1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

00060000959 hoạt Động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác Động Đến Đời sống hộ gia Đình vùng châu thổ sông hồng từ Đổi mới (1986) Đến nay (nghiên cứu trường hợp làng phù lưu và Đình bảng, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh)

240 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác động đến đời sống hộ gia đình vùng châu thổ sông Hồng từ Đổi mới (1986) đến nay
Tác giả Nguyễn Thị Huệ
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Nghiên cứu xã hội học và lịch sử
Thể loại Nghiên cứu trường hợp
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 9,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

00060000959 hoạt Động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác Động Đến Đời sống hộ gia Đình vùng châu thổ sông hồng từ Đổi mới (1986) Đến nay (nghiên cứu trường hợp làng phù lưu và Đình bảng, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh)

Trang 1

MẪU 14/KHCN

(Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /QĐ-ĐHQGHN ngày 24 tháng10 năm 2014

của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN

CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Tên đề tài: Hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác động đến đời sống hộ gia đình vùng châu thổ sông Hồng từ Đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp làng Phù Lưu và Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)

Mã số đề tài: QG.21.54

Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Huệ

Trang 2

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG

1.1 Tên đề tài: Hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác động đến đời sống

hộ gia đình vùng châu thổ sông Hồng từ Đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp làng Phù Lưu và Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)

1.2 Mã số: QG.21.54

1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài

TT Chức danh, học vị, họ và

1 TS Nguyễn Thị Huệ Viện Việt Nam học và Khoa

học phát triển

Chủ nhiệm đề tài

2 TS Trần Thị Lan Trung tâm Hà Nội học và Phát

triển thủ đô, Viện Việt Nam

học và KHPT

Thư ký khoa học Thành viên thực hiện chính

3 PGS.TS Phạm Văn Lợi Viện Việt Nam học và Khoa

1.5 Thời gian thực hiện:

1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 04 năm 2021 đến tháng 04 năm 2023

1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng 10 năm 2024

1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 04 năm 2021 đến tháng 10 năm 2024

1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có): Không

1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 300 triệu đồng

PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Viết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:

1 Đặt vấn đề

Hoạt động thương nghiệp ở nông thôn là một vấn đề được nhiều học giả trong nước và quốc tế quan tâm nhưng hầu hết các nghiên cứu trước đây mới dừng lại những nghiên cứu chung chung về làng buôn và thương nghiệp nông thôn mà chưa dành một vị trí đặc biệt cho nghiên cứu

về hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn Do vậy, tiến hành một nghiên cứu chuyên sâu

Trang 3

về vấn đề này sẽ góp phần bổ khuyết những tư liệu còn thiếu và mang đến một góc nhìn hoàn thiện hơn, đa chiều hơn về lịch sử thương nghiệp Việt Nam

Các nghiên cứu trước đây tiếp cận vấn đề làng buôn hay hoạt động thương nghiệp nông thôn chủ yếu từ góc độ sử học, xã hội học, nhân học, kinh tế học,… với những phương pháp nghiên cứu đặc thù của từng ngành nên chủ yếu các vấn đề được xem xét đánh giá mang tính cục

bộ Bằng hướng tiếp cận liên ngành, khu vực học với sự kết hợp các phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong một nghiên cứu chuyên sâu chúng tôi mong muốn mang đến một nhận thức đầy đủ về hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn ở cả chiều đồng đại và lịch đại Việc lựa chọn một trường hợp nghiên cứu điển hình, sau đó đặt nó trong mối tương quan với một số làng buôn khác sẽ mang tới một nhận thức vừa sâu sắc, vừa toàn diện và có thể tìm ra được quy luật vận động của kinh tế xã hội nông thôn trong mối quan hệ với nền kinh tế thị trường nói chung

Trong đề tài này chúng tôi lựa chọn trường hợp nghiên cứu là hai làng Phù Lưu và Đình Bảng, vì đây là hai làng buôn điển hình của vùng châu thổ sông Hồng, có lịch sử phát triển thương nghiệp từ sớm và hoạt động này được duy trì tới tận ngày nay Qua đây có thể chứng minh phần nào về sự phát triển liên tục, có tính kế thừa của hoạt động thương nghiệp ở nông thôn Đồng thời qua trường hợp 2 làng buôn điển hình của xứ Bắc, chúng tôi có căn cứ để so sánh sự tương đồng hay khác biệt với những làng thuần nông mà hoạt động buôn bán không phải

là chủ yếu hay so sánh với những làng buôn mới nổi Từ đó mang đến một cái nhìn vừa đầy đủ, vừa sâu sắc, đa diện về hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng

Vấn đề vị thế phụ nữ và bình đẳng giới hiện đang là một vấn đề bức thiết được cả thế giới quan tâm, theo nghiên cứu chỉ số bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay là 0.337, xếp thứ 71/195 quốc gia, vùng lãnh thổ 1 Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng

Chính phủ về ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững, trong mục tiêu số 5 có ghi rõ: “Đạt được bình đẳng giới; tăng quyền và tạo

cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái” 2 Điều đó cho thấy Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong việc đảm bảo bình đẳng giới giữa nam và nữ Do vậy, nghiên cứu để đánh giá đúng vị trí và tác động của phụ nữ (những người tham gia vào hoạt động thương nghiệp) tới đời sống gia đình nhằm thay đổi nhận thức trong gia đình cũng như xã hội về giới là một vấn đề cấp thiết mà đề tài nghiên cứu cần giải quyết

Trong bối cảnh của cuộc cách mạng 4.0, sự phát triển của thương mại điện tử ngày càng mạnh mẽ, hoạt động thương nghiệp của phụ nữ chắc chắn phải đối mặt với không ít khó khăn và

sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường ảo, thị trường online Vậy, họ sẽ phải làm gì để thích nghi với những hiện tượng này và đối mặt thế nào với những biến đổi mạnh mẽ của quy luật thị trường Đây là một vấn đề mang tính thời sự và đòi hỏi những phân tích đầy đủ, hợp lý

1 http://www.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1145/88481/bat-binh-dang-gioi-nguyen-nhan-cua-bao-luc-gia-dinh

2 http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=2&_page=1&mode=detail&docu ment_id=189713

Trang 4

dựa trên hệ thống dữ liệu lịch sử chân xác để có thể đưa ra những tư vấn phù hợp cho chính quyền các cấp nhằm ổn định hoạt động thương nghiệp ở vùng nông thôn châu thổ sông Hồng

Xuất phát từ sự cấp thiết mang tính nội tại cũng như tính thời sự của vấn đề nghiên cứu,

chúng tôi xin đề xuất đề tài nghiên cứu: Hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác động đến đời sống hộ gia đình vùng châu thổ sông Hồng từ Đổi mới (1986) đến nay (nghiên cứu trường hợp làng Phù Lưu, Đình Bảng thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)

3 Phương pháp nghiên cứu

Việc sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong nghiên cứu cũng giúp mang lại những kết quả nghiên cứu có độ tin cậy cao, trung thực và khách quan Các phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:

- Phương pháp nghiên cứu thu thập, tổng hợp tài liệu bao gồm: thu thập thông tin, cơ sở dữ liệu từ các thư viện, các trung tâm lưu trữ, viện nghiên cứu phục vụ xây dựng đánh giá tổng quan và cơ sở dữ liệu cần thiết cho đề tài này

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): giúp chúng tôi có cơ sở để lựa chọn trường hợp nghiên cứu mang tính điển hình, thể hiện được rõ nhất đặc điểm hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã lựa chọn hai làng Phù Lưu và Đình Bảng là trường hợp nghiên cứu điển hình Chúng tôi cũng đã lựa chọn dựa trên những tiêu chí nhất định để có thể đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của đề tài Thông qua trường hợp nghiên cứu điển hình có thể thấy được khái quát về bức tranh thương nghiệp nông thôn ở Từ Sơn, Bắc Ninh giai đoạn trước năm 1986 và từ 1986 đến nay Đồng thời, nghiên cứu này cũng góp phần phản ánh một phần hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và làm phong phú thêm bức tranh thương nghiệp đồng bằng châu thổ sông Hồng

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử qua lời kể (Oral History): là một phương pháp nghiên cứu sử học cần thiết giúp chúng tôi trong việc sưu tầm, lưu trữ và giải thích tiếng nói và hồi ức của những người đã tham gia hoặc chứng kiến những biến cố lịch sử (giai đoạn trước năm 1986 và những năm đầu Đổi mới) mà sử liệu thành văn chưa thể cung cấp đầy

đủ Sử dụng phương pháp này, chúng tôi đã lựa chọn 35 đối tượng để tiến hành phỏng vấn, nói chuyện, dùng máy ghi âm, sau đó gỡ băng và chép lại những câu chuyện của họ

về nghề buôn về cuộc sống gia đình, các quan điểm sống, quan điểm nghề nghiệp,… Thông qua nhiều câu chuyện có thể khái quát được cuộc sống của những người phụ nữ làm nghề buôn bán tại chợ Với đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi từ 20 tuổi đến 70 tuổi, họ

Trang 5

là những người đã sống qua nhiều giai đoạn, từ giai đoạn trước năm 1986 cho tới thời điểm hiện tại, do vậy dựa trên những câu chuyện cuộc đời của mỗi người có thể mang lại một câu chuyện chân thực, khách quan về cuộc sống của những người phụ nữ làng buôn

Để đảm bảo tính khách quan khoa học và đảm bảo tính bảo mật của những người cung cấp thông tin, tên những nhân vật được phỏng vấn được trích dẫn trong nghiên cứu này

đã được thay đổi

+ Nhóm đối tượng khảo sát trong độ tuổi từ 20-25 tuổi là đối tượng thuộc thế hệ con, cháu của chủ thể làm nghề buôn bán Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn, khảo sát

10 đối tượng thuộc nhóm tuổi này Khảo sát đối tượng này (thông qua cả hình thức phỏng vấn trực tiếp và trực tuyến) nghiên cứu sẽ phân tích được những tác động từ hoạt động buôn bán của người mẹ đã có những tác động như thế nào tới giáo dục con cái, tâm tư tình cảm của con cái thậm chí cả vấn đề bạo lực học đường và bắt nạt qua mạng hiện nay 3 Nội dung nghiên cứu này cũng trở thành tiền đề để nhóm nghiên cứu đưa ra một số hàm ý chính sách trong việc hoàn thiện hệ giá trị gia đình ở khu vực được khảo sát + Nhóm đối tượng nghiên cứu tiếp theo được nghiên cứu này quan tâm khảo sát đó là những người phụ nữ từ độ tuổi 55-70 tuổi Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 10 phụ nữ thuộc nhóm đối tượng này và 3 nam giới trong đó có 1 trưởng thôn/trưởng khu phố Đây là nhóm tuổi mà nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn hồi cố, sử dụng các phương pháp về nghiên cứu lịch sử qua lời kể để phân tích Họ là những người phụ nữ đã sống ở giai đoạn trước Đổi mới (1986) và vẫn tiếp tục hoạt động buôn bán đến bây giờ

Họ kế thừa truyền thống buôn bán từ gia đình, họ chứng kiến giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế Việt Nam ở một dấu mốc quan trọng Thông qua phỏng vấn cũng như những câu chuyện của chính những người phụ nữ này, nghiên cứu có thể khái quát về bức tranh thương nghiệp ở hai làng buôn Phù Lưu và Đình Bảng giai đoạn trước 1986 và những năm đầu đổi mới để đánh giá được những biến đổi xã hội sau này dưới tác động của hoạt động buôn bán

+ Nhóm đối tượng nghiên cứu tiếp theo, quan trọng là những phụ nữ từ trên 25 tuổi đến

55 tuổi Đây là nhóm đối tượng chính yếu và chiếm tỉ lệ quan trọng nhất tham gia vào hoạt động buôn bán hiện nay Để có được kết quả chính xác và khách quan nhất nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 15 phụ nữ thuộc nhóm đối tượng này Thông qua nghe họ kể chuyện, chúng tôi hiểu được về hoạt động buôn bán, sự biến đổi trong hoạt động buôn bán đặc biệt là trong khoảng 5 năm gần đây Đồng thời, nhóm đối tượng này cũng là nhóm cho thấy sự chuyển đổi về vai trò giới, vị trí của phụ nữ trọng gia đình và

sự thay đổi cơ cấu việc làm trong gia đình

- Phương pháp phân tích mạng lưới xã hội (Social Network Analysis): là một phương pháp nghiên cứu của xã hội học giúp chúng tôi có thể lựa chọn mẫu để tiến hành nghiên cứu

3 Phần nội dung này được thực hiện và sử dụng một phần kết quả nghiên cứu từ luận văn Thạc sĩ “Cyberbullying among young adults during Covid-19 pandemic: A case study on Vietnam” của Học viên Cao học Ngô Thu Trang

Trang 6

Dựa trên những dữ liệu thu được từ các mẫu nghiên cứu (phụ nữ làm nghề buôn bán) chúng tôi có mô tả và phân tích mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia trong mạng lưới thương nghiệp đó; tìm ra các quy luật hình thành và biến chuyển của những mối quan hệ

đó, và nhất là làm sáng tỏ những ảnh hưởng của các mối quan hệ xã hội (hay cấu trúc của mạng lưới) đối với hành vi của các chủ thể

- Phương pháp điền dã dân tộc học (Fieldwork): giúp chúng tôi có thể quan sát trực tiếp hoạt động, hành vi, các sinh hoạt thường ngày của những người phụ nữ trong công việc buôn bán cũng như trong gia đình Từ đó thấy rõ hơn mối tương tác giữa nghề nghiệp của

họ với đời sống gia đình

- Phương pháp phân tích đánh giá tổng hợp: phương pháp nghiên cứu này được sử dụng chính trong đề tài nhằm xây dựng bức tranh chung của các hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn qua các mốc lịch sử quan trọng

Từ tiếp cận liên ngành khu vực học với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu của nghiên cứu nhân học, xã hội học cùng các kỹ thuật nghiên cứu có thể tái hiện lại được bức tranh về đời sống của những người phụ nữ làm nghề buôn bán Đồng thời, từ tiếp cận về giới có thể đánh giá được vị thế, vai trò của người phụ nữ trong cộng đồng, trong gia đình, trong mối quan hệ với con cái, cha mẹ chồng và những người xung quanh

4 Tổng kết kết quả nghiên cứu

Kết quả thứ 1: Nghiên cứu đã phân tích, làm rõ lịch sử, quá trình chuyển đổi và hiện

trạng hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng

Chính sách Đổi mới (1986) như một luồng gió mới thổi bùng nền kinh tế Việt Nam vốn đang ì trệ trở nên năng động và phát triển hơn; diện mạo nền kinh tế đã có những biến chuyển mạnh mẽ Một trong những mục tiêu quan trọng trong thời đầu đổi mới chính là đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình Lúc này, Việt Nam có tới 75% dân số là nông dân, do vậy, phát triển kinh tế hộ gia đình có nghĩa là đẩy mạnh việc đa dạng hoá ngành nghề, tập trung phát triển nghề phụ Với quan niệm “dĩ nông vi bản” nên ngoài nông nghiệp, mọi ngành nghề khác ở nông thôn đều được xem là nghề phụ, dù đóng góp kinh tế từ “nghề phụ” có thể gấp nhiều lần “nghề chính”

Do vậy, từ năm 1986 rất nhiều làng nghề cũng như các hoạt động buôn bán cá thể ở nông thôn bắt đầu được phục hồi sau nhiều thập kỷ đóng băng Có thể thấy, chính sách Đổi mới đã có những tác động không nhỏ tới nhiều thành phần kinh tế cũng như nhiều khu vực kinh tế từ nông thôn tới đô thị Theo nghiên cứu sơ bộ của chúng tôi tại một số làng thuộc châu thổ sông Hồng cho thấy, đời sống hộ gia đình nông thôn sau Đổi mới đã được cải thiện rõ rệt; và một trong những nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này chính là phát triển hoạt động thương nghiệp và nghề phụ Một điều đặc biệt mà qua nghiên cứu bước đầu, chúng tôi có thể nhận thấy đó là người phụ nữ chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong hoạt động thương nghiệp cũng như các nghề phụ khác ở nông thôn

Thực tế lịch sử cho thấy, hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn đã xuất hiện từ sớm Theo nhà sử học Nguyễn Quang Ngọc, hệ thống chợ làng đến thế kỷ XV đã tương đối phát triển, sang thế kỷ XVII, đặc biệt là thế kỷ XVIII và XIX đã hình thành loại hình làng buôn Cùng

Trang 7

với sự phát triển của loại hình kinh tế chợ làng thì hoạt động buôn bán của phụ nữ cũng theo đó

mà tăng lên P.Gourou cho rằng “Mọi phụ nữ nông dân đều có thể trở thành người buôn bán trong một thời gian nhiều ít trong năm” 4 Nguyễn Quang Ngọc cũng cho rằng: hoạt động buôn bán là hoạt động có tính chất phổ biến nhưng người buôn chủ yếu là phụ nữ 5 Để lý giải hiện tượng phụ nữ tham gia vào hoạt động buôn bán nhỏ, Nguyễn Quang Ngọc đã nhìn nhận dưới góc

