Bài thu hoạch cuối khóa - Bồi dưỡng chuẩn chức danh nghề nghiệp - Hải Dương 01 Chủ đề: Năng lực tự học và nghiên cứu khoa học cho học sinh tiểu học Đề bài: Từ kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức đã học trong khóa bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp Giáo viên Tiểu học, Thầy/Cô hãy rút ra bài học để phát triển chuyên môn và phát triển đơn vị công tác của mình.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 5
1 Kết quả thu hoạch được từ nội dung đã lựa chọn 5
1.1 Giới thiệu tổng quan về các chuyên đề của khóa học và chuyên đề mà cá nhân lựa chọn 5
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của Năng lực tự học và nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong giáo dục học sinh tiểu học 8
1.2.1 Cơ sở lý luận 8
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.3 Kết quả thu hoạch về kiến thức và kỹ năng 11
1.3.1 Về kiến thức 11
1.3.2 Về kĩ năng 13
1.4 Đánh giá về ý nghĩa/giá trị của hệ thống kiến thức, kỹ năng thu nhận được 14
2 Kế hoạch hoạt động của bản thân sau khoá bồi dưỡng 15
2.1 Yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp đối với bản thân 15
2.2 Kế hoạch hoạt động cá nhân sau khi tham gia khóa bồi dưỡng nhằm đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp 16
3 Kiến nghị và đề xuất 18
3.1 Đề xuất về nội dung bồi dưỡng 18
3.2 Đề xuất về tổ chức lớp học 18
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4MỞ ĐẦU
Giáo dục luôn giữ một vai trò rất trọng yếu trong sự phát triển của mỗi quốc gia, là biện pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo lợi thế so sánh về nguồn lao động tri thức Giáo dục len lỏi trong cuộc sống hằng ngày, tích lũy các nguồn kinh nghiệm kiến thức để lại cho con cháu Chúng ta truyền đạt lại những hiểu biết vốn có, sau dần nhiều hiện tượng được giải thích bằng khoa học khác xa với ngày xưa, chúng
ta sẽ thay đổi cách nhìn để công nhận các phát hiện vĩ đại đó nếu nó được chứng minh
là đúng Bởi giáo dục cũng được hiểu là sự thay đổi để tìm ra những câu trả lời đúng, giải thích được cả những hiện tượng xung quanh cuộc sống Ví dụ như người xưa quan niệm rằng trái đất hình tròn và nó đứng yên nhưng chỉ Galileo mới phát hiện và chứng minh rằng Trái đất có hình cầu và nó quay xung quanh mặt trời Giáo dục len lỏi trong cuộc sống hằng ngày, tích lũy các nguồn kinh nghiệm kiến thức để lại cho con cháu Chúng ta truyền đạt lại những hiểu biết vốn có, sau dần nhiều hiện tượng được giải thích bằng khoa học khác xa với ngày xưa, chúng ta sẽ thay đổi cách nhìn để công nhận các phát hiện vĩ đại đó nếu nó được chứng minh là đúng Bởi giáo dục cũng được hiểu là sự thay đổi để tìm ra những câu trả lời đúng, giải thích được cả những hiện tượng xung quanh cuộc sống Ví dụ như người xưa quan niệm rằng trái đất hình tròn
và nó đứng yên nhưng chỉ Galileo mới phát hiện và chứng minh rằng Trái đất có hình cầu và nó quay xung quanh mặt trời
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục toàn diện hiện nay, việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiểu học đóng vai trò then chốt trong thành công của chương trình giáo dục phổ thông mới Họ là những người hưởng ứng các thay đổi trong nhà trường; người xây dựng, vun trồng và phát triển văn hóa nhà trường; người tham gia huy động
và sử dụng các nguồn lực của nhà nước
Khóa bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên tiểu học mà tôi vừa tham gia không chỉ giúp tôi hiểu rõ hơn về yêu cầu, nội dung, và định hướng nghề nghiệp trong thời gian tới, mà còn tạo cơ hội để tôi tiếp cận sâu hơn với những
chủ đề chuyên môn mang tính thực tiễn cao Trong đó, chủ đề 6: "Năng lực tự học
và nghiên cứu khoa học cho học sinh tiểu học" là một trong những chủ đề tôi đặc
biệt tâm đắc Đây không chỉ là nội dung bổ ích cho bản thân người giáo viên mà còn
