1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO

213 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu Quản Lý Lượng Vận Động Trong Huấn Luyện Vận Động Viên Xe Đạp Đường Trường Trình Độ Cao
Tác giả Phạm Thanh Tú
Người hướng dẫn PGS. TS Bùi Trọng Toại, TS. Nguyễn Thành Lệ Trâm
Trường học Trường Đại học Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận án tiến sĩ giáo dục học
Năm xuất bản 2025
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 3,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (27)
    • 1.1. Khái niệm lượng vận động và công tác quản lý lượng vận động cơ bản (27)
      • 1.1.1. Khái niệm lượng vận động (27)
      • 1.1.2. Khái niệm về quản lý lượng vận động (39)
      • 1.1.3. Chiến lược quản lý lượng vận động (40)
      • 1.1.4. Chương trình huấn luyện, chu kỳ hóa kế hoạch huấn luyện, công tác quản lý lượng vận động khoa học (41)
    • 1.2. Công tác huấn luyện và quản lý lượng vận động môn XĐĐT (47)
      • 1.2.1. Cơ sở khoa học về ứng dụng thiết bị đo công suất vận động đối với VĐV XĐĐT (47)
      • 1.2.2. Thiết bị đo công suất và quản lý lượng vận động bằng thiết bị đo công suất (50)
    • 1.3. Vai trò của lượng vận động và quản lý lượng vận động trong huấn luyện các môn thể thao (61)
    • 1.4. Đặc điểm thích nghi sinh lý, sinh hóa của VĐV nữ trình độ cao (65)
    • 1.5. Các công trình nghiên cứu liên quan (68)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU (75)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (75)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (75)
      • 2.1.2. Khách thể nghiên cứu (75)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (75)
      • 2.2.1. Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu (75)
      • 2.2.2. Phương pháp phỏng vấn (75)
      • 2.2.3. Phương pháp kiểm tra sư phạm (76)
      • 2.2.4. Phương pháp kiểm tra y sinh (76)
      • 2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm (84)
      • 2.2.6. Phương pháp toán thống kê (85)
    • 2.3. Tổ chức nghiên cứu (85)
      • 2.3.1. Phạm vi nghiên cứu (85)
      • 2.3.2. Địa điểm nghiên cứu (86)
      • 2.3.3. Kế hoạch nghiên cứu (86)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (87)
    • 3.1. Xây dựng quy trình quản lý lượng vận động trong huấn luyện vận động viên xe đạp đường trường trình độ cao (87)
      • 3.1.1. Thực trạng công tác quản lý lượng vận động trong huấn luyện VĐV môn XĐĐT (87)
      • 3.1.2. Xây dựng quy trình quản lý lượng vận động trong huấn luyện vận động viên XĐĐT trình độ cao (93)
    • 3.2. Xây dựng kế hoạch huấn luyện năm 2021 và chương trình thực nghiệm nữ VĐV XĐĐT trình độ cao quốc gia năm 2021 (105)
      • 3.2.1. Xây dựng kế hoạch huấn luyện theo chu kỳ năm 2021 (105)
      • 3.2.2. Xây dựng chương trình thực nghiệm nữ VĐV XĐĐT trình độ cao quốc gia năm 2021 (112)
      • 3.2.3. Ứng dụng quy trình quản lý lượng vận động trong huấn luyện VĐV XĐĐT trình độ cao bằng thiết bị đo công suất và phần mềm (114)
    • 3.3. Đánh giá hiệu quả quản lý lượng vận động bằng thiết bị đo công suất (132)
      • 3.3.2. Đánh giá sự biến đổi các chỉ số sinh lý, sinh hóa, thể lực sau thực nghiệm 1 chu kỳ huấn luyện năm (151)
      • 3.3.3. Đánh giá tương quan giữa thành tích thi đấu, các chỉ số ưa khí, yếm khí và thông số tập luyện (171)
  • KẾT LUẬN (72)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (185)
  • PHỤ LỤC (194)

Nội dung

NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Phân vùng cường độ đối với các bài tập tốc độ và sức Bảng 1.2 Phân vùng cường độ dựa trên nhịp tim của 14 Bảng 1.3 Phân vùng cường độ dựa trên nhịp tim của V

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Khái niệm lượng vận động và công tác quản lý lượng vận động cơ bản

1.1.1 Khái niệm lượng vận động

Theo Soligard (2016), trong thể thao, mức độ căng thẳng (stressors) được hình thành bởi sự kết hợp giữa các hoạt động thể chất và phi thể chất, bao gồm cả thi đấu, công việc hàng ngày, gia đình và giải trí Lượng vận động không chỉ đề cập đến công suất vận động hay tải trọng tập luyện mà còn phản ánh các hoạt động hàng ngày, được chia thành hai loại chính là lượng vận động trong (internal load) và lượng vận động ngoài (external load).

Lượng vận động ngoài, theo Soligard (2016), là các kích thích từ bên ngoài tác động lên vận động viên, bao gồm các hoạt động thể chất và phi thể chất có thể đo lường khách quan như số lần gắng sức, tốc độ tối đa, trọng lượng tạ nâng, quãng đường và thời gian tập luyện Thông thường, lượng vận động ngoài trong thể thao có thể được đo bằng các thiết bị công nghệ như hệ thống định vị GPS, máy đo nhịp tim, cảm biến đo vận tốc và thiết bị đo công suất vận động, giúp theo dõi chính xác quá trình sinh hoạt, tập luyện và thi đấu của vận động viên.

Lượng vận động là phản ứng tâm lý, sinh lý của cá nhân trước tác động từ hoạt động vận động ngoài trời, kết hợp với các yếu tố căng thẳng hàng ngày, môi trường và sinh học Nó được đo lường bằng các thiết bị khách quan như nhịp tim và nồng độ lactate trong máu, cũng như các phép đo chủ quan như điểm số mức độ gắng sức mà vận động viên tự cảm nhận Theo Soligard (2016), việc đánh giá lượng vận động giúp hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của tập luyện đối với cơ thể và tâm lý người vận động.

Lượng vận động trong đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ kích thích phù hợp để thúc đẩy quá trình thích nghi huấn luyện tối ưu của vận động viên Việc theo dõi cẩn thận lượng vận động trong giúp nhận biết nhu cầu phục hồi, dự báo sự suy giảm thành tích và các vấn đề về sức khỏe, từ đó điều chỉnh phù hợp chương trình huấn luyện và thi đấu Giám sát lượng vận động trong là nền tảng cốt lõi để quản lý lượng vận động một cách hiệu quả, đảm bảo vận động viên phát triển bền vững và tối ưu.

Quá trình huấn luyện thể thao là một quá trình tổ chức nhằm nâng cao khả năng thể chất và tinh thần của vận động viên thông qua các tác nhân gây căng thẳng với tần suất, khối lượng và cường độ khác nhau Khả năng đáp ứng và thích nghi của vận động viên đối với khối lượng và cường độ tập luyện đóng vai trò quan trọng như sự thích nghi của các loài sinh vật với môi trường sống biến đổi Nếu không thích nghi, vận động viên sẽ không thể duy trì hiệu quả tập luyện, dẫn đến mệt mỏi nghiêm trọng, quá sức (Overreaching) và cuối cùng là quá tải (Overtraining), ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất thi đấu và sức khỏe.

Một trình độ cấp cao là thành quả của việc lập kế hoạch chiến lược, phương pháp huấn luyện hiệu quả và quá trình thử thách kéo dài nhiều năm Trong giai đoạn này, vận động viên phải thích nghi về mặt sinh lý cũng như đáp ứng các yêu cầu kỹ năng chuyên biệt của môn thể thao mình tham gia Mức độ thích nghi càng tốt trong quá trình huấn luyện, khả năng đạt trình độ cao của vận động viên càng lớn Chính vì vậy, một kế hoạch huấn luyện được tổ chức tốt sẽ thúc đẩy quá trình thích nghi, giúp nâng cao trình độ thi đấu một cách tối ưu.

Hiệu quả của chương trình huấn luyện thể chất phụ thuộc vào việc vận dụng các yếu tố như khối lượng (quãng đường, thời gian, số lần lặp lại, tải trọng), cường độ (vận tốc, công suất, tải trọng), và tần suất (mật độ) - những biến số then chốt của lượng vận động Những yếu tố này cần phải được điều chỉnh phù hợp với mục tiêu sinh lý và tâm lý của quá trình huấn luyện cũng như thi đấu Các huấn luyện viên phải linh hoạt cân nhắc mục tiêu thi đấu và thành tích yêu cầu để vận dụng các biến này một cách hợp lý, vì nguyên tắc vận dụng đúng các biến lượng vận động sẽ quyết định mức độ thành công hoặc thất bại của vận động viên trong quá trình huấn luyện.