độ tuổi tác và giới 6

Ở khía cạnh khác, khi nghiên cứu cụ thể trường hợp làng buôn Phù Lưu (Từ Sơn, Bắc Ninh), ông đã có những nhận định cho thấy phụ nữ có đóng góp quan trọng về kinh tế “Trong gia đình, khi người vợ suốt ngày bận rộn, tranh thủ mọi cơ hội để góp nhặt vốn liếng thì người chồng lại tiêu tốn toàn bộ trí lực của tuổi trẻ vào công việc đọc sách ngâm thơ” 7 Rõ ràng, hoạt động thương nghiệp của phụ nữ có những đóng góp đáng kể nhưng những đóng góp này chưa được người chồng cũng như cộng đồng ghi nhận một cách trung thực, đúng đắn; vị thế xã hội của họ vẫn không thể so sánh với “người chồng Nho học” Đây là những đánh giá chung của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước dành cho hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng giai đoạn này

Sang đến thời kỳ tập thể hoá (thập niên 60 đến 80 của thế kỷ XX) hoạt động thương nghiệp nhỏ chuyển sang một hình thái mới đó là các Hợp tác xã mua bán dưới sự quản lý chặt chẽ của nhà nước; theo đó, kinh tế tư nhân hoàn toàn bị triệt tiêu, tuy nhiên, với tính cách linh hoạt, năng động của các nữ thương nhân Việt Nam nó vẫn được duy trì bằng nhiều phương thức

khác nhau Nghiên cứu về làng buôn Ninh Hiệp, Esther Horat trong chuyên khảo Trading in Uncertainty: Entrepreneurship, Morality and Trust in a Vietnamese Textile-Handling Village,

chương “Lịch sử hoạt động buôn bán” của làng Ninh Hiệp có nhắc đến giai đoạn những năm

60-70 của thế kỷ XX là thời kỳ vô cùng khó khăn, hoạt động buôn bán bị cấm đoán, có người cố tình “vượt rào” nhưng luôn sống trong tâm lý sợ hãi vì có thể sẽ gặp nguy hiểm hoặc bị bắt bất

cứ lúc nào 8 E Horat cũng như rất nhiều nghiên cứu khác của các học giả Việt Nam mới chỉ đề cập tới giai đoạn này một cách sơ lược, chưa có những phân tích sâu sắc, đánh giá đúng hiện tình lịch sử khi đó Nên, cần thiết phải có các nghiên cứu chuyên sâu để bổ khuyết những tư liệu lịch

sử còn thiếu nhằm làm rõ những khó khăn, phức tạp trong hoạt động buôn bán của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng giai đoạn đó Nhóm nghiên cứu sẽ dựa trên những ký ức cá nhân thu thập được qua phương pháp nghiên cứu lịch sử qua lời kể, phương pháp tiểu sử bản thân để

có thể tái hiện lại những dữ kiện lịch sử còn chưa được ghi chép cụ thể, đồng thời đối chiếu với các tư liệu thành văn từ đó làm cơ sở để so sánh và lý giải những chuyển biến trong hoạt động

4 Pierre Gourou (2015), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, (bản dịch), Tái bản lần thứ nhất, Nxb Trẻ, Viện Viễn

Đông Bác cổ Pháp và Tạp chí Xưa và Nay, Hà Nội, tr 623

5 Nguyễn Quang Ngọc (1993), Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII-XIX, Nxb Hội sử học Việt

Nam, Hà Nội, tr 62

6 Nguyễn Quang Ngọc (1993), sđd, tr 62-63

7 Nguyễn Quang Ngọc (2017), Nông thôn và đô thị Việt Nam: Lịch sử, thực trạng và khuynh hướng biến đổi, Nxb

Giáo dục, Hà Nội, tr 89

8 Esther Horat (2017), Trading in Uncertainty: Entrepreneurship, Morality and Trust in a Vietnamese

Textile-Handling Village, Publish by Springer Nature, US, pg 66-67

Trang 8

thương nghiệp của phụ nữ nông thôn sau khi tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện vào năm

1986

Chính sách Đổi mới (1986) đã đánh dấu những chuyển biến tích cực và làm thay đổi mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội cũng như văn hoá của Việt Nam, và hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn cũng không nằm ngoài sự vận động đó Nếu ở thị trường lớn, có thể nói chính sách “cởi trói nền kinh tế” đã mang lại nhiều cơ hội tạo nên một bước ngoặt quan trọng thay đổi hiện trạng nền kinh tế

Với một làng buôn có truyền thống như Phù Lưu, Đình Bảng, dù có những thời điểm bị gián đoạn (thời kỳ tập thể hoá) nhưng khi có điều kiện chắc chắn sẽ bùng lên mạnh mẽ Từ thực

tế này ở các làng Phù Lưu và Đình Bảng (Bắc Ninh) - hai làng buôn tiêu biểu xứ Bắc để chứng minh cho giả thuyết: hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng xuất hiện khá sớm, có sự phát triển tương đối ổn định và luôn có một vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống hộ gia đình cũng như cộng đồng làng xã; địa vị của phụ nữ tham gia hoạt động thương nghiệp ở nông thôn đã có những biến chuyển đáng kể trong gia đình và xã hội

Nếu như trong các giai đoạn trước, hoạt động buôn bán tại chợ chiếm ưu thế thì đến hiện nay các hoạt động mua, bán diễn ra phong phú hơn không chỉ thông qua các trao đổi trực tiếp và còn qua nhiều kênh giao dịch gián tiếp Khi tiến hành phỏng vấn các đối tượng tham gia các hoạt động mua sắm tại hai hệ thống chợ và siêu thị chúng tôi có một số nhận xét: thứ nhất, người Việt Nam nói chung và người dân thị xã Từ Sơn hiện nay nói riêng vẫn có tâm lý thích mua sắm hàng hoá tại chợ hơn Khi chọn ngẫu nhiên 20 người phụ nữ trong độ tuổi từ 30-50, chúng tôi nhận được gần như 100% ý kiến thích đi chợ hơn đi siêu thị Bởi theo họ, thực phẩm ở chợ tươi hơn, giá cả rẻ hơn; ở siêu thị hàng hoá không phong phú bằng, thực phẩm thường để đông lạnh và giá

cả đắt hơn từ vài nghìn đến vài chục nghìn đồng Thứ hai, khi đối tượng phỏng vấn là những người trẻ trên dưới 20 tuổi và một số nam giới thì tỷ lệ giữa việc lựa chọn đi siêu thị hay đi chợ

là 50/50 Nguyên nhân chính là ở siêu thị có nhiều dịch vụ đi kèm như ăn uống, vui chơi, khu chơi game cho người lớn và trẻ nhỏ, … nên một số người trẻ hay các gia đình có con nhỏ thường lựa chọn siêu thị như một địa điểm vui chơi giải trí Loại hình mua sắm thứ ba hiện nay cũng khá phổ biến ở thị xã Từ Sơn đó là mua hàng online thông qua facebook, kênh bán hàng trực tuyến (shoppee, sendo, lazada,…) các website có dịch vụ giao hàng thông qua ứng dụng giao hàng (grab,…) Người mua hàng có thể ngồi ở nhà, chọn lựa hàng và được giao đến tận nơi Các mặt hàng được đưa ra mua bán online cũng khá phong phú từ rau, củ, quả, thực phẩm cho đến quần

áo, mỹ phẩm Những người bán hàng online do không phải thuê mặt bằng kinh doanh nên giá cả rất hợp lý, có tính cạnh tranh cao so với cách kinh doanh truyền thống Như vậy, rõ ràng trong thời hiện đại, loại hình kinh tế hàng hoá truyền thống (chợ, chợ làng, chợ huyện, chợ thị) không còn là một kênh mua sắm duy nhất nữa mà có những lựa chọn đa dạng hơn

Việc tái định vị hộ gia đình đã làm cho kinh tế khởi sắc

Khái niệm kinh tế hộ gia đình đã có mặt từ lâu ở Việt Nam, Kinh tế hộ gia đình có thể hiểu là bao gồm tổng hợp các hoạt động kinh tế của tất cả các thành viên trong gia đình Xã có nhiệm vụ hỗ trợ, khuyến khích các hộ gia đình phát triển kinh tế, tìm ra các phương thức mới để

Trang 9

mang lại thu nhập cao hơn cho hộ gia đình; lãnh đạo cấp uỷ và các ban ngành đoàn thể chỉ đạo,

tư vấn cho các hộ nông dân đa dạng hoá nguồn thu Điều này có nghĩa là nâng cấp, lồng ghép các hoạt động sinh kế trồng trọt, chăn nuôi, nông nghiệp, buôn bán,… của hộ gia đình, đồng thời

tư vấn cho hộ gia đình tiết kiệm, tích luỹ nguồn lực và đầu tư vào các hoạt động tạo thu nhập cho

hộ gia đình

Phụ nữ vẫn tiếp tục được động viên, khuyến khích tham gia vào các hoạt động kinh tế, đặc biệt đối với các làng thuần nông, vị trí của phụ nữ lại càng được khuyến khích Xã tổ chức nhiều hoạt động chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, phổ biến các loại phương pháp canh tác mới trong canh tác, … đa dạng hoá nguồn thu cho gia đình Vị trí trong sản xuất nông nghiệp, buôn bán của phụ nữ tăng lên nhưng vị trí xã hội lại thấp đi, các công việc của phụ nữ cũng chủ yếu gần nhà; nam giới tham gia vào công việc xã hội, đi làm nhà nước hoặc các công việc liên quan đến xây dựng, vận tải, đi làm thuê xa nhà,… Nam giới không cần quan tâm nhiều tới việc chăm sóc con cái, chuyện học hành của con hay chăm sóc bố mẹ; phụ nữ bị buộc vào các công việc này nên khó có thể đi xa gia đình Nhưng đây là đối với trường hợp làng nông nghiệp; còn đối với làng buôn, hiện tượng này có phần khác biệt

Phụ nữ Phù Lưu, Đình Bảng xưa nay quen việc chạy chợ, buôn bán, đi mua hàng nơi khác rồi về chợ làng mình kiếm lấy lời, hơn nữa công việc chạy chợ rất vất vả nên đối với các làng này, địa vị phụ nữ và đàn ông có sự khác biệt với các làng khác Ngay từ năm đầu Đổi mới, khi bắt đầu phát triển kinh tế hộ gia đình, hầu hết các gia đình ở Phù Lưu đều tách khỏi HTX nông nghiệp, HTX buôn bán, họ phát triển kinh tế tư nhân Đầu tiên là việc chợ Giầu (chợ huyện) được tái cấu trúc theo cơ chế kinh tế thị trường; có BQL chợ được thành lập theo sự chỉ đạo của UBND huyện Tiên Sơn khi đó (nay là UBND Thành phố Từ Sơn); các cầu hàng, cửa hiệu được cho thuê (thuê theo năm) hoặc bán cho các hộ gia đình; các hộ kinh doanh tại chợ thì hàng tháng đều phải nộp thuế chợ Cơ chế mới mở ra, các hộ gia đình ở Phù Lưu lại tấp nập quay lại với việc “tay đẫy tay nải đi buôn” Đi buôn xưa nay ở Phù Lưu nói riêng và vùng châu thổ sông Hồng nói chung đều được xem là công việc của phụ nữ Những quan niệm này mang tính mặc định, ăn sâu vào tiềm thức của người dân Ở Phù Lưu, đàn bà đi buôn, đàn ông ở nhà học hành đèn sách Nếu như ở các làng nông nghiệp, những diễn ngôn đề cao vai trò của phụ nữ trong sản xuất, phổ biến kiến thức và phương thức sản xuất mới trong giai đoạn đầu Đổi mới thì với các làng buôn như Phù Lưu, Đình Bảng, công việc buôn bán mang tính cá nhân hoá, gia đình hoá cao hơn Ở các làng này không có các phường buôn, hội buôn để chia sẻ kinh nghiệm hay nguồn hàng Mỗi gia đình đều có những mối hàng riêng từ trước hoặc tự kiếm mối hàng mới Chính quyền giai đoạn này cũng tạo điều kiện thuận lợi về mặt chính sách phát triển thương nghiệp buôn bán Ngoài các gia đình đăng ký được cầu hàngm cửa hàng tại chợ, nhiều hộ gia đình mở các loại hình kinh doanh mới tại nhà: cắt tóc gội đầu, karaoke, kinh doanh nhà hàng, nhà nghỉ, cửa hàng điện nước, tạp hoá,… Nhiều gia đình ở các trục đường lớn kinh doanh những mặt hàng đắt đỏ hơn như kinh doanh xe đạp, xe máy, đồ điện tử,… Đối với những mặt hàng kinh doanh nhỏ lẻ đa phần là phụ nữ đảm nhiệm, họ vừa buôn bán một cách linh động (có thể mở hoặc đóng cửa hàng linh hoạt tuỳ theo thời gian của mình) vừa làm ruộng, vừa chăm sóc con cái

Trang 10

và làm các công việc khác Hình thức kinh doanh này khá phổ biến nhưng không mang tính chuyên nghiệp như những hộ kinh doanh tại chợ Hoạt động buôn bán tại chợ ở Phù Lưu, Đình Bảng do phụ nữ đảm nhiệm vai trò chủ chốt (người bán hàng), tuy nhiên để thực hiện được hoạt động buôn bán này cần có sự giúp sức của cả gia đình

Kết quả thứ 2: Nghiên cứu đã làm rõ tác động của hoạt động thương nghiệp của phụ nữ

nông thôn tới đời sông hộ gia đình ở các khía cạnh: thu nhập, đạo đức, giáo dục, quan hệ gia đình, gia tộc, quan hệ xã hội và vấn đề giới

Sự biến đổi trong quan niệm về gia đình của Nho giáo Việt Nam so với Nho giáo Trung Quốc được diễn ra bởi những nhân tố cơ bản sau đây: Thứ nhất, nếu như kết cấu của xã hội Trung Quốc là nhà- nước thì kết cấu xã hội của Việt Nam lại là “nhà - làng - nước”; Thứ hai, do

sự khác nhau của người Việt và người Trung Quốc về phương thức sản xuất truyền thống; Thứ

ba, do sự khác biệt giữa văn hóa truyền thống của người Việt so với văn hóa truyền thống của người Trung Quốc Chính những yếu tố này đã làm cho quan niệm về gia đình của Nho giáo Việt Nam nhân văn hơn, dân chủ hơn so với Nho giáo Trung Quốc Nho giáo - giáo dục đạo đức Nho giáo của người phụ nữ trong gia đình ở Việt Nama không khắt khe như Trung Quốc, nó đã thay đổi dung hoà với văn hoá bản địa của người Việt Nam cho phù hợp Đạo đức phụ nữ trong gia đình có theo xu hướng Nho giáo hoá nhưng vẫn giữ quan niệm hay văn hoá gia đình bản địa ở một số phạm vi và phương diện nhất định (cần cụ thể) Những quy phạm đạo đức của người phụ

nữ trong Nho giáo Viêt Nam chủ yếu được xây dựng và thực hiện theo tinh thần gia huấn (giáo dục trong gia đình vì phụ nữ Việt Nam rất ít được đến trường để học - truyền thống giáo dục Nho học (kéo dài gần 10 thế kỷ), một cách bài bản như nam giới), người trước truyền người sau hoặc

nó được trao truyền bằng kinh nghiệm

Tư tưởng Nho giáo về trọng nam khinh nữ ảnh hưởng ở nông thôn khá sâu sắc vì người phụ nữ nông thôn ít được học hành đầy đủ, học cao hay làm các công việc xã hội, họ mặc định cho mình công việc nội trợ, làm ruộng, buôn bán, chăm chồng, chăm con,…phụ nữ nông thôn sẽ

bị đối xử tệ bạc nếu không sinh được con trai, áp lực về con trai khá nặng nề Tuy nhiên các vấn

đề khác của Nho giáo lại không ảnh hưởng nhiều

Phụ nữ đi buôn - sự phá vỡ những nguyên tắc Nho giáo về vai trò của nữ giới

Nếu Nho giáo cho rằng người phụ nữ phải đảm bảo các tiêu chuẩn đạo đức về “Tam tòng, tứ đức”, là nội tướng trong gia đình; việc ngoài xã hội là việc của nam giới thì qua nghiên cứu có thể thấy phụ nữ Phù Lưu, Đình Bảng đã phá vỡ hoàn toàn những quy tắc mang tính chuẩn mực của Nho giáo Những nữ thương nhân ở đây đã đảo ngược các quan điểm truyền thống Họ

đi ra ngoài xã hội, kiếm tiền, lo toan cho gia đình; người chồng ở nhà lo canh cửi hay lo đèn sách, lều chõng đi thi Nếu thi đỗ làm quan thì rạng danh dòng tộc, người vợ được “thơm lây”; người vợ xem việc “nuôi chồng” là trách nhiệm, bổn phận nên không một lời ca thán Người chồng cũng quen với việc được chăm sóc, lo toan, không bận tâm đến chuyện bán buôn kiếm tiền của người vợ Thậm chí, vị trí của người vợ còn bị đặt thấp hơn bởi trong xã hội cũ

“thương” được xếp vị trí cuối cùng trong tứ hạng dân (sĩ - nông - công - thương)

