 2 phiên bản EQ-5D-3L và EQ-5D-5L EQ-5D-5L được phát triển năm 2011, có nhiều mức độ phản hồi hơn, giúp cải thiện độ nhạy và khả năng phân biệt so với phiên bản 3L Mỗi giá trị sức khỏe sẽ được gắn với một chỉ số, tùy vào quốc gia cụ thể Điểm số EQ-5D thường được sử dụng trong các nghiên cứu đánh giá chi phí – hiệu quả Phiên bản tiếng Việt của bộ công cụ EQ-5D-5L, gồm hệ thống mô tả
5 chiều 5 cấp độ (EQ-5D-5L) và thang VAS, đã được chuẩn hóa và sử dụng trong nhiều nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống tại Việt Nam [64, 68] Để đánh đánh giá một cách toàn diện về chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi mô kẽ, so sánh giữa các phân nhóm và với các bệnh khác, năm 2021, hiệp hội Lồng ngực Hoa Kỳ (ATS) khuyến nghị các nghiên cứu chất lượng cuộc sống của người bệnh phổi
19 mô kẽ nên sử dụng kết hợp các bảng câu hỏi HRQoL chung và HRQoL dành riêng cho bệnh [4]
Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Phổi Trung Ương là đơn vị chuyên khoa đầu ngành của cả nước về bệnh phổi và lao Tiền thân là Viện chống lao Trung ương, được thành lập năm 1957 theo Nghị định 273/Ttg ngày 24/06/1957, bệnh viện trải qua hai lần đổi tên khác thành Viện Lao và Bệnh Phổi và Bệnh viện Lao và Bệnh Phổi Trung ương trước khi là Bệnh viện Phổi Trung Ương (2009 – nay) Bệnh viện Phổi Trung Ương là bệnh viện chuyên khoa hạng
I, trực thuộc Bộ Y tế Theo quy định của BYT thì bệnh viện chuyên khoa hạng I có 7 chức năng nhiệm vụ chính:
- Hợp tác quốc tế và quản lý kinh tế trong bệnh viện
Bệnh viện có 42 đơn vị, bao gồm 10 phòng chức năng, 19 khoa lâm sàng, 7 khoa cận lâm sàng và 6 trung tâm chuyên sâu và nghiên cứu khoa học Trong đó, các ca bệnh phổi mô kẽ tập trung ở Trung tâm điều trị bệnh phổi hiếm và các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, rải rác ở trung tâm Ghép phổi và khoa Điều trị công nghệ cao
Trung tâm điều trị bệnh phổi hiếm và các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, tiền thân là khoa Hô hấp, được thành lập vào tháng 5 năm 2024 với quy mô 116 giường bệnh Trung tâm có vai trò điều trị các bệnh lý nhiễm trùng phổi, bệnh phổi nhiễm khuẩn, bệnh phổi không nhiễm khuẩn và các bệnh phổi hiếm gặp Năm 2023, trung tâm tiếp nhận và điều trị 286 ca bệnh phổi mô kẽ Ước tính trong thời gian thu thập số liệu (từ 01/01/2025 đến 14/04/2025), trung tâm sẽ có khoảng 80 - 120 người bệnh phổi mô kẽ tới khám và điều trị
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là người bệnh được chẩn đoán mắc bệnh phổi mô kẽ đang điều trị bệnh phổi mô kẽ tại Trung tâm điều trị bệnh phổi hiếm và các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, bệnh viện Phổi Trung Ương
- Người bệnh được chẩn đoán xác định mắc bệnh phổi mô kẽ (mã ICD J84)