Chương trình huấn luyện nên tập trung vào việc điều chỉnh các biến của lượng vận động sao cho phù hợp với khả năng thích nghi của vận động viên Huấn luyện viên cần liên tục theo dõi phản ứng của vận động viên để xác định xem các biến của lượng vận động có cần điều chỉnh phù hợp với các mục tiêu đã đặt ra hay không Sự cân đối và điều chỉnh linh hoạt trong chương trình giúp tối ưu hóa quá trình phát triển của vận động viên.

Theo Bompa (2019), khối lượng vận động là thành phần chính của quá trình huấn luyện, đóng vai trò quyết định để đạt thành tích cao về kỹ thuật, chiến thuật và thể lực Khối lượng vận động thường bị nhầm lẫn hoặc gọi không chính xác là thời gian tập luyện (duration of training), nhưng đây là biến số quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình huấn luyện Để đạt được kết quả tối ưu, cần chú trọng đến việc quản lý và điều chỉnh khối lượng vận động phù hợp với từng giai đoạn của quá trình huấn luyện.

- Khoảng thời gian tập luyện

Trong tập luyện sức mạnh, quãng đường thực hiện và tổng trọng tải (tổng khối lượng tải hay tonnage) là các yếu tố quan trọng để đo lường hiệu quả tập luyện Công thức tính tổng khối lượng tải (tonnage) được xác định bằng tích của số tổ, số lần lặp lại trong mỗi tổ, và tải trọng (load) tính theo kilogram Việc nắm vững công thức này giúp người tập kiểm soát được tổng khối lượng sức mạnh đã nâng và điều chỉnh phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình luyện tập.

- Số lần lặp lại của một bài tập hay thành tố kỹ thuật mà một VĐV thực hiện trong một đơn vị thời gian

Khối lượng vận động là tổng số lượng các vận động thực hiện trong tập luyện, hoặc tổng công đã tập trong một buổi hoặc giai đoạn huấn luyện Việc định lượng và theo dõi tổng khối lượng vận động là rất quan trọng để đánh giá tác động của nó đối với năng lực thích nghi và khả năng hồi phục của vận động viên sau mỗi buổi tập.

Việc đánh giá chính xác khối lượng vận động phụ thuộc vào môn thể thao hoặc loại hình vận động, với các môn thể thao sức bền như chạy bộ, đạp xe, canoeing, trượt băng đồng, rowing thường được xác định dựa trên quãng đường đã tập [37, 93] Trong bộ môn cử tạ và huấn luyện sức mạnh, tổng trọng tải (tonnage) được tính bằng đơn vị kilôgam, phản ánh số tạ x số lần lặp lại và mức trở kháng trong mỗi buổi tập hoặc giai đoạn [75, 87] Ngoài ra, một phương pháp thực tế để đo khối lượng vận động là xác định tổng số lần lặp lại theo từng vùng cường độ, ứng dụng trong các bài tập plyometric, ném bóng, đánh bóng và môn điền kinh Mặc dù thời gian thường là mẫu số chung để tính khối lượng vận động cho hầu hết các môn thể thao, tuy nhiên, các tác giả Leutshenko và Luebbers cũng nhấn mạnh rằng việc sử dụng tổng số lần lặp lại và các chỉ số khác có thể cung cấp đánh giá chính xác hơn về khối lượng vận động [A.V, 2000].

(2003), Lyman, S (2001) thì cách tính khối lượng vận động hợp lý nhất là theo vùng cường độ.[66, 68, 69]

Theo thời gian phát triển của thể thao hiện đại, chúng ta dễ dàng nhận thấy khối lượng vận động của VĐV được nâng cao qua từng năm

Khối lượng vận động tập luyện mỗi năm (Yearly training volume) đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển thể chất của vận động viên Trong 1 đến 3 năm đầu tiên (1st-3rd year), khối lượng tập luyện thường bắt đầu ở mức thấp và tăng dần theo thời gian để phù hợp với khả năng thích nghi của cơ thể Đến năm thứ 4 đến thứ 6 (4th-6th year), mức độ tập luyện tiếp tục được nâng cao để thúc đẩy tiến bộ và tối ưu hóa thành tích Trong giai đoạn 7 đến 10 năm (7th-10th year), việc duy trì và điều chỉnh khối lượng vận động là rất cần thiết nhằm đảm bảo sự phát triển liên tục và phòng tránh chấn thương Điều này giúp các vận động viên xây dựng nền tảng vững chắc và đạt thành tích cao trong sự nghiệp thể thao.

Hình 1 1 Sự tăng tiến khối lượng vận động của VĐV qua các giai đoạn đào tạo ( Nguồn: Bompa, 2019) [19]

Khi vận động viên thích nghi tốt hơn với giáo án tập luyện, tổng khối lượng vận động được nâng cao để thúc đẩy sự cải thiện các chỉ số sinh lý nhằm nâng cao thành tích thi đấu Sau khi đạt tới mức khối lượng vận động cao nhất, các yếu tố sinh lý vận động vẫn tiếp tục được kích thích nhờ vào việc gia tăng vận động chuyên biệt theo kế hoạch huấn luyện hàng năm, thay vì gia tăng vô hạn khối lượng vận động Việc nâng cao kỹ thuật và chiến thuật trong huấn luyện trở nên rất cần thiết, vì số lần lặp lại cao giúp vận động viên cải thiện hiệu quả thành tích thi đấu một cách rõ rệt.

Có nhiều phương pháp để gia tăng khối lượng vận động, bao gồm tăng tần suất huấn luyện (hoặc mật độ buổi tập trong ngày), tăng khối lượng vận động trong mỗi buổi tập, hoặc kết hợp cả hai yếu tố này Các vận động viên đẳng cấp thế giới ngày nay thường tập luyện từ 6 đến 12 buổi/tuần, điều này đã trở thành bình thường Mục tiêu chính của việc tăng lượng vận động là giúp vận động viên thích nghi tốt với khối lượng vận động mới, từ đó nâng cao trình độ thể lực một cách hiệu quả Tuy nhiên, nếu không kiểm soát đúng, quá tải có thể gây ra phản ứng ngược và ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng và sức khỏe của vận động viên Vì vậy, các chương trình huấn luyện và kế hoạch hàng năm đều cần được xây dựng cẩn thận, phù hợp và mang tính chuyên biệt cao để đảm bảo sự phát triển bền vững.

* Chú thích: Volume: Khối lượng; Intensity: Cường độ; Preparatory: Chuẩn bị (General preparation: Chuẩn bị chung; Speccific preparation: Chuẩn bị chuyên môn);

Competitive: Thi đấu; Peaking: đạt đỉnh

Công tác huấn luyện và quản lý lượng vận động môn XĐĐT

1.2.1 Cơ sở khoa học về ứng dụng thiết bị đo công suất vận động đối với VĐV XĐĐT

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thiết bị đo công suất vận động trong lĩnh vực xe đạp thể thao, tập trung vào việc theo dõi và phân tích các thông số tập luyện thể hiện bằng đơn vị công suất (Watt) trong quá trình huấn luyện hoặc thi đấu qua các giai đoạn khác nhau Các nghiên cứu này đều đề cao vai trò của công suất vận động (Watt) trong việc đánh giá hiệu quả và độ chính xác của quá trình tập luyện, mặc dù mỗi nghiên cứu có cách tiếp cận khác nhau về chỉ số công suất vận động để phù hợp với mục đích và điều kiện thực tế.

Thierry Bernard (2009) đã nghiên cứu về sự phân phối công suất vận động và nhịp tim trong suốt quá trình thi đấu nội dung XĐĐT trong môn 3 môn phối hợp tại Olympic Bắc Kinh 2008 Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa phân bố cường độ vận động theo nhịp tim và công suất vận động, đồng thời các thông số này ảnh hưởng đáng kể đến thành tích thi đấu khi hầu hết các vùng cường độ không quá cao nhưng lại biến đổi rất lớn trong quá trình thi đấu Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khả năng hấp thụ oxy tối đa và năng lực yếm khí cao là yếu tố quyết định thành tích, hơn là duy trì công suất vận động trong một vùng cường độ cố định kéo dài.