Trang 11

Nếu ở nhiều vùng quê khác người phụ nữ vẫn cam tâm hỗ trợ cho sự nghiệp của chồng, người chồng mới là người giữ vai trò chính yếu chăm lo cho gia đình thì ở Phù Lưu, Đình Bảng, người phụ nữ lại đảm nhiệm trọng trách thay người chồng Sự “vượt rào” của những người phụ

nữ này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song một nguyên nhân chính yếu là do sự thích nghi năng động của người dân nơi đây Nghề buôn bán nhỏ vốn dĩ là công việc làm thêm của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn Có thể thấy, tư tưởng Nho giáo đã được truyền bá vào Việt Nam một cách sâu rộng qua nhiều thế kỷ, tuy nhiên, tư tưởng này mới chỉ ảnh hưởng sâu sắc tại các khu vực kinh đô, các đô thị lớn hay trong các gia đình trung lưu - nơi người nam được đến trường học thầy đồ; người nữ được cha mẹ răn dạy theo đạo đức Nho giáo; hoặc gia đình giàu có thì mời thầy về nhà dạy cho người nữ trong gia đình về chữ Nho, kinh sách Nho gia Còn ở nông thôn, Nho giáo được truyền bá và biến đổi nhiều để phù hợp và thấm nhuần vào đời sống cư dân bản địa Người nông dân Việt Nam, vượt trên cả những giáo lý Nho gia về bổn phận của phụ nữ

trong gia đình, ngoài xã hội; bổn phận của nam giới là “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” chính là

cái nghèo và cái đói Họ không thể ở nhà thờ chồng, thờ cha mà chết đói; họ phải sống nên họ

làm đủ nghề để sống Ngoài nông nghiệp họ phải “buôn đầu chợ, bán cuối chợ”, họ phải đi

“buôn chuyến” đường dài,… để duy trì cuộc sống gia đình, để nuôi cha mẹ già, nuôi con Với họ

đó chính là đạo hiếu, đạo làm cha mẹ trong tư tưởng Nho gia

Có thể thấy sự chuyển đổi từ hình thức buôn bán nghiệp dư (chỉ tiến hành vào thời gian nông nhàn) sang hình thức buôn bán chuyên nghiệp (buôn bán quanh năm, như một nghề nghiệp chính thức), nghề nông trở thành nghề thứ yếu tại Phù Lưu, Đình Bảng được xem như một biểu hiện phá vỡ những nguyên tắc Nho gia về vai trò, bổn phận của người nữ trong xã hội phong kiến Tại đây, sự bình đẳng giữa nam - nữ; giữa vợ - chồng được hình thành khá sớm Đối với một số vùng miền khác, dù người vợ là người tạo ra thu nhập, mang lại kinh tế cho gia đình nhưng vẫn phải chịu đựng sự gia trưởng của người chồng thì ở Phù Lưu, Đình Bảng người phụ

nữ đã sớm nhận được sự chia sẻ, cảm thông từ người chồng Bổn phận, trách nhiệm của người phụ nữ đã sớm được giải phóng Thông qua việc họ có thể thuê người nuôi con, thuê người làm việc nhà, hiếm khi phải tham gia các công việc phục vụ họ hàng các ngày giỗ chạp đã là những minh chứng quan trọng về vấn đề bình đẳng giới

Vị thế của người phụ nữ trong tương quan với nam giới: Trong khi phụ nữ thường là

người quản lý doanh nghiệp gia đình (chủ ), thì đàn ông vẫn là người đứng đầu hộ gia đình và có

địa vị biểu tượng cao hơn phụ nữ trong làng Họ là đại diện của gia đình ra bên ngoài và ở vị trí này, họ được cho là đưa ra các quyết định vượt ra ngoài phạm vi hộ gia đình Điều này ngụ ý rằng mặc dù phụ nữ có vị thế kinh tế vững chắc trong gia đình, nhưng điều đó không trực tiếp chuyển thành địa vị cao hơn hoặc được công nhận nhiều hơn Các học giả khác chia sẻ quan điểm này đối với Việt Nam nói chung Một trong những vị trưởng thôn Phù Lưu đã xác nhận quan điểm này: “Đàn ông ở đây - ở Phù Lưu không có quyền lực kinh tế, nhưng họ lãnh đạo Quyết định xây nhà do chồng đưa ra và trước khi mua bất cứ thứ gì, cần phải hỏi ý kiến chồng

Nhưng tài chính do vợ quản lý; người phụ nữ giữ “tay hòm chìa khóa”

Trang 12

Shelly Errington (1990) đưa ra một quan điểm tương tự, cảnh báo rằng “quyền lực” và

“địa vị” không nên bị nhầm lẫn trong bối cảnh Đông Nam Á Bà lưu ý rằng “ở Âu-Mỹ có xu hướng xác định quyền lực với sự kiểm soát kinh tế và vũ lực cưỡng chế: bất kỳ địa vị hay uy tín nào không liên quan đến nó, chúng ta có xu hướng khái niệm hóa thành uy tín trống rỗng, chỉ là biểu tượng” 9 Khi làm như vậy, chúng ta không hiểu rằng “tuy nhiên, quan điểm phổ biến ở nhiều nơi ở Đông Nam Á hải đảo là việc sử dụng vũ lực, đưa ra mệnh lệnh rõ ràng hoặc tham gia vào hoạt động trực tiếp nói cách khác, là sử dụng “quyền lực” theo nghĩa phương Tây cho thấy

sự thiếu hụt sức mạnh tinh thần và khả năng thực tế, và do đó làm giảm uy tín” 10 Suzanne Brenner nêu ra một quan điểm tương tự khi thu hút sự chú ý đến sự mơ hồ của sự phân chia quyền lực theo giới tính trong các hộ gia đình Java, nơi những người vợ được mong đợi sẽ tôn trọng uy tín và thẩm quyền của chồng mình với tư cách là người chủ gia đình, trong khi quyền lực kinh tế trên thực tế của họ lớn hơn nhiều so với chồng mình Bà cũng nhấn mạnh đến sự biện chứng giữa quyền lực và uy tín, khi lưu ý rằng: một trong những đặc điểm dường như mang lại cho phụ nữ rất nhiều quyền tự chủ và quyền lực trong gia đình năng lực kinh tế của họ cũng là một trong những yếu tố chính làm giảm uy tín của họ Trong các hệ tư tưởng trung tâm của xã hội Java, có một sự mất giá không thể phủ nhận của các hoạt động kinh tế mà phụ nữ và thương nhân được biết đến” 11

Người ta cũng tranh luận tương tự về Việt Nam, nơi mà tương tác trực tiếp với tiền bạc, đặc biệt là với tư cách là một nhà giao dịch trên thị trường, được coi là làm giảm uy tín của một người, như trích dẫn sau đây chỉ ra:

Ở Việt Nam, cũng như những nơi khác ở Đông Nam Á, buôn bán theo truyền thống là việc mà phụ nữ làm Trong khi khả năng kiếm tiền thông qua buôn bán của họ có thể mang lại cho phụ nữ quyền lực kinh tế, thì về mặt lịch sử, điều này không xảy ra ở Việt Nam Thay vào

đó, tầm quan trọng của các hoạt động buôn bán của phụ nữ đã bị hạ thấp bởi thái độ văn hóa coi thường thương mại và thương nhân là vô đạo đức và tầm thường [ ] Những thái độ này cũng được phản ánh trong sự phân công lao động theo giới tính: phụ nữ phụ trách các hoạt động kinh

tế quy mô nhỏ và sự thống trị của họ đối với lĩnh vực này củng cố nhận thức về sự tầm thường của nó 12

Ngoài ra, còn có một số lý do liên quan tại sao nghề buôn bán nhỏ không được coi là nghề phù hợp với nam giới ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở các quốc gia như Indonesia và Việt Nam Theo Brenner, ở Java, thương mại được coi là hạ thấp giá trị của nam giới vì ngôn ngữ thô tục được sử dụng tại chợ, nguy cơ làm tổn hại đến địa vị của một người nếu mất bình tĩnh và sự cần thiết phải mặc cả giá cả, ngụ ý phải chú ý đến những vấn đề tầm thường Hơn nữa, nam giới

9 Errington, Shelly 1990 Recasting Sex, Gender, and Power: A Theoretical and Regional Overview In

Power and Difference: Gender in Island Southeast Asia, ed Jane M Atkinson, and Shelly Errington, 1–

58 Stanford: Stanford University Press

10 S Errington (1990), sđd, pg 5

11Brenner, Suzanne A (1998) The Domestication of Desire: Women, Wealth, and Modernity in Java

Princeton: Princeton University Press, pg.144 - 146

12 Brenner, Suzanne A (1998), pg.146

Trang 13

được coi là có nhiều khả năng mất kiểm soát bản thân hơn và do đó nên tránh xa những cám dỗ

mà tiền bạc mang lại Vì phụ nữ có địa vị thấp hơn nam giới, nên thương mại ít gây ra vấn đề hơn cho phụ nữ Ngoài ra, địa vị của một gia đình phụ thuộc vào người đàn ông, không phải phụ

nữ Do đó, đàn ông thường bảo đảm địa vị của gia đình mình bằng cách đảm nhận một nghề nghiệp có uy tín nhưng không nhất thiết phải có phần thưởng về mặt kinh tế, trong khi phụ nữ ít

bị hạn chế hơn về loại công việc miễn là họ mang tiền về nhà

Tuy nhiên, ý tưởng về thương mại luôn bị kỳ thị ở Việt Nam như được gợi ý trong nhiều tài liệu không nên được chấp nhận dễ dàng Các nghiên cứu về thương mại trong thời kỳ tiền thuộc địa ở Việt Nam chứa đựng một sự mơ hồ khó có thể hòa giải: một mặt, thương mại thường được mô tả là không được coi trọng, thường liên quan đến sự phân chia chặt chẽ giữa lao động trí óc và lao động chân tay Theo hệ thống phân cấp của Nho giáo, các học giả và quan chức có

học thức (sĩ) đứng đầu, tiếp theo là nông dân (nông dân ), nghệ nhân và chuyên gia thủ công mỹ nghệ (công), và cuối cùng là thương nhân (thương) ở dưới cùng Nguyễn Quang Ngọc (1993) vai

trò trung tâm của hoạt động buôn bán trong đời sống của nông dân, buôn bán nhỏ ở nông thôn không được công nhận và nhiều người tham gia vào hoạt động này vì họ không có lựa chọn nào khác để kiếm sống Sau đó, trong thời kỳ thuộc địa và cách mạng, buôn bán bị lên án và bị coi là không hiệu quả và là hành động bóc lột Do đó, theo quan điểm này, thương mại là một hoạt động bị coi thường trong suốt lịch sử Việt Nam Đôi khi, thực tế là hầu hết các thương nhân là phụ nữ được sử dụng như một sự xác nhận rằng buôn bán là một nghề có địa vị thấp Mặt khác, buôn bán được mô tả là một hoạt động kinh tế quan trọng và rất phổ biến trên khắp Việt Nam và trong các tầng lớp xã hội khác nhau Một gợi ý rằng buôn bán có thể không bị kỳ thị như thường được gợi ý nằm ở thực tế là ở các làng nghề, các nhóm xã hội không tách biệt mà bao gồm Chỉ một số ít người là những người buôn bán thuần túy, trong khi hầu hết dân làng kết hợp các hoạt động khác nhau Do đó, những người buôn bán không được coi là một tầng lớp độc lập trong các làng nghề

Mâu thuẫn có vẻ này có thể bắt nguồn từ sự khác biệt về quan điểm, đó là liệu tác giả có chú ý nhiều hơn đến cấu trúc chính thức hay đến trải nghiệm sống của con người Như George Dutton (2013) đã nêu rõ trong bài viết của mình về phụ nữ ở Việt Nam đầu thời hiện đại, trong hầu hết các nghiên cứu, đặc biệt là các báo cáo chính thức, phụ nữ hầu như không được đại diện,

và nếu có, thì đó không phải là phụ nữ bình thường, mà chỉ một số ít người nổi bật thuộc tầng lớp tinh hoa 13 Hơn nữa, phần lớn các nghiên cứu này coi các hệ tư tưởng Nho giáo là hiện thực

mà không đặt câu hỏi về tác động của những ý tưởng và chuẩn mực này đối với cuộc sống của con người Dutton kêu gọi đặc biệt chú ý đến thương mại và vai trò của phụ nữ trong đó Đồng thời, cần tập trung vào phụ nữ bình thường trái ngược với phụ nữ tinh hoa và trí thức thông thường thống trị các nghiên cứu lịch sử hiện có Theo Dutton, thực tế là phụ nữ tham gia vào các hoạt động thương mại phủ nhận quan niệm lý tưởng của Nho giáo về phụ nữ bị giới hạn trong

13 Dutton, George 2013 Beyond Myth and Caricature: Situating Women in the History of Early Modern Vietnam

Journal of Vietnamese Studies 8 (2): 1–36

Trang 14

phạm vi "bên trong" của gia đình và thay vào đó chỉ ra mức độ tác động cao mà phụ nữ có thể thực hiện bên ngoài gia đình của họ Vì vậy, thay vì chấp nhận và lặp lại một cách thiếu phê phán tuyên bố rằng thương nhân luôn bị coi thường, chúng ta nên chú ý đến những cơ hội mà thương nhân có thể nắm bắt chính xác thông qua các hoạt động thương mại của họ, ví dụ như đóng góp cho làng và đi đến những nơi khác

Tương tự như vậy, Leshkowich cũng cho rằng buôn bán ở Việt Nam thế kỷ XX đã bị nữ tính hóa rất nhiều không phải chủ yếu vì lý do văn hóa, mà thậm chí còn vì lý do chính trị 14 Bà lập luận rằng trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa cao, phụ nữ ít bị kiểm soát chặt chẽ hơn về đấu tranh giai cấp kinh tế và do đó có thể tham gia vào thương mại dễ dàng hơn nam giới Mặc dù người Việt Nam, cả phụ nữ và nam giới, đều dễ dàng tham gia buôn bán với các tính cách "tự nhiên" của phụ nữ cần có trên thị trường, chẳng hạn như sự kiên nhẫn, ăn nói ngọt ngào và khéo léo, nhưng sẽ là sai lầm khi coi đây là động lực khiến phụ nữ trở thành thương nhân - thay vào đó,

mà các điều kiện chính trị và kinh tế trong và sau thời kỳ xã hội chủ nghĩa cao đã thu hút phụ nữ tham gia vào các hoạt động buôn bán khác nhau

Sau đó, các nữ thương nhân sử dụng các khái niệm bản chất về giới tính vốn cũng được các quan chức nhà nước sao chép, đặc biệt là ý tưởng về khả năng buôn bán của phụ nữ, để giữ kín tiếng

Nghiên cứu của Lương Văn Hy (1998) về giới và tinh thần kinh doanh tại một làng gốm

cổ ở Đồng bằng sông Hồng cũng liên quan đến chủ đề này Ông lập luận rằng xu hướng ở ngôi làng này và nói chung là ở miền Bắc Việt Nam vào thế kỷ XX đối với nam giới ngày càng quản

lý các doanh nghiệp thủ công nhỏ là do hệ tư tưởng và kinh tế chính trị Đề cập đến chế độ quan liêu là lý do chính khiến nam giới quản lý các doanh nghiệp quy mô nhỏ thay vì phụ nữ, ông giải thích rằng hệ thống quan liêu trong thời kỳ thuộc địa ưu ái nam giới cho những vị trí này vì họ được tiếp cận giáo dục một cách đặc quyền Sau đó, trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa cao, một mô hình tương tự đã xuất hiện vì nền kinh tế chỉ huy cũng bị quan liêu hóa cao độ Ngoài ra, việc lãnh đạo một hợp tác xã bao gồm nhiều chuyến đi và do đó khó có thể kết hợp với công việc gia đình của phụ nữ

Tổng hợp các nghiên cứu đi trước có thể thấy, việc sử dụng chiến lược các khái niệm cụ thể về bản chất giới do Leshkowich đưa ra có vẻ phù hợp nhất với nghiên cứu này Xu hướng đàn ông ngày càng có nhu cầu và mong muốn trở thành thương nhân ở Phù Lưu và Đình Bảng có thể chỉ ra rằng di sản xã hội chủ nghĩa định hình các vai trò giới tính trong thời kỳ sau cải cách cuối cùng đã biến mất Điều này thách thức xu hướng nhấn mạnh quá mức tác động và khả năng phục hồi của văn hóa và bỏ qua các khái niệm năng động về giới và các hoạt động buôn bán đang thay đổi Lời giải thích của Lương Văn Hy cũng đang đúng với logic tại một số làng buôn sau chính sách Đổi mới (1986), đó chính là xu hướng đàn ông đảm nhận các vị trí quản lý làng

xã như Bí thư, Chủ tịch, Trưởng thôn sau này là Tổ trưởng khu phố,… cũng đang diễn ra ở Phù

14 Leshkowich, Ann Marie 2014 Essential Trade: Vietnamese Women in a Changing Marketplace

Honolulu: University of Hawaii Press, pg 57-58

Trang 15

Lưu, Đình Bảng và một số làng lân cận Tuy nhiên, có thể thấy qua nghiên cứu rằng hoạt động buôn bán tại chợ của phụ nữ Phù Lưu vẫn là xu hướng chính bởi họ buôn bán các mặt hàng tiêu dùng hay thường gọi là hàng xén, vải vóc tơ luạ,… Một xu hướng khác là buôn bán các mặt hàng điện tử, điện lạnh, điện gia dụng thường do người đàn ông tham gia về mặt kỹ thuật nhưng người bán hàng trực tiếp vẫn là phụ nữ Người đàn ông thường lo các công đoạn nhập hàng, kiểm tra kỹ thuật, giao hàng

Đối với nhiều làng thuần nông, phụ nữ chỉ làm công việc nông nghiệp, thời gian nông nhàn có thể buôn bán mùa vụ hoặc làm thuê kiếm thêm thu nhập, song đối với một số làng buôn lâu đời như Đình Bảng, Phù Lưu, với sự phát triển của nền kinh tế làng xã và sự mở rộng của thị trường, thương mại trở thành nguồn thu nhập chính và do đó phụ nữ đã trở thành trụ cột gia đình Đàn ông ngày càng có xu hướng ở nhà và làm nhiều công việc khác nhau một cách linh hoạt, nhưng việc nhà vốn không được coi là công việc của đàn ông Chúng tôi sẽ phân tích ví dụ cụ thể

ở nội dung về tác động của hoạt động buôn bán tới kinh tế hộ gia đình từ góc nhìn giới

Khi tôi hỏi một người đàn ông ở Phù Lưu về việc: ông nghĩ gì về sự phân công lao động hiện tại, ông trả lời:

“Tại sao đàn ông chúng tôi phải may mắn? May mắn ở đâu khi tìm thấy một người vợ kiệt sức, tức giận ở nhà và tôi phải xin tiền nếu muốn ra ngoài uống trà, hoặc đi

ăn cỗ, ăn đám [ ] Vợ của chúng tôi kiếm được nhiều tiền trong một ngày, và sau vài ngày họ đã kiếm được nhiều tiền bằng chúng tôi kiếm được trong một tháng Khi vợ kiếm được đủ tiền, còn nghề nghiệp của chồng không được đảm bảo nên chồng ở nhà vì vợ kiếm được đủ rồi, ở nhà chăm sóc gia đình thôi” (Câu chuyện của anh Chu Văn Phấn, làng Phù Lưu, TP Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)

Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó, không phải là điều mới mẻ ở Việt Nam khi những người vợ kiếm được nhiều tiền hơn chồng trong những hộ gia đình dựa trên nông nghiệp và buôn bán nhỏ Tuy nhiên, điều quan trọng là phụ nữ kiếm được nhiều tiền hơn đàn ông bao nhiêu, đặc biệt là khi thu nhập của người vợ đủ để nuôi sống cả gia đình Đối với các làng buôn xứ Bắc, đặc biệt ở Phù Lưu, Đình Bảng, Ninh Hiệp có thể dễ dàng nhận thấy nam giới ở đây khá phụ thuộc vào vợ, mẹ và con gái của họ, những người phụ nữ trong gia đình tạo ra nguồn thu nhập chính Một mặt, những đóng góp tài chính của phụ nữ cho hộ gia đình được thừa nhận, nhưng mặt khác,

sự lo lắng về sự bất cân xứng khó có thể che giấu được Để đối phó với sự bối rối mà tình huống này gây ra, nam giới thường chế giễu bản thân và bạn bè nam của họ vì phụ thuộc vào vợ và đảm nhận những nhiệm vụ thường được giao cho phụ nữ

Ngày nay, về cơ bản đàn ông Phù Lưu, Đình Bảng và một số vùng lân cận có ba lựa chọn: thứ nhất, ở nhà làm việc nhà và phụ giúp vợ buôn bán; thứ hai, làm nghề khác, chẳng hạn

như lái xe ôm, làm nông , làm công nhật, làm công nhân, giáo viên, công chức, v.v., ngay cả khi

mức lương có thể thấp hơn mức lương của một người buôn bán; thứ ba, tham gia kinh doanh Trong khi hai lựa chọn đầu tiên được những người đàn ông thời tiền Đổi mới ưa chuộng, thì những người đàn ông thế hệ sau, những người đã trải qua sự bùng nổ của thị trường, thường quyết định lựa chọn thứ ba Điều thú vị là những người đàn ông này không chỉ tham gia nhiều

Trang 16

hơn vào công việc kinh doanh gia đình mà còn đảm nhiệm những nhiệm vụ trước đây được giao cho phụ nữ, chẳng hạn như bán hàng ở chợ và quản lý ngân sách Đặc biệt kể từ khi các chợ mới được thành lập vào năm 2011, không còn hiếm những thanh niên thậm chí trở thành người bán hàng ở chợ Một điều kiện rất quan trọng cho sự thay đổi này là sự phai nhạt của hàm ý tiêu cực

về tiền bạc sau Đổi mới Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những người đàn ông thành đạt trong việc kiếm tiền và có khả năng chi trả cho một lối sống nhất định ngày càng được coi trọng Như Nguyễn Thị Minh (2014) đã nói: “Quyền lực kiếm tiền hay việc tạo điều kiện cho việc tạo ra của cải là chuẩn mực quan trọng sau Đổi mới để trở thành một người đàn ông”

Nhìn vào bối cảnh rộng hơn của Việt Nam, có thể có hai lý do cho xu hướng nam giới trở thành thương nhân: có một xu hướng chung ở Việt Nam là nam giới ngày càng tham gia nhiều hơn vào việc quản lý ngân sách hộ gia đình, trường hợp ở Phù Lưu, Đình Bảng chính là tích cực tham gia vào công việc kinh doanh của gia đình vốn trước kia đổ dồn lên vai người phụ nữ Xu hướng này xuất hiện trong thời kỳ hậu Đổi mới là vì thu nhập khả dụng đã tăng đáng kể và do đó

có một lượng tiền mặt đáng kể để quản lý Ở Đình Bảng với ngành dệt may, làm giấy, chế biến nông sản và một số loại hình kinh doanh mới đã bắt đầu thu hút nam giới trở thành thương nhân

vì nó không còn là những khoản tiền không đáng kể nữa - một thực tế biến thương mại thành một nghề hợp pháp về mặt tài chính và văn hóa đối với nam giới

Mặt khác, những quan niệm thay đổi về nam tính giữa các thế hệ khác nhau ở Việt Nam cho thấy nhiều thanh niên lớn lên ở Việt Nam sau Đổi mới, hướng về mẹ hơn là cha Nhiều người giải thích rằng điều này là do nam giới thường gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đối phó với một xã hội đang thay đổi so với phụ nữ Trong khi mẹ của những thanh niên trong hình mẫu của họ là những người biết nắm bắt cơ hội để kinh doanh và trở thành những thương nhân thành đạt, thì cha của họ lại kém năng động hơn nhiều Khi kể lại những ký ức về cha mẹ, những thanh niên này thường không coi cha mình là hình mẫu, mà thay vào đó là mẹ của họ, vì họ năng động

và thành công hơn trong việc hòa nhập với sự thay đổi về mặt xã hội và kinh tế do quá trình cải cách mang lại Theo đó, việc chấp nhận rủi ro gắn liền với các bà mẹ, trong khi các ông bố được coi là không thích rủi ro và không thể xoay xở để duy trì sự phù hợp với xã hội hiện đại nói chung và với gia đình nói riêng - không chỉ về mặt tài chính mà còn là người đưa ra lời khuyên

về những quyết định khó khăn trong cuộc sống

Dựa trên quan sát những thanh niên đang học để trở thành thương nhân, có vẻ như họ hướng về mẹ mình nhiều hơn là cha mình, và theo cách này cố gắng nắm bắt những cơ hội mà cơ cấu kinh tế mới mang lại Điều thú vị là những gì được coi là nam tính sự năng động, chấp nhận rủi ro và quyết đoán được thể hiện rõ nhất ở những thương nhân ở Phù Lưu Mặc dù nam giới

của các thế hệ hiện tại coi mình là chủ gia đình (chủ gia đình) giống như cha của họ, nhưng đồng

thời họ không thấy sự tham gia tích cực của mình vào công việc buôn bán (hay người dân quen

dùng là đi chợ) làm tổn hại đến nam tính của họ, mà ngược lại, còn làm họ cảm thấy tự tin hơn,

tăng cường nam tính hơn vì có thể mang lại thu nhập trong gia đình

Trang 17

Từ khi chợ Giầu xây thêm hai khu chợ mới (khu trung tâm thương mại chợ Giầu (ngay sát khu chợ Giàu cũ, gần với khu vực Trung tâm hành chính công của Tp Từ Sơn) và khu chợ thực phẩm tươi sống, quần áo thời trang (gần khu vực trung tâm dân cư của phường Đông Ngàn, gần khu chợ Ga Từ Sơn cũ), các mặt hàng buôn bán cũng phong phú, đa dạng Sự tham gia của nam giới vào hoạt động buôn bán cũng bắt đầu tăng lên Khu chợ cũ nhỏ, hẹp dù được cải tạo nhiều lần song vẫn bất tiện với người mua hàng Ngược lại với nhiều bất tiện của chợ cũ, bao gồm các gian hàng rất nhỏ nằm san sát nhau, không khí ngột ngạt do trần nhà thấp và thiếu lưu thông không khí, và nhiệt độ nóng không thể chịu nổi vào mùa hè, các chợ mới rộng rãi hơn, tạo

ra môi trường thuận tiện cho các hoạt động buôn bán Những lối đi này đủ lớn để dễ dàng vận chuyển hàng hóa đến gian hàng, và xung quanh chợ có không gian để xe cộ và người mua hàng

có thể dễ dàng di chuyển

Hầu hết các nhà quy hoạch đô thị cũng như các viên chức nhà nước ở các vị trí có liên quan đều là nam giới, nên không có gì ngạc nhiên khi tầm nhìn định hướng cho quá trình hiện đại hóa thị trường cũng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi phong cách nam tính rõ rệt Nhưng động lực này cũng vượt ra ngoài thiết kế vật lý của thị trường Như kinh nghiệm ở Phù Lưu chỉ ra, ngay cả các thị trường được tái phát triển và mới thành lập cuối cùng cũng trở thành những không gian

mà nam giới chiếm đa số Kết quả cuối cùng là một thị trường mà hầu hết những người bán hàng

là nam giới phục vụ nhu cầu của những người đàn ông khác tình cờ là khách hàng của họ Tương

tự như cách các thị trường mới được khái niệm hóa là hiện đại so với thị trường cũ, những người bán hàng tại các thị trường mới được coi là cư xử theo cách "văn minh" Trái ngược với hình ảnh những người bán hàng là phụ nữ, tầng lớp thấp, ít học, những người đàn ông tại các thị trường mới dường như đang tạo ra một thương nhân nam mới bằng cách kết hợp các lý tưởng tân tự do

về kiến thức, tinh thần kinh doanh và tiền bạc Họ tạo ấn tượng này bằng cách đọc báo, đếm những bó tiền lớn ở nơi công cộng và mang chúng một cách lộ liễu trong túi quần Trong ngày,

họ nghỉ giải lao để gặp nhau tại quán cà phê gần đó, cũng do một người đàn ông điều hành Do

đó, việc đàn ông bán hàng ở nơi sạch sẽ, sáng sủa và tương đối yên tĩnh góp phần tích cực vào hình ảnh của họ

Điều này không có nghĩa là việc bán hàng tại một trong những khu chợ mới là mong muốn của mọi người, đặc biệt là những người phụ nữ bán hàng lâu năm tại khu chợ cũ thường nói rằng do mối quan hệ tốt với những người hàng xóm bán hàng, phí thuê gian hàng tương đối khiêm tốn và thực tế là khách hàng quen của họ có thể dễ dàng tìm thấy họ, nên họ không có ý định chuyển đi Những cân nhắc thực tế này và tuyên bố trước đó của Hạnh khẳng định lại định kiến giới có thể được đọc trong bối cảnh lập luận của Leshkowich về việc sử dụng chủ nghĩa bản chất giới một cách chiến lược Có thể, sự phân chia lao động và không gian khác sẽ kém hiệu quả hơn đối với gia đình về mặt lợi nhuận kinh tế và việc sử dụng các năng lực sẵn có Ví dụ, nếu đàn ông không làm người bán hàng, thì có thể vận hành ít gian hàng hơn; nếu đàn ông và phụ nữ đổi gian hàng, thì họ có thể mất khách hàng, v.v Tuy nhiên, ngay cả khi điều này là đúng

và phụ nữ có thể phát huy tác dụng bằng cách khẳng định vai trò bản chất giới của mình, thì điều

Trang 18

đó cũng không cải thiện tình hình của họ về mặt phải làm việc ít giờ hơn hoặc trong môi trường thoải mái hơn, hoặc nâng cao địa vị xã hội của họ

Nhìn chung, sự thay đổi theo hướng tự do mới định hình nên sự phát triển lại các khu chợ dường như đặc biệt quan trọng đối với nam giới ở Phù Lưu, vì họ không chỉ tìm được nguồn thu nhập mà còn có được vị trí mới trong làng, ngoài xã hội Bằng cách trở thành thương nhân, họ chứng minh rằng họ năng động và có thể tham gia vào những hoàn cảnh thay đổi nhanh chóng Ngoài ra, với sức mua tăng lên, họ có thể tham gia vào việc tiêu dùng và do đó nâng cao ý thức

về nam tính của họ Bước tiếp theo là chuyển sang vai trò của phụ nữ và các khái niệm về nữ tính để xem xét tình hình của họ sâu hơn

Vai trò của nữ giới trong mối quan hệ với chồng - quan niệm truyền thống “của chồng công vợ”

Theo quan điểm của người dân làng, phụ nữ Phù Lưu được kỳ vọng phải giỏi kinh doanh

để có thể chu cấp cho gia đình Qua trao đổi với người dân làng, kỹ năng kinh doanh, khả năng quán xuyến gia đình và tinh thần sẵn sàng làm việc chăm chỉ, hy sinh vì gia đình là những phẩm chất quan trọng nhất của một người vợ, người con dâu Khi được hỏi về nhiệm vụ quan trọng nhất của phụ nữ Phù Lưu, bà Giang trả lời: “Khó nói lắm, vì phụ nữ Phù Lưu hướng đến nhiều thứ, họ muốn có gia đình, con cái và sự nghiệp” Sau đó, bà tiếp tục chỉ ra những điểm đặc biệt ở phụ nữ Phù Lưu: Đặc điểm của nơi này là nghề buôn bán địa phương, phụ nữ tham gia rất nhiều Phụ nữ chủ yếu cung cấp kinh tế hộ gia đình Ở Phù Lưu, Đình Bảng vai trò về giới, vai trò trong gia đình bị đảo ngược so với hầu hết các vùng khác ở Việt Nam: Phụ nữ là trụ cột của gia đình, tất nhiên không hoàn toàn, nhưng đến bảy mươi hoặc tám mươi phần trăm Đàn ông ở nhà, chủ yếu chăm lo việc nhà, trông con, chăm sóc gia đình và các sự kiện với họ hàng, như ngày giỗ, Tết Nguyên đán Đây là nét đặc biệt của Phù Lưu

Mặc dù sự tham gia của phụ nữ vào thương mại cho phép họ đóng góp tài chính đáng kể, nhưng sự tham gia ít hơn của họ vào việc chăm sóc vật chất cho các thành viên trong gia đình và gia đình chồng đôi khi bị chỉ trích Đặc biệt, một số người cao tuổi ở Phù Lưu than thở rằng do thị trường hóa, con cháu của họ ít đến thăm họ hơn và chỉ dành ít thời gian cho họ, dẫn đến mất

tình cảm (mất tình cảm) Tuy nhiên, mặc dù niềm tin chung rằng tiền bạc tác động tiêu cực đến

tình cảm là khá phổ biến, nhưng sự thoải mái về vật chất đã được thừa nhận Tiền không chỉ được sử dụng để làm cho cuộc sống thuận tiện hơn bằng cách mua máy điều hòa và xây dựng lại ngôi nhà, mà còn để tạo ra thời gian cho gia đình bằng cách đi du lịch đến các thành phố biển và những nơi khác ở Việt Nam với cả gia đình, bao gồm cả ông bà

Mỗi gia đình có cách thực hiện các công việc gia đình khác nhau Trong một số trường hợp, công việc chăm sóc thực tế được phân chia một cách suôn sẻ giữa các thành viên trong gia đình, ví dụ như ông bà hoặc chồng trông trẻ nhỏ, hoặc đưa trẻ đến nhà trẻ hoặc trường học vào buổi sáng và đón trẻ về vào buổi chiều

Đó là trường hợp của gia đình chị Trang, anh Dũng Tuy nhiên, không phải gia đình nào cũng sắp xếp theo cách này, và một số phụ nữ phải gánh vác toàn bộ gánh nặng kiếm tiền, việc nhà và chăm sóc trẻ em và người già

Trang 19

Chị Trang là người Đình Bảng, lấy chồng về làng Phù Lưu Trang đã từng học Cao đẳng Du lịch, chồng Trang là Dũng sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông ở nhà phụ giúp mẹ công việc buôn bán tại chợ Phù Lưu, đồng thời học thêm nghề xăm Khi lấy chồng về Phù Lưu, Trang không làm công việc lễ tân tại khách sạn (theo chuyên ngành

đã học nữa) mà phụ giúp mẹ chồng buôn bán, sau khi học được nghề buôn từ mẹ chồng,

cô thuê một gian hàng riêng gần chỗ mẹ chồng để bán Các mặt hàng cô buôn bán chủ yếu là hàng xén, hàng tiêu dùng, nhu yếu phẩm hàng ngày: dầu gội đầu, xà phòng, các loại văn phòng phẩm,… Do tách ra ở riêng, lại độc lập việc kinh doanh với mẹ nên Trang phải lo toan khá nhiều việc, không được bố mẹ chồng và chồng giúp đỡ nhiều vì Dũng - chồng Trang cũng đang bận rộn với công việc của anh ấy Dũng làm xăm hình nên nhiều hôm xăm cho khách xong muộn, thậm chí thức suốt đêm nên sáng hôm sau không thể giúp vợ dọn hàng hay đưa đón con nên Trang phải sắp xếp công việc rất vất vả để có thể vừa dọn hàng hoá, vừa đưa con đi học rồi đón con về

Làm việc ở chợ cả ngày đòi hỏi cả về thể chất và tinh thần vì nó đồng nghĩa với việc phải ngồi không thoải mái, mặc cả với khách hàng đôi khi đòi giá vô lý, phải tiếp xúc với môi trường

ồn ào và liên tục lo lắng về việc kinh doanh Khi đóng cửa quầy hàng vào cuối buổi chiều, cô ấy phải làm việc nhà, nấu ăn tối và chăm sóc con trai

Có thể thấy, trước đây công việc thuần tuý của người phụ nữ là đi buôn, người đàn ông lo việc gia đình, chăm sóc con cái, sự phân công công việc tương đối rõ ràng Nhưng hiện nay, đối với nhiều gia đình trong làng, đặc biệt đối với những hộ gia đình trẻ, sự phân công công việc đã

có nhiều thay đổi Người chồng trong gia đình cũng muốn có sự nghiệp riêng nên không bằng lòng với việc ở nhà chăm lo gia đình mà muốn có công việc, sự nghiệp riêng Ví như Dũng, chồng Trang dù không học Đại học, không đi làm công ty nhưng vẫn muốn học một nghề riêng, kiếm tiền mà không phụ thuộc vào vợ

Nhìn chung, phụ nữ chịu trách nhiệm về các công việc buôn bán và sinh con trong gia đình và được kỳ vọng sẽ giữ cho gia đình hạnh phúc Đáng chú ý là vai trò của phụ nữ không có nhiều thay đổi kể từ trước năm 1986 đến giờ, đó chính là nghịch lý giữa tham vọng của nhà nước

- mong muốn đưa phụ nữ vào hoạt động sản xuất bên ngoài gia đình như một cách thể hiện của bình đẳng giới, phụ nữ thoát khỏi bổn phận thông thường là sinh con, chăm sóc gia đình Tuy nhiên trên thực tế, không chỉ phụ nữ làng buôn mà phụ nữ ở nhiều làng nông thôn khác luôn phải khoác lên mình nhiều vai trò và kỳ vọng về trách nhiệm gia đình của phụ nữ

Một trường hợp nữa mà chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và phỏng vấn ở làng Đình Bảng, là trường hợp bác Nguyễn Thị Liên ở xóm Bà La, năm nay đã 72 tuổi và chồng bác đã 75 tuổi

Nhà bác Liên có truyền thống nấu rượu gạo, giao bán rượu gạo khắp vùng Từ Sơn, Bắc Ninh và Hà Nội Trước đây, bác Liên làm nghề hàng xáo (đi mua thóc gạo, xay sát mang bán ở chợ, cám gạo thừa ra để nuôi lợn) – đây là một nghề cũng như một loại hàng hoá khá phổ biến ở nông thôn châu thổ sông Hồng Trong suốt giai đoạn từ 1975 – 1986 nhà bác Liên vẫn duy trì nghề này một cách không công khai, gạo bác cũng để nấu rượu (nấu rượu lậu vì giai đoạn này bị

Trang 20

nhà nước cấm mọi hình thức kinh doanh, buôn bán và hoạt động sản xuất tư nhân, cá thể), tranh thủ lúa gạo từ nghề hàng xáo, cám bã từ nấu rượu để nuôi lợn, coi như một khoản tiết kiệm Sau

1986 đến tận bây giờ, gia đình bác vẫn tiếp tục nghề này dù tuổi đã cao

Theo bác Liên kể lại, sau năm 1986, nhà nước khuyến khích các hoạt động kinh doanh cá thể để phát triển kinh tế hộ gia đình nên dựa trên các mối hàng cũ cộng với kinh nghiệm hàng xáo, nấu rượu nhà bác cũng mở rộng mô hình, kinh tế khá giả hơn Dù là các hoạt động buôn bán, kinh doanh nhà bác Liên khá nặng nhọc nhưng đa phần đều là

do bác đảm nhiệm chính, bác trai chỉ hỗ trợ thêm Bác kể, hồi những năm 90 của thế kỷ trước bác phải đi khắp làng và các vùng lân cận thu mua thóc, một mình chở mấy tạ thóc trên chiếc xe đạp thồ (không có xe cơ giới), sau đó đi xay sát gạo (chỗ này thì bác trai hỗ trợ thêm), tối về nhà phải dần sàng gạo, loại bỏ cám và tấm để có được gạo đẹp nhất mang đi chợ Giầu bán (đa phần các vùng lân cận đều bán ở chợ Giầu, giai đoạn những năm 1990s thì chợ Giầu đã là chợ huyện, lớn nhất vùng); phần cám và tấm để lại nuôi lợn Theo bác, lãi từ nghề hàng xáo chính là chỗ này, được phần dư ra để nuôi lợn như một phần tích luỹ để cuối năm bán được một món Chở gạo ra chợ Giầu bán cũng là một mình bác Liên làm, bác trai chỉ ở nhà hỗ trợ thêm, đi làm ruộng, nuôi lợn Ngoài ra, nhà bác còn nấu rượu, mỗi tuần bác nấu tầm 50 lít rượu, chủ yếu bán cho các cửa hàng trong làng, giao cho một số mối quen ở Hà Nội Rượu Đình Bảng vốn ngon nổi tiếng, đặc biệt

là rượu nếp cái hoa vàng rất được ưa chuộng Việc nấu rượu bác trai giúp sức rất nhiều vì biết nếm rượu, đồng thời đi giao rượu cho các nơi Những năm 90 các con còn nhỏ nên hai bác khá vất vả, các con gần như không giúp được gì nhiều Theo ý kiến của bác trai thì: “việc trong nhà là bác Liên sắp đặt hết, bác chỉ làm theo thôi” Đến bây giờ, dù hơn

70 tuổi, hai bác không làm nghề hàng xáo nữa nhưng hai bác vẫn duy trì nấu rượu, trong nhà lúc nào cũng có vài trăm lít rượu ủ lâu năm và gói bánh phu thê bán - một đặc sản của Đình Bảng

Qua nghiên cứu một số trường hợp cho thấy, dù trong bất cứ giai đoạn nào và dù là hình thức buôn bán kinh doanh nào người phụ nữ ở hai làng Phù Lưu và Đình Bảng luôn cho thấy vai trò nổi trội, đi đầu của mình Họ thậm chí đảm nhận cả những công việc nặng nhọc cả về chân tay, những tính toán chi li về kinh tế cho gia đình Trong những giai đoạn khó khăn đầu Đổi mới,

họ xoay xở với rất nhiều nghề để kinh tế gia đình được ổn định, con cái được đi học Trái lại, người chồng có vẻ thoải mái hơn, ít phải lo toan do mọi việc đều được vợ sắp đặt giúp Người chồng trong gia đình chỉ đóng vai trò trợ giúp nhưng ở ngoài xã hội họ vẫn lo các việc với đúng vai trò là người nam giới trụ cột gia đình Trong trường hợp Phù Lưu, Đình Bảng khi nghiên cứu

và soi chiếu lại thấy rất rõ ý nghĩa của câu nói “của chồng công vợ”

Có thể thấy, trong khi phụ nữ phải chịu áp lực phải xoay xở với nhiều nhu cầu của công việc và gia đình, kết quả là họ kiệt sức và thường xuyên bị đau lưng và các bệnh liên quan đến căng thẳng, thì ở nhiều gia đình người đàn ông lại phải đấu tranh để xác định lại vị thế của mình trong gia đình và trong xã hội nói chung Họ dường như phải đối mặt với những kỳ vọng ít rõ ràng hơn, điều này có thể là một lợi thế vì nó có nghĩa là nhiều tự do hơn, nhưng nó cũng có thể

Trang 21

khiến đàn ông cảm thấy bị loại bỏ khi những đóng góp về tài chính và thực tế của họ bị giảm xuống thành "sự hỗ trợ", hoặc như Martin (2013) đã nói, khi họ gặp khó khăn trong việc "duy trì

sự phù hợp" Tuy nhiên, đối với một số nam giới, quá trình thị trường hoá và đô thị hóa gần đây

đã có tác động tích cực vì nó tạo ra cơ hội việc làm, kiếm tiền và do đó nâng cao ý thức về nam tính của họ (như trường hợp chị Trang, anh Dũng)

Điều quan trọng cần nhấn mạnh là không chỉ khả năng kiếm tiền và thậm chí trở nên giàu

có đã tăng lên trong thời kỳ hậu Đổi mới, mà thái độ đối với tiền bạc cũng đã thay đổi đáng kể Quá trình này đan xen với những thay đổi về quan niệm nữ tính và nam tính Không giống như trước đây, ở giai đoạn hiện nay một trong những cách thể hiện tính nam của người đàn ông được đong đo bằng khả năng kiếm tiền, sự quan tâm tới việc kiếm tiền của họ Và điều này cũng giải thích thêm một hiện tượng thú vị ở Phù Lưu, Đình Bảng và một số làng lân cận đó là: nếu như trước đây (khoảng những năm 90 của thế kỷ trước) việc trở thành người bán hàng ở chợ gần như

là điều không thể tưởng tượng được hoặc khó chấp nhận được đối với nam giới thì những người đàn ông trẻ tuổi ở Phù Lưu ngày nay không phản đối việc bán hàng ở chợ Ở Đình Bảng, quy mô

và tính chất buôn bán có nhiều thay đổi về mặt quy mô nên đàn ông cũng tích cực tham gia quản

lý doanh nghiệp gia đình

Mặc dù xu hướng nam giới tham gia kinh doanh dẫn đến sự phân công lao động mới trong gia đình, nhưng điều đó không nhất thiết có nghĩa là giải phóng cho phụ nữ, vì nó thường ngụ ý việc mở rộng kinh doanh bằng cách mua một gian hàng mới Đối với phụ nữ ở Phù Lưu, việc trở thành một thương nhân khéo léo để chu cấp cho gia đình là điều quan trọng, nhưng kiếm tiền không giúp họ có thêm tính nữ theo cùng một cách tích cực như đối với việc khẳng định nam tính ở đàn ông Trong khi những đóng góp về mặt tài chính được thừa nhận, tính nữ vẫn gắn chặt với phạm vi gia đình và việc kinh doanh hộ gia đình Do đó, vấn đề kinh tế gia đình và giới

có mối quan hệ mơ hồ mặc dù tiền bạc không được coi là quyền lực, nhưng nó vẫn có những tác động mạnh mẽ liên quan đến quan hệ giới tính

Vai trò của người phụ nữ trong nuôi dạy con cái

Ở Việt Nam, phụ nữ trước hết và quan trọng nhất được coi là vợ, mẹ, con gái và con dâu, nhưng họ cũng có truyền thống lâu đời là một phần của lực lượng lao động Vai trò của phụ nữ được nhà nước và Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam thúc đẩy là một nữ công nhân phục tùng, người mang gánh nặng kép của công việc và gia đình Hình ảnh này được thể hiện trong khẩu

hiệu của công đoàn “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, tuy nhiên, trong thời bình , “việc nước” có

nghĩa là lao động làm công ăn lương Có thể thấy, quan điểm chung của xã hội đều đặt lên vai người phụ nữ hiện đại những trách nhiệm rất cao Họ vừa phải làm việc xã hội để đóng góp tài chính cho nền kinh tế hộ gia đình, vừa phải có trách nhiệm đối với hạnh phúc, ấm no của con cái, chung sống hoà thuận với chồng và bố mẹ mẹ chồng, hài hoà, thân thiện với hàng xóm làng giềng Vai trò của phụ nữ sau Đổi mới chủ yếu gắn liền với công việc chăm sóc gia đình và đảm bảo ổn định cho kinh tế hộ gia đình Một chiến dịch xuất hiện đầu những năm 1990s do Hội Liên hiệp phụ nữ phát động, đó là “Gia đình thịnh vượng, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc” Việc hướng tới mục tiêu phát triển gia đình văn minh ở đây đồng nghĩa với việc nhắm vào phụ nữ, vì

Trang 22

họ được coi là người chịu trách nhiệm về việc đảm bảo và duy trì hạnh phúc gia đình trong suốt lịch sử Việt Nam

Ở Phù Lưu, Đình Bảng, phụ nữ đi buôn nên việc chăm sóc, nuôi dạy con cái đôi khi phó mặc cho người giúp việc, ông bà hoặc người chồng Họ không có thời gian chăm sóc, nấu nướng cho các con như những người phụ nữ làm các ngành nghề khác Do vậy, nhiều người đàn ông không thích chọn các cô gái làm nghề buôn ban để lấy làm vợ Họ thích những cô gái làm giáo viên, công chức Khi phỏng vấn một số thanh niên ở Từ Sơn về vấn đề này, đa phần họ thống nhất quan điểm: “vợ mà buôn bán thì không có thời gian chăm sóc con; hơn nữa, người đi buôn

đa phần không được học cao đẳng, đại học, trình độ hạn chế nên không dạy bảo được con”; một

số người cho rằng: “phụ nữ mà đi buôn thì tính cách không được hiền hậu, hay phải đánh cãi, chửi nhau, buôn gian, bán lận” Những người đàn ông làm công chức nhà nước hay có địa vị xã hội thường sẽ không lựa chọn người vợ làm nghề buôn bán ở chợ mà muốn tìm người phụ nữ có thời gian và công việc ổn định Có thể thấy, gần đây, khi xã hội phát triển hơn, địa vị người đàn ông được nâng lên; cơ cấu việc làm có sự chuyển biến mạnh đã làm cho quan điểm về nghề buôn hay phụ nữ làm nghề buôn bắt đầu có những thay đổi so với trước đây Tuy vậy, đối với nhiều người nghề nghiệp không quan trọng miễn sao tạo ra thu nhập đảm bảo được cuộc sống trong gia đình Song, dù sao đi nữa cũng phải khẳng định một sự thật rằng những người phụ nữ làm nghề buôn không có thời gian chăm sóc con cái và gia đình mà phó thác cho giúp việc và người thân nên đôi khi có những ảnh hưởng không tốt Con cái không nghe lời, cha mẹ không quản lý được

dễ dẫn tới hư hỏng, học hành không đến nơi, đến chốn

Do vậy, ngày nay nhiều phụ nữ không thích sinh nhiều con Nhưng các giá trị Nho giáo vẫn ăn sâu vào tâm trí của mọi người Phù Lưu, Đình Bảng là một nơi có nền kinh tế phát triển, song phong tục của người dân vẫn mang tính phong kiến Ví dụ như cưới xin và tang ma vẫn theo phong tục truyền thống Tang lễ thì xa hoa, được thực hiện theo các thủ tục cũ Người dân các làng này đa phần vẫn muốn có con trai để thờ cúng tổ tiên và tiếp tục dòng dõi Khi kinh tế phát triển và mọi người có nhiều tiền, họ càng muốn có con trai để anh ta có thể quản lý tài sản, bởi vì vẫn còn quan niệm của quá khứ rằng con gái sẽ rời khỏi nhà khi họ lấy chồng

Việc mở cửa nền kinh tế không chỉ cho phép lựa chọn nghề nghiệp mà còn dẫn đến sự hồi sinh của những ý tưởng trái ngược với tầm nhìn hiện đại của nhà nước Ở Phù Lưu và Đình Bảng sự độc lập của các thương nhân với nhà nước về mặt việc làm cũng như khả năng kiếm tiền của họ khiến cho người dân làng muốn sinh nhiều con, họ thậm chí để người giúp việc nuôi dưỡng, thay vì để vợ hoặc mẹ chồng ở nhà chăm sóc con cái

Tuy nhiên, đến giai đoạn hiện nay, công việc buôn bán được hỗ trợ nhiều bởi các đối tác vận chuyển và vấn đề công nghệ, quan niệm về “đông con, đông của” để lấy người lo việc gia đình cũng có nhiều thay đổi Nhiều gia đình nhận thức được vấn đề kế hoạch hoá gia đình nên hầu như không còn hiện tượng sinh quá nhiều con như trước kia