- Người bệnh không đồng ý tham gia phỏng vấn hoặc không hoàn thành bảng câu hỏi phỏng vấn
- Người bệnh thiếu từ 01 chỉ số lâm sàng – cận lâm sàng (nhóm 2 Biến số nghiên cứu)
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm điều trị bệnh phổi hiếm và các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp – bệnh viện Phổi Trung Ương
Thời gian nghiên cứu: Từ 30/10/2024 đến 30/04/2025
Thời gian lấy số liệu: Từ 01/01/2025 đến 15/04/2025.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Biến số nghiên cứu được chia thành 4 nhóm:
Nhóm 1: Các biến số về nhân khẩu học
Nhóm 2: Các biến số về đặc điểm bệnh lý
Nhóm 3: Các biến số liên quan đến đo lường chất lượng cuộc sống người bệnh sử dụng bộ công cụ K-BILD
Nhóm 4: Các biến số liên quan đến đo lường chất lượng cuộc sống người bệnh sử dụng bộ công cụ EQ-5D-5L
Các biến số nghiên cứu được trình bày cụ thể ở bảng 2.1:
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu
TT Tên biến Khái niệm Loại biến Cách thu thập
Nhóm 1: Các biến số về nhân khẩu học
A1 Tuổi Tuổi người bệnh tính đến thời điểm phỏng vấn Liên tục Phỏng vấn, bệnh án A2 Giới tính 0 Nam
Nhị phân Phỏng vấn, bệnh án A3 Địa chỉ Địa chỉ thường trú (Tỉnh/ thành phố), phân loại theo các vùng:
1 Vùng trung du miền núi phía Bắc
2 Vùng đồng bằng sông Hồng
3 Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung
6 Vùng đồng bằng sông Cửu Long Định danh Phỏng vấn
A4 Nghề nghiệp Nghề nghiệp của người bệnh:
0 Không có yếu tố nguy cơ
1 Có yếu tố nguy cơ, gồm các nghề:
Thợ mỏ/ khai khoáng Công nhân xây dựng Nông dân
Kỹ thuật viên nha khoa Lính cứu hỏa
A5 Tình trạng việc làm Tình trạng việc làm hiện tại của người bệnh
0 Nghỉ hưu/ thất nghiệp Không
(Giờ làm việc) Tự do/ Làm giờ hành chính
A6 Thu nhập trung bình Mức thu nhập trung bình hàng tháng của người bệnh, tham khảo từ Thông cáo báo chí Kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2023 của Tổng cục Thống Kê [75]
TT Tên biến Khái niệm Loại biến
6 Từ 11 triệu đồng trở lên A7 Bảo hiểm y tế
Người bệnh có được hưởng bảo hiểm y tế:
A8 Tình trạng hút thuốc Tình trạng hút thuốc lá:
A9 Mức độ hút thuốc Mức độ hút thuốc so với trước đây:
Nhóm 2: Các biến số về đặc điểm bệnh lý
B1 Chẩn đoán bệnh phổi mô kẽ
Chẩn đoán bệnh phổi mô kẽ với các phân loại:
1 Bệnh phổi mô kẽ lan tỏa có nguyên nhân:
- Bệnh phổi mô kẽ liên quan đến phơi nhiễm
- CTD ILD – bệnh phổi mô kẽ mô liên kết: SSc-ILC, RA-ILD, bệnh tự miễn
2 Bệnh phổi mô kẽ vô căn: IPF, iNSIP, RB-ILD, DIP, COP, AIP…
4 Các bệnh phổi mô kẽ khác
5 Chưa phân loại Định danh
B2 Thời gian mắc bệnh Số tháng kể từ lần đầu chẩn đoán bệnh phổi mô kẽ đến thời điểm phỏng vấn Liên tục Bệnh án B3 SpO2 Độ bão hòa oxy máu theo mạch đập thời điểm ban đầu (nhập viện/ đến khám) (%)
TT Tên biến Khái niệm Loại biến