Dữ liệu của Tammie Ebert R (2005) cung cấp thông tin về công suất vận động của 15 nữ vận động viên đua xe chuyên nghiệp qua 27 chặng đua quốc tế từ năm 1999 đến 2004, trong đó có 19 chặng đường bằng và 8 chặng đèo Nghiên cứu so sánh công suất vận động giữa hai loại hình đường đua này, góp phần xây dựng hệ thống dữ liệu lớn về phân bố công suất trong thi đấu Kết quả cho thấy có mối liên hệ rõ ràng giữa các chỉ số thể lực như công suất tại ngưỡng lactate, công suất tối đa, thể tích khí thở tối đa và lactate ngưỡng với thành tích đua và thứ hạng của vận động viên Những phát hiện này giúp hiểu rõ hơn về mối tương quan giữa thể lực và thành tích trong đua xe thể thao.

Theo Tammie R (2006), nghiên cứu công suất vận động của nhóm vận động viên nam xe đạp tên tuổi cao qua các giải đấu chuyên nghiệp của UCI, như Tour Down Under từ năm 1999 đến 2004, cho thấy mức độ thể lực và hiệu suất của các VĐV trong các cuộc đua dài ngày Dữ liệu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khả năng vận động và sức bền của các vận động viên chuyên nghiệp trong các sự kiện quốc tế.

Trong tổng số 207 chặng đua được ghi nhận, các chỉ số về trình độ tập luyện của vận động viên trước khi thi đấu như thể tích oxy tối đa, công suất vận động ưa khí, và thành phần cơ thể đã được thu thập thông qua các bài kiểm tra nâng cấp Nghiên cứu của Tammie R tại thời điểm đó được coi là dữ liệu hiếm để xác định chính xác phân bố cường độ vận động cũng như mối tương quan giữa các chỉ số thể lực và thành tích trên đường đua Kết quả nghiên cứu cho thấy các thiết bị đo nhịp tim và công suất có độ chính xác chưa đủ trong việc phản ánh cường độ vận động của vận động viên.

Nghiên cứu của Swart (2009) đã đánh giá hiệu quả của chương trình huấn luyện cường độ cao thông qua so sánh giữa ba nhóm vận động viên chuyên nghiệp sử dụng thiết bị đo công suất và nhịp tim trong quá trình tập luyện Các bài kiểm tra ban đầu nhằm xác định trình độ thể lực bao gồm công suất tối đa, thành tích chạy 40 km, thể tích oxy tối đa và thành phần cơ thể, đồng thời vùng cường độ tập luyện được phân theo công suất và nhịp tim Kết quả cho thấy chương trình huấn luyện cường độ cao mang lại tác động tích cực rõ rệt, đồng thời so sánh sự khác biệt giữa phương pháp luyện tập dựa trên vùng cường độ nhịp tim và vùng cường độ công suất Tuy nhiên, Swart chỉ ra rằng thiết bị đo nhịp tim có hạn chế về độ trễ trong phản ứng, chẳng hạn như cần 3 phút để tim đạt nhịp tim mục tiêu trong các vùng cường độ cao, gây ảnh hưởng đến chính xác của quá trình theo dõi và điều chỉnh cường độ tập luyện.

Trong thể thao, mức độ căng thẳng (stressors) được xác định bởi sự kết hợp giữa các hoạt động thể chất và phi thể chất, bao gồm cả vận động trong tập luyện, thi đấu, công việc hàng ngày, hoạt động gia đình và giải trí Lượng vận động không chỉ dựa trên công suất hay tải trọng tập luyện mà còn phản ánh ảnh hưởng của các hoạt động thường ngày Lượng vận động được phân thành hai loại chính là lượng vận động trong (internal load) và lượng vận động ngoài (external load), giúp đánh giá toàn diện về mức độ căng thẳng và tải trọng của vận động viên trong quá trình rèn luyện và thi đấu.

Việc lập kế hoạch trong huấn luyện thể thao là một quy trình có tổ chức, khoa học và có phương pháp nhằm giúp vận động viên đạt thành tích cao nhất trong tập luyện và thi đấu Lập kế hoạch cùng với việc sắp xếp lượng vận động theo chu kỳ là những công cụ quan trọng giúp định hướng quá trình huấn luyện hiệu quả Theo Bùi Trọng Toại (2020), việc tổ chức hợp lý trong huấn luyện góp phần nâng cao hiệu quả và thành công của vận động viên trên hành trình thi đấu.

Quản lý lượng vận động hiệu quả giúp phát hiện tình trạng mệt mỏi vượt mức, xác định nguyên nhân và điều chỉnh chương trình huấn luyện, thời gian nghỉ ngơi phù hợp dựa trên mức độ mệt mỏi, sức khỏe và khả năng phục hồi của từng vận động viên Việc giám sát vận động bằng các phương pháp, công cụ, thiết bị khoa học cao cấp giúp phát hiện những thay đổi quan trọng, cung cấp dữ liệu chính xác và tạo sự tự tin trong quá trình điều chỉnh huấn luyện Quản lý lượng vận động đóng vai trò tối ưu hóa thành tích thể thao và giảm nguy cơ chấn thương.

Việc sử dụng thiết bị đo công suất vận động giúp HLV và VĐV xác định chính xác điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình tập luyện Công cụ này cung cấp cái nhìn khách quan về trình độ chuyên môn của vận động viên, đặc biệt trong môn thể thao XĐĐT vốn có nhiều thông số ảnh hưởng đến thành tích Kết hợp đo công suất với phần mềm quản lý đa nền tảng, đặc biệt là ứng dụng di động, giúp theo dõi sự thay đổi thể lực của VĐV một cách trực quan và chính xác hơn Điều này hỗ trợ quá trình ra quyết định huấn luyện hiệu quả, nâng cao thành tích thi đấu.

1.2.2 Thiết bị đo công suất và quản lý lượng vận động bằng thiết bị đo công suất

Về phần cứng: Thiết bị đo công suất vận động trong quá trình đạp xe là thiết bị đo ngoại lực (external work production) của người đạp trong suốt quá trình nhấn bàn đạp (pedal) Công suất sản sinh ra được tính bằng đơn vị Watt Các thiết bị đo công suất hiện nay có sự khác biệt nhau về công nghệ và phương pháp áp dụng Công nghệ truyền dẫn tín hiệu lực từ thiết bị đo công suất vận động trong đạp xe những năm gần đây trở nên nổi bật là ANT+ (giao thức truyền dẫn không dây điện năng thấp – ultra-low-power wireless transmission protocol) Công nghệ này không chỉ được ứng dụng ở thiết bị đo công suất trong đạp xe mà còn nhiều ứng dụng khác ANT+ giúp cho các thiết bị dễ dàng tương thích và truyền dữ liệu theo thời gian thực mà không bị gián đoạn Do đó trong quá trình tập luyện và thi đấu, mọi dữ liệu về công suất vận động của VĐV đều được ghi nhận theo thời gian thực

Hình 1.4 Thiết bị đo công suất của hãng SRM

Thiết bị đo công suất mang lại nhiều ưu điểm quan trọng trong lĩnh vực thể thao, giúp ghi nhận toàn bộ dữ liệu trong quá trình vận động cả trong tập luyện và thi đấu, từ đó VĐV có thể xác định điểm mạnh, điểm yếu của năng lực thể chất Nó hỗ trợ việc nâng cao hiệu quả trong tập luyện và khả năng phối hợp nhóm trong thi đấu Các thông số tập luyện rõ ràng giúp HLV và VĐV xây dựng mục tiêu cụ thể và điều chỉnh chương trình huấn luyện phù hợp Ngoài ra, việc phân tích dữ liệu liên quan giúp VĐV đạt trình độ thể lực tối đa trong những giai đoạn thi đấu chính của năm, góp phần nâng cao thành tích thể thao.

Hình 1.5 Mẫu diễn biến công suất vận động trong một buổi tập luyện của

Hiện nay, hệ thống dữ liệu về công suất vận động của vận động viên (VĐV) ngày càng phát triển và phong phú, đặc biệt tại các giải đấu hàng đầu thế giới Dữ liệu này được công bố qua nhiều nguồn khác nhau và ở nhiều cấp độ, giúp cho việc đánh giá trình độ của các VĐV xe đạp trở nên chính xác và dễ dàng hơn Việc phân tích công suất vận động là công cụ quan trọng để xác định khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu suất thi đấu của các vận động viên chuyên nghiệp.

Vào đầu thập niên 90, các thiết bị đo công suất đạp đã được ứng dụng rộng rãi trong bộ môn xe đạp thể thao, mở ra xu hướng thu thập, quản lý và phân tích các biến số tập luyện của vận động viên Thực tiễn cho thấy công suất đạp của VĐV có biên độ biến động lớn, khác nhau rõ rệt ở các chặng đua đồng đội, thi đấu cá nhân hoặc trong quá trình vận động liên tục, dẫn đến sự lệch lớn trong độ trở kháng qua từng giai đoạn Các yếu tố tác động như lực cản gió, bề mặt đường chạy, độ dốc, ma sát bánh xe và mức gắng sức đều góp phần làm tăng sự biến động này Chính vì vậy, các chỉ số vận động đo bằng thiết bị công suất rất khó để so sánh trực tiếp với các chỉ số đo bằng thiết bị nhịp tim, do độ biến thiên vận động ở các mức cường độ khác nhau là khác biệt rõ rệt Giả thuyết cho rằng, độ biến thiên vận động qua các vùng cường độ tập luyện đo bằng nhịp tim có thể thấp hơn so với đo bằng công suất vì vậy việc duy trì một cường độ ổn định trong thời gian dài là rất khó Khi độ biến thiên trong tập luyện lớn, các chỉ số trung bình như trung bình công suất, nhịp tim hay tốc độ không còn chính xác trong việc đánh giá chính xác cường độ tập luyện, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng đánh giá chính xác về tác động của quá trình tập luyện đến sự thích nghi và hồi phục của vận động viên.

Căn cứ theo các khái niệm lý thuyết huấn luyện chuyên môn và quan sát thực tiễn trong thời gian dài đối với việc quản lý lượng vận động ở các môn sức bền nói chung và môn XĐĐT nói riêng, các HLV, cựu VĐV chuyên nghiệp, các nhà khoa học huấn luyện thể thao, kỹ sư phần mềm Mỹ vào thập niên 90 đã phát triển một công cụ phần mềm nhằm định lượng, quản lý, phân tích các thông số lượng vận động trong quá trình huấn luyện môn XĐĐT một cách trực quan nhất

Vai trò của lượng vận động và quản lý lượng vận động trong huấn luyện các môn thể thao

Chu kỳ hóa kế hoạch huấn luyện, cấu trúc thời kỳ và các giai đoạn huấn luyện nhỏ là các phương pháp quản lý vận động một cách hệ thống và khoa học Những phương pháp này giúp tối ưu hóa quá trình đào tạo, đảm bảo sự tiến bộ liên tục và hiệu quả cao trong thể chất Việc xây dựng kế hoạch huấn luyện theo chu kỳ hóa giúp phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vận động viên, giảm thiểu chấn thương và nâng cao thành tích thi đấu.

Phương pháp quản lý lượng vận động này giúp kích thích sự thích nghi về tâm sinh lý của vận động viên Đồng thời, nó thúc đẩy phát triển các tố chất thể lực một cách có hệ thống theo trình tự của giai đoạn huấn luyện chuyên biệt Quá trình này bao gồm các yếu tố quan trọng như kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý và thể lực, đảm bảo tối ưu hóa hiệu suất thi đấu của vận động viên.

(sức bền, sức mạnh, tốc độ, linh hoạt…)

Bảng 1.8 Mẫu kế hoạch huấn luyện được phân chia theo các thời kỳ và giai đoạn huấn luyện theo từng mục tiêu phát triển thể lực

Giải chính Biwase ACC Tour

Giải phụ TẾT BD Thailand

Giai đoạn Chuẩn bị chung CB CM TĐ CB CM TĐ CT

Giai đoạn nhỏ Nền 2 Nền 3 CM1 TĐ/CM2 CM 2 TĐ CT

Khối lượng (Km) 500 600 550 600 700 650 650 700 750 700 500 600 700 400 400 Vùng Cường độ 2 2.5 3 2 2 3 3 3.5 4 4 5 4.5 6 6.5 2

Chú thích: TĐ: Thi đấu; CBCM: Chuẩn bị chuyên môn; CT: Chuyển tiếp; CM: Chuyên môn

Trong bảng phân chia chu kỳ huấn luyện trên cho thấy, việc huấn luyện được thực hiện theo trình tự phát triển các năng lực vận động, hướng đến mục tiêu phát triển thể lực đặc thù cho nội dung thi đấu của chu kỳ Cách tiếp cận của phương pháp quản lý lượng vận động này được thực hiện với ba lý do: 1) Cần có thời gian để tối ưu từng tố chất năng lực vận động của thành tích tập luyện; 2)

Quá trình phát triển phương tiện và phương pháp huấn luyện đòi hỏi phải từng bước hoàn thiện, nhằm tạo ra sự thích nghi về hình thái vận động và đảm bảo nền tảng vững chắc cho các giai đoạn tiếp theo Điều này giúp hình thành phương pháp huấn luyện phù hợp, hướng tới mục tiêu cuối cùng là nâng cao thành tích thi đấu của vận động viên Tuy nhiên, khả năng duy trì sự ổn định về sinh lý và tâm lý của vận động viên trong thời gian dài là rất khó khăn, đòi hỏi phải có chiến lược phù hợp để đảm bảo sự bền vững trong quá trình tập luyện và thi đấu.

Phát triển thể lực chuyên môn với các năng lực vận động đặc thù *

Tối ưu sự thích nghi hình thái vận động

Phát triển thể lực chung theo đặc thù môn

Tối ưu sự thích nghi hình thái vận động

GĐ CB chung GĐ CB chuyên môn GĐ thi đấu

* Duy trì và hỗ trợ các năng lực thần kinh vận động chung

** Duy trì và hỗ trợ các năng lực thần kinh vận động chung và chuyên môn

Sơ đồ 1.1 Tối ưu hiệu quả, nâng cao thành tích thi đấu qua các giai đoạn huấn luyện ( Nguồn: Bompa, 2019) [19]

Mức độ sẵn sàng thực hiện các bài tập chuyên môn của vận động viên sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn, loại hình bài tập và diễn biến tâm sinh lý Do đó, kế hoạch huấn luyện hàng năm cần được chia nhỏ thành các giai đoạn có tính kế thừa và thống nhất phù hợp để phát triển năng lực thần kinh vận động chuyên môn một cách hiệu quả Việc cấu trúc hợp lý này giúp tối ưu hóa thành tích thi đấu và đảm bảo sự tiến bộ liên tục của vận động viên.

Giai đoạn chuẩn bị chung thường là thời gian phát triển sinh lý và vận động nền tảng của vận động viên, trong khi giai đoạn chuẩn bị thi đấu tập trung vào tối ưu hóa các năng lực vận động cho mục tiêu thi đấu Việc tập trung chỉ vào chuẩn bị nền tảng chung không đủ để đảm bảo khả năng tối ưu hóa các năng lực vận động chuyên biệt trong giai đoạn chuẩn bị chuyên môn hoặc tiền thi đấu Ngay sau giai đoạn thi đấu, giai đoạn chuyển tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc giúp vận động viên nghỉ ngơi, hồi phục thể lực và tâm lý sau một giai đoạn căng thẳng Ngoài ra, thời kỳ chuyển tiếp còn là quãng thời gian để vận động viên thư giãn, chuẩn bị tâm lý tốt nhất cho các chu kỳ huấn luyện tiếp theo trong năm hoặc dài hạn Đây là giai đoạn then chốt liên kết các kế hoạch huấn luyện nhằm đảm bảo sự phát triển liên tục và hiệu quả của vận động viên.

Chương trình huấn luyện được thiết kế để nâng cao kỹ năng vận động và năng lực thần kinh vận động thông qua các phương pháp đặc biệt phù hợp với từng giai đoạn huấn luyện Các kỹ thuật và chiến thuật trong mỗi môn thể thao có thể được phát triển liên tục qua các giai đoạn khác nhau, giúp cải thiện khả năng vận động toàn diện của vận động viên Quá trình phát triển kỹ thuật vận động xuyên suốt các giai đoạn còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tư duy chiến thuật của vận động viên, từ đó nâng cao hiệu quả thi đấu.

Phương pháp huấn luyện xây dựng các giai đoạn có tính kế thừa rất quan trọng để phát triển và hoàn thiện năng lực thần kinh vận động, giúp nâng cao khả năng thích nghi sinh lý vận động Huấn luyện viên cần liên tục điều chỉnh khối lượng và cường độ vận động theo nguyên tắc tăng dần, phù hợp với kế hoạch ban đầu Lượng vận động không tăng tuyến tính qua các giai đoạn, mà được điều chỉnh linh hoạt qua chu kỳ hóa, nhằm thúc đẩy sự gia tăng phi tuyến tính của khối lượng vận động.

Lượng vận động trong quá trình huấn luyện thể thao đôi khi bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết và cung đường tập luyện Đặc biệt đối với môn thể thao như XĐĐT hoặc chèo thuyền, huấn luyện viên cần điều chỉnh các bài tập vận động bổ trợ hoặc thay thế khi gặp điều kiện thời tiết bất lợi Chu kỳ hóa kế hoạch huấn luyện giúp huấn luyện viên và vận động viên xác định xem lượng vận động đã đảm bảo phù hợp với kế hoạch đề ra hay chưa, từ đó điều chỉnh phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất.