mở ra nhiều hướng tiếp cận mới để phát triển tư duy độc lập và sáng tạo cho học sinh ngay từ những năm đầu đi học
Qua bài thu hoạch này, tôi xin trình bày những nội dung đã lĩnh hội được, đồng
Trang 5thời liên hệ thực tiễn giảng dạy, từ đó đề xuất một số giải pháp để từng bước phát triển năng lực tự học và nghiên cứu khoa học cho học sinh tiểu học trong bối cảnh hiện nay
Trang 6NỘI DUNG
1 Kết quả thu hoạch được từ nội dung đã lựa chọn
1.1 Giới thiệu tổng quan về các chuyên đề của khóa học và chuyên đề mà cá nhân lựa chọn
Qua một thời gian ngắn dưới sự hướng dẫn của các giảng viên trường Đại học
Sư Phạm Hà Nội 2, tôi đã được tìm hiểu về 8 chuyên đề thuộc chương trình bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp, tôi đã thu nhận được những kiến thức cụ thể như sau:
Chuyên đề 1: Quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông
- Trình bày được khái niệm, nội dung của quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông
- Phân tích được vị trí, vai trò, ý nghĩa của quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông
- Trình bày được hệ thống phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông
- Đánh giá được vị trí, vai trò của cơ sở GDPT, của giáo viên phổ thông trong thực hiện phân cấp QLNN về GDPT
- Hiểu được hoạt động thực thi quản lý nhà nước về giáo GDPT bao gồm: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; công tác thanh tra, kiểm tra và công tác kiểm định chất lượng giáo dục
- Vận dụng được các tri thức về quản lý nhà nước về GDPT vào thực tiễn công tác tại trường phổ thông
Chuyên đề 2: Xu thế phát triển giáo dục phổ thông trên thế giới, chiến lược phát
triển giáo dục phổ thông của Việt Nam
- Trình bày được bối cảnh giáo dục phổ thông trên thế giới và Việt Nam hiện nay
- Phân tích được những cơ hội và thách thức đối với giáo dục phổ thông ở Việt Nam trong bối cảnh thế kỉ XXI
- Nêu được các xu thế chủ yếu của giáo dục phổ thông trên thế giới
- Rút ra được bài học từ xu thế giáo dục phổ thông trên thế giới cho giáo dục Việt Nam
- Trình bày được chiến lược phát triển giáo dục phổ thông của Việt Nam hiện nay
- Phân tích vai trò, nhiệm vụ của giáo viên phổ thông trong việc thực hiện chiến lược phát triển giáo dục phổ thông
- Vận dụng được các nội dung đổi mới giáo dục trong thực tiễn công tác
Trang 7Chuyên đề 3: Quy định của pháp luật về chính sách phát triển đội ngũ giáo viên
độ làm việc; chế độ đào tạo, bồi dưỡng
- Hiểu được cách tra cứu, cập nhật văn bản quy phạm pháp luật
- Vận dụng được những quy định pháp luật liên quan đến giáo viên phổ thông trong thực tiễn công tác của bản thân và hỗ trợ đồng nghiệp
Chuyên đề 4: Phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên tiểu học Sau khi
học xong Chuyên đề 4, người học sẽ:
a Hiểu được một số vấn đề chung về nghề GV ở tiểu học: Đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của GV tiểu học; cơ sở xác định yêu cầu về NL nghề nghiệp của GV tiểu học; các yếu tố cấu thành NL nghề nghiệp của GV tiểu học
b Hiểu được một số vấn đề chung về: Đổi mới giáo dục tiểu học; cơ hội và thách thức đối với GV tiểu học
c Hiểu được các yêu cầu về NL nghề nghiệp của GV ở tiểu học: Yêu cầu về NL dạy học; NL giáo dục; NL NCKH; NL xây dựng môi trường giáo dục; NL phát triển mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình, xã hội; NL tư vấn cho HS tiểu học
d Biết tự đánh giá, phát triển NL nghề nghiệp ở tiểu học: Biết một số hình thức, phương pháp phát triển NL nghề nghiệp của GV ở tiểu học; xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch phát triển NL nghề nghiệp của GV ở tiểu học
Chuyên đề 5: Năng lực hỗ trợ đồng nghiệp trong phát triển chuyên môn giáo
Trang 8- Xác định qui trình hỗ trợ đồng nghiệp cấp tiểu học