B4 Nhịp thở Nhịp thở thời điểm ban đầu (nhập viện/ đến khám) (lần/ phút) Liên tục Bệnh án B5 Phác đồ điều trị
Phác đồ điều trị của người bệnh:
3 Theo dõi + dùng thuốc + thở oxy
B6 Thuốc điều trị Các nhóm thuốc điều trị của người bệnh (nếu có)
2 Thuốc ức chế miễn dịch và thuốc sinh học: Cyclophosphamid,
5 Thuốc điều trị triệu chứng Định danh Bệnh án
B7 Lưu lượng oxy tại viện
Lưu lượng oxy bệnh nhân sử dụng trong phác đồ có thở oxy (nếu có) Đơn vị: lít/ phút
B8 BMI Chỉ số khối cơ thể người bệnh thời điểm nhập viện (kg/m2) Theo Đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì theo tiêu chuẩn của WHO áp dụng cho người Châu Á [76]:
25 – 29,9: Béo phì độ I 30: Béo phì độ II
B9 FVC Dung tích sống gắng sức dự đoán của người bệnh (%)
B10 Bệnh mắc kèm Các bệnh được xác định là mắc kèm bệnh phổi mô kẽ
3 Lupus ban đỏ hệ thống
5 Viêm đa cơ Định danh Bệnh án
TT Tên biến Khái niệm Loại biến
7 Trào ngược dạ dày – thực quản
B11 Thở oxy tại nhà 0 Không
1 Có Nhị phân Phỏng vấn
Nhóm 3: Các biến số liên quan đến đo lường chất lượng cuộc sống người bệnh sử dụng bộ công cụ K-BILD
1 Khó thở khi hoạt động Trong vòng 2 tuần qua, tần suất người bệnh bị khó thở khi leo cầu thang hoặc đi bộ lên dốc hoặc đồi:
2 Tức ngực Trong vòng 2 tuần qua, tần suất bệnh phổi làm người bệnh cảm thấy tức ngực:
6 Hầu như không có lúc nào
Trong vòng 2 tuần qua, tần suất người bệnh lo lắng về mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng phổi của mình:
6 Hầu như không có lúc nào
TT Tên biến Khái niệm Loại biến
4 Hạn chế làm việc Trong vòng 2 tuần qua, tần suất người bệnh tránh làm những việc khiến mình khó thở:
6 Hầu như không có lúc nào
5 Kiểm soát bệnh Trong vòng 2 tuần qua, tần suất người bệnh cảm thấy kiểm soát được tình trạng bệnh phổi của mình:
2 Hầu như không có lúc nào
6 Sự chán nản/ tuyệt vọng Trong vòng 2 tuần qua, tần suất các triệu chứng bệnh phổi khiến người bệnh cảm thấy chán nản hoặc tuyệt vọng:
6 Hầu như không có lúc nào
Trong vòng 2 tuần qua, tần suất người bệnh cảm thấy khó thở, cảm giác như
TT Tên biến Khái niệm Loại biến
6 Hầu như không có lúc nào
8 Sự lo lắng Trong vòng 2 tuần qua, tần suất bệnh phổi làm người bệnh cảm thấy lo lắng:
6 Hầu như không có lúc nào
9 Triệu chứng thở khò khè
Trong vòng 2 tuần qua, mức độ thường xuyên thở ‘khò khè’ hoặc nghe thấy tiếng huýt sáo từ ngực của người bệnh:
6 Hầu như không có lúc nào
Trong vòng 2 tuần qua, tần suất người bệnh cảm thấy bệnh phổi của mình trở nên tồi tệ hơn:
6 Hầu như không có lúc nào
11 Ảnh hưởng Trong vòng 2 tuần qua, tần suất bệnh phổi ảnh hưởng đến công việc hoặc các công việc hàng ngày khác của người bệnh:
TT Tên biến Khái niệm Loại biến
6 Hầu như không có lúc nào
12 Đánh giá tình trạng Trong vòng 2 tuần qua tần suất người bệnh nghĩ tình trạng bệnh phổi của mình sẽ trở nên tồi tệ hơn:
6 Hầu như không có lúc nào
13 Hạn chế hoạt động Trong vòng 2 tuần qua, tần suất bệnh phổi làm hạn chế mức độ người bệnh mang theo đồ đạc, ví dụ, hàng tạp hoá:
6 Hầu như không có lúc nào
14 Suy nghĩ Trong vòng 2 tuần qua, tần suất tình trạng bệnh phổi làm người bệnh suy nghĩ nhiều hơn về giai đoạn cuối cuộc đời của mình:
6 Hầu như không có lúc nào
Mức độ khó khăn về tài chính vì tình trạng bệnh phổi của người bệnh:
2 Một số lượng tương đối lớn
3 Một số lượng đáng kể
TT Tên biến Khái niệm Loại biến
4 Một số tiền hợp lý
7 Không chút nào Nhóm 4: Các biến số liên quan đến đo lường chất lượng cuộc sống người bệnh sử dụng bộ công cụ EQ-5D-5L
MO Sự đi lại Mức độ khó khăn khi đi lại của người bệnh:
5 Không thể đi lại được
SC Tự chăm sóc Mức độ khó khăn khi thực hiện các hoạt động tự chăm sóc (khi tự tắm rửa hay khi tự mặc quần áo) của người bệnh:
UA Sinh hoạt thường lệ
Mức độ khó khăn khi thực hiện các sinh hoạt thường lệ của người bệnh:
PD Đau/ khó chịu Mức độ đau/ khó chịu của người bệnh:
2 Hơi đau hay hơi khó chịu
3 Khá đau hay khá khó chịu
4 Rất đau hay rất khó chịu
5 Cực kỳ đau hay cực kỳ khó chịu
Mức độ lo lắng/ u sầu của người bệnh:
TT Tên biến Khái niệm Loại biến
2 Hơi lo lắng hay hơi u sầu một chút
3 Khá lo lắng hay khá u sầu
4 Rất lo lắng hay rất u sầu
5 Cực kỳ lo lắng hay cực kỳ u sầu V1 Thang VAS Tình trạng sức khỏe người bệnh hình dung được (0 -100 tương ứng với tệ nhất – tốt nhất)
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.3.1.Kỹ thuật thu thập số liệu và biểu mẫu thu thập số liệu
• Kỹ thuật thu thập số liệu: Phỏng vấn kết hợp hồi cứu hồ sơ bệnh án
• Biểu mẫu thu thập số liệu:
1 Phiếu phỏng vấn người bệnh (Phụ lục 1)
2 Phiếu khai thác thông tin bệnh án (Phụ lục 2)
2.3.2 Quá trình thu thập số liệu
- Đối tượng nghiên cứu được xác định theo tiêu chí lựa chọn dựa vào sách người bệnh mới nhập viện (đối với người bệnh nội trú) và phiếu đăng ký khám (đối với người bệnh ngoại trú) tại trung tâm
- Người bệnh được mời tham gia nghiên cứu Những người bệnh đồng ý (có xác nhận bằng văn bản) và đủ khả năng tham gia sẽ được phỏng vấn trực tiếp ngay tại thời điểm mới nhập viện, sử dụng phiếu phỏng vấn người bệnh (Phụ lục 1) Dữ liệu phỏng vấn được thu thập dưới hình thức hỏi và trả lời
- Thông tin bệnh án của người bệnh phù hợp cho nghiên cứu được thu thập theo phiếu khai thác thông tin bệnh án (Phụ lục 2) Các đặc điểm lâm sàng lấy số liệu đo gần nhất với thời điểm phỏng vấn
- Cuối cùng, để giảm thiểu sai số, các thông tin về nhân khẩu học của người bệnh (năm sinh, giới tính, địa chỉ) được kiểm tra lại từ 2 biểu mẫu đã thu thập
Nghiên cứu tiến hành lấy mẫu toàn bộ người bệnh đủ tiêu chuẩn trong thời gian thu thập số liệu
Thực tế, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trên 116 người bệnh – tất cả người bệnh đều hoàn thành đầy đủ bộ câu hỏi phỏng vấn 16 người bệnh không có đủ thông tin về chỉ số FVC đã bị loại trừ
2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.2.5.1.Phương pháp xử lý số liệu
Dữ liệu được nhập từ phần mềm Microsoft Exel và thu về kết quả dưới dạng file Exel
Số liệu được mã hóa theo tên biến số, theo các giá trị nhị phân, định danh, thứ bậc đã trình bày ở phần biến số nghiên cứu
• Xử lí dữ liệu ngoại lai (outlier)
- Tìm giá trị ngoại lai bằng cách sắp xếp dữ liệu và xem xét các giá trị bất thường (ví dụ: ký tự dạng văn bản xuất hiện trong chuỗi ký tự số)
- Kiểm tra lỗi nhập liệu, lỗi chính tả
2.2.5.2.Phương pháp phân tích số liệu Đánh giá chất lượng cuộc sống người bệnh phổi mô kẽ
Các biến số nhóm 1 và 2 được thống kê mô tả Đối với các biến định lượng (biến liên tục), thực hiện kiểm định shapiro-Wilk, trình bày kết quả trung bình và sai số chuẩn (phân phối chuẩn) hoặc trung vị và khoảng tứ phân vị (KTPV) (không có phân phối chuẩn) Đối với các biến định tính (biến định danh, nhị phân, thứ bậc), sử dụng tần số và tỷ lệ % để mô tả Sử dụng kiểm định Chi bình phương để đánh giá sự phân bố đồng đều hay không đồng đều giữa các phân nhóm, phân bố không đồng đều khi giá trị p < 0,05
• Tính điểm từng bộ công cụ
Với bộ công cụ EQ-5D-5L
Bộ công cụ EQ-5D-5L được chuẩn hóa theo thang điểm từ -0,51152 đến 1,00000, với điểm chất lượng cuộc sống được tính theo công thức: Điểm EQ-5D-5L= 1 – (hệ số MO + hệ số SC + hệ số UA + hệ số PD + hệ số AD)
Trong đó MO, SC, UA, PD, AD lần lượt là các khía cạnh về Sự đi lại, Tự chăm sóc, Sinh hoạt thường lệ, Đau/ khó chịu, Lo lắng/ u sầu của người bệnh Giá trị các hệ số quy đổi cho từng câu trả lời được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Giá trị hệ số quy đổi các khía cạnh sức khỏe của bộ công cụ EQ-5D-5L
Khía cạnh sức khỏe Hệ số
Sự đi lại (MO) Tôi đi lại không khó khăn (1)
Tôi đi lại hơi khó khăn (2) 0,00000
Tôi đi lại khá khó khăn (3) 0,07852
Tôi đi lại rất khó khăn (4) 0,20640
Tôi không thể đi lại được (5) 0,37608
Tự chăm sóc (SC) Tôi thấy không khó khăn khi tự tắm rửa hay khi tự mặc quần áo (1)
Tôi thấy hơi khó khăn khi tự tắm rửa hay khi tự mặc quần áo (2) 0,00000
0,04275 Tôi thấy khá khó khăn khi tự tắm rửa hay khi tự mặc quần áo (3) 0,04595 Tôi thấy rất khó khăn khi tự tắm rửa hay khi tự mặc quần áo (4) 0,14703 Tôi không thể tự tắm rửa hay không thể tự mặc quần áo (5) 0,23114
Sinh hoạt thường lệ (UA) (ví dụ: làm việc, học hành, làm việc nhà, các hoạt động trong gia đình, vui chơi giải trí) Tôi thấy không khó khăn khi thực hiện các sinh hoạt thường lệ của tôi (1)
Tôi thấy hơi khó khăn khi thực hiện các sinh hoạt thường lệ của tôi (2) 0,00000