Bản chất là một học thuyết chính trị -đạo đức, một trong những vấn đề trung tâm Nho giáo đặt ra chính là con người và đạo làm người.. Mong ước của Khổng Tử là dùng giáo dục để xã hội đượ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN VĂN
***
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI
CỦA NHO GIÁO
SINH VIÊN
MÃ SINH VIÊN
LỚP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
: Mai Thị Hà Phương
: 823544 : CH.30B QTKD (CHÍNH QUY) : TS Thân Thị Hạnh
Hà Nội – 03/2024
Trang 2I Đặt vấn đề
Nho giáo là một học thuyết ra đời tại Trung Quốc và tồn tại đến nay đã hơn 2500 năm Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo không chỉ dừng lại ở Trung Quốc mà nó còn lan rộng tới nhiều quốc gia phương Đông khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, trong đó có Việt Nam Nho giáo cũng từng được sử dụng làm hệ tư tưởng của xã hội phong kiến người Việt Bản chất là một học thuyết chính trị -đạo đức, một trong những vấn đề trung tâm Nho giáo đặt ra chính là con người
và đạo làm người Nho giáo cho rằng, đào tạo con người chính là phương tiện để đưa xã hội từ “loạn” thành “bình”
Mặc dù Nho giáo không còn phổ biến, tư tưởng về đạo làm người của Nho giáo đã ăn sâu bám rễ trong tư tưởng của người Việt Nam cho đến hiện tại
Tư tưởng ấy cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến nhiều lĩnh vưc của cuộc sống, đặc biệt là trong quan điểm giáo dục từ xưa đến nay Trong bài viết này, tôi sẽ trình bày một vài đặc điểm cơ bản của đạo làm người trong Nho giáo cũng như ảnh hưởng của nó tới nền giáo dục nước ta
II Tư tưởng về Đạo làm người của Nho giáo
1 Lược sử về Nho giáo
Nho giáo được ra đời ở thời Xuân Thu do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập Khổng Tử tên là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni Ông sinh ra ở làng Khúc Phụ, nước Lỗ trong một gia đình nhỏ Quê hương nước Lỗ của ông là nơi bảo lưu nhiều di sản văn hóa của nhà Chu Khổng Tử là người nổi tiếng ham học, học rộng, biết nhiều Ông từng dạy: “Học mà mỗi buổi tập, chẳng cũng thích ư? (Khi học đã tấn tới rồi) có bạn (cùng chí hướng) ở xa nghe tiếng mà tìm lại (để bàn về đạo lí với nhau) chẳng cũng vui ư? Nhưng nếu không ai biết tới mình mà mình không hờn giận thì chẳng cũng quân tử ư?” (“Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ, nhân bất tri nhi bất uấn, bất diệc quân tử hồ?”) Và ông đã từng nói: “Trong một xóm chừng mười nhà, ắt
Trang 3có một người trung tín như Khâu này, nhưng chẳng có ai ham học như Khâu này” (Thập thất chi ấp tất hữu trung tín như Khâu giả yên, bất như Khâu chi hiếu học dã)
Trước bối cảnh thiên hạ đại loạn, không có kỉ cương, Khổng Tử chủ trương lập lại pháp chế, kỉ cương của nhà Chu Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng mà ông cho là của các tiên thánh làm cơ sở cho học thuyết Nho giáo Sau đó, Khổng Tử đã tham gia chính sự và thực thi một số chính sách, khiến dân trở nên thuần hậu Mong ước của Khổng Tử là dùng giáo dục để xã hội được bình trị, ở đó “những người già cả đều được an vui, bạn bè tin cậy ta,
và trẻ thơ đều được thương yêu, dạy dỗ” (Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi) [3]
Sau khi ông mất, tư tưởng của ông đã được các thế hệ học trò kế thừa Năm 221 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc và áp dụng chính sách cai trị bằng pháp luật hết sức độc đoán và khắc nghiệt, sử dụng chính sách “phần thư khanh nho” (đốt sách nhà Nho), đã dùng bạo lực tiêu diệt Nho giáo Đến thời Hán Vũ Đế, Nho giáo được độc tôn, trở thành hệ tư tưởng chính thống cả về chính trị và đạo đức của Trung Quốc Nho giáo ở đời Hán đã được biến đổi nhằm phục vụ các vương triều Trung Hoa Cũng từ thời Hán, Nho giáo đã chi phối văn hóa Trung Hoa, làm nền tảng cho việc xây dựng và bảo vệ chế độ phong kiến Trung Quốc suốt hơn hai nghìn năm lịch sử
Nho giáo lấy con người làm trung tâm Nho học quan niệm tính thiện của con người gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín hay còn gọi là Ngũ thường Để thực hiện Ngũ thường, mỗi người phải thực hiện Tam cương, Ngũ luân Tam cương
là ba mối quan hệ cơ bản của xã hội: Vua - Tôi, Cha - Con, Chồng - Vợ Ngũ luân là năm mối quan hệ: Vua - Tôi, Cha - Con, Chồng - Vợ, Anh - Em, Bạn bè Ngũ thường là bản tính của con người Ngay từ khi ra đời, Nho giáo đã có nhiều điểm khác biệt căn bản với tư tưởng của các tôn giáo khác, nhất là vấn đề con người Nho giáo rất chú trọng dạy đạo làm người, giáo dục con người khiến cho
Trang 4con người từ ác thành thiện Có thể thấy, đạo làm người theo quan niệm Nho học là đạo làm người trong xã hội phong kiến nhưng những quan niệm đạo đức
đó đã giúp xã hội phong kiến phát triển, cùng với những mặt tích cực của nó, Nho giáo đã ảnh hưởng rộng khắp đến các nước châu Á, và tiếp tục ảnh hưởng cho đến ngày nay
2 Nội dung tư tưởng về Đạo làm người của Nho giáo
“Đạo làm người” là một khái niệm được sử dụng từ rất sớm ở các nước phương Đông nói chung và Trung Hoa nói riêng Khi luận giải về đạo làm người, ở Trung Hoa thời Xuân thu – Chiến quốc các nhà tư tưởng của các trường phái Nho gia, Đạo gia, Mặc gia… đều đưa ra cách lý giải khác nhau Tuy nhiên, với tính cách là một học thuyết về chính trị - đạo đức, quan điểm của Nho gia về đạo làm người vẫn được sử dụng phổ biến nhất Thực chất, đạo làm người được hiểu là các nguyên tắc chính trị, là quy phạm đạo đức và luân lý, là đạo lý trị quốc và xử thế của con người Nói cách khác, đạo làm người được hiểu là đường lối, nguyên tắc đạo đức mà con người có bổn phận gìn giữ và tuân theo trong đời sống Đó là nhân sinh quan, là quan niệm sống trong sạch, thuận theo
lẽ phải Nguyên tắc chính trị là tư tưởng chỉ đạo việc trị quốc, bình thiên hạ, phản ánh hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền
"Đạo làm người" là khái niệm được hình thành từ rất lâu, nhưng ngày nay, luận bàn về nó không phải là một điều đã cũ, cổ hủ Bởi lẽ, từ khi có con người
và xã hội loài người thì những mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, con người với chính bản thân mình luôn nảy sinh và do vậy,
"Đạo làm người" luôn vận hành Ngày nay, khi xã hội càng phát triển, trình độ nhận thức của con người không ngừng được nâng cao, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp thì "Đạo làm người" lại càng được chú ý hơn bao giờ hết
Trang 5Khi bàn đến "Đạo làm người", Nho giáo nhấn mạnh đến “Đạo nhân”,
"Đạo làm người" Theo nghĩa đó, “Đạo làm người” được hiểu là nguyên tắc chính trị, là quy phạm đạo đức và luân lý, là đạo lý trị quốc và xử thế của con người Nói cách khác, đạo làm người được hiểu là đường lối, nguyên tắc đạo đức mà con người có bổn phận gìn giữ và tuân theo trong đời sống Đó là nhân sinh quan, là quan niệm sống trong sạch, thuận theo lẽ phải
Đạo làm người của Nho gia bao quát các mối quan hệ trong xã hội ở một phạm vi rất rộng Một người có đạo đức, có “đạo làm người” là cơ sở để người
đó thực hiện tốt mối quan hệ trong quan hệ với tự nhiên, trong ứng xử xã hội, ứng xử với chính bản thân mình theo danh phận Những con người như thế được gọi là những bậc “quân tử”, “đấng trượng phu” Quy phạm đạo đức, luân lý theo
quan niệm của Nho gia chính là “tam cương”, “ngũ thường”, “tam tòng”, “tứ
đức” Tam cương và Ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải tuân theo Tam
tòng và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức thì xã hội được an bình
Tam cương
Trong “Tam cương”, Tam là ba, Cương là đầu mối Tam cương là chỉ ba mối quan hệ cơ bản trong xã hội: Quân thần, Phụ tử, Phu thê
oQuân thần: Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung thành một dạ
Vua tôi là mối quan hệ quan trọng nhất trong xã hội Vua phải đối xử với thần dân theo đúng nghĩa, đúng Lễ, phải ứng xử mẫu mực trong các mối quan hệ
xã hội để thần dân noi theo Bề tôi phải hết long trung thành, không được dối vua và hại dân Sau này, Nho giáo đã thần bí và tuyệt đối hóa quyền lực của vua đối với nhân dân vì mục đích giai cấp
Trang 6Trong đạo làm tôi, Khổng Tử đề cao chữ “Trung”, nhấn mạnh lòng biết
ơn, sự phục tùng, tinh thần phục vụ hết lòng hết sức của bề tôi đối với vua, với quốc gia Theo ông, người làm tôi, làm quan trước hết phải là người có đức trong mọi hành động, có thái độ đúng ở mọi nơi, mọi lúc, chứ không phải khi nhận chức tước mới là làm quan Khi chứng kiến cảnh xã hội có chiến tranh, huynh đệ tương tàn, Mạnh Tử đã phê phán những kẻ làm quan mà không đúng danh phận của mình, chỉ biết hùa theo điều ác của vua, phò vua chỉ biết sửa soạn binh đao đi đánh chiếm nước khác, gây chiến tranh Ông kết tội: “Hùa theo điều
ác của vua mà không can ngăn là tội nhỏ, xúi giục điều ác của vua là tội lớn Những quan đại phu thời nay đều xúi giục điều ác của vua, cho nên bảo rằng quan đại phu thời nay là người có tội lớn” Với lời kết tội này, ông đã nêu lên tư tưởng về “Đạo làm quan”: “Khi thiên hạ có đạo thì đem đạo theo thân mà ra làm quan Khi thiên hạ không có đạo thì đem thân theo đạo mà lui về ở ẩn” (Mạnh
Tử, Tân tâm hạ) Ông cũng thẳng thắn nói: “Thà ở bậc dưới là dân, không chịu đem mình là người hiền mà thờ ông vua vô đạo” (Mạnh Tử, Cáo Tử hạ) Từ đó, ông đã nêu ra ba trường hợp nên ra làm quan và ba trường hợp nên từ quan (Sở tựu tam, sở khứ tam) Thứ nhất, làm quan khi thấy có thể hành đạo được Thứ hai, làm quan vì giao tế có lễ Thứ ba, làm quan khi vua biết trọng dụng, nuôi dưỡng Khi ra làm quan rồi, thì phải trung với vua, hết lòng hết sức thờ vua, nhưng cũng không vì vậy mà biến mình thành kẻ “ngu trung” Người làm tôi trung còn là người biết can gián vua, khi vua làm điều trái đạo; không những thế, còn có thể phế truất ngôi vua, khi thấy vua là kẻ vô đạo
oPhụ tử: Trong quan hệ cha con, cha nuôi dạy con cái, con cái kính phục cha, phụng dưỡng khi cha về già
Về quan hệ cha - con: Trong gia đình, quan hệ giữa cha - con là một trong những quan hệ cơ bản Đối với cha, phầm chất quan trọng cần có là mẫu mực, hiền từ, luôn có tinh thần tu dưỡng đạo đức, nhân cách để làm gương cho con cháu Đối với nhà Nho, trách nhiệm xây dựng và đường hướng cho con được
Trang 7xác định là mục đích tự thân bởi chỉ có như vậy, Nho gia mới thực hiện được quan niệm “cha truyền con nối”, “kế nghiệp thi thư”
Về cách thức thể hiện trách nhiệm của người con đối với cha mẹ thông qua việc thực hiện đạo hiếu, các nhà Nho đều có những quan điểm tương đồng: ghi nhớ công ơn sinh thành của cha mẹ, giữ gìn thân thể được lành mạnh, có ý chí lập thân để làm vinh hiển cho bản thân và cho cha mẹ, phụng dưỡng cha mẹ khi về già và chôn cất, thờ cúng cung kính khi cha mẹ mất
Mối quan hệ mà Nho giáo quan tâm nhất, coi là cơ bản nhất, làm rường cột cho các mối quan hệ khác là mối quan hệ giữa cha và con, giữa thế hệ trước
và thế hệ sau Tiêu chuẩn trong mối quan hệ này, theo Khổng Tử, là “Phụ từ tử hiếu” Nho giáo giai đoạn sau đã đẩy mối quan hệ này lên mức tuyệt đối là “Phụ
sử tử sự” (Cha quyết, con phục tùng) Để ổn định gia đình, vai trò của người cha
“từ” cũng rất quan trọng, nhưng quan trọng hơn là sự phục tùng của người con
Do vậy, Nho giáo đặc biệt đề cao Hiếu, khi coi Hiếu là nguồn gốc của mọi đức hạnh Nếu Khổng Tử coi đạo Hiếu là một loại ý thức luân lý của con cái đối với cha mẹ, thì đến Tông thánh Tăng Tử (ông Thánh của đạo Hiếu) đã phát triển đạo Hiếu lên thành một khái niệm trừu tượng, phổ biến, một nguyên tắc của mọi đức khác, là phẩm chất vĩnh hằng của con người, là cơ sở của mọi đường lối chính trị tốt đẹp
oPhu thê: Trong quan hệ vợ chồng, chồng yêu thương, công bình với vợ,
vợ chung thủy giữ tiết với chồng, vâng phục chồng
Quan hệ chồng - vợ là quan hệ cơ bản trong gia đình nói riêng và trong xã hội nói chung Ở đó, chồng là cương lĩnh của vợ, có toàn quyền, còn vợ có nghĩa
vụ phải theo chồng, tức là hoàn toàn phụ thuộc Khi Nho giáo truyền bá vào nước ta, những tư tưởng bất bình đẳng trong quan hệ chồng - vợ cũng được bám
rễ vào đời sống xã hội Tình cảm vợ chồng là cơ sở cơ bản nhất để xây dựng gia đình hạnh phúc, thì Nho giáo lại cho là thứ yếu Nho giáo đặt chữ hiếu đễ trên
Trang 8chữ tình (vợ chồng) thực chất là coi nhẹ yếu tố cơ bản xây dựng gia đình hạnh phúc Theo quan điểm của Nho giáo, người phụ nữ trong gia đình không được coi trọng Quan hệ vợ chồng chỉ có một chiều, người vợ hoàn toàn phụ thuộc vào người chồng Đến thời Tống, vị trí của người phụ nữ còn bị hạ thấp hơn và phải thực hiện tam tòng, “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” và
tứ đức “công, dung, ngôn, hạnh” Nghĩa vụ phải chịu nhẫn nhịn, hy sinh vì chồng và gia đình
Ngũ thường
Trong “Ngũ thường”, Ngũ là năm, Thường là thường có Ngũ thường là năm điều con người luôn cần có khi ở đời: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
Nhân là phạm trù "hạt nhân" trong học thuyết của Nho giáo, được xem là
tư tưởng xuyên suốt của trường phái này Mặc dù vậy, khi Nho giáo quan niệm
về Nhân thì có nhiều cách quan niệm khác nhau, song chúng ta cũng có thể hiểu Nhân với nghĩa như sau Trong triết học Trung quốc có hai chữ Nhân, nhân nghĩa là người, con người và nhân nghĩa là nhân ái, nhân đức là bản tính của con người Theo nghĩa hẹp là một phẩm chất đạo đức cụ thể, cơ bản và nên tăng của cha người Theo nghĩa rộng Nhân bao gồm mọi đức của con người như lễ, nghĩa, trí, tín Học thuyết Nhân của Khổng Tử đã có những đóng góp lớn cho nền văn mình nhân loại Nét nổi bật trong học thuyết này là tư tưởng thương người, được thể hiện trong luận điểm: “Minh muốn lập thân cũng giúp người lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt” (Phù nhân giả kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân)
Lễ là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực dung để chỉ tôn ti trật tự, kỷ
cương của xã hội mà mọi người, mọi giai cấp đều phải học và tuân theo Lễ đóng vai trò quan trọng trong việc đưa Nhân, Nghĩa vào cuộc sống hang ngày
Nó khiến cho Nhân, Nghĩa trở thành những quy phạm có tính ràng buộc để điều chỉnh suy nghĩ và hành động của con người Lễ còn là một biện pháp chủ yếu và
Trang 9hữu hiệu nhất trong việc giáo dục con người và duy trì trật tự, kỷ cương trong gia đình và xã hội Lễ là những quy tắc ứng xử lớn, nhỏ mà Nho giáo đòi hỏi mọi người nhất thiết tuân theo Để có đạo đức, con người phải thực hiện lễ suốt đời Nho giáo quan niệm rằng, bản tính con người khi mới sinh ra là lành thiện, nhưng bản tính ấy dễ mất đi khi con người bị chi phối bởi những ham muốn, dục vọng và sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh Vì thế, nếu không học Lễ, hành động theo Lễ, con người sẽ không có đạo đức, sẽ trở thành ác nhân
Nghĩa là việc nên làm hay việc phải làm theo đúng lẽ phải, đạo lý, lương
tâm và bổn phận Khổng Tử cho rằng, người ta hành đng phi da vào Ngha,
phi vì Ngha, có ngha là đi"u gì nên làm thì làm, đi"u không nên làm thì không làm Với Khổng Tử, hành động theo Nghĩa thực chất là hành động theo
Nhân Nghĩa là một biểu hiện của đức Nhân Nói cách khác, trong đức Nhân của Khổng Tử bao hàm cả đức Nghĩa Nghĩa là tiêu chuẩn của hành vi và cũng là kỷ cương khi thực hiện mọi việc Nếu đức Nhân thể hiện trong mối quan hệ với người khác thì đức Nghĩa thể hiện trong sự tự vấn lương tâm.
Trí là sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai Khổng tử từng nói:
“ Người không có đức nhân thì không thể ở lâu trong cảnh khốn cùng, cũng không thể ở lâu trong cảnh loạn lạc Người có đức nhân vui long làm điều nhân, người thông minh sang suốt biết rằng đức nhân có lợi cho mình và cho người nên làm điều nhân” Theo quan điểm của Nho giáo, Trí là sự hiểu biết của con người về muôn việc, muôn vật trong thiên hạ Nói cách khác, Trí thể hiện ở chỗ biết phân biệt một cách đúng đắn, rõ ràng điều phải - trái, đúng - sai Theo Khổng Tử, người có Nhân phải có Trí, vì có sáng suốt mới biết cách giúp người
mà không hại cho người, cho mình; mới biết phân biệt người chính trực và người bất liêm; biết trọng dụng hiền tài Để có Trí, Nho giáo khuyên con người cần phải học tập để hoàn thiện sự hiểu biết và nhân cách của bản thân Mạnh Tử
khẳng định: H(c ch)ng chán là Trí, d.y d0 không m1i là Nhân.
Trang 10Tín là giữ đúng lời hứa, đáng tin cậy Khổng Tử nói “Người mà không có
tín thì không làm nên việc gì được Cũng như xe lớn không có đòn nghê, xe nhỏ không có đòn ngột làm sao mà đi được?” Tín là sự thành thực, thống nhất giữa lời nói và việc làm, góp phần củng cố lòng tin giữa người với người Đối với người cầm quyền, Tín có vai trò đặc biệt quan trọng Muốn được dân tin thì người cầm quyền phải giữ chữ Tín, phải thận trọng trong lời nói và việc làm, lời nói phải hợp với hành động Theo Khổng Tử: Bậc quốc trưởng cai trị một nước
có ngàn cỗ xe, làm việc gì cũng phải kính cẩn mà giữ chữ tín thật, của cải dùng tiết kiệm và thương yêu tất cả mọi người, khiến dân chúng phải đúng thời, đúng lúc (Luận ngữ) Tư tưởng “dân tín” của Nho giáo không chỉ có ý nghĩa trong lịch sử, mà vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay
Nho giáo tin rằng con người sống trong xã hội phải tuân thủ theo nguyên tắc đạo đức cương thường Cương thường là nội dung cơ bản trong đạo làm người của Nho giáo, là nguyên tắc chi phối mọi suy nghĩ hành động và là khuôn vàng thước ngọc để đánh giá phẩm hạnh của con người Cương thường góp phần điều chỉnh hành vi của con người Mặc khác, cương thường là nhân tố quan trọng làm cho xã hội ổn định theo thứ bậc, là cơ sở đảm bảo quyền thống trị của Thiên tử Nhà tri thức Nguyễn Bỉnh Khiêm, người chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo từng rất đề cao “tam cương”; “Nghĩa phải thờ vua sáng như mặt trăng” (Nghĩa thị phi tôn quân nhật nguyệt minh) Trong mối quan
hệ với vua thì phải thể hiện sự kính trọng, phải biết trước sau “Vua tôi, cha con
là nghĩa cương thường bền vững nghìn đời” (quân phụ cương thường thiên cổ tại) Trong quan hệ vua tôi, cha con là mối quan hệ bền vững, thể hiện được những giá trị đạo đức của con người “Lòng luôn nghĩ đến vua cha kỳ cho đến lúc trời đất già cỗi” (Quân thiên tại niệm kiền khôn lão) Con người sống trong
xã hội phải biết đạo lý, trong các mối quan hệ cần phải tuân theo những nguyên tắc cương thường