BỘ TƯ PHÁPTRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT HIẾN PHÁP CHỦ ĐỀ 01: Trước tình trạng xu hướng kết hôn muộn hoặc độc thân đang không ngừng gia tăng ở Việt Nam trong thời gi
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: LUẬT HIẾN PHÁP
CHỦ ĐỀ 01:
Trước tình trạng xu hướng kết hôn muộn hoặc độc thân đang không ngừng gia tăng ở Việt Nam trong thời gian gần đây, có ý kiến cho rằng nên quy định đánh thuế người độc thân Bằng kiến thức Luật Hiến pháp hãy đưa ra các luận điểm để ủng hộ/phản đối ý kiến trên.
Trang 2Hà Nội, 2024
BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM
Nhóm: 02 – Phản đối
Lớp: 4921 – Khoa pháp luật Kinh tế
Chủ đề tranh biện: Trước tình trạng xu hướng kết hôn muộn hoặc độc
thân đang không ngừng gia tăng ở Việt Nam trong thời gian gần đây, có ý kiến cho rằng nên quy định đánh thuế người độc thân Bằng kiến thức Luật Hiến pháp hãy đưa ra các luận điểm để ủng hộ/phản đối ý kiến trên
1 Kế hoạch làm việc nhóm:
- Bước 1: Họp nhóm để nêu ý tưởng và hướng đi của đề tài.
- Bước 2: Phân chia thành viên thành 2 nhóm nhỏ: quan điểm ủng hộ và
quan điểm phản đối để lên ý tưởng sơ bộ, phản biện lẫn nhau (phân chia công việc cụ thể cho các thành viên trong từng nhóm nhỏ)
- Bước 3: Tổng hợp kết quả làm việc của 2 nhóm nhỏ.
- Bước 4: Họp để hoàn thiện nội dung tranh biện chính thức, hoàn thiện
bản in và bản trình chiếu
- Bước 5: Họp nhóm thống nhất hoàn thiện bản mềm bài tập nhóm
2 Phân chia công việc và họp nhóm:
Trang 3STT Họ và tên Công
việc thực hiện
Tiến độ thực hiện (đúng hạn)
Mức độ hoàn thành Họp nhóm Kết
luận Xếp loại
Ký tên
Có Không Tốt Trung
bình
Không tốt
Tham gia đầy đủ
Tích cực sôi nổi
Đóng góp nhiều ý tưởng
1
Phạm
Thanh
Hương
Nhóm trưởng -Tổng hợp nội dung, tham gia tranh biện
2 Kiều Ngọc
Lan
Làm nội dung, tham gia tranh biện
3
Đàm Thị
Khánh
Huyền
Làm nội dung, tham gia tranh biện
Trang 4Khánh
dung, tham gia tranh biện
5
Nguyễn
Hồng
Hoàng
Làm nội dung, tham gia tranh biện
6
Trần Thị
Ngọc
Huyền
Lên ý tưởng sơ
bộ, thiết
kế bản in
và bản trình chiếu
7
Đỗ Thị
Khánh
Linh
Lên ý tưởng sơ
bộ, thiết
kế bản in
và bản trình chiếu
8
Phạm
Minh
Hằng
Lên ý tưởng sơ
bộ, thiết
kế bản in
Trang 5và bản trình chiếu
Linh
Lên ý tưởng sơ
bộ, thiết
kế bản in
và bản trình chiếu
10 Phạm Thu
Hiền
Lên ý tưởng sơ
bộ, làm nội dung
11
Nguyễn
Thị Thu
Huệ
Lên ý tưởng sơ
bộ, làm nội dung
12
Ngô Thị
Hương
Giang
Lên ý tưởng sơ
bộ, làm nội dung
13 Cao Ngọc
Hà
Lên ý tưởng sơ
bộ, làm nội dung
Trang 6Nguyên
Khôi
dung, tìm hiểu
số liệu
15 Nguyễn Tú
Anh
Lên ý tưởng sơ
bộ, làm nội dung
16
Lê Thị
Phương
Dung
Lên ý tưởng sơ
bộ, làm nội dung
17
Nguyễn
Trung
Hiếu
Lên ý tưởng sơ
bộ, làm nội dung
Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 2024
Nhóm trưởng
Phạm Thanh Hương
MỤC LỤC
A ĐẶT VẤN ĐỀ
B NỘI DUNG TRANH BIỆN
I HỆ THỐNG LUẬN ĐIỂM
II GIẢI THÍCH KHÁI NIỆM
1 Thuế:
Trang 72 Thuế độc thân:
III NỘI DUNG CHI TIẾT
1 .Luận điểm 1: Áp dụng thuế độc thân là vi phạm quyền tự quyết cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người
2 Luận điểm 2: Áp dụng thuế độc thân gây ra bất bình đẳng giữa con người với con người
3 Luận điểm 3: Áp dụng thuế độc thân có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội
3.1 Về kinh tế:
3.2 Về xã hội:
4 Luận điểm 4: Những vấn đề phát sinh mà Nhà nước phải đối mặt khi áp dụng thuế độc thân
C KẾT LUẬN
D PHỤ LỤC
E DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, xu hướng lựa chọn cuộc sống độc thân của những người trẻ ở Việt Nam hiện nay đang ngày càng có chiều hướng gia tăng
Số liệu công bố bởi Tổng cục Thống kê (GSO) cho thấy, trong khoảng hơn 30 năm qua, xu hướng hôn nhân ở nước ta thay đổi rất lớn Cụ thể, từ năm 1989
-2023, trung bình độ tuổi kết hôn lần đầu của nam từ 24,4 và nữ là 23,2 đã tăng lên 29,3 tuổi với nam và 25,1 đối với nữ vào năm 2023 Tỉ lệ người độc thân cũng đang có xu hướng tăng nhanh, từ 6,23% năm 2004 lên 10,1% năm 2019
Trước tình hình này, có thông tin cho rằng người độc thân sẽ phải chịu một loại thuế mang tên “thuế độc thân” với mục đích làm giảm ảnh hưởng tiêu cực của xu hướng này
Với vai trò là một công dân Việt Nam, một sinh viên ngành Luật Kinh tế với hệ thống kiến thức môn Luật Hiến pháp Việt Nam, chúng em xin được đưa
ra những quan điểm của mình để phản đối việc ban hành và áp dụng những quy định pháp luật liên quan đến việc đánh thuế đối với người độc thân
B NỘI DUNG TRANH BIỆN
I HỆ THỐNG LUẬN ĐIỂM
1 Áp dụng thuế độc thân là vi phạm quyền tự dó cá nhân, quyền tự quyết cá nhân và và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người
2 Áp dụng thuế độc thân gây ra sự bất bình đẳng giữa con người với con người
3 Áp dụng thuế độc thân gây ra những tác động tiêu cực đến kinh tế, xã hội
4 Những vấn đề phát sinh mà Nhà nước phải đối mặt khi áp dụng thuế độc thân
II GIẢI THÍCH KHÁI NIỆM
1 Thuế
Thuế là một khoản tiền bắt buộc phải trả cho một tổ chức Chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau Thuế có thể được áp dụng trực tiếp hoặc gián tiếp và có thể được trả bằng tiền hoặc tương đương với giá trị lao động
Trang 92 Thuế độc thân
Thuế độc thân không phải là một loại thuế chính thống được quy định trong luật, thuật ngữ thuế độc thân thường là dùng để chỉ các khoản chi phí phát sinh khi bạn không kết hôn
III NỘI DUNG CHI TIẾT
1 Luận điểm 1: Áp dụng thuế độc thân là vi phạm quyền tự do cá nhân, quyền tự quyết cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người.
1.1 Cơ sở pháp lý
Khoản 1, Điều 14, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013: “Ở
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Khoản 1 Điều 36 Hiến Pháp 2013 Nước CHXHCN Việt Nam: “Nam, nữ
có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”.
1.2 Phân tích
Thứ nhất, áp dụng thuế độc thân được xem là một hình thức can thiệp vào quyền tự do cá nhân, khi mà công dân bị đánh thuế không phải vì khả năng thu nhập mà chỉ vì trạng thái hôn nhân của họ Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013
1khẳng định một nguyên tắc rất quan trọng, quyền con người, quyền công dân về tất cả các lĩnh vực, bao gồm quyền tự do cá nhân được công nhận, tôn trọng, bảo
vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Điều này có nghĩa là Nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ các quyền tự do cá nhân của công dân, và mọi sự can thiệp vào quyền tự do này đều phải tuân thủ nguyên tắc không xâm phạm quyền lợi hợp pháp của công dân Vậy nên, thuế độc thân có thể coi là sự can thiệp vô lý vào quyền tự do lựa chọn tình trạng hôn nhân của con người 2vì việc có gia đình hay không là quyền lựa chọn cá nhân của mỗi công dân, không thể là yếu tố quyết định để áp đặt một chính sách thuế Việc áp dụng một chính sách thuế dựa trên tình trạng hôn nhân, vô hình trung hạn chế quyền lựa chọn cá nhân của công dân
và nó cũng như một khoản tiền phạt đối với sự độc thân Những cá nhân độc
1 Xem: khoản 1, Điều 14, Hiến pháp 2013
2 Xem: khoản 1, Điều 36, Hiến pháp 2013
Trang 10thân có thể cảm thấy bị kỳ thị hoặc ép buộc phải kết hôn để tránh phải chịu mức thuế cao, điều này dẫn đến việc kết hôn của một cá nhân có thể không xuất phát
từ lý do trong sáng như tình yêu hay mong muốn xây dựng một tổ ấm mà kết hôn chỉ vì vấn đề tài chính Chính vì vậy, thuế độc thân không chỉ đi ngược lại với nguyên tắc bảo vệ quyền tự do cá nhân mà còn vi phạm nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, khi mà mỗi cá nhân đều có quyền lựa chọn cuộc sống của mình
mà không bị phân biệt hay ép buộc
Thứ hai, thuế độc thân có thể được coi là sự can thiệp không hợp lý vào quyền tự quyết và quyền mưu cầu hạnh phúc của cá nhân Quyền tự quyết được hiểu là sự tự quyết định của cá nhân với các vấn đề quan trọng của cá nhân, trong đó có vấn đề về hôn nhân Quyền mưu cầu hạnh phúc là một trong những quyền cơ bản của con người, được hiểu là nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của mọi người dân, trong đó có việc con người được phát triển toàn diện, được sống cuộc sống ấm no, hạnh phúc Bên cạnh đó, khoản 1 điều 36 Hiến pháp
2013 cũng khẳng định hôn nhân phải theo nguyên tắc tự nguyện, vậy nên không thể áp đặt thuế độc thân như một biện pháp để tạo áp lực và thúc ép việc kết hôn Thuế độc thân sẽ gây ra sự can thiệp vô lý vào một trong những sự lựa chọn quan trọng nhất cuộc đời của một cá nhân Đồng thời, sự áp lực từ thuế độc thân
có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền được lựa chọn hạnh phúc cá nhân của mỗi con người
2 Luận điểm 2: Áp dụng thuế độc thân gây ra sự bất bình đẳng giữa con người với con người.
2.1 Giải thích khái niệm
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (năm 1995), bình đẳng được định nghĩa là sự đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa,không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật Bình đẳng là các công dân có quyền lợi bình đẳng như nhau
Quyền bình đẳng là một quyền cơ bản của con người Đó là quyền được xác lập tư cách con người trước pháp luật; không bị pháp luật phân biệt đối xử,
có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau
Trang 112.2 Cơ sở pháp lý
Điều 16 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật;
không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,
xã hội”.
Khoản 1 Điều 21 Hiến Pháp năm 2013:“Mọi người có quyền bất khả xâm
phạm về đời sống riêng tư”.
Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn Công ước quốc tế về các quyền dân sự
và chính trị (ICCPR) trong đó Điều 26 ICCPR: “Tất cả mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật và có quyền được bảo vệ bình đẳng theo pháp luật mà không bị phân biệt đối xử vì lý do chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngũ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, nơi sinh hay bất kỳ lý do nào khác”.
Luật Quản lý thuế 2019 của Việt Nam không có quy định phân biệt đối xử
về thuế dựa trên tình trạng hôn nhân
2.3 Phân tích
Thứ nhất, việc đánh thuế lên người độc thân sẽ gây ra sự phân biệt đối xử giữa các cá nhân trong xã hội Vì việc đánh thuế có thể hình thành tư tưởng rằng lựa chọn độc thân là không đúng đắn, vô hình chung tạo nên tâm lý kỳ thị, đối
xử thiếu công bằng đối với nhóm đối tượng này Sự bất bình đẳng trong xã hội cũng sinh ra từ đó Bên cạnh đó, theo điều 16 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền
1948 3của Liên Hợp Quốc mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên đã khẳng định mỗi người khi tới tuổi có quyền quyết định tình trạng hôn nhân của mình
mà không bị phân biệt đối xử Vì vậy việc đánh thuế độc thân có thể tạo ra sự bất bình đẳng trong quyền tự do lựa chọn lối sống Bởi đánh thuế độc thân vô tình tạo ra áp lực xã hội như hối thúc, bắt ép người độc thân phải lựa chọn kết hôn để tránh nộp khoản thuế trên Nếu áp dụng thuế độc thân cũng đồng nghĩa rằng những người có ý định và mong muốn độc thân, không kết hôn hay không muốn
gò bó trong tình trạng hôn nhân phải đắn đo và suy nghĩ về lựa chọn của mình Như vậy, một xã hội mà con người không được tự do lựa chọn cách sống, lối sống hay quyết định tình trạng hôn nhân của chính mình là một xã hội đang tồn tại bất bình đẳng giữa người với người
3 Xem: điều 16, Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948
Trang 12Thứ hai, Luật Quản lý thuế 2019 4của Việt Nam không có quy định phân biệt đối xử về thuế dựa trên tình trạng hôn nhân, nghĩa là mỗi cá nhân dù đã kết hôn hay độc thân không có nghĩa vụ phải chịu khoản thuế dành cho tình trạng hiện tại của cá nhân đó Bên cạnh đó điều 26 ICCPR 5mà Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn cũng có nội dung, tính chất tương tự Do đó việc đánh thuế độc thân
sẽ tạo một làn sóng phản đối trong xã hội
Thứ ba, thuế độc thân tạo ra sự bất bình đẳng về tài chính giữa các cá nhân trong xã hội Trên thực tế, người độc thân đang phải tự chi trả tất cả các loại chi phí trong cuộc sống như tiền nhà, tiền điện, tiền nước mà không có sự hỗ trợ từ
vợ hoặc chồng Bên cạnh đó, họ cũng không được hưởng những khoản khấu trừ thuế cũng như các ưu đãi giống với những người có gia đình và có con Vậy nên, việc đánh thuế người độc thân sẽ tạo thêm áp lực tiền bạc và khơi sâu thêm sự bất bình đẳng về tài chính giữa các nhóm người trong xã hội
Thứ tư, thuế độc thân có thể tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người thuộc các nhóm xu hướng tính dục khác nhau Trên thực tế, ở Việt Nam chưa có bất kì một văn bản pháp luật công nhận hôn nhân đồng giới Vậy nên các cặp đôi đồng giới không thể kết hôn và về mặt pháp lý, họ vẫn được coi là đối tượng độc thân và vẫn phải chịu thuế độc thân Điều này dẫn đến việc thuế độc thân gây ra
sự bất công đối với nhóm người bất đắc dĩ phải độc thân do những ràng buộc pháp lý và xã hội
3 Luận điểm 3: Áp dụng thuế độc thân có thể gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, xã hội
3.1 Về kinh tế
Việc áp dụng thuế độc thân sẽ làm tăng gánh nặng tài chính cá nhân và làm ảnh hưởng đến nền kinh tế Đời sống hiện đại, nhất là ở các thành phố lớn, đòi hỏi rất nhiều chi phí Ví dụ, trong khi các công ty thường cung cấp nhiều gói giảm giá cho các gia đình và cặp đôi, thì những người độc thân thường phải trả đầy đủ tiền cho nhà ở, gói cước điện thoại di động, thẻ thành viên phòng tập thể dục, đăng ký sử dụng Internet, không được sử dụng các ưu đãi sử dụng dịch vụ
ăn uống hay nghỉ dưỡng cho các cặp đôi và gia đình Giá xăng xe ngày càng đắt
đỏ khiến cho những người độc thân phải chịu thêm một phần chi phí nữa, hoặc
4 Xem: Luật Quản lý thuế 2019
5 Xem: điều 26, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR)
Trang 13những người độc thân không phải lúc nào cũng có thể tiếp cận các khoản giảm giá như thẻ tàu hai người Two Together ở Vương quốc Anh.6 Vậy nên, việc đặt
ra thêm một khoản thuế mới chắc chắn sẽ là một gánh nặng tài chính cho những người lao động đang độc thân, nhất là khi họ có thu nhập trung bình hoặc thấp Điều này khiến họ phải cắt giảm chi tiêu, từ đó giảm thiểu lượng cầu, mà lượng cầu giảm dẫn đến nguồn cung cũng dần dần phải giảm theo Khi đó, quy mô thị trường kinh tế thu hẹp, kìm hãm tiêu dùng làm mất một động lực lớn của tăng trưởng kinh tế
3.2 Về xã hội: Áp dụng thuế độc thân có thể làm phát sinh những hành
động như kết hôn giả để gian lận và trốn thuế
3.2.1 Cơ sở pháp lý
Điểm a khoản 2 điều 5 (Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình) trong Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014: “Cấm các hành vi kết hôn giả tạo, ly hôn giả
tạo”.
Khoản 11 điều 3 (Giải thích từ ngữ) trong Luật hôn nhân và gia đình năm
2014: “Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú,
nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình”.
Điểm d khoản 2 điều 59 (Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và
vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng) trong nghị định 82/2020/NĐ-CP: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi
sau: “Lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt
Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình”.
3.2.2 Phân tích
Thứ nhất, việc kết hôn giả tạo để trốn thuế 7sẽ làm cho việc xác minh và quản lý tình trạng hôn nhân hợp pháp của nhà nước trở nên khó khăn, đặc biệt là gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc quản lý Cơ quan thuế và các cơ quan
6 “Áp lực chi phí của những người độc thân”, báo VTV Online, 28/08/2024 (Xem: https://vtv.vn/xa-hoi/ap-luc-chi-phi-cua-nhung-nguoi-doc-than-20240828152323277.htm )
7 Xem: khoản 11, Điều 3, Hiến pháp 2013