- Rèn luyện được một số kĩ năng hỗ trợ đồng nghiệp trong nhà trường tiểu học
- Xây dựng được kế hoạch hỗ trợ đồng nghiệp phát triển chuyên môn cấp tiểu học
Chuyên đề 6: Năng lực tự học và nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả nghiên
cứu khoa học trong giáo dục học sinh tiểu học
- Nêu được khái niệm tự học, năng lực tự học, vai trò của tự học đối với hoạt động nghề nghiệp của giáo viên (GV) tiểu học
- Phân tích được đặc điểm, biểu hiện năng lực tự học của GV tiểu học
- Xây dựng được quy trình tự học cho GV tiểu học (xác định mục tiêu, nhiệm vụ
tự học; xây dựng và tổ chức kế hoạch tự học; đánh giá, điều chỉnh, duy trì được kế hoạch tự học) và lấy được ví dụ cụ thể (ví dụ có liên quan đến chương trình GDPT
2018, đến đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học và phương pháp, công cụ kiểm tra, đánh giá, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, giáo dục HS tiểu học)
- Trình bày và vận dụng được một số phương pháp, hình thức tự học trong quá trình học tập, làm việc của GV
- Nêu được khái niệm nghiên cứu khoa học (NCKH), vai trò của việc ứng dụng kết quả NCKH trong giáo dục HS tiểu học
- Xây dựng được quy trình NCKH, quy trình ứng dụng kết quả NCKH trong giáo dục học sinh tiểu học và lấy được ví dụ cụ thể
- Trình bày được một số kĩ năng NCKH (kĩ năng viết bài báo khoa học, kĩ năng nghiên cứu đề tài NCKH) và lấy được ví dụ cụ thể
- Phân tích được một số phương pháp, hình thức ứng dụng kết quả NCKH trong giáo dục HS tiểu học
Chuyên đề 7: Chuyển đổi số trong hoạt động giáo dục học sinh ở trường tiểu học
- Trình bày được các khái niệm chuyển đổi số, chuyển đổi số trong giáo dục, công nghệ số, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây;
- Nhận biết được các biểu hiện cụ thể của chuyển đổi số ở trường tiểu học;
- Nắm được mục tiêu chuyển đổi số trong hoạt động dạy học và giáo dục tiểu học;
- Vận dụng và khai thác được hệ thống phần mềm quản lí nhà trường tiểu học và kết nối nhà trường với gia đình, xã hội;
- Vận dụng, xây dựng và quản lý được hồ sơ chuyên môn, hồ sơ dạy học dưới
Trang 9Chuyên đề 8: Năng lực thích ứng với sự thay đổi trong hoạt động nghề nghiệp
của giáo viên tiểu học
- Những thay đổi trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên
- Biểu hiện và cấu trúc của Năng lực thích ứng
- Các hoạt động phát triển năng lực thích ứng với sự thay đổi trong hoạt động nghề nghiệp của giáo viên tiểu học
Sau khi học tập xong khóa học Bồi dưỡng nghiệp vụ chuẩn chức danh nghề
nghiệp, tôi có những nhận thức cơ bản về chuyên đề mà tôi thích nhất là Chuyên đề 6: Năng lực tự học và nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trọng giáo dục trẻ tiểu học
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của Năng lực tự học và nghiên cứu khoa học, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong giáo dục học sinh tiểu học
1.2.1 Cơ sở lý luận
- Theo Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học - là tự mình động não,
suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
- Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó Giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định
- Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi
Trang 10người do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”
- Nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức - có nghĩa là tự học Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động
cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể
- Trong Từ điển Giáo dục học, tự học là quá trình tự mình hoạt động, lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở đào tạo
- Trong nghiên cứu của mình, Trần Bá Hoành còn chỉ ra các dấu hiệu của người
tự học gồm người học tích cực, chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào
vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp, Tự học thuộc quá trình cá nhân hoá việc học
- Từ các quan niệm trên có thể hiểu, tự học là quá trình người học chủ động,
tích cực, tự giác học tập để lĩnh hội tri thức khoa học, hình thành và rèn luyện kĩ năng
để đạt được mục tiêu học tập Quá trình này có thể diễn ra ở trong và ngoài lớp học
- Cùng với quan niệm về tự học thì quan niệm về năng lực, năng lực tự học
cũng được bàn luận dưới nhiều khía cạnh khác nhau Về năng lực, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD, 2002), năng lực là khả năng đáp ứng một cách có hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể
- Dưới góc nhìn của Hoàng Phê (2006), năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; phẩm chất tâm-sinh lí
và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào
đó có chất lượng cao Về năng lực tự học, theo Nguyễn Cảnh Toàn, là một thuộc tính
kĩ năng rất phức hợp, bao gồm các kĩ năng và kĩ xảo, cần gắn với động cơ và thói quen tương ứng, giúp người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra
- Bàn về khái niệm nghiên cứu khoa học (NCKH) (scientific research), nhiều
nhà khoa học đã diễn giải ở các góc độ khác nhau Chẳng hạn, Vũ Cao Đàm cho rằng NCKH là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự việc, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp và phương tiện kĩ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của
Trang 11con người Hay theo Kothari, NCKH là một đóng góp thực sự cho kiến thức đã có, góp phần thúc đẩy tiến bộ khoa học Đó là sự cố gắng để theo đuổi sự thật thông qua các phương pháp nghiên cứu, quan sát, so sánh và thực nghiệm Tóm lại NCKH là công việc tìm kiếm tri thức, sử dụng các phương pháp có chủ đích và có hệ thống để tìm giải pháp cho một vấn đề
Năng lực tự học và nghiên cứu khoa học là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển và nâng cao sự nghiệp Những người có khả năng tự học và đưa ra giải pháp dựa trên nghiên cứu khoa học thường được coi là có sức mạnh và ưu thế trong môi trường công việc
Năng lực tự học và nghiên cứu khoa học không chỉ hữu ích trong lĩnh vực học tập và công việc, mà còn trong cuộc sống hàng ngày Khả năng tìm hiểu và áp dụng kiến thức mới giúp con người hiểu rõ hơn về thế giới xung quanh, đưa ra quyết định thông minh và tìm kiếm các giải pháp cho các vấn đề cá nhân và xã hội
Tóm lại, năng lực tự học và nghiên cứu khoa học không chỉ mang lại lợi ích
cho giáo dục mà còn có ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, từ công việc đến cuộc sống hàng ngày, Việc phát triển và thực hành năng lực này sẽ giúp con người trở thành người học suốt đời và tạo nên sự tiến bộ và phát triển đáng kể
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Hiện nay có nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tự học, NCKH của giáo viên như:
Bất kỳ GV nào khi tham gia vào công việc giảng dạy trước hết đều mong muốn
có một mức lương cao, ổn định Lúc này họ sẽ đầu tư chuyên môn nhiều hơn, ít quan tâm đến việc phải kiến thêm tiền ngoài lương
Giới tính, tuổi tác, tâm lý, tính cách, tôn giáo,… đều có ảnh hưởng tới hành vi làm việc của GV, lúc này cũng ảnh hưởng đến việc tự học, nghiên cứu của họ
Những vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thì mặt bằng dân trí rất thấp, trình
độ tiếp thu kiến thức chuẩn đối với học sinh thấp, vì vậy người giáo viên không cần thiết phải đầu tư nghiên cứu chuyên sâu
Những người lao động làm việc trong những ngành nghề, lĩnh vực mà xã hội quan tâm và đánh giá cao thì họ sẽ cảm thấy tự hào, yêu công việc, nỗ lực phấn đấu trong công việc Ngược lại, đối với những công việc thuộc những lĩnh vực mà xã hội ít quan tâm và không đánh giá cao thì người lao động có thể không hài lòng với công việc dẫn đến họ không hứng thú đầu tư nghiên cứu