Người phụ nữ ở Phù Lưu trước đây (trước những năm 80 của thế kỷ XX) thường không trực tiếp nuôi con mà thường thuê vú nuôi hoặc cho đi làm con nuôi ở nhà khác Công việc buôn bán của phụ nữ nông thôn làm thay đổi vai trò và quan hệ về giới trong gia đình Những người

Trang 23

phụ nữ buôn bán chuyên nghiệp chỉ chuyên tâm lo việc buôn bán (nhập hàng, bán hàng, khách hàng), đàn ông ở nhà, trợ giúp các công việc lặt vặt, làm ruộng, chăm sóc con cái (thậm chí con thuê người chăm sóc) Tuy nhiên, nếu thông thường, khi phụ nữ nắm quyền lực kinh tế thì sẽ là người có tiếng nói và quyết định mọi việc nhưng ở Phù Lưu, vai trò của nam giới vẫn được tôn trọng Đàn ông lo việc đèn sách, đi thi, học hành, làm quan, quyết định công việc trong gia đình đàn ông vẫn chiếm ưu thế

Khi người vợ trở thành trụ cột trong gia đình đồng nghĩa với việc vai trò và tiếng nói của

họ trong gia đình tăng lên, vai trò và trách nhiệm trong gia đình thay đổi Khi họ đến thành phố làm việc có nghĩa là vai trò, thiên chức làm mẹ của họ cũng thay đổi, và người chồng ở nhà sẽ gánh vác trách nhiệm đó cho đến khi người vợ quay trở về Công việc này của đàn ông “làm các công việc gia đình” (làm việc nhà đồng nghĩa với làm nội trợ), được tiến hành bởi 1 mình người đàn ông hoặc gia đình lớn (có thể có sự giúp đỡ của bố mẹ) Ở Phù Lưu, ngay từ thế kỷ XVIII- XIX thì vai trò này không được chuyển cho đàn ông hay những người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình (bà) mà họ thuê người khác “làm các công việc gia đình” Lý giải hiện tượng này ở Phù Lưu thế nào? Khi phụ nữ làm việc bên ngoài - kiếm ra tiền, họ lấy tiền thuê người khác làm thay mình các công việc gia đình mà không trông cậy vào người đàn ông Hệ quả (impact) của hiện tượng này chính là việc một số “con cái” của họ không muốn quay về với bố mẹ đẻ mà sống với

mẹ nuôi suốt đời Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn với một số đối tượng 60-70 tuổi, những người này khi còn nhỏ đã được cho đi ở với vú nuôi để cha mẹ tiện lo chuyện buôn bán Khi được hỏi bác Chu Văn Tấn kể rằng:

“Thầy u (cách gọi cha, mẹ thuở trước) tôi gửi tôi đến ở một gia đình có hai vợ chồng làm ruộng cùng với 3 người con nữa Tôi sống cùng bố mẹ nuôi cả ngày lẫn đêm, thỉnh thoảng thầy u tôi mới đón tôi về nhà một vài hôm rồi lại gửi cho bố mẹ nuôi Sau này, tôi xin ở hẳn với bố mẹ nuôi và không quay về nhà thầy u đẻ nữa”

Ông Chu Minh Đức kể rằng:

“Khi tôi còn nhỏ, thầy u tôi thuê vú nuôi ở nhà chăm sóc cho chúng tôi để thầy u chạy chợ, sau này khi tôi lớn hơn, thầy u cho tôi đi ở hẳn tại nhà bố mẹ nuôi ở làng Phù Chẩn, cách làng tôi hơn 2 km, thi thoảng thầy u mới đón tôi về Đến khi lớn, thầy u cho tôi đi học cấp 2 mới đón tôi về, sau đó tôi đi học Trung cấp sư phạm rồi trở thành giáo viên Sau này, tôi vẫn đi lại chăm sóc bố mẹ nuôi và coi như thầy u đẻ, các con bố mẹ nuôi cũng coi tôi như anh em ruột Ở làng tôi (làng Phù Lưu) hiện tượng đi ở con nuôi cho bố mẹ đi buôn là rất nhiều.”

Nguyên nhân chủ yếu là do công việc bận rộn thậm chí làm việc tới rất muộn, đi rất sớm, thường xuyên vắng nhà, không có thời gian chăm sóc con, mối gia đình đều sinh rất nhiều con nên có nhiều con là cho đi ở nhà mẹ nuôi luôn, một tuần hoặc một tháng đón con về 1 lần (trường hợp này thì thường sẽ gửi tới những gia đình hiếm con) Nhiều người con không muốn

về với bố mẹ đẻ vì không thấy gắn bó với bố mẹ mình, yêu quý người chăm sóc mình hơn Hệ quả này cho thấy vai trò của cha mẹ đối với con cái, nếu thiếu sự quan tâm chăm sóc thì sẽ không duy trì được mối quan hệ gia đình thông thường

Trang 24

Người phụ nữ và vai trò làm dâu

Từ xưa, việc chăm lo gia đình, nuôi dạy con cái đã là “nhiệm vụ” không thể thiếu của người phụ nữ Niềm hạnh phúc vô bờ bến của mỗi người phụ nữ đó là làm vợ và làm mẹ, được chăm sóc cho những người mình yêu thương Điều đó không thay đổi theo tiến trình lịch sử, theo những thay đổi trong quan niệm thời đại, song, trong mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, những chuẩn mực khác nhau về người phụ nữ cũng làm thay đổi vai trò và ảnh hưởng của người mẹ đối với việc giáo dục con cái trong gia đình Trong xã hội phong kiến, những định kiến khắt khe của

xã hội đã kìm hãm người phụ nữ trong phạm vi gia đình, họ chịu ảnh hưởng lớn của người chồng, gần như không có sự độc lập, tự chủ trong đời sống, trong gia đình Do đó, việc giáo dục con cũng bị ảnh hưởng lớn

Xã hội phong kiến trọng nam, khinh nữ gần như xóa nhòa vai trò của phụ nữ trong xã hội, và “nhiệm vụ” duy nhất của họ là chăm sóc chồng, con Có thể nói, “chăm sóc” ở đây được hiểu theo cách đơn giản nhất là nội trợ, giặt giũ, chăm lo bữa ăn, giấc ngủ cho chồng, con Những việc lớn trong gia đình thì đàn ông đảm đương, còn hàng nghìn việc “nhỏ nhặt” thì người

vợ chịu trách nhiệm Những chuẩn mực mà xã hội xây dựng nên cho phụ nữ là tam tòng, tứ đức,

đã có những ảnh hưởng tích cực nhất định, xây dựng nên hình ảnh người phụ nữ hoàn thiện với công, dung, ngôn, hạnh, nhưng cũng đã bao nhiêu năm biến phụ nữ thành “nhân vật phụ” trong cuộc sống gia đình với “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Những chuẩn mực khắt khe đã khiến phụ nữ hoàn toàn bị lệ thuộc vào người đàn ông, từ cha đến chồng, thậm chí cả đến con trai Ảnh hưởng của người mẹ với con cái cũng rất hạn chế Người mẹ chỉ gần gũi, chăm sóc con cái, chứ không có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành nhân cách của con Đặc biệt, việc định hướng cho con không phải là “nhiệm vụ” của người mẹ Người phụ nữ không có tiếng nói trong gia đình, cho nên, những quyết sách về tương lai, công danh, sự nghiệp của con hoàn toàn

là do người cha định hướng Việc chăm sóc con cái chỉ đơn thuần là lo cho chúng bữa ăn, giấc ngủ và yêu thương chúng bằng tất cả tình mẫu tử của mình

Cùng những con điểm giới mang tính mặc định như vậy nên người phụ nữ truyền thống

bị khoác lên người một chiếc áo quá rộng mang tên “làm dâu” “Làm dâu” nghĩa là phải làm tròn đầy đủ mọi trách nhiệm bổn phận của người phụ nữ đối với cha mẹ chồng, gia đình nhà chồng, với chồng và với con Người phụ nữ nuôi con không khéo, chăm lo cho chồng không chu toàn, chăm sóc cha mẹ chồng không chu đáo bị nói là “không biết làm dâu” Bởi vậy, nên cha mẹ chồng và gia đình nhà chồng luôn có một cái nhìn khắt khe với con dâu, có nhiều yêu sách và đòi hỏi thậm chí vô lý Đặc biệt mối quan hệ “mẹ chồng - nàng dâu” luôn luôn là mối quan hệ khó

có thể dung hoà Trong xã hội nói chung, muốn đạt được những kết quả quan trọng về bình đẳng giới cần có thêm những góc nhìn cởi mở về quan điểm giới, sự phân chia trách nhiệm và quyền lợi giữa nam và nữ

Có thể xem đây là một vấn đề lớn trong bất cứ một cộng đồng nào ở Việt Nam từ lớn đến nhỏ, từ nông thôn cho tới đô thị, đặc biệt là ở nông thông châu thổ sông Hồng nơi mà truyền thống văn hoá và dấu ấn của Nho giáo vẫn còn khá đậm nét Tuy nhiên, khi nghiên cứu về làng buôn vùng châu thổ sông Hồng trong đó đi sâu vào hai làng buôn Phù Lưu và Đình Bảng, chúng

Trang 25

tôi nhận thấy “phận làm dâu” của người phụ nữ ở hai làng này có vẻ đơn giản hơn, cha mẹ chồng cũng không quá khắt khe theo lễ giáo phong kiến Như trong các phân tích ở trên, qua nghiên cứu chúng tôi cũng đã đưa ra những nhận định về sự khác biệt nhất định trong quan điểm nuôi dạy con cái, trong quan hệ vợ chồng, làng xóm dưới tác động của hoạt động buôn bán so với những làng thuần nông khác

Khi được hỏi, đa phần các cô, bác trong độ tuổi từ già (từ 60-70 tuổi) đến trẻ (từ 30-40 tuổi) đều có chung một câu trả lời: “do đi bán hàng suốt nên xảy ra rất ít mâu thuẫn với bố mẹ chồng” Tuy nhiên, vấn đề của từng độ tuổi lại khác nhau do trải qua những giai đoạn lịch sử khác nhau và quan điểm xã hội khác nhau

Kết quả thứ 3:

Căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực tế, trong nội dung thứ ba của nghiên cứu, nhóm nghiên cứu tập trung đề xuất một số chính sách phát triển sinh kế bền vững cho phụ nữ nông thôn, đặc biệt là phụ nữ đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, buôn bán Đồng thời, đưa ra một số những hàm ý chính sách và gợi ý trong việc nâng cáo mối quan hệ gia đình, sự gắn kết giá trị gia đình, đặc biệt là mối quan hệ giữa mẹ - con cái trong bối cảnh đô thị hoá

Với xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hiện nay, Nghị

quyết số 29-NQ/TW, ngày 17-11-2022, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII “Về tiếp tục đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Ðẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự nghiệp của toàn dân

và cả hệ thống chính trị, lấy con người là trung tâm, doanh nghiệp là chủ thể, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển dịch cơ cấu lao động”; “…công nghiệp hóa, hiện đại

hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu”

- Một số đề xuất nhằm phát triển sinh kế bền vững cho phụ nữ nông thôn, đặc biệt phụ nữ tham gia hoạt động thương nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số

+ Chính sách hỗ trợ về vốn kinh doanh doanh đối với những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn hoặc những gia đình có nhu cầu mở rộng kinh doanh nhằm đảm bảo đa dạng sinh kế và phát triển bền vững

+ Thực hiện các dự án, chương trình tạp huấn về chuyển đổi số trong kinh doanh đối với phụ nữ Theo khảo sát thực tế cho thấy, chuyển đổi số trong kinh doanh của phụ nữ ở Từ Sơn vẫn còn nhiều hạn chế Thứ nhất, do độ tuổi của những phụ nữ tham gia buôn bán tại chợ tương đối cao (chủ yếu ở độ tuổi từ 45-55), với đối tượng này việc tiếp cận công nghệ trong buôn bán còn nhiều hạn chế Thứ hai, đa phần phụ nữ buôn bán tại chợ ở Phù Lưu, Đình Bảng đã và đang kết hợp bán hàng trực tiếp và bán hàng online ở mức độ tự học (chủ yếu là đăng bài bán hàng trên các trang mạng xã hội hay livestream trên một số nền tảng mạng xã hội như facebook, tiktok,…) mà chưa được tập huấn một cách bài bản Việc thực hiện các chính sách tập huấn về chuyển đổi số trong các hộ kinh doanh nhỏ là một chính sách cần thiết trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ của xã hội hiện nay

Trang 26

+ Chính sách về bình đẳng giới để nhận thức đúng vai trò của phụ nữ và nam giới trong các công việc ngoài xã hội, công việc kinh doanh và các vấn đề trong gia đình Nếu rà soát các chính sách về khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội nông thôn trong nhiều năm qua, có thể thấy rất ít văn bản quy định cụ thể về nội dung "giới" Các chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân đều có mục tiêu nhằm hướng tới sự phát triển về kinh tế và xã hội chung của tất cả các cộng đồng dân cư ở nông thôn, trong đó bao hàm cả nam và nữ; trong quá trình hoạch định từng chính sách riêng biệt không khi nào đặt vấn đề có sự phân biệt đối tượng nam hay nữ trong hưởng lợi từ chính sách Mục tiêu phấn đấu để tiến tới bình đẳng nói chung và bình đẳng giới trong nông nghiệp, nông thôn là rất đúng đắn và cần thiết cho sự phát triển một nông thôn văn minh, hiện đại và bền vững Để xây dựng một quan hệ bình đẳng mang tính thực chất và bền vững, vấn đề quan trọng hàng đầu là không để tồn tại sự chênh lệch về thu nhập, kiến thức kinh tế, xã hội và trình độ văn hóa Quan hệ bình đẳng giới cũng không nằm ngoài quy luật trên, vì thế, để có bình đẳng giới thật sự thì cả nam và nữ cùng phải tự nâng cao khả năng độc lập của mình trong xã hội, với tư cách là những cá thể tự chủ toàn diện, được luật pháp bảo hộ Ngoài ra, việc triển khai nghiên cứu những đề xuất trên đây cần bám sát những đặc thù, điều kiện riêng của các cộng đồng dân cư nông thôn, có chú trọng sự tham gia của các hội nông dân, hội phụ nữ cấp huyện, xã ở nông thôn

- Một kết qủa quan trọng của nghiên cứu là đã đề xuất được một số gợi ý nhằm xây dựng mối quan hệ gia đình trong bối cảnh đô thị hoá mạnh mẽ hiện nay Trong các giai đoạn lịch sử, gia đình Việt Nam mặc dù có những ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo nhưng vẫn giữ được nét riêng của văn hóa gia đình Việt Nam Các loại hình gia đình cũng có những thay đổi theo từng thời kỳ và hình thành nhiều loại hình gia đình như gia đình thuần nông, gia đình làm nghề thủ công, gia đình công nhân, gia đình trí thức, gia đình công giáo, gia đình phật giáo,… Nhiều quy tắc, nền nếp gia đình đã được truyền qua nhiều đời, khuyên răn giáo dục các thành viên cách ăn

ở, giao tiếp; răn dạy đạo đức, ý thức học hỏi, sự thủy chung, nghĩa tình, tu thân lập nghiệp, thờ cha kính mẹ…Các điều răn dạy đạo lý luôn được ông bà, cha mẹ rèn dạy con cháu qua các hoạt động sinh hoạt thường ngày nhằm hạn chế rơi vào tình cảnh “xấu trong làng nước, để cười mai sau”

Nhìn chung, các giá trị chân, thiện, mỹ được định hình, nuôi dưỡng trong gia đình, dựa trên nền tảng của tinh thần trách nhiệm, sự hy sinh, nhường nhịn và bảo ban giữa các lớp thế hệ, giữa các thành viên trong gia đình Những giá trị đó được nhân lên, bảo vệ và gìn giữ qua thời gian, là những giá trị văn hóa kết nối, nuôi dưỡng nhân cách của mỗi con người trong quá trình khôn lớn và trưởng thành

Cần xây dựng bộ tiêu chí hệ giá trị gia đình trên cơ sở phát huy được những giá trị sau: Phát huy các giá trị tâm lý, tình cảm: tình thương yêu, sự quan tâm chăm sóc, chia sẻ, đùm bọc giữa các thành viên trong gia đình, tình yêu quê hương, đất nước; Phát huy giá trị giáo dục chuẩn mực ứng xử với môi trường, xã hội, phát huy các tri thức, kinh nghiệm trong xây dựng và phát triển cộng đồng; Giá trị ấm no; Giá trị hạnh phúc; Gía trị văn minh; Giá trị tiến bộ

Trang 27

5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận

Thông qua phương pháp nghiên cứu điền dã, phương pháp nghiên cứu hồi cố, kể chuyện cuộc đời nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc làm rõ lịch sử của nghề buôn bán tại các làng buôn xứ Bắc giai đoạn trước khi có chính sách Đổi mới (1986) Đặc biệt, thông qua hơn 30 cuộc phỏng vấn và nghe câu chuyện cuộc đời (phương pháp life history) của 10 phụ nữ lớn tuổi (55-75 tuổi) buôn bán ở chợ lâu năm, có người đã nghỉ hoàn toàn, nhóm nghiên cứu đã hiểu rõ hơn về vai trò của người phụ nữ làm nghề buôn tại hai làng buôn nổi tiếng của Bắc Ninh là Phù Lưu và Đình Bảng Đồng thời các cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng nam giới trong làng, chính quyền cũng giúp nghiên cứu khẳng định rõ hơn giả thuyết về vai trò trọng yếu của người phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình, vị trí trong các mối quan hệ gia đình và đối với con cái Qua mỗi giai đoạn khác nhau có những biến động lớn nhỏ khác nhau song, trục chính giả thuyết mà

đề tài hướng tới đã được khẳng định đó là vai trò quan trọng và chiếm ưu thế áp đảo của những người phụ nữ làm nghề buôn bán so với nam giới Đối với các mối quan hệ trong gia đình, làng xóm tức các vấn đề đối ngoại thuộc về vai trò của người nam, còn trong gia đình người phụ nữ giữ vai trò nội tướng Do vậy, vấn đề bình đẳng giới ở các làng này không phải là vấn đề lớn Ở đây, bình đẳng giới mang tính cân bằng, có sự phân chia vai trò và trách nhiệm rõ ràng

Bởi thế, những đề xuất trong nghiên cứu này về vấn đề bình đẳng giới hay hệ giá trị gia đình mới mang tính phổ quát cho vùng châu thổ sông Hồng nói chung, dựa trên những nghiên cứu về các làng cụ thể Qua nghiên cứu cũng có thể thấy rõ vai trò kinh tế xuất phát từ người phụ

nữ sẽ dẫn tới những thay đổi lớn trong tương quan giữa các mối quan hệ trong gia đình Nếu các vùng quê khác có thể dễ dàng nhìn thấy những người chồng gia trưởng, chỉ lo việc xã hội và xem nhẹ việc nhà hoặc phó mặc hoàn toàn cho người phụ nữ thì nghiên cứu về làng buôn đã mang đến một kết quả ngược lại Tuy vậy, người ta vẫn thấy ngừoi phụ nữ luôn dành cho người chồng một sự ngưỡng mộ nhất định, người phụ nữ vẫn tôn trọng chồng, kính hiếu bố mẹ chồng và lo tiền để chăm sóc con cái

6 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)

6.1 Tóm tắt tiếng Việt

Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu là hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và tác động đến đời sống hộ gia đình vùng châu thổ sông Hồng và thời gian nghiên cứu là từ Đổi mới (1986) đến nay, trong đó có so sánh với giai đoạn trước 1986 nên theo chúng tôi tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hướng liên ngành và khu vực học là lựa chọn phù hợp Qua hướng tiếp cận này

có thể phân tích, đánh giá vấn đề một cách toàn diện và sâu sắc từ cả góc độ đồng đại và lịch đại; từ góc nhìn bao quát đến cụ thể từng trường hợp Hơn nữa, tiếp cận liên ngành có thể giúp

đề tài tận dụng được ưu thế của một viện nghiên cứu liên ngành và khu vực học đặc biệt là vấn

đề nhân lực Chúng tôi có thể tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia để đưa ra một nhận thức toàn diện nhất về vấn đề nghiên cứu

Thông qua phương pháp nghiên cứu điền dã, phương pháp nghiên cứu hồi cố, kể chuyện cuộc đời nghiên cứu đã góp phần quan trọng trong việc làm rõ lịch sử của nghề buôn bán tại các làng buôn xứ Bắc giai đoạn trước khi có chính sách Đổi mới (1986) Đặc biệt, thông qua hơn 30

Trang 28

cuộc phỏng vấn và nghe câu chuyện cuộc đời (phương pháp life history) của 10 phụ nữ lớn tuổi (55-75 tuổi) buôn bán ở chợ lâu năm, có người đã nghỉ hoàn toàn, nhóm nghiên cứu đã hiểu rõ hơn về vai trò của người phụ nữ làm nghề buôn tại hai làng buôn nổi tiếng của Bắc Ninh là Phù Lưu và Đình Bảng Đồng thời các cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng nam giới trong làng, chính quyền cũng giúp nghiên cứu khẳng định rõ hơn giả thuyết về vai trò trọng yếu của người phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình, vị trí trong các mối quan hệ gia đình và đối với con cái Qua mỗi giai đoạn khác nhau có những biến động lớn nhỏ khác nhau song, trục chính giả thuyết mà

đề tài hướng tới đã được khẳng định đó là vai trò quan trọng và chiếm ưu thế áp đảo của những người phụ nữ làm nghề buôn bán so với nam giới Đối với các mối quan hệ trong gia đình, làng xóm tức các vấn đề đối ngoại thuộc về vai trò của người nam, còn trong gia đình người phụ nữ giữ vai trò nội tướng Do vậy, vấn đề bình đẳng giới ở các làng này không phải là vấn đề lớn Ở đây, bình đẳng giới mang tính cân bằng, có sự phân chia vai trò và trách nhiệm rõ ràng

Bởi thế, những đề xuất trong nghiên cứu này về vấn đề bình đẳng giới hay hệ giá trị gia đình mới mang tính phổ quát cho vùng châu thổ sông Hồng nói chung, dựa trên những nghiên cứu về các làng cụ thể Qua nghiên cứu cũng có thể thấy rõ vai trò kinh tế xuất phát từ người phụ nữ sẽ dẫn tới những thay đổi lớn trong tương quan giữa các mối quan hệ trong gia đình Nếu các vùng quê khác có thể dễ dàng nhìn thấy những người chồng gia trưởng, chỉ lo việc xã hội và xem nhẹ việc nhà hoặc phó mặc hoàn toàn cho người phụ nữ thì nghiên cứu về làng buôn đã mang đến một kết quả ngược lại Tuy vậy, người ta vẫn thấy ngừoi phụ nữ luôn dành cho người chồng một

sự ngưỡng mộ nhất định, người phụ nữ vẫn tôn trọng chồng, kính hiếu bố mẹ chồng và lo tiền để chăm sóc con cái

6.2 Tóm tắt tiếng Anh

Based on the research object the commercial activities of rural women and their impact

on household life in the Red River Delta and focusing on the research period from Doi Moi (1986) to the present, including comparisons with the pre-1986 period, we believe that adopting an interdisciplinary and regional approach is a suitable choice This approach enables a comprehensive and in-depth analysis of the issue from both synchronic and diachronic perspectives, moving from general perspectives to specific case studies Additionally, an interdisciplinary approach allows us to leverage the strengths of an interdisciplinary and regional research institute, particularly in terms of human resources We can consult various experts to gain a holistic understanding of the research problem

Using field research, retrospective methods, and life story interviews, this study makes an important contribution to clarifying the history of trading professions in Northern villages before the Doi Moipolicy (1986) Specifically, through over 30 interviews and the life history method with 10 elderly women (ages 55–75) who have traded in markets for many years—some of whom are now fully retired—the research team has gained a deeper understanding of the role of women in the trading profession in two renowned trading villages in Bac Ninh: Phu Luu and Dinh Bang Additionally, in-depth interviews with male villagers and government officials have

Trang 29

helped confirm the hypothesis regarding the significant role of women in household economies, their status within family relationships, and their influence on their children

Although different periods bring various changes, the primary hypothesis of this study the dominant role of women in the trade profession compared to men has been validated In terms of family and community relationships, external affairs are generally the responsibility of men, while within the household, women fulfill the role of housekeeper Thus, gender equality is not a major issue in these villages, as roles and responsibilities are clearly divided, creating a balanced form of gender equality

Accordingly, the proposals in this study on gender equality and new family value systems are broadly applicable across the Red River Delta, based on findings from specific villages The study also reveals that women’s economic roles contribute significantly to shifts in family relationship dynamics Unlike in other rural areas, where patriarchal husbands may focus solely

on public matters while neglecting household duties or leaving them entirely to women, our research in this village suggests an opposite trend Despite this, women still express a certain respect and admiration for their husbands, honor their in-laws, and manage finances to support their children

Trang 30

PHẦN III SẢN PHẨM, CÔNG BỐ VÀ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐỀ TÀI

3.1 Kết quả nghiên cứu

TT Tên sản phẩm Yêu cầu khoa học hoặc/và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật

1 - Lịch sử, quá trình chuyển đổi

và hiện trạng hoạt động thương

nghiệp của phụ nữ nông thôn

vùng đồng bằng sông Hồng

Báo cáo làm rõ lịch sử quá trình chuyển đổi và hiện trạng hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn trước năm 1986 đến nay Đồng thời phân tích quá trình chuyển đổi và hiện trạng của hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng

Đạt

2 - Những tác động của hoạt động

thương nghiệp của phụ nữ nông

thôn từ sau Đổi mới (1986) tới

đời sống của hộ gia đình trên

các khía cạnh khác nhau

Báo cáo làm rõ tác động của hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn tới đời sông hộ gia đình ở các khía cạnh: thu nhập, đạo đức, giáo dục, quan hệ gia đình, gia tộc, quan hệ xã hội và vấn đề giới

bộ tiêu chuẩn mới về hệ giá trị

gia đình ở nông thôn

Báo cáo đưa ra những đề xuất về các vấn

đề sinh kế phụ nữ, sự phát triển sinh kế bền vững, bình đẳng giới; gợi ý về những nội dung xây dựng bộ tiêu chí mới về hệ giá trị gia đình ở nông thôn hiện nay

Ghi địa chỉ

và cảm ơn

sự tài trợ của ĐHQGHN đúng quy định

Đánh giá chung

(Đạt, không đạt)

1 Công trình công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống ISI/Scopus

1.1 “Discourses about women, bodies and

military combat in Vietnam: In my

heart, I always wished to go”, book

chappter in Female fighters in armed

conflicts: Listening to their own stories,

Published by Routledge, Taylor and

Francis Group, ISBN:

978-1-032-35317-Đã in Ghi đúng

quy định

Đạt

Trang 31

5 Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành

quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế

5.1 “Hoạt động buôn bán của phụ nữ: Một loại

hình sinh kế bền vững ở nông thôn châu thổ

sông Hồng (Nghiên cứu trường hợp làng

Phù Lưu, Từ Sơn, Bắc Ninh)” in trong Sinh

kế của cư dân vùng châu thổ sông Hồng từ

tiếp cận liên ngành, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội ISBN: 978-604-342-680-9

quy định Đạt

5.2 Nguyễn Thị Huệ (2024), “Hoạt động buôn

bán của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ

sông Hồng trong thời kỳ Đổi mới - một biểu

hiện của khả năng thích ứng linh hoạt” in

- Cột sản phẩm khoa học công nghệ: Liệt kê các thông tin các sản phẩm KHCN theo thứ tự

<tên tác giả, tên công trình, tên tạp chí/nhà xuất bản, số phát hành, năm phát hành, trang đăng công trình, mã công trình đăng tạp chí/sách chuyên khảo (DOI), loại tạp chí ISI/Scopus>

- Các ấn phẩm khoa học (bài báo, báo cáo KH, sách chuyên khảo…) chỉ được chấp nhận nếu

có ghi nhận địa chỉ và cảm ơn tài trợ của ĐHQGHN theo đúng quy định

Trang 32

- Bản phô tô toàn văn các ấn phẩm này phải đưa vào phụ lục các minh chứng của báo cáo Riêng sách chuyên khảo cần có bản phô tô bìa, trang đầu và trang cuối có ghi thông tin mã số xuất bản

3.3 Kết quả đào tạo

- Cột công trình công bố ghi như mục III.1

PHẦN IV TỔNG HỢP KẾT QUẢ CÁC SẢN PHẨM KH&CN VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐỀ TÀI

đăng ký

Số lượng đã hoàn thành

1 Bài báo công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống

ISI/Scopus

01

2 Sách chuyên khảo được xuất bản hoặc ký hợp đồng xuất

bản

3 Đăng ký sở hữu trí tuệ

4 Bài báo quốc tế không thuộc hệ thống ISI/Scopus

5 Số lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN,

tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa

học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế

02

6 Báo cáo khoa học kiến nghị, tư vấn chính sách theo đặt

hàng của đơn vị sử dụng

7 Kết quả dự kiến được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định

chính sách hoặc cơ sở ứng dụng KH&CN

8 Đào tạo/hỗ trợ đào tạo NCS

PHẦN V TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KINH PHÍ

Kinh phí được duyệt

(triệu đồng)

Kinh phí thực hiện

(triệu đồng)

Ghi chú

A Chi phí trực tiếp

1 Xây dựng đề cương chi tiết 5.885.500 5.885.500

2 Thu thập và viết tổng quan tài liệu 14.602.000 14.602.000

Trang 33

3

Thuê khoán chuyên môn

234.434.700 144.853.600 Đã thực hiện

nhưng chưa quyết toán

4 Nguyên, nhiên vật liệu, cây con

10 Chi phí khác 18.777.800 8.898.100 Chưa quyết toán

B Chi phí gián tiếp

PHẦN VI PHỤ LỤC (minh chứng các sản phẩm nêu ở Phần III)

1 Nguyễn Thị Huệ (2023), “Discourses about women, bodies and military combat in Vietnam: In

my heart, I always wished to go”, book chappter in Female fighters in armed conflicts: Listening to

their own stories, Published by Routledge, Taylor and Francis Group, ISBN: 978-1-032-35317-3; DOI: 10.4324/9781003326359

2 Nguyễn Thị Huệ (2021), Hoạt động buôn bán của phụ nữ: Một loại hình sinh kế bền vững ở nông thôn châu thổ sông Hồng (Nghiên cứu trường hợp làng Phù Lưu, Từ Sơn, Bắc Ninh) in trong “Sinh

kế của cư dân vùng châu thổ sông Hồng từ tiếp cận liên ngành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà

Nội ISBN: 978-604-342-680-9

3 Nguyễn Thị Huệ (2024), “Hoạt động buôn bán của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng trong thời kỳ Đổi mới - một biểu hiện của khả năng thích ứng linh hoạt” in trong Tạp chí Lịch sử Đảng, số tháng 11/2024, ISSN: 2815-6013

Hà Nội, ngày tháng năm 2024

Đơn vị chủ trì đề tài

Chủ nhiệm đề tài

Trang 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

THƯƠNG NGHIỆP CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG HỘ GIA ĐÌNH Ở ĐỒNG BẰNG CHÂU THỔ

SÔNG HỒNG TỪ ĐỔI MỚI 1986 ĐẾN NAY (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP LÀNG PHÙ LƯU VÀ ĐÌNH BẢNG,

THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH)

SẢN PHẨM ĐỀ TÀI - 01

LỊCH SỬ QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI VÀ HOẠT ĐỘNG

THƯƠNG NGHIỆP CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN VÙNG ĐỒNG BẰNG

SÔNG HỒNG

Cơ quan chủ trì: Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển

Chủ trì nhiệm vụ: TS NGUYỄN THỊ HUỆ

Hà Nội - 2024

Trang 35

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ

LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Các nghiên cứu về hoạt động thương nghiệp truyền thống của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng

Chính sách Đổi mới (1986) như một luồng gió mới thổi bùng nền kinh tế Việt Nam vốn đang ì trệ trở nên năng động và phát triển hơn; diện mạo nền kinh tế đã có những biến chuyển mạnh mẽ Một trong những mục tiêu quan trọng trong thời đầu đổi mới chính là đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình Lúc này, Việt Nam có tới 75% dân số là nông dân, do vậy, phát triển kinh tế hộ gia đình có nghĩa là đẩy mạnh việc đa dạng hoá ngành nghề, tập trung phát triển nghề phụ Với quan niệm “dĩ nông

vi bản” nên ngoài nông nghiệp, mọi ngành nghề khác ở nông thôn đều được xem là nghề phụ, dù đóng góp kinh tế từ “nghề phụ” có thể gấp nhiều lần “nghề chính” Do vậy, từ năm 1986 rất nhiều làng nghề cũng như các

hoạt động buôn bán cá thể ở nông thôn bắt đầu được phục hồi sau nhiều thập kỷ đóng băng Có thể thấy, chính sách Đổi mới đã có những tác động không nhỏ tới nhiều thành phần kinh tế cũng như nhiều khu vực kinh tế từ nông thôn tới đô thị Theo nghiên cứu sơ bộ của chúng tôi tại một số làng thuộc châu thổ sông Hồng cho thấy, đời sống hộ gia đình nông thôn sau Đổi mới đã được cải thiện rõ rệt; và một trong những nguyên nhân dẫn tới hiện tượng này chính là phát triển hoạt động thương nghiệp và nghề phụ Một điều đặc biệt mà qua nghiên cứu bước đầu, chúng tôi có thể nhận thấy đó là người phụ nữ chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong hoạt động thương nghiệp cũng như các nghề phụ khác ở nông thôn

Thực tế lịch sử cho thấy, hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn đã xuất hiện từ sớm Theo nhà sử học Nguyễn Quang Ngọc, hệ thống chợ làng đến thế

kỷ XV đã tương đối phát triển, sang thế kỷ XVII, đặc biệt là thế kỷ XVIII và XIX đã hình thành loại hình làng buôn Cùng với sự phát triển của loại hình kinh tế chợ làng thì hoạt động buôn bán của phụ nữ cũng theo đó mà tăng lên P.Gourou cho rằng

Trang 36

“Mọi phụ nữ nông dân đều có thể trở thành người buôn bán trong một thời gian nhiều

ít trong năm”1 Nguyễn Quang Ngọc cũng cho rằng: hoạt động buôn bán là hoạt động

có tính chất phổ biến nhưng người buôn chủ yếu là phụ nữ2 Để lý giải hiện tượng phụ nữ tham gia vào hoạt động buôn bán nhỏ, Nguyễn Quang Ngọc đã nhìn nhận dưới góc độ tuổi tác và giới3

Ở khía cạnh khác, khi nghiên cứu cụ thể trường hợp làng buôn Phù Lưu (Từ Sơn, Bắc Ninh), ông đã có những nhận định cho thấy phụ nữ có đóng góp quan trọng

về kinh tế “Trong gia đình, khi người vợ suốt ngày bận rộn, tranh thủ mọi cơ hội để góp nhặt vốn liếng thì người chồng lại tiêu tốn toàn bộ trí lực của tuổi trẻ vào công việc đọc sách ngâm thơ”4 Rõ ràng, hoạt động thương nghiệp của phụ nữ có những đóng góp đáng kể nhưng những đóng góp này chưa được người chồng cũng như cộng đồng ghi nhận một cách trung thực, đúng đắn; vị thế xã hội của họ vẫn không thể so sánh với “người chồng Nho học” Đây là những đánh giá chung của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước dành cho hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng giai đoạn này

Sự chuyển đổi của hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn sau khi

có chính sách Đổi mới (1986)

Sang đến thời kỳ tập thể hoá (thập niên 60 đến 80 của thế kỷ XX) hoạt động thương nghiệp nhỏ chuyển sang một hình thái mới đó là các Hợp tác xã mua bán dưới sự quản lý chặt chẽ của nhà nước; theo đó, kinh tế tư nhân hoàn toàn bị triệt tiêu, tuy nhiên, với tính cách linh hoạt, năng động của các nữ thương nhân Việt Nam

nó vẫn được duy trì bằng nhiều phương thức khác nhau Nghiên cứu về làng buôn

Ninh Hiệp, Esther Horat trong chuyên khảo Trading in Uncertainty:

Entrepreneurship, Morality and Trust in a Vietnamese Textile-Handling Village,

chương “Lịch sử hoạt động buôn bán” của làng Ninh Hiệp có nhắc đến giai đoạn

1 Pierre Gourou (2015), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, (bản dịch), Tái bản lần thứ nhất, Nxb Trẻ, Viện Viễn

Đông Bác cổ Pháp và Tạp chí Xưa và Nay, Hà Nội, tr 623

2 Nguyễn Quang Ngọc (1993), Về một số làng buôn ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỷ XVIII-XIX, Nxb Hội sử học Việt

Nam, Hà Nội, tr 62

3 Nguyễn Quang Ngọc (1993), sđd, tr 62-63

4 Nguyễn Quang Ngọc (2017), Nông thôn và đô thị Việt Nam: Lịch sử, thực trạng và khuynh hướng biến đổi, Nxb

Giáo dục, Hà Nội, tr 89

Trang 37

những năm 60-70 của thế kỷ XX là thời kỳ vô cùng khó khăn, hoạt động buôn bán

bị cấm đoán, có người cố tình “vượt rào” nhưng luôn sống trong tâm lý sợ hãi vì có thể sẽ gặp nguy hiểm hoặc bị bắt bất cứ lúc nào5 E Horat cũng như rất nhiều nghiên cứu khác của các học giả Việt Nam mới chỉ đề cập tới giai đoạn này một cách sơ lược, chưa có những phân tích sâu sắc, đánh giá đúng hiện tình lịch sử khi đó Nên, cần thiết phải có các nghiên cứu chuyên sâu để bổ khuyết những tư liệu lịch sử còn thiếu nhằm làm rõ những khó khăn, phức tạp trong hoạt động buôn bán của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng giai đoạn đó Nhóm nghiên cứu sẽ dựa trên những ký ức cá nhân thu thập được qua phương pháp nghiên cứu lịch sử qua lời kể, phương pháp tiểu sử bản thân để có thể tái hiện lại những dữ kiện lịch sử còn chưa được ghi chép cụ thể, đồng thời đối chiếu với các tư liệu thành văn từ đó làm cơ sở

để so sánh và lý giải những chuyển biến trong hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn sau khi tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện vào năm 1986

Chính sách Đổi mới (1986) đã đánh dấu những chuyển biến tích cực và làm thay đổi mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội cũng như văn hoá của Việt Nam, và hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn cũng không nằm ngoài sự vận động

đó Nếu ở thị trường lớn, có thể nói chính sách “cởi trói nền kinh tế” đã mang lại nhiều cơ hội tạo nên một bước ngoặt quan trọng thay đổi hiện trạng nền kinh tế Còn đối với những thị trường nhỏ ở nông thôn, những chuyển đổi chung của nền kinh tế

vi mô đã tác động thế nào? Đây là một vấn đề được khá nhiều nhà khoa học quan tâm

Hoạt động thương nghiệp ở nông thôn được một số học giả trong nước nghiên cứu từ góc độ chợ làng, nội dung cơ bản là vai trò của chợ trong cấu trúc kinh tế xã hội làng xã, vai trò của chợ đối với sự phát triển cộng đồng và xu hướng phát triển của chợ trong tương lai Chủ thể tham gia vào hoạt động thương nghiệp (buôn bán

ở chợ) là phụ nữ lại được xuất hiện trong nghiên cứu một cách rất mờ nhạt, hay nói một cách chính xác là chưa có những chuyên khảo riêng nghiên cứu về hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn mặc dù vị trí của họ trong kinh tế nông thôn

5 Esther Horat (2017), Trading in Uncertainty: Entrepreneurship, Morality and Trust in a Vietnamese

Textile-Handling Village, Publish by Springer Nature, US, pg 66-67

Trang 38

tương đối quan trọng Có thể kể đến Chợ nông thôn châu thổ sông Hồng trong quá

trình chuyển đổi kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới (Nghiên cứu trường hợp chợ Ninh Hiệp, chợ Hữu Bằng, chợ Thổ Tang) 6 , Nguời buôn bán nhỏ vùng Trung du Bắc Bộ của Bùi Quang Dũng7

Các học giả quốc tế khá quan tâm đến sự biến đổi của kinh tế Việt Nam sau chính sách Đổi mới, vấn đề thu hút họ là nền kinh tế vi mô, đặc biệt là hoạt động thương nghiệp nhỏ và đối tượng nghiên cứu chính là phụ nữ

Nhóm nghiên cứu của Kirsten Endres trong các năm từ 2014-2017 đã tiến

hành nhiều nghiên cứu về hoạt động thương nghiệp trên khắp Việt Nam, như: bán

hàng rong ở Hà Nội của Lisa Barthelmes8, bán hàng trên đường phố cho khách du

lịch ở Sapa của Christine Bonnin9, buôn bán ở vùng biên giới như Lào Cai, Móng

Cái của Kirsten Endres10 và Caroline Grillot11 Những nghiên cứu này đã mang đến một diện mạo tương đối đầy đủ về các loại hình thương mại nhỏ, có loại được thừa nhận (buôn bán ở chợ) nhưng cũng có những hoạt động không được thừa nhận (bán hàng rong) và những người làm nghề buôn bán trên đường phố sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro như sự truy đuổi của công an khu vực Nội dung được thảo luận trong các nghiên cứu này tập trung vào mối quan hệ giữa chính quyền và người buôn bán; tác động của hệ thống chính sách đến hoạt động thương nghiệp Và hơn hết, nếu nhìn

từ góc độ những người buôn bán, đó là tâm lý bất ổn, lo sợ Họ cảm thấy bất ổn từ chính nghề nghiệp của mình, bất ổn từ việc cảnh sát khu vực có thể xuất hiện bất cứ

6 Lê Thị Mai (2002), Chợ nông thôn châu thổ sông Hồng trong quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới (Nghiên cứu trường hợp chợ Ninh Hiệp, chợ Hữu Bằng, chợ Thổ Tang), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

7 Bùi Quang Dũng (2000), Nguời buôn bán nhỏ vùng Trung du Bắc Bộ, Tạp chí Xã hội học, số 1 (2000), tr 36-40

8 “Dealing with Uncertainty: Itinerant street vendors and Local Officials in Hanoi”, in Endres, Kirsten W and

Leshkowich, Ann Marie (editor), Traders in motion: Indentities and Contestations in the Vietnamese Marketplace,

First published 2018 by Cornell University Press, US, pg 129-140

9 Christine Bonnin (2018) “Grand Designs? State Agendas and the Lived Realities of Market Redevelopment in Upland Northern Vietnam”, in Kirsten W and Leshkowich, Ann Marie (editor) (2018), pg 55-68

10 Endres, Kirsten W (2018), “Making the Marketplace: Traders, Cadres, and Bureaucratic Documents in Lào Cai City”, in Kirsten W and Leshkowich, Ann Marie (editor) (2018), pg 27-41

11 Caroline Grillot (2018), “Arbitrage over the Beilun/Kalong River: Chinese Adjustments to Border Trade Practices

in Vietnam” in Kirsten W and Leshkowich, Ann Marie (editor) (2018), pg 185-200

Trang 39

lúc nào, bất ổn từ chính cuộc sống mưu sinh phải xa gia đình lên thành phố kiếm sống Nhưng tại sao họ không thể tiến hành hoạt động thương nghiệp tại nông thôn

mà phải lên thành phố? Và tại sao có nhiều làng sau Đổi mới, hoạt động thương nghiệp tại chỗ lại trỗi dậy mạnh mẽ hơn? Liệu có phải do chính sách hay còn xuất phát từ nguyên nhân nào khác? Những nghiên cứu này đều khá thú vị vì đã đi sâu vào những góc khuất, những khó khăn, bất ổn của bản thân những người tham gia hoạt động buôn bán, nhưng sau những hoạt động buôn bán này là những vấn đề gì?

Nó tác động như thế nào tới chuyển đổi sinh kế gia đình? Cấu trúc gia đình nông thôn truyền thống (bởi họ phải di cư ra thành phố) sẽ thay đổi thế nào?,… vẫn là những vấn đề còn để ngỏ Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đặt đối tượng nghiên cứu (hoạt động thương nghiệp nông thôn) trong tương quan so sánh với hoạt động thương nghiệp tại các khu vực khác nhau để có thể đánh giá chính xác và khách quan hơn vai trò của thương nghiệp nông thôn, vị trí của những người tham gia vào hoạt động này - phụ nữ nông thôn và những tác động của nó tới đời sống gia đình và

xã hội

Không nghiên cứu tính di động của hoạt động thương nghiệp, trong chuyên

khảo Trading in Uncertainty: Entrepreneurship, Morality and Trust in a Vietnamese

Textile-Handling Village Esther Horat đã nghiên cứu hoạt động thương nghiệp ở một

làng nghề thủ công vùng nông thôn châu thổ sông Hồng - làng Ninh Hiệp, để thấy được những biến đổi mạnh mẽ của kinh tế làng xã sau chính sách Đổi mới (1986) Bắt nguồn từ lý thuyết về “chủ nghĩa tân tự do” và khái niệm “quản trị gián tiếp” E Horat đã chú trọng đến vai trò của nhà nước trong quá trình tư nhân hoá nền kinh tế

ở Ninh Hiệp sau Đổi mới Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, khi chính sách Đổi mới đã được triển khai một thời gian, nhà nước chú ý đẩy mạnh kinh tế tư nhân, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình, cũng là thời kỳ ở Ninh Hiệp hoạt động kinh tế hộ gia đình phát triển vô cùng mạnh mẽ Trong giai đoạn đầu, hoạt động thương mại ở Ninh Hiệp vẫn là thương nghiệp nhỏ gắn với vai trò chủ đạo của phụ nữ, người đàn ông chỉ trợ giúp vợ hoặc mẹ những công việc phụ trong gia đình hoặc dọn dẹp, sắp xếp,

Trang 40

vận chuyển hàng hoá12 E Horat đã đưa ra một con số khá thú vị để nói về vai trò của phụ nữ ở Ninh Hiệp đối với kinh tế hộ gia đình: Trên một trang báo mạng nói rằng, bộ phận lao động khá đặc biệt trong các gia đình Ninh Hiệp gần đây đã gặp phải tình trạng căng thẳng vì các bà vợ được xem là trụ cột của kinh tế hộ gia đình

và được cho là đóng góp 90% vào thu nhập hộ gia đình (N.N 2015)13 Vậy, vị trí người đàn ông ở đâu? Tác giả bài báo mạng này đã cho rằng con số này chỉ ra mâu thuẫn với câu tục ngữ của người Việt “của chồng công vợ”, và đối với trường hợp Ninh Hiệp cần đổi lại là “của vợ công chồng” Có thể thấy, với một làng buôn có truyền thống như Ninh Hiệp, dù có những thời điểm bị gián đoạn (thời kỳ tập thể hoá) nhưng khi có điều kiện chắc chắn sẽ bùng lên mạnh mẽ Từ thực tế này ở Ninh Hiệp, chúng tôi mong muốn thông qua một trường hợp làng buôn khác để kiểm chứng lại kết quả này, cũng như xem xét quá trình vận động của hoạt động thương nghiệp và vai trò của phụ nữ trong tiến trình lịch sử Đó là lý do, chúng tôi lựa chọn trường hợp làng Phù Lưu và Đình Bảng (Bắc Ninh) - hai làng buôn tiêu biểu xứ Bắc

để chứng minh cho giả thuyết: hoạt động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn vùng châu thổ sông Hồng xuất hiện khá sớm, có sự phát triển tương đối ổn định và luôn

có một vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống hộ gia đình cũng như cộng đồng làng xã; địa vị của phụ nữ tham gia hoạt động thương nghiệp ở nông thôn đã có những biến chuyển đáng kể trong gia đình và xã hội

Trong sự vận động không ngừng của quy luật thị trường, hoạt động thương nghiệp nhỏ bắt đầu được phát triển và dần dần được nâng lên ở tầm cao hơn Nghiên cứu của E Horat, Endres Kristen và một số học giả trong và ngoài nước khác cho thấy, sau gần 20 năm thực hiện chính sách Đổi mới hoạt động thương nghiệp ở một

số làng nông thôn Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực cả về quy mô cũng như tính chất Ví dụ, trường hợp làng Ninh Hiệp, hoạt động thương nghiệp ở Ninh Hiệp hiện nay không còn là hoạt động thương nghiệp nhỏ mang tính cá thể nữa mà bắt đầu chuyển sang mô hình vừa (kinh doanh ở quy mô hộ gia đình) và mô hình lớn (sự hình thành 2 khu chợ tư nhân mới do doanh nghiệp lớn quản lý và vận hành),

12 Esther Horat (2017), Trading in Uncertainty: Entrepreneurship, Morality and Trust in a Vietnamese

Textile-Handling Village, First published 2018 by Cornell University Press, US, pg 107-108

13 Esther Horat (2017), pg 104

Ngày đăng: 25/07/2025, 21:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.2. Hình thức, cấp độ công bố kết quả - 00060000959 hoạt Động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác Động Đến Đời sống hộ gia Đình vùng châu thổ sông hồng từ Đổi mới (1986) Đến nay (nghiên cứu trường hợp làng phù lưu và Đình bảng, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh)
3.2. Hình thức, cấp độ công bố kết quả (Trang 30)
Hình sinh kế bền vững ở nông thôn châu thổ - 00060000959 hoạt Động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác Động Đến Đời sống hộ gia Đình vùng châu thổ sông hồng từ Đổi mới (1986) Đến nay (nghiên cứu trường hợp làng phù lưu và Đình bảng, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh)
Hình sinh kế bền vững ở nông thôn châu thổ (Trang 31)
Bảng 1: Mạng lưới chợ xung quanh chợ Giầu thế kỷ XIX - 00060000959 hoạt Động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác Động Đến Đời sống hộ gia Đình vùng châu thổ sông hồng từ Đổi mới (1986) Đến nay (nghiên cứu trường hợp làng phù lưu và Đình bảng, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh)
Bảng 1 Mạng lưới chợ xung quanh chợ Giầu thế kỷ XIX (Trang 75)
Bảng 2: Bảng kê các cầu hàng ở chợ Giàu (Phù Lưu) - 00060000959 hoạt Động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác Động Đến Đời sống hộ gia Đình vùng châu thổ sông hồng từ Đổi mới (1986) Đến nay (nghiên cứu trường hợp làng phù lưu và Đình bảng, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh)
Bảng 2 Bảng kê các cầu hàng ở chợ Giàu (Phù Lưu) (Trang 78)
Bảng 3. Số lượng HTX được thành lập ở Đình Bảng, Tân Hồng, thị trấn Từ Sơn - 00060000959 hoạt Động thương nghiệp của phụ nữ nông thôn và những tác Động Đến Đời sống hộ gia Đình vùng châu thổ sông hồng từ Đổi mới (1986) Đến nay (nghiên cứu trường hợp làng phù lưu và Đình bảng, thị xã từ sơn, tỉnh bắc ninh)
Bảng 3. Số lượng HTX được thành lập ở Đình Bảng, Tân Hồng, thị trấn Từ Sơn (Trang 83)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm