1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn học trung Đại ii thuyết trình về tác giả hồ xuân hương

40 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thuyết trình về tác giả Hồ Xuân Hương
Người hướng dẫn Ma Thị Huệ, Giảng viên
Trường học Trường Đại Học Đồng Nai
Chuyên ngành Văn học trung đại
Thể loại Thuyết trình
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 151,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. TIỂU SỬ (5)
    • 1. Lý lịch Hồ Xuân Hương...................................................................... 4 2. Cuộc đời Hồ Xuân Hương (5)
  • II. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC................................................................... 6 1. Tác phẩm.............................................................................................. 6 2. Nội dung (7)
    • 2.1. Lưu hương kí (7)
    • 2.2. Xuân Hương thi tập...................................................................... 9 1. Tìm hiểu, đánh giá Xuân Hương thi tập.......................... 9 2. Tiếng nói đả kích, tố cáo................................................. 11 3. Sức sống mãnh liệt, lòng yêu cuộc sống tha thiết (10)
    • 3.3. Ngôn ngữ (25)
    • 3.4. Nghệ thuật xây dựng hình tượng............................................... 26 4. Kết luận (27)
  • III. TÁC PHẨM BÁNH TRÔI NƯỚC (31)
    • 1. Hoàn cảnh sáng tác............................................................................ 29 2. Thể loại............................................................................................... 30 3. Bố cục.................................................................................................. 31 4. Đề tài................................................................................................... 31 5. Nội dung (31)

Nội dung

Một ngôinhà riêng tại gần bờ Hồ Tây đã chứng kiến những bước chân của bà vàngôi nhà này đã được đặt tên là "Cổ Nguyệt Đường." Trong cuộc sốngvốn đầy những khó khăn và biến cố, Hồ Xuân Hư

TIỂU SỬ

Lý lịch Hồ Xuân Hương 4 2 Cuộc đời Hồ Xuân Hương

- Hồ Xuân Hương, tên thật là Hồ Phi Mai, là con gái độc nhất của ông

Hồ Phi Diễn, tuy vậy nhưng bà chỉ là con của người thiếp họ Hà.

Bà sinh tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, vào cuối thời Lê, góp phần vào lịch sử và văn hóa địa phương Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có nhiều tài liệu chính thức xác định chính xác năm sinh và năm mất của bà, khiến thông tin về cuộc đời bà còn nhiều bí ẩn.

Hồ Xuân Hương sống chủ yếu tại kinh thành Thăng Long, nay là Hà Nội, trong một ngôi nhà riêng gần bờ Hồ Tây, được gọi là "Cổ Nguyệt Đường." Trải qua cuộc sống đầy biến cố và khó khăn, bà đã để lại dấu ấn tài hoa trong thơ ca, với những bài thơ sắc sảo và thậm chí nghịch ngợm.

- Mặc dù cuộc đời bà rất đa dạng và gian khổ, với hai cuộc hôn nhân đều kết thúc trong cô đơn, nhưng Hồ Xuân Hương vẫn tạo dựng mối quan hệ thân thiết với nhiều danh sĩ nổi tiếng của thời đại Bà thường xuyên rong ruổi và giao tiếp với các tài năng văn chương và tri thức, để lại dấu ấn không thể phai mờ trong văn hóa Việt Nam Hồ Xuân Hương, một tượng đài vĩ đại của văn học nước nhà, tiếp tục là nguồn cảm hứng vĩnh cửu cho thế hệ sau trong việc khám phá nghệ thuật và văn chương.

2 Cuộc đời Hồ Xuân Hương

Khi Hồ Xuân Hương mới 13 tuổi, gia đình bà phải đối mặt với nỗi đau mất mát khi cha qua đời Cuộc sống thay đổi đột ngột khi bà cùng mẹ rời quê hương đến làng Thọ Xương gần Thăng Long để tìm kiếm tương lai mới Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, ước mơ học tập của Hồ Xuân Hương chấm dứt sớm, buộc bà phải bỏ học và trở thành người lao động để kiếm sống.

Trong tuổi thiếu niên, Hồ Xuân Hương đã nổi tiếng với khả năng học hành và sáng tác thơ xuất sắc Tuy nhiên, xã hội Việt Nam thời đó chịu ảnh hưởng của tư tưởng "trọng nam khinh nữ," gây ra nhiều khó khăn và thách thức đối với phụ nữ Những quy định và định kiến xã hội này đã trở thành rào cản lớn ảnh hưởng đến cuộc sống và sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương.

Hồ Xuân Hương nổi bật với vẻ đẹp mê hoặc, tài năng vượt trội và cá tính mạnh mẽ, là nữ sĩ tài hoa có nhiều mối quan hệ trong xã hội Tuy nhiên, cuộc đời tình cảm của bà đầy bi kịch, trải qua ít nhất hai hoặc thậm chí ba cuộc hôn nhân đều kết thúc trong bất hạnh và danh xưng vợ lẽ Dù có hoạt động văn chương nổi bật và gặp gỡ nhiều nhân vật tài năng, cuộc sống cá nhân của Hồ Xuân Hương vẫn đầy thử thách và trắc trở.

Cuộc hôn nhân đầu tiên của bà với người được gọi là Tổng Cóc đã diễn ra trong hoàn cảnh đặc biệt Mặc dù chồng bà giàu có và tài năng, nhưng ông lại ưa thích tiêu tiền và hoang phí, gây ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình.

Vợ cả của ông thường ghen tuông và hãm hại Hồ Xuân Hương, khiến bà phải rời khỏi nhà khi đang mang thai.

Bà kết hôn với ông Phủ Vĩnh Tường trong một cuộc hôn nhân không hạnh phúc, mang lại nỗi buồn và cô đơn Trong cuộc đời, bà có một đứa con trai, nhưng người chồng thứ hai của bà qua đời chỉ sau hai năm, khiến cuộc sống của bà thêm phần đau lòng Từ đó, bà sống cuộc đời đầy cô đơn cho đến hơi thở cuối cùng, ghi dấu bằng những khó khăn và mất mát.

SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC 6 1 Tác phẩm 6 2 Nội dung

Lưu hương kí

Tập thơ của Hồ Xuân Hương gồm cả thơ chữ Hán và chữ Nôm, thể hiện sự đa dạng trong các tác phẩm của bà Mặc dù gọi là thơ, nhưng trong đó còn lẫn các bài ca, từ ngữ thể hiện nét đặc trưng của văn hóa truyền thống Việt Nam Tập thơ này do Trần biên soạn, thể hiện giá trị văn học và lịch sử phong phú của thời kỳ ấy.

Thanh Mại phát hiện và giới thiệu lần đầu vào năm 1964, sau đó lại bị thất lạc Học giả Hoàng Xuân Hãn kết hợp thông tin từ những bài thơ trong đó với những ghi chép khác và đã tìm được một vài điểm thú vị bổ khuyết thêm cho tiểu sử của bà.

- “Lưu hương kí” là một tập thơ trữ tình, nói rõ hơn, đó là tập thơ tình yêu

Tình yêu trong "Lưu hương kí" thể hiện qua cả tự bạch và những lời bộc bạch qua thơ xướng họa đều là tiếng nói chân thực xuất phát từ trái tim chân thành, đầy đắm say và mong muốn được yêu thương Tác phẩm phô diễn nhiều gam màu cảm xúc như buồn vui, thương nhớ, tủi phận hơn duyên, trách móc, thở than, dặn dò, thề hẹn, lo sợ, tin tưởng, đưa tiễn, ngóng trông, tương tư, mơ tưởng, cùng với sự chung thủy tuyệt đối.

Trong tập thơ thể hiện tình yêu cởi mở, tự do, phóng túng vượt qua mọi khuôn mẫu xã hội, lễ giáo phong kiến quy định Tập thơ không chỉ gồm vài bài hát mà là cả một tuyển tập phản ánh khát vọng giải phóng cảm xúc mạnh mẽ, đặc biệt khi nhân vật chính là nữ giới, thể hiện ý chí phản kháng đối với Nho giáo và phong kiến, từ đó khẳng định sức mạnh của tình yêu và tự do cá nhân.

Trong "Lưu Hương Kí", tình yêu chân thực thể hiện sự cởi mở, phóng túng và tự do đến mức mãnh liệt, nhưng nữ sĩ vẫn biết giữ gìn lễ nghĩa dựa trên đạo lý truyền thống của dân tộc Xuân Hương thể hiện tình yêu đa dạng và đắm say mà không buông thả, phóng túng nhưng không sỗ sàng, khát khao yêu đương nhưng vẫn giữ gìn phẩm giá và đạo đức.

- “Lưu hương kí” thể hiện một khía cạnh khác của Hồ Xuân Hương, đó là một người phụ nữ dịu dàng, đầy tâm sự về tình duyên.

Trong "Lưu hương kí", ghi chép chi tiết về các bạn trai, bạn thơ, bạn tình của Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hầu, Trần Hầu, Tốn Phong Thị, Mai Sơn Phủ, Thạch Đình, Cự Đình, Thanh Liên, Chí Hiên, thể hiện mối quan hệ đa dạng và phong phú trong cuộc đời nữ sĩ Các ghi chú này giúp làm rõ cuộc sống riêng tư và các mối quan hệ tình cảm của Hồ Xuân Hương, góp phần hiểu rõ hơn về tác phẩm và tâm hồn của bà Thông qua đó, ta có thể thấy rõ sự phong phú trong mối quan hệ tình cảm của nữ thi sĩ, đồng thời mở rộng kiến thức về các nhân vật có ảnh hưởng trong đời bà Đây cũng là nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu về cuộc đời và sáng tác của Hồ Xuân Hương, phù hợp với các chiến lược SEO về văn học, lịch sử và nghệ thuật Việt Nam.

- Ví dụ điển hình cho những mối duyên “lướt qua” trong đời của nữ sĩ họ

Trong bài viết này, chúng ta khám phá cuộc gặp gỡ định mệnh giữa chàng Tốn Phong và Hồ Xuân Hương, một câu chuyện tình đầy ngang trái không thể thành đôi Trước khi chia ly, Tốn Phong đã gửi tặng nàng tập thơ do chính mình sáng tác, thể hiện tấm lòng chân thành và sự trân trọng dành cho người mình yêu Đáp lại, Hồ Xuân Hương đã sáng tác bài thơ “Họa Tốn Phong nguyên vận”, như một lời thay lời trái tim và ký ức về cuộc gặp gỡ cuối cùng đầy xúc động Đây là câu chuyện tình cảm sâu sắc, thể hiện vẻ đẹp của tình yêu nghệ thuật và nỗi niềm tiếc nuối trong những cuộc chia ly không mong muốn.

Kiếp này chẳng gặp nữa thì liều, Những chắc trăm năm há bấy nhiêu, Nghĩ lại luống đau cho phận bạc, Nói ra thêm nhẹ với thân bèo.

Chén thề thuở nọ tay còn dính, Món tóc thời xưa vẫn cánh đeo, Được lứa tài tình cho xứng đáng, Nghìn non muôn nước cũng tìm theo.