Chu kỳ hóa kế hoạch huấn luyện nhằm tăng lượng vận động để thúc đẩy phản ứng sinh lý mạnh mẽ hơn và kích thích sự phát triển thành tích Thành công trong huấn luyện không chỉ dựa trên việc gia tăng tải lượng vận động mà còn phải tránh quá tải, có thể dẫn đến mệt mỏi, chấn thương hoặc bệnh tật Khi tần suất, khối lượng hoặc cường độ vận động tăng cao trong giai đoạn tiền thi đấu và thi đấu, áp lực tâm lý kéo dài cùng với thiếu phục hồi và dinh dưỡng phù hợp có thể tích tụ mệt mỏi cực độ.

Mục tiêu của huấn luyện là tăng dần các biến số lượng vận động như khối lượng, cường độ và tần suất một cách hệ thống để tối ưu hóa sự thích nghi sinh lý và phát triển thành tích Quá trình huấn luyện cần dựa vào hệ thống năng lượng chính của môn thể thao, phù hợp với yêu cầu kỹ thuật và năng lực thần kinh vận động đặc thù của từng môn Thời gian để đạt được thích nghi tối ưu phụ thuộc vào độ phức tạp kỹ thuật và năng lực thần kinh vận động, đặc biệt ở các môn đòi hỏi kỹ năng cao Để VĐV có thể đạt thành tích vượt bậc, họ cần trải qua chương trình huấn luyện có sự gia tăng lượng vận động một cách hệ thống, thúc đẩy tối đa sự thích nghi sinh lý và năng lực vận động thể chất.

Việc quản lý lượng vận động thông qua chu kỳ hóa kế hoạch huấn luyện, phân chia thời kỳ và giai đoạn huấn luyện là yếu tố then chốt giúp tối ưu hóa sự thích nghi của các chức năng sinh lý đặc thù của từng môn thể thao Phần mềm hoặc phương pháp này đảm bảo phát triển lượng vận động một cách có hệ thống, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể của quá trình huấn luyện Nhờ vậy, các vận động viên có thể đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình phát triển thể lực và nâng cao thành tích thi đấu.

Hệ thần kinh cơ: Tăng hiệu quả sự phối hợp vận động, phát triển khả năng phản xạ của hệ thần kinh, đồng bộ tất cả các đơn vị thần kinh vận động trong một quá trình vận động đơn lẻ hay cần sự phối hợp, tăng cường sự huy động các thần kinh vận động khác cùng tham gia, gia tăng tốc độ truyền dẫn thần kinh đến các tế bào cơ (rate coding), gia tăng các tế bào sinh học có lợi cho sự phát triển cơ

Sự trao đổi chất đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng dự trữ năng lượng như ATP và PCr, tích lũy glycogen trong cơ, nâng cao khả năng chịu đựng lactate và trì hoãn mệt mỏi Đồng thời, quá trình này thúc đẩy sự phát triển của các tế bào sinh học có lợi cho việc vận chuyển oxy và dưỡng chất trong cơ thể, giúp tăng khả năng sử dụng mỡ thừa làm nguồn năng lượng hiệu quả trong các hoạt động kéo dài.

Quản lý lượng vận động một cách hệ thống giúp HLV và VĐV phòng tránh các hội chứng quá tải do quá trình tập luyện căng thẳng trong giai đoạn chuẩn bị chuyên môn và tiền thi đấu, từ đó nâng cao hiệu quả tập luyện và đảm bảo sức khỏe cho vận động viên.

Đặc điểm thích nghi sinh lý, sinh hóa của VĐV nữ trình độ cao

Năng lực yếm khí của nữ giới nhìn chung thấp hơn so với nam giới ở độ tuổi thanh niên và trung niên, chủ yếu do khối lượng cơ thể tổng thể của phụ nữ trung bình nhỏ hơn so với nam giới (Wells, 1991).

Nguồn năng lượng ATP - PC

Lượng ATP dự trữ khi nghỉ ngơi cục bộ trên mỗi kilogram cơ và việc sử dụng hệ thống ATP-PC trong quá trình tập luyện không có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ (Brooks, 1986) Tuy nhiên, tổng năng lượng thu được từ các nguồn phosphagen này ở nam giới cao hơn so với nữ giới do sự khác biệt về khối lượng cơ thể.

Mức độ lactate khi nghỉ ngơi ở nam và nữ là như nhau, và ngưỡng Lactate, được biểu thị bằng phần trăm VO2max, cũng không khác biệt giữa hai giới Tuy nhiên, công suất vận động tuyệt đối để đạt được ngưỡng Lactate ở nam giới cao hơn nữ giới Do đó, trong bất kỳ bài tập vận động tuyệt đối nào đó nằm trong ngưỡng cận tối đa nhưng vẫn trên ngưỡng LT1 hoặc LT2, nữ giới thường có giá trị lactate cao hơn nam giới, phản ánh sự khác biệt trong đáp ứng sinh lý khi vận động.

Khối lượng công vận động đối với nữ giới thường căng thẳng hơn và đòi hỏi hệ thống năng lượng kỵ khí hoạt động nhiều hơn, nhưng ở một mức độ công suất vận động nhất định hoặc tỷ lệ phần trăm VO2max trên ngưỡng lactate, nồng độ lactate lại tương đương ở cả nam và nữ (Wells, 1991) Trong độ tuổi từ 16 đến 50, nồng độ lactate tập luyện tối đa ở nam cao hơn khoảng 0,5–2,0 mmol/L so với nữ, cho thấy sự khác biệt sinh lý về phản ứng lactate giữa hai giới Nữ giới thường thực hiện khối lượng vận động tuyệt đối ít hơn nam giới ở mức tối đa, phản ánh sự khác biệt về khả năng và cường độ tập luyện giữa hai giới.

Thể tích và dung tích phổi

Các giá trị về tổng dung tích phổi (TLC) và các phân khu của nó, trung bình ở nữ thấp hơn nam trên toàn bộ các độ tuổi, ngoại trừ khoảng 12–13 tuổi khi phần lớn các bé gái đã dậy thì và có sự tăng trưởng vượt bậc nhưng con trai thì không Những khác biệt này phần lớn được thể hiện qua các phép đo thông khí tối đa động (MVV) và thể tích thở ra gắng sức trong một giây (FEV1) Một phần các khác biệt này có thể do kích thước cơ thể nhỏ hơn của nữ giới, ví dụ như nam giới có đường kính đường thở lớn hơn, nhiều phế nang hơn và bề mặt khuếch tán lớn hơn so với nữ giới Tuy nhiên, ngay cả khi điều chỉnh theo chiều cao, cân nặng hoặc diện tích bề mặt, vẫn tồn tại một số khác biệt về dung tích phổi, theo nghiên cứu của Harms (2006).

Sự hô hấp của phổi

Khi nghỉ ngơi, không có sự khác biệt về tần số thở giữa nam và nữ (Malina và cộng sự, 2004) [73] Tuy nhiên, ở cùng mức thông khí dưới mức tối đa, nữ giới thường biểu hiện tần số cao hơn và dung tích sống thấp hơn nam giới Sự hô hấp này được duy trì khi tập luyện ở mức tối đa (Saris và cộng sự,

1985) [17] Khả năng đáp ứng thông khí trong khi tập thể dục có thể bị ảnh hưởng ở phụ nữ bởi mức độ estrogen và progesterone tuần hoàn (Harms, 2006)

Nam giới thường có thể tích khí thở ra (VE) cao hơn ở hầu hết các lứa tuổi khi tập luyện tối đa so với nữ giới, mặc dù sự khác biệt này giảm đáng kể khi điều chỉnh theo trọng lượng cơ thể (Åstrand, 1960) Tuy nhiên, điều bất ngờ là các nghiên cứu cho thấy các cơ hít vào bao gồm cơ hoành của phụ nữ có khả năng mỏi chậm hơn so với nam giới (Guenette và cộng sự, 2010).

Hô hấp ngoài và trong

Dữ liệu so sánh về giới tính nam và nữ trong các phương pháp đo hô hấp không có sẵn cho phần lớn các phương pháp đo bên ngoài và bên trong (Harms, 2006) a-vO2diff đã được đo trong trạng thái nghỉ ngơi và cả trong tập luyện dưới mức tối đa lẫn tối đa, tuy nhiên kết quả cho thấy rất ít sự nhất quán (Zwiren và cộng sự, 1983) Nữ có độ chênh lệch (A-a)PO2 cao hơn và PaO2 thấp hơn so với nam ở mọi mức độ oxy tiêu thụ Tình trạng thiếu oxy máu động mạch do tập luyện (EIAH) gây ra sự gia tăng quá mức của (A-a)PO2, trong đó phụ nữ thể hiện tình trạng này thường xuyên như nam giới (Harms, 2006) Ngoài ra, PaCO2 của nữ thấp hơn một chút so với nam ở mọi mức độ tiêu thụ thể tích oxy, phản ánh đặc điểm sinh lý dưới tác động của vận động tập luyện (Hopkins và Harms, 2004).

Nữ giới có cung lượng tim và nhịp tim cao hơn, nhưng thể tích mỗi lần bóp tim (SV) thấp hơn nam giới khi tập luyện ở mức cận tối đa, tại cùng công suất vận động tuyệt đối Nhịp tim cao hơn ở nữ bù đắp cho SV thấp hơn, dẫn đến cung lượng tim cao hơn ở cùng khối lượng công vận động, làm cho hệ tim mạch phụ nữ chịu mức căng thẳng lớn hơn so với nam giới cùng mức độ hoạt động Điều này phần lớn do nữ có kích thước hình thái nhỏ hơn, trái tim nhỏ hơn và khối lượng cơ ít hơn, cùng khả năng vận chuyển oxy và VO2max thấp hơn Khi nam và nữ thực hiện cùng một khối lượng công suất vận động tương đối, quá trình chuyển đổi năng lượng xảy ra theo mô hình khác nhau, làm cho phản ứng tim mạch của nữ thấp hơn ở cùng tỷ lệ VO2max Thể tích mỗi lần bóp tim (SV) của phụ nữ thấp hơn so với nam giới dù công vận động ở mức tuyệt đối hay tương đối, đặc biệt khi ở mức 50% VO2max Cả hai giới có phản ứng tương tự về huyết áp; tuy nhiên, nam giới có xu hướng có huyết áp tâm thu cao hơn khi thực hiện cùng khối lượng công việc tương đối, phần lớn do sự khác biệt về huyết áp tâm thu khi nghỉ ngơi Phản ứng của huyết áp tâm trương (DBP) với hoạt động dưới mức tối đa rất tương tự ở cả hai giới, khiến áp suất động mạch trung bình (MAP) cao hơn chút ít ở nam giới khi tập luyện dưới mức tối đa cùng khối lượng công vận động.

Phản ứng của cơ thể đối với quá trình tập luyện sức mạnh là tương tự ở nam và nữ, mặc dù nam giới thường có phản ứng thấp hơn do cung lượng tim lớn hơn Cả hai giới đều trải qua hiện tượng dịch chuyển tim mạch (cardiovascular drift) khi tập luyện nặng và kéo dài dưới mức tối đa, với sự thay đổi về thể tích huyết tương lớn hơn ở nam giới ở cùng cường độ tập luyện dưới mức tối đa Nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về khả năng thích ứng trung tâm hoặc ngoại vi của tim mạch giữa nam và nữ khi rèn luyện sức bền, với cả hai giới thể hiện sự thích ứng tim mạch tương tự nhau ở các trạng thái nghỉ và khi tập luyện dưới mức tối đa hoặc tối đa Mặc dù cung lượng tim tối đa cao hơn ở cả nam và nữ do tăng thể tích mỗi pha bóp tim sau khi tập luyện, giá trị tuyệt đối đạt được của nữ giới thấp hơn so với nam giới với cùng trình độ thể lực và cường độ tập luyện Khi nam và nữ có cùng trình độ thể lực, tần suất và khối lượng tập luyện, không có sự khác biệt đáng kể về mức tăng tương đối của VO2max.

VO2max có sự chồng chéo đáng kể giữa nam và nữ, với nữ giới có thể có VO2max cao hơn người ít vận động hoặc hoạt động bình thường, nhưng luôn thấp hơn so với nam giới có cùng mức huấn luyện và gen di truyền tương tự Phản ứng huyết áp (SBP, DBP, MAP) đối với tập luyện không thay đổi đáng kể ở cả hai giới sau khi tập luyện sức bền, và cả nam và nữ đều thể hiện sự thích nghi tương tự về tổng sức cản ngoại vi và sản phẩm tỷ lệ áp lực Tác động của rèn luyện sức bền đối với các biến số tim mạch khi tập luyện tối đa đã được báo cáo cho cả hai giới, cho thấy khả năng tập luyện của nữ giới không khác biệt so với nam giới và cả hai đều có thể đạt được những lợi ích tương tự từ hoạt động tập luyện thường xuyên Tuy nhiên, các giá trị tuyệt đối về mức tiêu thụ oxy tối đa, cung lượng tim và thể tích mỗi lần bóp tim ở nữ giới thường thấp hơn do kích thước cơ thể và tim nhỏ hơn.

Có sự khác biệt về đặc điểm thích nghi sinh lý, sinh hóa của nam và nữ VĐV dưới tác động của lượng vận động.

Các công trình nghiên cứu liên quan

1.5.1 Các công trình nghiên cứu khoa học trong nước:

Huỳnh Trọng Khải (2011) đã nghiên cứu việc đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên nữ tuổi 16-17 môn xe đạp thể thao tại TP Hồ Chí Minh sau một năm tập luyện Nghiên cứu đề xuất các tiêu chuẩn đánh giá dựa trên các yếu tố hình thái, thể lực và chức năng sinh lý của VĐV Đồng thời, tác giả cũng xác định các chỉ số quan trọng để đánh giá lượng vận động, bao gồm thể tích oxy tối đa, tốc độ đạp và công suất đạp Những phát hiện này giúp cải tiến phương pháp đánh giá trình độ tập luyện và tăng cường hiệu quả huấn luyện cho các vận động viên nữ trong độ tuổi này.

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Vinh (2008) đã xác định hệ thống các nội dung đánh giá trình độ tập luyện của nam vận động viên xe đạp thể thao trong độ tuổi 16-18, phù hợp với tiêu chuẩn chuyên môn hóa Bên cạnh đó, nghiên cứu còn đề cập đến các chỉ số quan trọng để đánh giá lượng vận động của vận động viên, bao gồm tốc độ đạp xe trên các quãng đường nhất định, thể tích oxy tối đa (VO2 max) hay tỷ lệ % VO2 max tại ngưỡng Lactate, cũng như mức năng lượng tiêu thụ tính bằng kcal/phút, giúp đánh giá hiệu quả và khả năng vận động của VĐV một cách toàn diện.

Trong công trình của tác giả Huỳnh Châu (2008), nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi nồng độ Acid Lactic trong máu của vận động viên xe đạp nam đội tuyển quốc gia trong quá trình luyện tập với các mức vận động khác nhau Nghiên cứu đã xác định rõ cách các loại bài tập khác nhau ảnh hưởng đến mức độ Lactate máu, từ đó giúp định lượng lượng vận động phù hợp cho từng mức cường độ tập luyện Kết quả này góp phần nâng cao hiệu quả của chương trình đào tạo và tối ưu hóa quá trình luyện tập thể thao.

Hiện nay, nghiên cứu về việc ứng dụng các thiết bị khoa học công nghệ trong huấn luyện vận động viên trình độ cao tại Việt Nam còn hạn chế, nhưng đã có một số nghiên cứu đáng chú ý Nghiên cứu của Đặng Hà Việt (2016) đã đề xuất các giải pháp sử dụng thiết bị hiện đại như đồng hồ đo nhịp tim Polar, thiết bị đếm nhịp Finis Tempo Trainer Pro, máy quay phim dưới nước Gopro 4 và phần mềm phân tích kỹ thuật 2D Kinovea để nâng cao quá trình đào tạo vận động viên bơi lội trình độ cao Trong khi đó, nghiên cứu của Đặng Thị Hồng Nhung (2007) nhấn mạnh vai trò của thiết bị phân tích sinh cơ 3D và thiết bị đo xung lực SMS trong việc cải tiến đào tạo vận động viên Những nghiên cứu này góp phần mở ra hướng đi mới trong áp dụng công nghệ cao vào tập luyện và đào tạo thể thao Việt Nam.

103 trong phân tích kỹ thuật chuyên môn của Taekwondo [4, 7]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu tại Việt Nam cho đến nay vẫn chủ yếu tập trung vào công tác đánh giá trình độ tập luyện, chưa nghiên cứu mối tương quan của thành tích thể thao với các yếu tố sư phạm, y sinh học, cũng như mối tương quan các chỉ số lượng vận động và thành tích tập luyện, thành tích thi đấu Định lượng lượng vận động xuyên suốt quá trình tập luyện và thi đấu là một trở ngại lớn không chỉ ở bộ môn XĐĐT mà còn ở tất cả các môn thể thao khác Không những vậy, ứng dụng các thiết bị để đo lường, quản lý lượng vận động đảm bảo tính chính xác, tin cậy trong quá trình tập luyện và thi đấu, từ đó điều chỉnh lượng vận động tập luyện cũng là một khó khăn lớn cho các HLV và nhà khoa học tại Việt Nam Hầu hết quá trình huấn luyện thể thao tại Việt Nam còn mang nhiều định tính, cảm giác huấn luyện của HLV

1.5.2 Các công trình nghiên cứu khoa học nước ngoài

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về thiết bị đo công suất vận động trong môn XĐĐT:

Nghiên cứu của Tammie Ebert R và cs (Power output during women's

Trong cuộc đua xe đạp đường trường của World Cup, các chỉ số thể lực như công suất tại ngưỡng lactate, công suất vận động tối đa, thể tích oxy tối đa và lactate ngưỡng đều có mối liên hệ chặt chẽ với thành tích thi đấu và thứ hạng của vận động viên Nghiên cứu của Eur J Appl Physiol (2005) đã chỉ ra rằng việc đánh giá các chỉ số này giúp dự đoán hiệu quả thi đấu của các vận động viên trong các chặng đua khác nhau Việc hiểu rõ mối quan hệ giữa các chỉ số thể lực và thành tích đua là yếu tố quan trọng để xây dựng chiến lược tập luyện tối ưu, nâng cao thành tích và đạt thứ hạng cao trong các cuộc thi đua xe đạp quốc tế.

Một nghiên cứu khác của Tammie R Ebert R và cs (Power output during a professional men's road-cycling tour".Int J Sports Physiol Perform 2006 1

Nghiên cứu về công suất vận động của nhóm VĐV nam XĐĐT trình độ cao qua các giải đấu chuyên nghiệp của UCI đã ghi nhận dữ liệu từ 207 chặng đua, kết hợp với các chỉ số về trình độ tập luyện như thể tích oxy tối đa, công suất vận động ưa khí và thành phần cơ thể Kết quả cho thấy các thiết bị đo nhịp tim và công suất hiện tại chưa phản ánh chính xác cường độ vận động của VĐV.

Nghiên cứu của Allen, H (Training and racing with a power meter Velopress 2006) về Huấn luyện và thi đấu với thiết bị đo công suất Tác giả đã đưa ra những định hướng việc ứng dụng thiết bị đo công suất trong quản lý lượng vận động trong tập luyện và thi đấu Trong hơn 2 thập kỷ ứng dụng thiết bị, thành tích thi đấu của các VĐV XĐĐT chuyên nghiệp đã có những cải thiện về tốc độ trung bình qua các giải đấu chuyên nghiệp hàng đầu thế giới như Tour de France, với tốc độ trung bình ở những chặng thi đấu tính giờ từ 30,4 km/h lên 49,6 km/h; tốc độ trung bình ở những chặng đường bằng từ 27 km/h lên 44,8 km/h; và tốc độ tối đa khi về đích từ 600 W lên 1400 W (15 giây)… Điều này cho thấy nhiều lợi ích từ việc ứng dụng thiết bị đo công suất vận động trong huấn luyện và thi đấu

Nghiên cứu của Allen (2019) đã chỉ ra lợi ích của việc phân tích công suất vận động đối với các vận động viên xe đạp đua chuyên nghiệp, giúp họ nhận diện điểm mạnh và yếu trên các địa hình khác nhau để cải thiện thành tích Phân tích công suất còn cung cấp dữ liệu chính xác, giúp huấn luyện viên đánh giá khả năng của từng VĐV và đề ra chiến thuật thi đấu tối ưu Những dữ liệu này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thi đấu và phát triển kỹ năng của vận động viên.

Nghiên cứu của Thierry Bernard và cs (Distribution of power output during the cycling stage of a Triathlon World Cup 2009 Med Sci Sports Exerc

41 (6), 1296-302) về sự phân phối công suất vận động và nhịp tim trong suốt quá trình các VĐV thi đấu nội dung XĐĐT trong môn 3 môn phối hợp tại kỳ Olympic Bắc Kinh (2008), cho thấy: các thông số nhịp tim và công suất vận động có những ảnh hưởng nhất định đến thành tích của môn Nghiên cứu chỉ ra yếu tố tác động lớn đến thành tích trong quá trình thi đấu là khả năng hấp thụ oxy tối đa và năng lực yếm khí cao, hơn là năng lực duy trì công suất vận động ở một vùng cường độ không đổi kéo dài [16]

Swart's 2009 study in the Journal of Strength and Conditioning Research explores the effectiveness of high-intensity training programs, comparing outcomes based on heart rate and power output in well-trained cyclists The research highlights that both training methods can significantly enhance aerobic capacity, but the choice between heart rate-based or power-based approaches depends on individual athlete's goals and training preferences Implementing high-intensity intervals tailored to either heart rate or mechanical power can optimize performance improvements in trained cyclists This study emphasizes the importance of personalized training protocols to maximize endurance and overall cycling performance.

Ba nhóm vận động viên, gồm 21 vận động viên trình độ cao, đã sử dụng thiết bị đo công suất vận động và nhịp tim trong quá trình huấn luyện để theo dõi hiệu quả luyện tập Các bài kiểm tra ban đầu giúp xác định mức độ thể lực như công suất tối đa, thành tích chạy 40 km cá nhân, thể tích oxy tối đa và thành phần cơ thể Các vùng cường độ tập luyện được phân theo công suất và nhịp tim, phù hợp với từng nhóm nghiên cứu để tối ưu hóa quá trình luyện tập.

Nghiên cứu của Hamish (Relationship between common measures of training stress and maximum mean power during road cycling races 2014) về mối quan hệ giữa các biện pháp phổ biến về mức độ căng thẳng khi tập luyện và công suất trung bình tối đa trong các cuộc đua XĐĐT cũng đã cho thấy những lợi ích của việc sử dụng thiết bị đo công suất trong việc định hướng quá trình huấn luyện, tập luyện hàng ngày; đánh giá VĐV; phát hiện yêu cầu gắng sức trên đường đua và dự báo thành tích.[38]

Research by Mujika (2017) and Allen & Coggan (2019) highlights that utilizing power meters for evaluating fitness levels during practical training provides accurate, reliable, and flexible performance metrics Additionally, Stüren’s study emphasizes the importance of physiological factors as key determinants in cycling time trial performance, underscoring the value of precise assessment tools for optimal training outcomes.

Research indicates that VO2max and anaerobic threshold power (CSLT2) are two highly reliable and essential indicators for assessing the fitness levels of cross-country athletes These measurements, obtained through laboratory tests, provide accurate insights into an athlete's endurance capacity Additionally, field tests using power measurement devices, such as the PowerTap P1, enable practitioners to monitor performance consistently during training, ensuring precise evaluation of athletic progress.

Pedals Power Meter".Journal of sports science & medicine 2018 17 (2), 305-

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 22/07/2025, 16:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Huỳnh Châu (2008). Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ Acid Lactic máu của VĐV XĐ nam đội dự tuyển quốc gia khi tập luyện ở những lượng vận động khác nhau. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ Acid Lactic máu của VĐV XĐ nam đội dự tuyển quốc gia khi tập luyện ở những lượng vận động khác nhau
Tác giả: Huỳnh Châu
Nhà XB: Trường Đại học Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
2. Huỳnh Trọng Khải (2011). Đánh giá trình độ tập luyện VĐV nữ lứa tuổi 16 – 17 môn XĐĐT của Thành phố Hồ Chí Minh sau một năm tập luyện. Báo cáo giám định đề tài thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan chủ trì trường Đại học Sư phạm Thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trình độ tập luyện VĐV nữ lứa tuổi 16 – 17 môn XĐĐT của Thành phố Hồ Chí Minh sau một năm tập luyện
Tác giả: Huỳnh Trọng Khải
Năm: 2011
3. Đặng Thị Hồng Nhung (2007). Nghiên cứu các thông số kỹ thuật đá vòng của VĐV Taekwondo đội tuyển Việt Nam bằng công nghệ 3D và hệ thống đo xung lực SMS 103. Luận án tiến sĩ, Viện Khoa học Thể dục thể thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các thông số kỹ thuật đá vòng của VĐV Taekwondo đội tuyển Việt Nam bằng công nghệ 3D và hệ thống đo xung lực SMS 103
Tác giả: Đặng Thị Hồng Nhung
Nhà XB: Viện Khoa học Thể dục thể thao
Năm: 2007
4. Lâm Quang Thành, Nguyễn Tiên Tiến, Đặng Hà Việt (2019). Giáo trình Huấn luyện thể thao hiện đại. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Huấn luyện thể thao hiện đại
Tác giả: Lâm Quang Thành, Nguyễn Tiên Tiến, Đặng Hà Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
5. Võ Quốc Thắng và cộng sự (2022). Ứng dụng giải pháp khoa học quản lý lượng vận động bằng thiết bị đo công suất trong huấn luyện vận động viên đội xe đạp đường trường nam và nữ hướng đến trình độ olympic. Nhiệm vụ khoa học cấp Bộ, Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng giải pháp khoa học quản lý lượng vận động bằng thiết bị đo công suất trong huấn luyện vận động viên đội xe đạp đường trường nam và nữ hướng đến trình độ olympic
Tác giả: Võ Quốc Thắng và cộng sự
Năm: 2022
6. Bùi Trọng Toại (2015). Giáo trình huấn luyện sức mạnh. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình huấn luyện sức mạnh
Tác giả: Bùi Trọng Toại
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2015
7. Đặng Hà Việt (2016). Ứng dụng hệ thống các giải pháp khoa học trong đào tạo vận động viên cấp cao môn bơi lội. Nhiệm vụ khoa học cấp Bộ, Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng hệ thống các giải pháp khoa học trong đào tạo vận động viên cấp cao môn bơi lội
Tác giả: Đặng Hà Việt
Nhà XB: Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quốc gia TP.HCM
Năm: 2016
8. Nguyễn Quang Vinh (2008). Xác định nội dung và tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện của nam VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 18 trong giai đoạn chuyên môn hóa. Luận án tiến sĩ, Viện Khoa học Thể dục thể thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định nội dung và tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện của nam VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 18 trong giai đoạn chuyên môn hóa
Tác giả: Nguyễn Quang Vinh
Nhà XB: Viện Khoa học Thể dục thể thao
Năm: 2008
9. Astrand (1960). "Aerobic work capacity in men and women with special reference to age".Acta Physiol Scand Suppl. 49 (169), 1-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Aerobic work capacity in men and women with special reference to age
Tác giả: Astrand
Nhà XB: Acta Physiol Scand Suppl.
Năm: 1960
10. Atkinson, et al. (2003). "Science and cycling: current knowledge and future directions for research".J Sports Sci. 21 (9), 767-87 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Science and cycling: current knowledge and future directions for research
Tác giả: Atkinson, et al
Năm: 2003
11. Bar-Or (1987). "The Wingate anaerobic test. An update on methodology, reliability and validity".Sports Med. 4 (6), 381-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Wingate anaerobic test. An update on methodology, reliability and validity
Tác giả: Bar-Or
Năm: 1987
12. Ben Abdelkrim, et al. (2007). "Time-motion analysis and physiological data of elite under-19-year-old basketball players during competition".Br J Sports Med. 41 (2), 69-75; discussion 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Time-motion analysis and physiological data of elite under-19-year-old basketball players during competition
Tác giả: Ben Abdelkrim, et al
Năm: 2007
17. Binkhorst, et al. (1985). Children and Exercise XI. Human Kinetics Publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Children and Exercise XI
Tác giả: Binkhorst, et al
Năm: 1985
18. Bishop, et al. (1998). "The critical power function is dependent on the duration of the predictive exercise tests chosen".Int J Sports Med. 19 (2), 125-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The critical power function is dependent on the duration of the predictive exercise tests chosen
Tác giả: Bishop, et al
Năm: 1998
19. Bompa (2019). Periodization : theory and methodology of training. Human Kinetics Sách, tạp chí
Tiêu đề: Periodization : theory and methodology of training
Tác giả: Bompa
Nhà XB: Human Kinetics
Năm: 2019
21. Brooks &Mercier (1994). "Balance of carbohydrate and lipid utilization during exercise: the "crossover" concept".J Appl Physiol (1985). 76 (6), 2253-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Balance of carbohydrate and lipid utilization during exercise: the "crossover" concept
Tác giả: Brooks, Mercier
Nhà XB: J Appl Physiol (1985)
Năm: 1994
22. Buchheit &Laursen (2013). "High-Intensity Interval Training, Solutions to the Programming Puzzle : Part II: Anaerobic Energy, Neuromuscular Load and Practical Applications".Sports medicine (Auckland, N.Z.). 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: High-Intensity Interval Training, Solutions to the Programming Puzzle : Part II: Anaerobic Energy, Neuromuscular Load and Practical Applications
Tác giả: Buchheit, Laursen
Nhà XB: Sports medicine (Auckland, N.Z.)
Năm: 2013
25. Cheetham, et al. (1986). "Human muscle metabolism during sprint running".J Appl Physiol (1985). 61 (1), 54-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human muscle metabolism during sprint running
Tác giả: Cheetham, et al. (1986). "Human muscle metabolism during sprint running".J Appl Physiol
Năm: 1985
28. Coggan (2006). Training and Racing with a Power Meter. VeloPress, 29. Conley (2000). Bioenergetics of exercise training. Published73-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Training and Racing with a Power Meter". VeloPress, 29. Conley (2000). "Bioenergetics of exercise training
Tác giả: Coggan (2006). Training and Racing with a Power Meter. VeloPress, 29. Conley
Năm: 2000
102. Zwiren, et al. (1983). "Comparison of circulatory responses to submaximal exercise in equally trained men and women".Int J Sports Med. 4 (4), 255-9.Website Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.5. Mẫu diễn biến công suất vận động trong một buổi tập luyện của - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Hình 1.5. Mẫu diễn biến công suất vận động trong một buổi tập luyện của (Trang 51)
Hình 1.6. So sánh chỉ số công suất trung bình (AG) và Chỉ số chuẩn hóa - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Hình 1.6. So sánh chỉ số công suất trung bình (AG) và Chỉ số chuẩn hóa (Trang 55)
Hình 1.7. Phân bố công suất vận động trong một buổi tập (Nguồn: Coggan, - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Hình 1.7. Phân bố công suất vận động trong một buổi tập (Nguồn: Coggan, (Trang 60)
Hình 1.8. Mẫu diễn biến lượng vận động VĐV nữ đội tuyển quốc gia bằng - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Hình 1.8. Mẫu diễn biến lượng vận động VĐV nữ đội tuyển quốc gia bằng (Trang 60)
Sơ đồ 1.1. Tối ưu hiệu quả, nâng cao thành tích thi đấu qua các giai đoạn - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Sơ đồ 1.1. Tối ưu hiệu quả, nâng cao thành tích thi đấu qua các giai đoạn (Trang 62)
Bảng 2.1. Quy trình kiểm tra ngày 1 - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Bảng 2.1. Quy trình kiểm tra ngày 1 (Trang 77)
Hình 2. 1. Các bước thực hiện test Wingate 30 giây - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Hình 2. 1. Các bước thực hiện test Wingate 30 giây (Trang 80)
Bảng 3.2. Kết quả phỏng vấn quan điểm về quản lý lượng vận động trong huấn - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Bảng 3.2. Kết quả phỏng vấn quan điểm về quản lý lượng vận động trong huấn (Trang 88)
Sơ đồ 3.1. Quy trình quản lý lượng vận động trong huấn luyện VĐV XĐĐT - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Sơ đồ 3.1. Quy trình quản lý lượng vận động trong huấn luyện VĐV XĐĐT (Trang 104)
Hình 3.1. Các thông tin cá nhân VĐV và một số chỉ số thể lực ban đầu được - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Hình 3.1. Các thông tin cá nhân VĐV và một số chỉ số thể lực ban đầu được (Trang 120)
Bảng 3.23. So sánh sự khác biệt phân bố thời gian vận động giữa các mục - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Bảng 3.23. So sánh sự khác biệt phân bố thời gian vận động giữa các mục (Trang 137)
Bảng 3.40. Sự biến đổi về năng lực yếm khí - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Bảng 3.40. Sự biến đổi về năng lực yếm khí (Trang 162)
Bảng 3.41. Sự biến đổi về công suất tối đa - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Bảng 3.41. Sự biến đổi về công suất tối đa (Trang 163)
Bảng 3.42. Sự biến đổi về thông số tập luyện của chương trình thực nghiệm - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Bảng 3.42. Sự biến đổi về thông số tập luyện của chương trình thực nghiệm (Trang 164)
Hình 3.5. Biểu đồ công suất tối đa ở các quãng thời gian khác nhau - NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ LƯỢNG VẬN ĐỘNG TRONG HUẤN LUYỆN VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRÌNH ĐỘ CAO
Hình 3.5. Biểu đồ công suất tối đa ở các quãng thời gian khác nhau (Trang 170)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm