Ví dụ: Trong câu chuyện “Ở vương quốc tương lai”, chủ điểm Trên đôi cánh ước mơ, SGK 4, giáo viên có thể phân vai để trẻ đọc lại câu chuyện theo từng tuyến nhân vật: Tin-tin, em bé thứ n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
MÔN CƠ SỞ VIỆT NGỮ CỦA DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC 1
BÀI THU HOẠCH CHỦ ĐỀ 2
HỌ VÀ TÊN: BÙI PHƯƠNG NGÂN
MÃ SINH VIÊN: 725914054 LỚP K KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Hà Nội, 2023
Trang 2Câu 1 Trên cơ sở lí thuyết hoạt động lời nói, theo anh ( chị ) hãy:
a Quan niệm thế nào là một bài tập tình huống lời nói?
b Đưa ra các biện pháp tạo tình huống lời nói vận dụng trong giờ dạy Tiếng Việt ở tiểu học Cho ví dụ minh họa
a Trên cơ sở lí thuyết hoạt động lời nói, bài tập tình huống lời nói là loại bài tập xây dựng tình huống để học sinh đặt mình vào các hoàn cảnh nói năng, sản sinh ra những câu, đoạn, bài đã được dự tính trước Tình huống có thể là thật hoặc tình huống được miêu tả bằng lời
Từ đấy học sinh sẽ nỗ lực giải quyết các vấn đề mà bài tập đặt ra,cuối cùng đi đến hình thành các kinh nghiệm và kỹ năng giao tiếp cần thiết
b Các biện pháp tạo tình huống lời nói vận dụng trong giờ dạy Tiếng Việt ở tiểu học:
- Biện pháp 1: Cho các em đóng vai và diễn kịch lại tình huống trên lớp
Ví dụ: Trong sách giáo khoa 4, chủ điểm “Măng mọc thẳng”, khi học đến câu chuyện tập đọc Những hạt thóc giống, giáo viên có thể phân vai cho các em diễn kịch lại theo các nhân vật: nhà vua, chú bé mồ côi và thần dân Từ đó các em có thể đặt mình vào tình huống cốt truyện và thực hành tình huống lời nói
- Biện pháp 2: Cho các em tham gia vào hoạt động nhập vai theo chủ đề
Ví dụ: Giáo viên sẽ xây dựng và đưa ra cho trẻ một số chủ đề Chẳng hạn với chủ đề
“Taxi!”, hoạt động này sẽ giúp trẻ biết sử dụng các lời nói để đặt câu hỏi về phương hướng và trả lời để chỉ đường một cách chính xác
Giáo viên cung cấp một số từ vựng liên quan dành cho trẻ: “Tên nhà hàng/công viên/địa điểm vui chơi…tại địa phương.”, “Đi thẳng/ Rẽ trái/ Rẽ phải”, “Bạn muốn
đi đâu?”, “Ngã ba/ Ngã tư tiếp theo rẽ trái.”,…
Trước đó, giáo viên đảm bảo dạy cho trẻ một số từ vựng về tên nhà, tên đường, tên địa điểm và các cách chỉ đường đi thẳng hoặc rẽ và có thể điều chỉnh độ khó theo
Trang 3mức độ tuổi học sinh khác nhau Sau khi trẻ đã nắm bắt được cơ bản, giáo viên chia trẻ thành các nhóm nhỏ, lần lượt nhập vai hành khách và người lái xe để thực hành giao tiếp theo tình huống đã đề ra
- Biện pháp 3: Phân vai cho trẻ để đọc lại lời thoại và lời dẫn của văn bản trong sách giáo khoa
Ví dụ: Trong câu chuyện “Ở vương quốc tương lai”, chủ điểm Trên đôi cánh ước
mơ, SGK 4, giáo viên có thể phân vai để trẻ đọc lại câu chuyện theo từng tuyến nhân vật: Tin-tin, em bé thứ nhất, em bé thứ hai, em bé thứ ba, em bé thứ tư, em bé cầm nho, em bé cầm táo,… để câu chuyện được kể lại đa màu sắc hơn và thực hành các tình huống lời nói cho trẻ
- Biện pháp 4: Hướng dẫn các em các bài tập, chủ điểm trên lớp và giao tình huống cho các em thực hành lại ngoài giờ học
Ví dụ: Luyện tập trao đổi ý kiến với người thân, nhóm bạn:
Đề bài: Em có nguyện vọng học thêm một môn năng khiếu (họa, nhạc, võ thuật,…) Trước khi nói với bố mẹ, em muốn trao đổi với anh (chị) để anh (chị) hiểu và ủng
hộ cho nguyện vọng của em
Hãy cùng bạn đóng vai em và anh (chị) để thực hiện cuộc trao đổi
- Biện pháp 5: Kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc
VD: Trong SGK Tiếng Việt 4, Chủ điểm “Thương người như thể thương thân”, mục
Kể chuyện: Đề bài yêu cầu “Đọc bài thơ dưới đây rồi kể lại bằng lời của em”
Nàng tiên Ốc
(Trích)
Xưa có bà già nghèo
Chuyên mò cua bắt ốc
…
Trang 4Hai mẹ con từ đó
Rất là yêu thương nhau
*LƯU Ý:
- Các tình huống được đề ra cần phù hợp với khả năng nhận thức và nhu cầu của học sinh tiểu học
- Tùy theo độ tuổi mà giáo viên có thể điều chỉnh mức độ khó và vận dụng từ ngữ bậc cao hơn cho các em
- Trước khi đi vào thực hành tình huống, giáo viên cần có hướng dẫn cụ thể, cung cấp cho trẻ một vốn từ ngữ nhất định và các hướng giải quyết tình huống để các em thực hành một cách hiệu quả nhất
- Sau mỗi bài học thực hành tình huống lời nói, giáo viên cần rút ra tổng kết, kinh nghiệm để những buổi học sau có thể đạt kết quả tốt hơn
Câu 2 a Anh ( chị ) hiểu “quan điểm giao tiếp” trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học như thế nào? Phân tích sự thể hiện của quan điểm này trong việc xử lí một tình huống dạy học hoặc giải quyết một bài tập tình huống lời nói
b Từ hiểu biết về bản chất hệ thống và tín hiệu của ngôn ngữ, theo anh (chị )
có thể vận dụng được những gì vào việc giảng dạy tiếng Việt ở tiểu học?
c Theo anh ( chị ), muốn dạy trẻ em biết đọc, biết viết cần phải chọn đơn vị nào
là cơ bản? Tại sao?
a “Quan điểm giao tiếp” trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học:
Đầu tiên, dạy tiếng theo quan điểm giao tiếp chính là một trong những nguyên tắc quan trọng của lí luận dạy tiếng hiện đại, nguyên tắc này dựa trên sự nhận thức rõ ràng về các chức năng quan trọng của ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội Và “quan điểm giao tiếp” trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học chính là cung cấp cho các em
Trang 5một nền tảng vững chắc về tiếng Việt, không chỉ học tiếng Việt một cách máy móc, thụ động mà thay vào đó, khi ngôn ngữ đang trong quá trình hoạt động của nó, các
em sẽ thấy được cơ chế thực hiện các hoạt động chức năng xã hội của ngôn ngữ
Hay nói cách khác, quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học xuất phát từ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ và hướng tới mục đích phát triển năng lực giao
tiếp cho học sinh
Lý thuyết dạy tiếng theo quan điểm giao tiếp phân tích các quá trình sản sinh và lĩnh hội lời nói, rộng hơn là nghiên cứu toàn bộ lời nói Đồng thời, quan điểm này chú ý đến các nhân tố của quá trình giao tiếp, các nhân tố này quyết định biến thể lời nói phù hợp với nhiệm vụ giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích giao tiếp Từ đó, giúp học sinh có thể phát triển được năng lực hoạt động lời nói bao gồm năng lực lĩnh hội lời nói (nghe, đọc) và năng lực sản sinh lời nói (nói, viết) Hay nói các khác là phát triển bốn kĩ năng ở các em: nghe, nói, đọc, viết
Phân tích sự thể hiện của quan điểm này trong việc xử lí một tình huống dạy học hoặc giải quyết một bài tập tình huống lời nói:
Trong SGK Tiếng Việt 4, Chủ điểm “Thương người như thể thương thân”, trang 18:
Đề bài yêu cầu “Đọc bài thơ dưới đây rồi kể lại bằng lời của em”
Nàng tiên Ốc
(Trích)
Xưa có bà già nghèo
Chuyên mò cua bắt ốc
…
Hai mẹ con từ đó
Rất là yêu thương nhau
Trang 6Ở bài tập tình huống lời nói trên đã áp dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng việt một cách linh hoạt Trẻ không đơn thuần đọc thơ và lắng nghe giáo viên phân tích lại một cách máy móc hay thực hiện quá trình lĩnh hội lời nói (nghe, đọc) một cách đơn giản mà đồng thời còn thực hiện được cả quá trình sản sinh lời nói (nói, viết)
Chẳng hạn với yêu cầu “kể lại câu chuyện bằng lời của em” theo đề bài, sau khi đã được đọc, và nghe hiểu, trẻ có thể phát triển kỹ năng nói bằng cách trình bày lại câu chuyện theo vốn từ ngữ riêng của mình Trong bài tập này, học sinh có thể sáng tạo thêm lời thoại cho nhân vật sao cho phù hợp với mục đích và hoàn cảnh giao tiếp, thêm thắt các nhân tố không gian, thời gian,…Cùng một cốt truyện nhưng mỗi trẻ lại có một cách sử dụng từ ngữ và sự sáng tạo chi tiết nhỏ khác nhau, làm phong phú thêm cho vốn từ của chính bản thân các em cũng như để những trẻ khác học hỏi, tham khảo và bổ sung thêm cho thiếu sót của bản thân
Ngoài ra, để tăng cường hiệu quả của “quan điểm giao tiếp” hơn nữa giáo viên có thể yêu cầu các em kể lại câu chuyện thông qua lờ i văn, hoặc đóng kịch phân vai theo các nhân vật bà lão, nàng tiên Ốc,
b Từ hiểu biết về bản chất hệ thống và tín hiệu của ngôn ngữ, giáo viên có thể vận dụng vào việc giảng dạy tiếng Việt ở tiểu học những lưu ý sau:
Bản chất tín hiệu của từ
Từ là đơn vị có tính tín hiệu điển hình nhất trong các đơn vị thuộc hệ thống ngôn ngữ Nói đến tín hiệu bao giờ cũng phải nói đến hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, tức là hình thức âm thanh (hoặc chữ viết) của từ và ý nghĩa của nó Học sinh muốn nắm được các từ cần nắm được cả hai mặt đó và mối quan hệ giữa chúng với nhau Bởi vậy, khi dạy về từ, chúng ta phải, một mặt cho học sinh nắm được hình thức của từ, mặt khác quan trọng hơn là nắm được nghĩa của từ
Trang 7 Từng kiểu cấu tạo từ có một ý nghĩa tương ứng, học cấu tạo từ phải gắn với ý nghĩa của chúng
– Khi dạy về từ, chúng ta phải, một mặt cho học sinh nắm được hình thức của từ, mặt khác quan trọng hơn là nắm được nghĩa của từ (cả nghĩa biểu vật và biểu cảm) – Từng kiểu cấu tạo từ có một ý nghĩa tương ứng, học cấu tạo từ phải gắn với ý nghĩa của chúng
– Vì tín hiệu phải có nghĩa nên khi dạy tiếng Việt không nên đưa các kết hợp hoặc cho học sinh tạo ra các kết hợp không có ý nghĩa
- Nên luyện cho học sinh từ các tiếng để tạo ra các từ khác có trong tiếng Việt để làm giàu vốn từ cho học sinh, đặc biệt là khi dạy từ ngữ nói chung, dạy các yếu tố Hán-Việt nói riêng
- Tín hiệu ngôn ngữ không chỉ có chức năng thông tin mà còn có chức năng biểu cảm (tính đa chức năng của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ) Bởi vậy, khi dạy về từ, bên cạnh việc làm cho các em nắm được nghĩa biểu vật còn làm cho các em nắm được nghĩa biểu cảm của từ
Tính hệ thống của ngôn ngữ và việc sử dụng thủ pháp so sánh đối chiếu trong việc giảng dạy tiếng Việt
- Cần triệt để sử dụng thao tác so sánh đối chiếu khi dạy các đơn vị trong tiếng Việt
Ví dụ: trong “ăn cơm” thì “ăn” có nghĩa “nhai, nuốt” nhưng trong “ăn ý” thì “ăn” lại
có nghĩa “hợp với”, “hòa vào”
- Dạy cấu tạo từ cần phải chú ý sự đối lập: từ đơn với từ phức, từ ghép với từ láy, từ ghép tổng hợp với từ ghép phân loại, từ láy âm với từ láy vần Khi dạy về từ loại cần
so sánh giữa danh từ với động từ Đi sâu vào các tiểu loại của chúng cũng luôn phải chú ý đối chiếu với nhau So sánh đối chiếu càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong các bài ôn tập, hệ thống hoá các từ loại trong tiếng Việt Khi dạy cần phải so sánh
Trang 8các loại câu theo mục đích nói với nhau, các loại câu theo cấu tạo với nhau, các thành phần trong câu với nhau để làm nổi bật sự thống nhất và đối lập giữa chúng với nhau
* Các quan hệ trong hệ thống ngôn ngữ
Thực tiễn giảng dạy tiếng Việt cho thấy, có thể vận dụng quan hệ ngữ đoạn và quan
hệ hệ hình vào việc xây dựng và hướng dẫn các bài tập dạy tiếng ở trường tiểu học, đây là cơ sở quan trọng để tạo ra kiểu bài tập điền từ, dùng từ đặt câu nhằm làm giàu
và tích cực hóa vốn từ của học sinh
Ví dụ kiểu bài tập điền từ chẳng hạn Để ra kiểu bài tập này phải để trống vị trí nào
mà nhờ chu cảnh của nó (các từ trước và sau nó) các em có thể dự đoán được yếu tố cần tìm là gì
Để hướng dẫn các em thực hiện kiểu bài tập này, chúng ta phải lần lượt tiến hành một số thao tác sau:
– Dự đoán ý cần phải diễn đạt ở chỗ bỏ trống căn cứ vào chu cảnh
– Tìm một loạt từ có khả năng diễn đạt ý ấy
– Lựa chọn từ hợp lí nhất và hợp với yêu cầu đề ra
c Theo em, muốn dạy trẻ em biết đọc, biết viết cần phải chọn đơn vị cơ bản là tiếng (có nghĩa) vì:
- Trước hết, ta không thể lấy đơn vị là từ để dạy viết số lượng từ vựng quá nhiều, không thể thống kê nổi và hiện nay vẫn đang trên đà tăng lên Mặt khác, việc xác định từ và vạch ranh giới âm tiết - hình vị rất phức tạp Vậy nên, ta lựa chọn đơn vị cơ bản là tiếng do: tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập
- Về ngữ âm: tiếng Việt là ngôn ngữ có nhiều thanh điệu, các âm tiết được nói rời, viết rời, rất dễ nhận diện Cấu trúc âm tiết chặt chẽ và cố định Âm tiết nào cũng phải có thanh điệu và vần
- Ranh giới các âm tiết (tiếng) trùng với ranh giới hình vị, do vậy, hầu hết các
âm tiết tiếng Việt đều có nghĩa
Trang 13Câu 4 Sách giáo khoa Tiếng Việt 1 hiện hành quan niệm: Dạy “qu” như một
tổ hợp âm đầu gồm hai con chữ q và u ghép lại
a Phân tích cơ sở ngữ âm học của cách dạy này
b Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của cách dạy theo quan niệm đó
Về chủ trương dạy “qu” (gồm /k/ ghép với âm đệm) của sách giáo khoa tiếng việt 1
có thể lí giải như sau:
a, Cơ sở ngữ âm học
- Dựa vào sự chi phối sâu sắc của âm đầu /k/ đối với âm đệm /-u-/ Trong các trường hợp đứng sau những phụ âm đầu không phải là /k/, âm đệm /-u-/ chịu sự chi phối của âm chính đi sau Nếu âm chính là nguyên âm rộng hay hơi rộng thì /-u-/ ghi bằng “o”, còn khi âm chính đi sau là nguyên âm hẹp hay hơi hẹp thì ghi bằng “u” Sau /k/, âm đệm /-u-/đồng loại ghi bằng “u”, bất kể nguyên âm đi sau rộng hay hẹp
- Mặt khác khi âm đầu viết bằng con chữ “q” thì sau nó chỉ co thể là “u” Những điểm vừa trình bày trên đây chính là cơ sở để tác giả sgk Tiếng việt 1 ghép âm đầu /k/ với /-u-/ thành tổ hợp âm
b, Những ưu điểm và hạn chế của cách dạy này:
- Ưu điểm: cách dạy này tạo sự nhất quán giữa đọc và viết, chẳng hạn trước đây
“q” được dạy tách ra nên xảy ra tình trạng đọc, viết không thống nhất Ví dụ: oan, cu+oan nhưng lại viết là quan Hiện nay, đọc an, quờ + an viết thành quan Do đó, việc phân tích vần cũng sẽ nhất quán hơn Có thể so sánh:
Trước đây
q/ua (đọc: o + a, viết: ua)
q/uan (đọc: o + a + n, viết: uan)
Hiện nay
qu/a (đọc: quờ + a, viết: qua) qu/an (đọc: quờ + an, viết: quan)
Trang 14- Hạn chế: với cách dạy này học sinh sẽ lúng túng khi gặp phải các trường hợp
vần có âm đệm Ví dụ với vần “uyên” khi kết hợp với “qu” sẽ thừa ra một con chữ
u Lúc đó tác giả lại chủ trương đưa về trường hợp ngoại lệ, giống như trường hợp /z/ viết gi khi đi với vần chính/i/ Nghĩa là phải bỏ đi một con chữ “u”
Câu 5
a Cho bài tập chính tả sau:
Điền dấu hỏi hay dấu ngã trên chữ in đậm
Minh mơ đi mơ lại quyên sách dày cộp rồi nói với bạn:
- Trong quyên sách này làm gì có bức thư nào đâu nhi?
- Sao lại có bức thư trong đó? An ngạc nhiên hoi
Minh: Thế sao cậu bao đây là quyên “Bách khoa toàn thư”?
a 1 Hãy giải thích cho học sinh về tính hài hước của câu chuyện trên
a 2 Phân tích cơ sở ngôn ngữ học, nêu mục đích và hướng dẫn cách làm bài
a 3 Anh (chị) hãy kể cho học sinh một câu chuyện khác về tính thú vị của việc chơi chữ trong tiếng Việt
a.1 Tính hài hước của câu chuyện trên:
Câu chuyện trên đã lợi dụng hiện tượng đa nghĩa của từ để chơi chữ nhằm tạo tác dụng hài hước trong lời nói
Từ “thư” ở đây được hiểu theo hai cách: thư là sách (theo từ Hán-Việt) và thư là thư tín Ở đây “thư” trong “bách khoa toàn thư” để chỉ bộ sách ghi đầy đủ những tri thức khoa học nhưng bạn Minh đã hiểu nhầm sang cách hiểu thứ hai là thư tín, bức thư nên mới đi tìm bức thư ở trong quyển sách
Trang 15a.2 Phân tích cơ sở ngôn ngữ học, nêu mục đích và hướng dẫn cách làm bài
* Cơ sở ngôn ngữ học:
- Hiện nay, Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất của dân tộc Việt Nam Nhưng cũng như những ngôn ngữ khác, do sự phát triển theo chiều lịch sử từ xưa đến nay, ngữ
âm tiếng Việt ngoài một số nét cơ bản chung vẫn tồn tại những khác biệt ngữ âm, từ vựng giữa các phương ngữ, thổ ngữ dẫn tới hiểu lầm, không có lợi cho giao tiếp
- Ngoài ra, hiện tượng viết sai chính tả ở trẻ em bậc Tiểu học khá phổ biến khi lẫn lộn giữa hai dấu hỏi và dấu ngã Đặc biệt đối với học sinh là người miền Trung và miền Nam, việc viết sai thanh hỏi và thanh ngã chiếm tỷ lệ khá cao do không phân biệt được Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu giao tiếp chung của xã hội và phần nào tác động đến hệ thống ngữ âm chuẩn
* Mục đích:
Do đó, bài tập trên được đưa ra nhằm giúp các em phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã, sao cho tuân thủ và đáp ứng đúng theo hệ thống ngữ âm chuẩn của tiếng Việt hiện đại là hệ thống ngữ âm đã được cố định trên chữ viết với sự phát triển của tiếng Việt hiện nay Từ đó, học sinh có thể nắm vững hệ thống ngữ âm được phản ánh trên chữ viết với các âm, các thanh và điều chỉnh cách phát âm trên cơ sở giọng địa phương
* Cách làm bài:
- Với những bài tập thuộc dạng này, giáo viên không bắt buộc học sinh phải giải thích lý do tại sao lại viết là dấu hỏi hay dấu ngã mà chỉ yêu cầu học sinh tìm hoặc nhớ lại bài đọc để viết lại cho đúng Lâu dần sẽ tạo cho học sinh thói quen viết đúng
- Phải phối hợp rèn luyện thường xuyên về chính tả với luyện tập toàn diện về ngôn ngữ, trở thành thói quen mới viết đúng
- Hình thành cho các em một số “mẹo” để nắm vững các quy tắc chính tả, tạo cơ sở cho việc hình thành kĩ xảo chính tả