Tập thơ của Hồ Xuân Hương là nguồn tư liệu quan trọng giúp khám phá cuộc đời và sự nghiệp của nữ sĩ Nó giúp độc giả hiểu rõ hơn về thế giới nội tâm, tình cảm và những trải nghiệm cá nhân của bà Ngoài những bài thơ Nôm trào phúng nổi tiếng, tập thơ còn mở ra một góc nhìn mới về Hồ Xuân Hương, thể hiện sâu sắc nét đẹp tâm hồn và khả năng sáng tạo của nữ thi sĩ.

"Lưu hương ký" thể hiện Hồ Xuân Hương không chỉ là một nhà thơ Nôm tài ba mà còn sở hữu kiến thức sâu rộng về Hán học, chứng tỏ tài năng và sự đa dạng trong phong cách sáng tác của bà.

Xuân Hương thi tập 9 1 Tìm hiểu, đánh giá Xuân Hương thi tập 9 2 Tiếng nói đả kích, tố cáo 11 3 Sức sống mãnh liệt, lòng yêu cuộc sống tha thiết

2.2.1 Tìm hiểu, đánh giá Xuân Hương thi tập

“Xuân Hương thi tập” là một tập thơ Nôm nổi tiếng của nhà thơ Hồ Xuân Hương, lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1913, góp phần khắc họa rõ nét nét đẹp văn học dân gian Việt Nam Tập thơ gồm khoảng 60 bài, thể hiện sâu sắc những suy tư và cảm xúc phong phú của nữ thi sĩ, tuy nhiên còn có một số bài được cho là không phải của chính bà Tập thơ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam mà còn thể hiện nét đặc trưng của thơ Nôm, góp phần giữ gìn và phát triển truyền thống văn học dân tộc.

- Vấn đề "dâm" và "tục" trong thơ Nôm, Xuân Hương đã gây tranh cãi trong nhiều năm Một số người cho rằng thơ của Hồ Xuân Hương quá

"dâm" và "tục", trong khi những người khác lại cho rằng đó là một phần của văn hóa dân gian và không nên bị chỉ trích.

- Hồ Xuân Hương đã sử dụng nghệ thuật nghĩa đôi, lối nói ỡm ờ, nói lái để làm người ta liên tưởng đến cái "tính dục":

Thân em như quả mít trên cây

Da nó xù xì, múi nó dầy Quân tử có thương thì đóng cọc, Xin đừng mân mó, nhựa ra tay.

Bác mẹ xin ra phận ốc nhồi, Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi.

Quân tử có thương thì bóc yếm, Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi.

Văn hóa dân gian Việt Nam có truyền thống lâu đời trong việc sử dụng yếu tố "tục" trong văn học và nghệ thuật, như thể hiện qua thơ Nôm Xuân Hương, phản ánh rõ nét trong bối cảnh văn hóa dân gian Tín ngưỡng phồn thực của người Việt cổ bắt nguồn từ nhận thức về sự duy trì nòi giống và sự sinh sôi nảy nở của con người, vật nuôi, cây trồng với ý nghĩa thiêng liêng, chứ không phải là dâm hay tục rối ren.

Ngày nay, vấn đề luyến ái nam nữ đã được cởi trói, nhiều người ca ngợi tình yêu tự do khác xa với thời phong kiến Khi con người lên tiếng đòi cuộc sống sinh lý bình thường, bị coi là dâm đãng, Hồ Xuân Hương đã phản ứng mạnh mẽ qua các hình thức phản kháng nhằm phê phán chuẩn mực đạo đức cũ kỹ Theo Bakhtin, nữ sĩ đã hạ bệ những giá trị cao đạo để chống lại giai cấp thống trị, thể hiện sự dám nghĩ dám nói và đấu tranh cho tự do tình yêu.

Thơ Nôm Xuân Hương có chứa yếu tố "tục", nhưng nguồn gốc của nó bắt nguồn từ văn hóa nhân dân lao động và kho tàng văn học dân gian Việt Nam Những yếu tố tục trong thơ của bà còn được thúc đẩy bởi các truyện Trạng Quỳnh và Trạng Lợn đã nổi tiếng từ xưa, phản ánh đời sống thực phẩm và sự phong phú của nền văn hóa dân gian Việt Nam.

Trong thơ Xuân Hương, tục không phải là mục đích cuối cùng mà là phương tiện để đả kích tầng lớp thống trị Bà sử dụng hình ảnh tục để truyền tải các thông điệp phản kháng và đấu tranh, thể hiện khát vọng giải phóng tình cảm và mong muốn hưởng hạnh phúc lứa đôi thế tục Tác phẩm của bà không chỉ phản ánh thực trạng xã hội mà còn là lời kêu gọi đấu tranh cho quyền sống và quyền yêu đương của người phụ nữ.

Khi đánh giá thơ Nôm của Xuân Hương, cần xem xét hiện tượng "dân gian hoá" và "Xuân Hương hoá", vì đây ảnh hưởng lớn đến quá trình tuyển chọn tác phẩm của bà Việc lựa chọn thơ của bà không dễ dàng, đòi hỏi sự cẩn trọng và có thể tạm oder đặt ra tiêu chuẩn tương đối là "thơ Xuân Hương" Thơ của bà mang tính tục đế rõ ràng, nhưng đó không chỉ đơn thuần là tục mà còn chứa đựng mục đích và tư tưởng, phản ánh sâu sắc đời sống và quan niệm của tác giả.

Con đường dẫn đến lâu đài văn chương và thế giới tâm hồn của người nghệ sĩ không chỉ duy nhất, và với Xuân Hương cùng thơ Nôm của bà, đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau Một trong những phương pháp hay nhất là đặt ra các câu hỏi, tìm hiểu sâu về ý nghĩa và cảm xúc trong tác phẩm để khám phá chiều sâu tâm hồn của nhà văn.

“Xuân Hương thi tập” dưới góc độ văn hoá dân gian giúp làm sáng tỏ các yếu tố truyền thống trong sáng tác của nữ sĩ Cuộc đời và thi phẩm của bà mang nhiều đặc điểm phù hợp để khám phá từ phía văn hóa dân gian, qua đó làm rõ hơn ý nghĩa của yếu tố "tục" trong thơ Xuân Hương Việc đặt thơ Nôm của nữ sĩ trong bối cảnh văn hóa dân gian giúp ta hiểu rõ hơn về các yếu tố phản ánh đời sống tinh thần và truyền thống trong tác phẩm của bà Phân tích từ góc độ này cũng giúp làm sáng tỏ những nét đặc trưng của thi ca xu hướng dân gian trong các bài thơ của Xuân Hương.

2.2.2 Tiếng nói đả kích, tố cáo

Trong xã hội phong kiến, phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi về giai cấp và giới tính, bị áp bức theo đạo "tam tòng" như những "tội nhân chung thân" phải theo đàn ông suốt đời Tuy nhiên, họ không im lặng mà đã lên tiếng phản kháng, dù chỉ là những tiếng kêu thương thất vọng Khi chế độ phong kiến suy tàn, tiếng nói của phụ nữ, như đại diện của Hồ Xuân Hương, đã hòa cùng tiếng nói của nhân dân lao động, thể hiện quyền phản kháng mạnh mẽ và khát vọng tự do.

Hồ Xuân Hương sử dụng tiếng cười châm biếm như một công cụ phản kháng mạnh mẽ trong văn học dân tộc, tập trung vào yếu tố "tục" để phê phán giai cấp phong kiến Bà tố cáo sự giả dối và đạo đức giả của các tầng lớp vua chúa, quan lại, cùng những kẻ tự phong là “quân tử” mang giá trị cao đẹp nhưng thực chất mang trong mình bộ mặt xa hoa và thối nát Thông qua tiếng cười châm biếm sắc sảo, Hồ Xuân Hương đã vạch trần bộ mặt thật của họ, phá vỡ lớp vỏ đạo đức giả và phản ánh chân thực về bản chất phù phiếm của trật tự xã hội phong kiến.

Hồ Xuân Hương đã chỉ trích rộng rãi các đối tượng from vua chúa đến quan lại, hiền nhân và quân tử, thể hiện sự mạnh mẽ trong việc phê phán xã hội phong kiến Bà không ngần ngại tự cười chính mình như một hình thức thách thức và tố cáo những đặc điểm tiêu cực của giai cấp phong kiến Tuy nhiên, tiếng cười của bà chủ yếu tập trung vào việc vạch trần thói đạo đức giả và sự giả dối của lớp thống trị, phản ánh quyết tâm và tinh thần đấu tranh mạnh mẽ của nữ thi sĩ chống lại bất công trong xã hội cũ.

Tài tử văn nhân ai đó tá Thân này đâu đã chịu già tom.

Trong chế độ phong kiến, vua chúa được coi là thiên tử có quyền lực tuyệt đối, bắt buộc bề tôi phải tuân theo mọi lệnh của vua, bất kể biết rõ tội lỗi hay không Cãi vua được xem là phạm thượng, và nhiều người đã im lìm chịu đựng hoặc bị đàn áp đến chết vì sợ hãi Tuy nhiên, về sau, một số người đã đứng lên chống lại vua khi nhận thấy họ không còn xứng đáng với vị trí của mình Hồ Xuân Hương, với thân phận nữ nhi, không trực tiếp chống lại vua mà sử dụng ngôn từ tinh tế và châm biếm để chỉ trích sự giả dối, tham nhũng của giai cấp thống trị, qua đó thể hiện sự thông minh và tài năng trong việc đấu tranh cho công lý và bình đẳng xã hội.

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy Chúa dấu vua yêu một cái này.

Hồ Xuân Hương đã chỉ trích trực diện cuộc sống trái tự nhiên của các quan lại, nhấn mạnh sự dị hợm và quái gở của họ thông qua ngôn ngữ mạnh mẽ và châm biếm Bà sử dụng những câu thơ sâu sắc như "Đố ai biết đó vông hay chóc / Còn kẻ nào hay cuống với đầu" để phản ánh về sự kỳ quặc và lố bịch của những người quan lại lệch lạc trong xã hội.

Bên cạnh những "hiền nhân quân tử", còn tồn tại một nhóm nho sĩ dốt nát, tự phụ và kiêu căng, xem mình là con quan, cậu ấm và dự đoán tương lai rực rỡ.

Hồ Xuân Hương lên án những người ngạo mạn, xem thường người khác và bỏ qua việc học hành, thay vào đó thích chơi bời, làm thơ dở và viết thơ ở chùa, miếu Bà gọi họ là "phường lòi tói" và "lũ ngẩn ngơ", tự xưng là "chị" để dạy họ làm thơ đúng cách Hồ Xuân Hương yêu cầu những kẻ hư hỏng này phải xóa bỏ những "dấu vết ô nhục" do chữ nghĩa dở của họ gây ra, bởi bà nhìn nhận đó không phải vì có thiện cảm với chùa chiền mà vì xem đó là nơi che giấu hành vi dâm đãng Sự dâm đãng này không chỉ lén lút mà còn công khai trước bàn thờ Phật, phản ánh sự suy đồi đạo đức trong xã hội.

Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà.

Khi cảnh, khi tiu, khi chũm choẹ Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.

Ngôn ngữ

Xuân Hương sử dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, như người làm xiếc, thể hiện nghệ thuật ngôn ngữ vượt xa mức bình thường Cách viết của bà thể hiện sự tinh tế, sáng tạo và khả năng sử dụng từ ngữ một cách linh hoạt, góp phần làm nổi bật giá trị văn học trong các tác phẩm của mình Nghệ thuật ngôn ngữ của Xuân Hương không chỉ mang tính biểu cảm cao mà còn phản ánh rõ nét tài năng sáng tạo vượt trội của bà trong lĩnh vực văn học Việt Nam.

Bà sử dụng từ ngữ hiểm hóc một cách tự nhiên, không mài giũa, trau chuốt, góp phần tạo nên phong cách thơ đặc trưng của Hồ Xuân Hương Những từ ngữ này là công cụ lợi hại giúp bà thể hiện sự sắc nét, đanh thép trong những câu thơ, đồng thời là vũ khí đánh lừa đối phương, khiến họ không dám phản kháng Ngoài ra, các từ ngữ hiểm hóc còn mang tính gợi tả sâu sắc, như hình ảnh trăng thu “đỏ lòm lom”, nước hay gió “vỗ phập phòm”, “rơi lõm bõm”, giúp bộc lộ vẻ đẹp hình thức và tâm hồn của người phụ nữ — nhân vật trung tâm trong các tác phẩm của bà Hồ Xuân Hương còn đặc biệt chú ý sử dụng tính từ chỉ màu trắng và đỏ để thể hiện rõ nét vẻ đẹp đặc trưng của nhân vật và nội tâm trong sáng, nồng nàn của những bài thơ trữ tình.

Hồ Xuân Hương sử dụng đa dạng các loại số từ như số từ xác định, số từ không xác định, số từ chỉ thời gian, địa điểm, số từ cụ thể, ước lệ, số thực và hằng số để thể hiện ý nghĩa trong thơ Những "con số biết nói" này không còn mang tính ký hiệu toán học mà trở thành biểu tượng biểu đạt cảm xúc, ý nghĩ sâu sắc của tác giả Bà còn sử dụng từ láy một cách tài tình, thể hiện bản lĩnh nghệ thuật và sức sống mãnh liệt, giúp định lượng và định tính vẻ đẹp của sự vật một cách chân thực và sinh động.

Hồ Xuân Hương thường sử dụng kỹ thuật nói lái và lối nói ỡm ờ của dân gian trong các truyện tiếu lâm, truyện cười để thể hiện sự sáng tạo và sắc thái dân gian độc đáo Bà không ngần ngại dùng những câu văng tục khi cần thiết để tăng tính chân thực và sức ảnh hưởng của tác phẩm Chính phong cách dí dỏm, thẳng thắn này giúp các tác phẩm của Hồ Xuân Hương ghi dấu ấn mạnh mẽ trong lòng độc giả và thể hiện rõ nét tinh thần tự do, phóng khoáng của nữ thi sĩ.

Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo

Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

- Bà bắt chước âm thanh cũng rất tài tình:

Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông

Nó bảo nhau rằng ấy ái uông.

Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe Giọng hì,giọng hỉ,giọng hi ha.

- Đặc biệt Hồ Xuân Hương đã xưng tên mình trong thơ, một lối nói rất

Hồ Xuân Hương thể hiện ý thức cá nhân và cái tôi phóng túng qua việc sử dụng từ “thân này” và xưng tên trong tác phẩm Bà còn sử dụng từ “em” – biểu tượng của sự thân thương, khiêm nhường và dễ mến – đã xuất hiện trong ca dao dân ca từ lâu nhưng mãi đến Hồ Xuân Hương và gần một thế kỷ sau mới được đưa vào văn học viết Ngoài ra, ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, thành ngữ, tục ngữ, ca dao cũng được bà vận dụng thành công, chính xác và đầy sức thuyết phục Bà ít dùng chữ Hán, trừ khi nhằm mục đích giễu cợt như trong bài thơ “Bỡn bà lang khóc chồng”.

Nghệ thuật xây dựng hình tượng 26 4 Kết luận

Xuân Hương sử dụng ngôn ngữ dân gian một cách độc đáo, thể hiện bản lĩnh và khát khao sống mãnh liệt qua những hình ảnh chân thực, sinh động Với cặp mắt quan sát sắc sảo và biết lựa chọn những chi tiết cần thiết, bà tạo dựng nên hình tượng văn học mang tính độc đáo, không lẫn vào đâu được Phong cách sáng tạo của Xuân Hương góp phần xây dựng dấu ấn riêng, làm nên nét đặc trưng trong nghệ thuật của mình.

- Hình ảnh trong thơ Xuân Hương sinh động, góc cạnh, luôn chuyển động chứ không chết dí một chỗ Cành thông thì "lắt lẻo", lá liễu thì

Bản thân những cảnh vật như cọng rêu, mặt đất, hòn đá núi ở chân mây luôn sống động, không chịu im lìm mà bung sức mạnh ra bên ngoài Màu sắc thiên nhiên thường đậm và nóng, như đỏ "đỏ loét", đỏ "lòm lom", đỏ "như son", xanh thì rực rỡ "xanh rì", trắng tinh khôi "trắng phau" Ánh sáng cũng thay đổi rõ nét, trong thì "trong leo lẻo", tối thì "tối om om", sáng chói "sáng banh", và trưa thì "trưa trật", tạo nên bức tranh thiên nhiên đa dạng và đầy sức sống.

Xuân Hương không chỉ chú ý đến màu sắc một cách bình thường mà còn xem chúng như những âm thanh cần phát ra, phải xé toạc, phải cao độ, thể hiện sự sáng tạo mạnh mẽ Cái nhìn của bà như một nhát dao sắc lẹm, đẽo gọt từng đối tượng để tạo nên những hình khối và đường nét sắc sảo, gây ấn tượng mạnh mẽ với người xem.

Trời đất sinh ra đá một chòm Nứt ra đôi mảnh hõm hòm hom.

(Hang Cắc Cớ) Đứng trẻo trông theo cảnh hắt heo Đường đi thiên thẹo quán cheo leo.

Bà không chỉ nhìn thấy vẻ đẹp bên ngoài của cảnh vật mà còn cảm nhận được sức sống mãnh liệt đang trào dâng bên trong chúng Trong thơ của bà, những cảnh vô tri vô giác như có hồn, bởi chính sức sống do bà truyền vào đã làm cho chúng trở nên sống động, chân thực hơn rõ nét.

- Âm thanh cũng thường là chẳng êm dịu chút nào Nó như "đấm”, như

“thụi" vào tai người nghe:

Gió giật sườn non khua lắc cắc Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.

Luồng gió thông reo vỗ phập phòm Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm.

Đọc thơ Xuân Hương yêu cầu sự tập trung của tất cả các giác quan như mắt, tai, sờ để cảm nhận sâu sắc nội dung và cảm xúc trong tác phẩm Trong khi đó, các giác quan như nếm và ngửi ít có vai trò hơn so với thị giác, thính giác, xúc giác trong việc trải nghiệm thơ của bà Thơ Xuân Hương chủ yếu kích thích cảm giác mạnh mẽ như nhìn, nghe, sờ, mó, điều này làm bà xứng đáng là nhà thơ của cảm giác chân thực và mãnh liệt.

Xuân Hương bị một số người phê bình là miêu tả cảnh vật quá tay, thậm chí làm nó trở nên xấu đi hoặc khó coi, bởi vì bà muốn xây dựng hình ảnh hai hoặc ba nghĩa để gây chú ý Tuy nhiên, điều này xuất phát từ tính cách sống mãnh liệt, giác quan nhạy bén và quan điểm thẩm mỹ ưa thích sự đậm đặc, gân guốc, khoẻ mạnh của bà Do đó, những bức tranh của Xuân Hương thể hiện sự thực chân thực vừa với cảnh vật, vừa với tâm hồn bà, phản ánh tính chân thật trong sáng tạo của nhà thơ.

Cuộc đời và thơ của Hồ Xuân Hương là một hiện tượng văn học phức tạp, còn nhiều điều chưa rõ ràng, nhưng chúng ta tự hào vì bà là nữ thi tài nổi bật trong nền văn học Việt Nam Trong xã hội phong kiến mục ruỗng, sự xuất hiện của một nữ thi sĩ như Hồ Xuân Hương thể hiện tài năng vượt trội và độc lập, và đến nay, chưa có ai tiến xa hơn trong lĩnh vực này Về khả năng sáng tạo và tài thơ, Hồ Xuân Hương không hề thua kém bất kỳ ai, khẳng định vị trí xứng đáng trong lòng độc giả và trong lịch sử văn học Việt Nam.

Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ dám thể hiện nội dung tư tưởng và tình cảm chân thực qua thơ ca, thể hiện sự khâm phục trước lòng dũng cảm của bà Những suy nghĩ và cảm xúc của bà không phải ai cũng dám phát biểu, đặc biệt trong xã hội phong kiến khắc nghiệt Khi viết, Hồ Xuân Hương không ngần ngại thể hiện quan điểm cá nhân một cách mạnh mẽ và bạo dạn, từ "Lưu Hương kí" đến tập "Xuân Hương," bà đã khẳng định vị trí của một nữ thi sĩ có tiếng nói riêng trong văn học Việt Nam.

Trên thế giới, những thiên tài thơ trữ tình rất hiếm, đặc biệt trong lĩnh vực thơ trào phúng, nhất là ở nữ giới, nhưng tại Việt Nam đã có một nữ thiên tài trong lĩnh vực này Những cảm xúc như nụ cười, tiếng khóc, niềm vui và nỗi buồn thường hòa quyện trong một con người, làm cho ý nghĩa của khổ đau và hạnh phúc không thể tách rời nếu không trải qua những giọt nước mắt hay tiếng cười Tiếng cười pha lẫn nước mắt đã trở thành một biểu tượng của những cảm xúc sâu xa, trong đó cười không hẳn là vui và khóc không hẳn là buồn Điều này thể hiện rõ qua những nhân vật của Molière trên sân khấu, dù cười thoải mái khi xem, nhưng sau đó, những cảm xúc xao xuyến, xốn xang vẫn còn đọng lại trong lòng người.

Hồ Xuân Hương không chỉ nổi bật với tiếng cười và lời chế giễu mà còn là tiếng kêu than uất ức, thậm chí chứa đựng những giọt nước mắt mà bà cố nuốt đi Những tiếng khóc thầm của bà là biểu hiện của nỗi đau thương sâu sắc, thể hiện rõ nét trong các tác phẩm của bà Dù Xuân Hương không rơi nước mắt để tránh làm nhụt chí người khác hoặc để thể hiện sự mạnh mẽ, nhưng những nỗi niềm tâm sự vẫn luôn tồn tại trong lòng bà Chính những tiếng khóc thầm, âm thầm này phản ánh rõ nét tâm trạng bất lực và đau đớn của bà Hồ Xuân Hương vừa là nhà thơ trào phúng, vừa là nhà thơ trữ tình, trong đó chất trữ tình không chỉ nằm trong tác phẩm như "Lưu hương kí" mà còn tràn đầy trong toàn bộ thi tập của bà, bao gồm cả yếu tố châm biếm và cảm xúc sâu lắng Thơ của Xuân Hương được truyền tụng và yêu thích chính vì sự pha trộn độc đáo giữa trào lộng và tình cảm chân thành.

Một trong những đặc trưng cơ bản của văn học trung đại là tính quy phạm, phản ánh các chuẩn mực xã hội và giá trị đạo đức của thời kỳ đó Tuy nhiên, từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, tính quy phạm trong văn học bắt đầu bị vi phạm và ngày càng mang tính bất quy phạm, thể hiện sự thay đổi trong tư duy và xã hội Trong dòng chảy này, thơ Nôm của Xuân Hương nổi bật với phong cách bất quy phạm, góp phần thể hiện cá tính sáng tạo và phản kháng, giúp bà trở thành một trong những nhà thơ nổi bật và bất quy phạm nhất của văn học trung đại Việt Nam.

TÁC PHẨM BÁNH TRÔI NƯỚC

Hoàn cảnh sáng tác 29 2 Thể loại 30 3 Bố cục 31 4 Đề tài 31 5 Nội dung

Bài thơ "Bánh trôi nước" của Hồ Xuân Hương được sáng tác vào cuối thế kỷ 18 hoặc đầu thế kỷ 19, nhưng thời gian chính xác không rõ ràng do thiếu thông tin cụ thể về ngày tháng Trong bối cảnh lịch sử phong kiến Việt Nam, xã hội còn nhiều khắc nghiệt đối với phụ nữ, đặc biệt là tầng lớp phụ nữ trí thức và lao động Hồ Xuân Hương, với tư cách là người phụ nữ có học vấn sống trong môi trường xã hội đầy bất công, đã thể hiện rõ những tâm tư, khát vọng và tiếng nói phản kháng qua các tác phẩm của mình.

Trong thời kỳ này, vai trò của phụ nữ chủ yếu gói gọn trong ba chữ "tam tòng tứ đức" (tòng phu, tòng tử, tòng gia; công, dung, ngôn, hạnh), khiến họ bị gò bó trong các chuẩn mực khắt khe của xã hội và thiếu cơ hội thể hiện bản thân Những hạn chế này có thể đã là nguồn cảm hứng cho Hồ Xuân Hương sáng tác "Bánh trôi nước", như một cách thể hiện sự phản kháng ngầm đối với những bất công đó Bài thơ này thể hiện khát vọng tự do, mong muốn thoát khỏi những ràng buộc của xã hội và gia đình Dù sống trong một xã hội thiếu quyền cho phụ nữ, Hồ Xuân Hương vẫn qua các tác phẩm của mình, đặc biệt là "Bánh trôi nước", gửi gắm thông điệp về khát vọng tự do và sự khẳng định giá trị cá nhân.

Hồ Xuân Hương đã trải qua nhiều đau khổ trong cuộc sống cá nhân, bao gồm những thất bại trong hôn nhân và khó khăn của phụ nữ thời phong kiến Những trải nghiệm này đã trở thành nguồn cảm hứng thúc đẩy bà sáng tác những tác phẩm mạnh mẽ và ẩn ý, điển hình như "Bánh trôi nước", nơi người phụ nữ thể hiện vẻ đẹp dịu dàng nhưng cũng vô cùng kiên cường, mạnh mẽ trong cuộc sống.

Thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu được thể hiện qua phong cách thất ngôn bát cú hoặc thất ngôn tứ tuyệt, với bút pháp điêu luyện và sáng tạo Trong đó, các tác phẩm chữ Nôm của bà thể hiện phần đặc sắc hơn chữ Hán, góp phần làm nổi bật phong cách độc đáo của bà Các ý tưởng trong thơ Hồ Xuân Hương rất táo bạo, phản ánh những suy nghĩ không ngại điều cấm kỵ, mặc dù điều đó trái với lễ giáo đương thời.

Bài thơ “Bánh trôi nước” được sáng tác theo thể Thất ngôn tứ tuyệt, với những câu thơ ngắn gọn nhưng chứa đựng nội dung sâu xa Chính vì vậy, tác phẩm này đã giúp bà được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”, nổi bật với những câu thơ hàm súc nhưng chứa đựng ý nghĩa sắc sảo.

- Hai câu đầu: Hình ảnh chiếc bánh trôi nước

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non

Hai câu thơ này mô tả hình ảnh chiếc bánh trôi nước trắng tròn, được luộc trong nước sôi Bánh thường nổi khi thì chìm, thể hiện hình ảnh sinh động, chân thực và gần gũi với đời sống dân dã Việt Nam Đây là hình ảnh quen thuộc, gợi nhớ về nét đẹp truyền thống và sự giản dị trong văn hóa ẩm thực của người Việt.

+ Đồng thời, hình ảnh "bảy nổi ba chìm" gợi liên tưởng đến thân phận long đong, lận đận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

- Hai câu cuối: Vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

+ Hai câu thơ này thể hiện sự kiên định, tấm lòng son sắt của người phụ nữ dù cuộc đời gặp nhiều sóng gió, bất trắc.

+ “Tay kẻ nặn” ẩn dụ cho xã hội phong kiến đầy bất công, nơi người phụ nữ không có quyền tự quyết định số phận.

+ "Tấm lòng son" thể hiện tấm lòng thuỷ chung son sắt của người phụ nữ.

Bài thơ "Bánh trôi nước" phản ánh số phận bi đát của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, qua đó thể hiện phẩm chất tốt đẹp và tấm lòng thủy chung, son sắc của phụ nữ Việt Nam Tác phẩm nhấn mạnh rằng những người phụ nữ tuổi trẻ, đẹp đẽ nhưng gặp nhiều thử thách, vẫn giữ vững lòng trung thành và tinh thần vượt qua khó khăn trong cuộc sống "Bánh trôi nước" vừa là biểu tượng cho vẻ đẹp thuần khiết, vừa thể hiện nghị lực, ý chí kiên cường của người phụ nữ trong xã hội cũ Nội dung bài thơ giúp người đọc hiểu rõ hơn về hình ảnh người phụ nữ truyền thống, đồng thời gửi gắm niềm xúc động và trân trọng đối với phẩm chất cao quý của họ.

Bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương là tác phẩm đặc sắc thể hiện rõ tâm trạng cùng khát vọng sâu kín của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Hồ Xuân Hương sử dụng hình ảnh chiếc bánh trôi nước để phản ánh số phận và nỗi niềm của phụ nữ, thể hiện sự kết nối giữa vẻ đẹp mong manh, trong sáng và những nỗi đau, Ếo le mà họ phải chịu đựng trong cuộc sống.

5.1 Phân tích chi tiết nội dung bài thơ

5.1.1 Hình ảnh chiếc bánh trôi nước

- Mở đầu bài thơ, tác giả dùng hình ảnh chiếc bánh trôi nước để thể hiện hình ảnh người phụ nữ:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non

Câu thơ “Thân em vừa trắng lại vừa tròn” không chỉ mô tả vẻ đẹp của chiếc bánh trôi nước mà còn tượng trưng cho vẻ đẹp trong sáng, thuần khiết của người phụ nữ Từ “trắng” thể hiện sự trong sáng, sạch sẽ, còn “tròn” biểu tượng cho nét duyên dáng, tròn trịa của người phụ nữ Việt Nam Đây là hình ảnh thể hiện vẻ đẹp thuần khiết, đầy nữ tính và sự tinh khôi, góp phần tôn vinh giá trị truyền thống trong văn hóa Việt.

"Tròn" tượng trưng cho sự viên mãn, hoàn hảo trong cuộc sống và tâm linh Đồng thời, từ này còn phản ánh hình ảnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, thể hiện sự đầy đặn về phận số, mang trách nhiệm gánh vác gia đình và tuân theo những quy chuẩn xã hội Đây là biểu tượng của sự cân đối, trọn vẹn cả về tinh thần lẫn trách nhiệm xã hội của người phụ nữ xưa.

Hình ảnh “Bảy nổi ba chìm với nước non” là biểu tượng cho cuộc đời đầy biến động của người phụ nữ, phản ánh khả năng thích nghi với những thay đổi không ngừng của cuộc sống Cụ thể, câu tục ngữ thể hiện rằng người phụ nữ phải đối mặt với nhiều thử thách, tác động từ ngoại cảnh như dòng nước cuộn trào, tượng trưng cho những thăng trầm trong cuộc đời Đặc biệt, hình ảnh này nhấn mạnh rằng nữ giới luôn phải chấp nhận số phận, dù cuộc sống có lúc thuận lợi, lúc gian nan, và luôn cố gắng vượt qua mọi khó khăn để giữ vững cuộc sống của mình.

5.1.2 Sự cam chịu và hy sinh

- Trong phần tiếp theo, Hồ Xuân Hương miêu tả những sự chịu đựng, cam chịu mà người phụ nữ phải trải qua:

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Hình ảnh “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” thể hiện sự chịu đựng và chấp nhận mọi tác động từ bên ngoài, dù chiếc bánh trôi nước bị nặn bằng tay của người khác và trở nên nát hoặc rắn cứng vẫn không làm thay đổi bản chất của nó Điều này phản ánh tâm trạng của người phụ nữ, khi họ phải chấp nhận cuộc đời bất công, khó khăn và đau khổ mà không thể thay đổi thân phận của mình.

Dù cuộc sống có nhiều thử thách và đẩy đọa, người phụ nữ vẫn giữ vững tấm lòng son, biểu tượng của sự trong sạch, trung thực và thuần khiết trong nhân cách Tấm lòng son thể hiện sự kiên cường và phẩm chất cao quý, cho thấy dù đối mặt với khó khăn, họ vẫn trung thành với giá trị đạo đức và giữ vững nhân phẩm.

Bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương kết hợp hình ảnh cụ thể của chiếc bánh trôi nước với ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến Tác phẩm không chỉ thể hiện sự yếu đuối, mỏng manh của người phụ nữ mà còn tôn vinh phẩm hạnh cao quý và lòng kiên cường, bất chấp những thử thách nghịch cảnh.

Bài thơ sử dụng hình ảnh giản dị nhưng chứa đựng sức mạnh biểu tượng, truyền tải thông điệp về sự chịu đựng và hy sinh Đồng thời, tác phẩm còn nhấn mạnh tầm quan trọng của lòng tự trọng và khát vọng duy trì phẩm hạnh trong một xã hội đầy biến động.

Ngày đăng: 19/07/2025, 19:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w