1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên

28 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Tác giả Lâm Hồ Thục Trang, Vũ Thị Thanh Hiển
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Minh Nguyệt, TS. Vũ Thị Thanh Hiển
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 130,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Mức độ, biểu hiện kiệt sức nghề nghiệp của GVMN ở bốn khía cạnh: cạn kiệt cảm xúc, suykiệt nguồn lực thể chất, phi nhân cách hóa và cảm giác sụt giảm hiệu quả công vKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây NguyênKiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Minh Nguyệt

TS Vũ Thị Thanh Hiển

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Văn Lượt

Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

Phản biện 2: PGS.TS Tạ Quang Đàm

Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng

Phản biện 3: PGS.TS Vũ Thu Trang

Trường ĐHSP Hà Nội

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường

họp tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm…

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Thư viện Quốc Gia, Hà Nội hoặc Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 3

CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1 Lâm Hồ Thục Trang, Vũ Thị Thanh Hiển (2024), Mức độ kiệt sức nghề nghiệp của

giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên, Tạp chí Tâm lý học Việt Nam số 10, Tháng

10 – 2024, trang 89 – 103

2 Lâm Hồ Thục Trang, Vũ Thị Thanh Hiển (2024), Các yếu tố ảnh hưởng đến kiệt sức

nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên, Tạp chí Tâm lý học Việt

4 Lâm Hồ Thục Trang (2025), Mức độ kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở

các tỉnh Tây Nguyên – Xét theo biến số dân tộc, Tạp chí Nghiên cứu dân tộc, Tập 14,

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu

Nghề nghiệp là một phần quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân, vì nó có thể manglại cho chúng ta thu nhập, lòng tự trọng, các cơ hội phát triển bản thân và địa vị xã hội Tuynhiên, với vòng xoáy mạnh mẽ của xã hội hiện đại, công việc cũng có thể tác động tiêu cực đếnsức khỏe thể chất và tinh thần của con người và khiến họ rơi vào tình trạng kiệt sức

Hội chứng Kiệt sức nghề nghiệp (KSNN) là một rối loạn nghiêm trọng liên quan đếncông việc có nguồn gốc tâm lý xã hội, xảy ra khi điều kiện làm việc căng thẳng quá sức chịuđựng của con người Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh KSNN có ảnh hưởng đếnsức khỏe thể chất lẫn tâm lý của con người Năm 2019, Hội chứng KSNN được Tổ chức Y tếthế giới ghi nhận như là một hội chứng rối loạn tâm lý liên quan đến nghề nghiệp và được đưavào Bảng phân loại các bệnh lý quốc tế phiên bản 11 (ICD-11) Điều đó đã cho thấy KSNN là một vấn đề nghiêm trọng của xã hội hiện đại, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến công việc và đờisống tinh thần của người lao động

Tình trạng KSNN của giáo viên đã trở thành một chủ đề nghiên cứu nóng bỏng từ cuốithế kỷ XX Các nghiên cứu về KSNN được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đónghề dạy học được coi là một trong những nghề gây kiệt sức nhất cho con người (Clipa &Boghean, 2015)

Giáo dục mầm non là bậc giáo dục mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam,

Mục tiêu giáo dục mầm non là “giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ,

hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1” [16] Để thực

hiện được mục tiêu đó, không thể không nhắc đến vai trò của người giáo viên mầm non(GVMN) Đặc thù nghề nghiệp khiến GVMN cùng một lúc phải đảm đương nhiều nhiệm vụ:vừa chăm sóc, nuôi dưỡng vừa giáo dục trẻ Thêm vào đó, tình trạng lớp học đông đúc, áp lực

từ phía phụ huynh học sinh và nhà trường, áp lực từ các cuộc thi làm đồ dùng, thi giáo viêngiỏi, thời gian làm việc kéo dài làm cho giáo viên bị “quá tải” dẫn đến nguy cơ KSNN.Trong những năm gần đây, giáo dục và đào tạo vùng Tây Nguyên đã đạt được những kếtquả khả quan, đáng ghi nhận Giáo dục mầm non được quan tâm đầu tư, phát triển Tuy vậy, tạivùng Tây Nguyên vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tại các xã vùng sâu, xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động nghề nghiệp của GVMN, khiến nhiều giáo viên bị kiệt sức và tạo ra làn sóng giáo viên nghỉ việc chưa từng cótrước đây

Tại Việt Nam hiện nay, các công trình nghiên cứu về KSNN ở giáo viên nói chung vàGVMN nói riêng còn chưa phổ biến, vì thế nếu nghiên cứu về KSNN ở GVMN vùng TâyNguyên sẽ có thể cung cấp những thông tin hữu ích về lĩnh vực còn tương đối mới mẻ này,đồng thời hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tinh thần cho giáo viên

Từ những luận điểm trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Kiệt sức nghề nghiệp của

giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên”.

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng được khung lý luận về KSNN của GVMN, đánh giá thực trạng và các yếu tốảnh hưởng đến KSNN của GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên, từ đó đề xuất một số biện pháp tácđộng tâm lý sư phạm nhằm giảm thiểu mức độ KSNN cho GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Mức độ, biểu hiện kiệt sức nghề nghiệp của GVMN ở bốn khía cạnh: cạn kiệt cảm xúc, suykiệt nguồn lực thể chất, phi nhân cách hóa và cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc

Trang 5

3.2 Khách thể nghiên cứu

Giáo viên mầm non trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên

4 Giả thuyết khoa học

4.1 KSNN của GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên ở mức độ trung bình Có sự khác biệt giữamức độ KSNN của GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên nói chung và mức độ các khía cạnh KSNNtheo các biến nhân khẩu: loại hình trường, thâm niên làm việc, địa bàn công tác, dân tộc

4.2 KSNN của GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên được biểu hiện ở 4 khía cạnh: cạn kiệt cảmxúc, suy kiệt năng lượng thể chất, phi nhân cách hóa và cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc.4.3 KSNN gây ra những hậu quả cho GVMN trên cả hai phương diện cá nhân và công việc Những GVMN với mức độ KSNN khác nhau cảm nhận hậu quả của KSNN đến cá nhân

và công việc của mình là khác nhau

4.4 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới KSNN bao gồm yếu tố thuộc về bản thân người giáoviên, yếu tố đặc thù của đối tượng làm việc, yếu tố công việc, yếu tố thuộc về nhà quản lý vàyếu tố điều kiện kinh tế - xã hội Trong đó yếu tố công việc có ảnh hưởng mạnh nhất

4.5 Có thể giảm thiểu tình trạng KSNN của GVMN bằng các biện pháp: Cải thiện chế độlao động, điều kiện làm việc hợp lý, vừa sức với GVMN; Nâng cao năng lực thích ứng nghềnghiệp cho GVMN; Bồi dưỡng kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe tâm thần cho GVMN; Bồidưỡng năng lực nghề nghiệp cho GVMN

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu lý luận về KSNN, KSNN của GVMN làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực tiễn.5.2 Khảo sát thực trạng KSNN của GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên và các yếu tố ảnhhưởng đến thực trạng đó

5.3 Đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý sư phạm nhằm giảm thiểu mức độ KSNN cho GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu mức độ biểu hiện KSNN của GVMN thể hiện ở bốn khía cạnh: cạn kiệt cảm xúc, suy kiệt nguồn lực thể chất, phi nhân cáchhóa, cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc

6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu trên khách thể là 414 GVMN, 150 GVMN trong mẫu điều

tra thử nhằm đánh giá tính hiệu lực của phiếu khảo sát Mẫu phỏng vấn sâu gồm 39 giáo viên cùng

22 cán bộ quản lý đang công tác tại các trường mầm non công lập, dân lập và tư thục tại 3 khu vực

I, II, III thuộc 3 tỉnh Tây Nguyên: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai

7 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp tiếp cận nghiên cứu

7.1.1 Tiếp cận hoạt động nghề nghiệp

KSNN ở GVMN là trạng thái tâm lý tiêu cực hình thành trong quá trình thực hiện cáchoạt động nghề nghiệp như chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Vì vậy, nghiên cứu KSNN ởGVMN không thể tách rời việc phân tích hoạt động nghề nghiệp cụ thể mà họ đang thực hiện,bởi chính trong đó, những biểu hiện của KSNN mới được bộc lộ một cách rõ nét

7.1.2 Tiếp cận tâm lý học sư phạm

KSNN được hình thành và biểu hiện ra bên ngoài thông qua quá trình lao động sư phạmcủa người GVMN So với những bậc học khác, hoạt động sư phạm của GVMN có nét đặctrưng riêng biệt mà không bậc học nào có được Vì vậy, việc nghiên cứu KSNN ở GVMN phải dựa trên cách tiếp cận tâm lý học sư phạm của người GVMN, từ đó làm rõ mối quan hệ giữamục đích, đối tượng, công cụ, sản phẩm, thời gian và không gian lao động của người GVMNvới hiện tượng KSNN ở họ

Trang 6

7.1.3 Tiếp cận hệ thống

KSNN là một cấu trúc tâm lí trọn vẹn, là một hệ thống, bao gồm các thành phần có quan

hệ hữu cơ với nhau Nên nghiên cứu KSNN của GVMN phải nghiên cứu các thành phần của

nó trong mối quan hệ hữu cơ với nhau Đồng thời cần có cái nhìn toàn diện, bao quát về cácyếu tố tác động cũng như cách thức mà KSNN hình thành và phát triển trong hoạt động nghềnghiệp của GVMN

7.1.4 Tiếp cận phát triển

Nghiên cứu nhìn nhận KSNN ở GVMN không phải là một hiện tượng tâm lý ổn định, bấtbiến mà luôn thay đổi dưới sự tác động của nhiều yếu tố cá nhân và xã hội Chính vì vậy khiđánh giá KSNN của GVMN phải xem xét tới quá trình hình thành, ra đời, tồn tại, phát triển của

nó Việc đánh giá KSNN không nên chỉ dựa vào các chỉ số đo lường tại một thời điểm mà cầncân nhắc đến toàn bộ quá trình phát triển của hiện tượng này trong suốt quá trình nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục trẻ của GVMN

7.1.5 Tiếp cận liên ngành

Nghiên cứu KSNN ở GVMN không tách rời khỏi các ngành khoa học khác như tâm lýhọc, giáo dục học, xã hội học, triết học, y học Vì thế cách tiếp cận liên ngành cho phép hiểu

rõ vấn đề nghiên cứu từ nhiều khía cạnh khác nhau Chẳng hạn mối quan hệ giữa căng thẳng,

áp lực nghề nghiệp, sự suy giảm cảm xúc nghề nghiệp và tình trạng KSNN; sự cập nhật, thayđổi liên tục về mô hình giáo dục, nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục và ảnh hưởng

từ môi trường giáo dục đến GVMN; tác động của bối cảnh xã hội, kỳ vọng xã hội và chínhsách xã hội tới nghề GVMN; hậu quả của KSNN đối với sức khỏe tâm lý, thể chất của ngườigiáo viên

7.1.6 Tiếp cận lịch sử cụ thể

Tâm lý, nhân cách con người kết quả của quá trình lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hộibiến thành cái riêng của bản thân KSNN là một hiện tượng tâm lý nên cũng chịu sự chế ướccủa lịch sử cá nhân và cộng đồng Vì vậy khi nghiên cứu KSNN ở GVMN, chúng tôi xem xét

kỹ mối quan hệ giữa tình trạng kiệt sức với hoàn cảnh sống, địa bàn làm việc, điều kiện làmviệc của người giáo viên, đặc biệt là các yếu tố văn hóa dân tộc, vùng miền

7.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu tàiliệu, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp chuyên gia, phương pháp phỏng vấnsâu, phương pháp quan sát, phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

8 Đóng góp mới của luận án

8.1 Đóng góp về lý luận

KSNN là chủ đề nghiên cứu tương đối mới mẻ trong tâm lý học Đa phần các nghiên cứutrước đây về KSNN chủ yếu dựa trên các mô hình và thang đo tiêu chuẩn, được phát triển bởicác nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực này để đánh giá mức độ kiệt sức của người laođộng trong nhiều ngành nghề khác nhau Nghiên cứu này kế thừa các cơ sở lý thuyết vàphương pháp đo lường từ những công trình trước, đồng thời phát triển chúng sao cho phù hợpvới một ngành nghề cụ thể (nghề GVMN), với đối tượng nghiên cứu cụ thể (GVMN), tại mộtđịa bàn nghiên cứu có tính đặc thù riêng biệt (các tỉnh Tây Nguyên)

Luận án đã hệ thống hóa và xây dựng khung lý luận về KSNN của GVMN, thao tác hoácấu trúc khái niệm KSNN của GVMN thành các chỉ báo có thể đo lường được; xác định cácbiểu hiện KSNN cụ thể của GVMN Thông qua phương pháp phân tích nhân tố, đề tài đã xácđịnh độ tin cậy và độ hiệu lực của thang đo KSNN gồm 4 thành tố cạn kiệt cảm xúc, suy kiệtnguồn lực thể chất, phi nhân cách hóa, cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc Đây là kết quảmới, chưa từng được công bố trước đây

Trang 7

Ngoài ra, luận án cũng xác định 5 mức độ KSNN của GVMN dựa trên phân phối chuẩn.Kết quả này có thể cung cấp thêm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo để phân chiamức độ, tiêu chí đánh giá KSNN ở nhiều lĩnh vực nghề nghiệp đa dạng khác.

Luận án là một trong những nghiên cứu đầu tiên về KSNN của GVMN tại Việt Nam, gópphần cụ thể hóa và làm sâu sắc thêm nền tảng lý thuyết về KSNN của giáo viên nói chung vàGVMN nói riêng Do đó, kết quả nghiên cứu lý luận của đề tài có thể là nguồn tài liệu thamkhảo bổ ích cho các nhà tâm lý học, cán bộ quản lý trường mầm non, chuyên viên tham vấntâm lý và chính bản thân GVMN khi tìm hiểu về vấn đề này

8.2 Đóng góp về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ mức độ KSNN, mô tả cụ thể nhữngbiểu hiện KSNN và chỉ ra được hậu quả của KSNN đối với GVMN trên cả hai phương diện cánhân, công việc Đây là những tư liệu quan trọng làm cơ sở cho các nhà quản lý giáo dục trongcông tác sử dụng nhân sự, đồng thời là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho giảng viên, sinhviên tại các cơ sở đào tạo GVMN trong quá trình học tập và giảng dạy các học phần liên quanđến tâm lý học nghề nghiệp, sức khỏe tinh thần của giáo viên

Luận án đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý sư phạm nhằm giảm thiểu KSNN củaGVMN ở các tỉnh Tây Nguyên giúp các nhà quản lý giáo dục tham khảo, lựa chọn được nhữngbiện pháp phù hợp với tình hình, đặc điểm của nhà trường, từ đó hạn chế tình trạng kiệt sức xảy

ra cho giáo viên trong quá trình làm việc

Bên cạnh đó, trong bối cảnh Dự thảo Luật Nhà giáo đang được xây dựng và trình Quốchội xem xét, các nội dung về chính sách bảo vệ, thu hút nhà giáo; chính sách tiền lương, đãingộ của giáo viên nói chung và GVMN nói riêng đang được đông đảo giáo viên trên khắp cảnước quan tâm, chú ý Việc khảo sát, đánh giá thực trạng KSNN của GVMN ở các tỉnh TâyNguyên; hậu quả của KSNN tới GVMN trên hai phương diện cá nhân, công việc cũng như tìmhiểu các yếu tố ảnh hưởng đến KSNN của GVMN đã phần nào gợi mở một vài căn cứ thực tiễn

để các nhà nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý giáo dục tại Tây Nguyên xem xét,cân nhắc khi thiết kế một số chương trình hỗ trợ GVMN phù hợp với điều kiện hiện tại của khuvực

9 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúcluận án bao gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về kiệt sức nghề nghiệp ở giáo viên mầm non

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên

Trang 8

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ KIỆT SỨC NGHỀ NGHIỆP

CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON 1.1 Tổng quan các nghiên cứu về kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên

1.1.1 Các nghiên cứu về kiệt sức nghề nghiệp

1.1.1.1 Các nghiên cứu về cấu trúc của kiệt sức nghề nghiệp

Hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về KSNN đều tập trung phân tích và tìm hiểu cấu trúccủa KSNN Mỗi tác giả khác nhau nhìn nhận KSNN dưới một cấu trúc khác nhau Quan niệmđược đông đảo tác giả đồng tình và ủng hộ là cấu trúc 3 thành tố của Maslach & Jackson(1981) Ngoài cấu trúc 3 thành tố, nhiều tác giả cũng xây dựng các mô hình cấu trúc KSNNkhác gồm 1 thành tố (Pines & Aronson, 1988), 2 thành tố (Demerouti, Bakker, Vardako &Kantas, 2003), 4 thành tố (Salanova et al., 2005; Gil Monte, 2005), 7 thành tố (Schaufeli,Desart & De Witte, 2020)

1.1.1.2 Các nghiên cứu về phương pháp đo lường kiệt sức nghề nghiệp

Hiện tại trên thế giới đang tồn tại đồng thời nhiều thang đo KSNN Tùy thuộc vào nhữngtác giả với các hướng nghiên cứu khác nhau mà xây dựng nên những tiêu chí, thang đo khácnhau để đánh giá biểu hiện mức độ KSNN Có thể kể đến các thang đo tiêu biểu sau: Bảngkiểm Kiệt sức Maslach (Maslach Burnout Inventory - MBI) do nhà Tâm lý học ChristinaMaslach và cộng sự xây dựng, khảo nghiệm và công bố, Công cụ đánh giá tình trạng KSNN (the Burnout Assessment Tool - BAT) do Schaufeli et al (2020) giới thiệu, Thang đoCopenhagen Burnout Inventory (CBI) do Kristensen và cộng sự (2005) xây dựng và phát triển, Thang đo tình trạng kiệt sức nghề nghiệp Bergen Burnout Inventory (BBI) do Salmela‐Aro et

al (2011) đề xuất, Thang đo kiệt sức nghề nghiệp Oldenburg (Oldenburg Burnout Inventory OLBI) do Demerouti, Bakker, Vardako & Kantas (2003) thiết kế và phát triển, Bảng kiểm kêkiệt sức nghề nghiệp của Tây Ban Nha – (SBI) Spanish Burnout Inventory do Gil Monte(2005) đề xuất, Thang đo tình trạng kiệt sức nghề nghiệp Shirom - Melamed (Shirom–Melamed Burnout Measure - SMBM) do Melamed et al (2006) thiết kế, Thang đo Kiệt sứcnghề nghiệp Burnout Measure (BM) do Pines & Aronson (1988) xây dựng

-1.1.1.3 Các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới kiệt sức nghề nghiệp

Khi tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến KSNN, các tác giả chủ yếu nghiên cứu theo haihướng: các yếu tố cá nhân và các yếu tố liên quan đến công việc của người lao động (Schaufeli & Enzmann, 1998; Maslach, Schaufeli, Leiter, 2001) Các yếu tố cá nhân bao gồm: Đặc điểmnhân khẩu học, tính cách, điểm kiểm soát, kiểu hành vi loại A và tính tham vọng Các yếu tốcông việc bao gồm: Tình trạng quá tải công việc, thiếu quyền tự chủ và kiểm soát trong côngviệc, Khen thưởng không thỏa đáng, Thiếu công bằng tại nơi làm việc, Sự đứt gãy của các mốiquan hệ trong cộng đồng làm việc, Xung đột giá trị

1.1.2 Các nghiên cứu về kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên

1.1.2.1 Các nghiên cứu về sự khác biệt giữa mức độ kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên theo các yếu tố nhân khẩu

Các nghiên cứu chuyên sâu được công bố đã chỉ ra được mức độ KSNN mà giáo viênmắc phải Các tác giả đã chứng minh có sự khác biệt về mức độ KSNN ở giáo viên theo cácyếu tố nhân khẩu, đồng thời có sự khác biệt rõ rệt giữa ba khía cạnh của KSNN: kiệt quệ vềcảm xúc, phi nhân cách hóa và cảm giác suy giảm thành tích cá nhân

1.1.2.2 Các nghiên cứu về cấu trúc, biểu hiện kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên

Maslach, Jackson & Leiter (1996) cho rằng tình trạng KSNN của giáo viên thể hiện qua

ba khía cạnh: cạn kiệt cảm xúc, phi nhân cách hóa và cảm giác sụt giảm thành tích cá nhân Kếthừa kết quả nghiên cứu trên, Skaalvik, E M & Skaalvik, S (2010) tiếp tục nghiên cứu vàkhám phá ra ba khía cạnh này tồn tại tương đối độc lập

Trang 9

Bằng cách sử dụng phương pháp phân tách một phần, Simbula & Guglielmi (2010) đã chỉ

ra mô hình bốn yếu tố của tình trạng KSNN ở giáo viên, trong đó phân tách riêng biệt khía cạnh phinhân cách hóa và hoài nghi phù hợp hơn so với mô hình ba yếu tố trong đó phi nhân cách hóa vàhoài nghi được gộp lại thành một yếu tố Panagopoulos, Anastasiou & Goloni (2014); Alarcon, Eschelman & Bowling (2009) cho rằng KSNN ở giáo viên là một hội chứng do căng thẳngkéo dài của giáo viên, đặc trưng bởi sự kiệt sức về cảm xúc, thể chất và thái độ

Các tác giả Tu & Nga (2020) chia các biểu hiện KSNN ở giáo viên thành 3 nhóm: triệuchứng thể chất, kiệt quệ về mặt tinh thần, suy giảm nghiêm trọng khả năng lao động [299] Đaphần các nghiên cứu đều chỉ ra không phải bất kỳ triệu chứng riêng lẻ nào cũng được coi là dấuhiệu của sự kiệt sức Tuy nhiên, sự kết hợp của các triệu chứng khác nhau có thể là biểu hiệncủa chứng KSNN (Subon & Sigie, 2016)

Rankin (2023) cho rằng, mặc dù sự kiệt sức của giáo viên có thể biểu hiện theo nhữngcách khác nhau, các dấu hiệu bao gồm: Trốn chạy khỏi công việc, cuộc sống cá nhân hoặcnhững gì đang diễn ra xung quanh bản thân; Hoài nghi hoặc thờ ơ; Cảm giác tuyệt vọng, vôdụng hoặc thiếu thành tựu cá nhân; Cáu gắt; Không còn tận hưởng những trải nghiệm trongcông việc; Giảm năng suất hoặc hiệu suất trong công việc; Kiệt sức về cảm xúc hoặc thể chất;Thay đổi về giấc ngủ và/hoặc ngoại hình

1.1.2.3 Các nghiên cứu về hậu quả của kiệt sức nghề nghiệp đối với giáo viên

1.1.2.3.1 Các nghiên cứu hậu quả của kiệt sức nghề nghiệp đối với giáo viên ở cấp độ cá nhân

- Hậu quả trên phương diện tâm lý

Conley & You (2014) nhận định: không giống như các ngành nghề khác, giảng dạy rấtmệt mỏi về mặt cảm xúc Do đó, giáo viên dễ bị KSNN hơn những công việc khác Điều nàygây hại tới sức khỏe thể chất, tinh thần và hiệu quả công việc của giáo viên cũng như phúc lợi

và hạnh phúc của họ với tư cách là con người Tình trạng này nếu không được giải quyết sẽ tồntại dai dẳng và dần lan rộng khiến họ bị suy nhược nghiêm trọng về tinh thần, tâm lý Maslach,Schaufeli & Leiter (2001) tìm thấy mối liên hệ giữa KSNN và cảm giác hài lòng trong côngviệc cũng như ảnh hưởng xấu đến trải nghiệm hạnh phúc của người giáo viên.Padmanabhanunni & Pretorius (2023) nghiên cứu về kiệt sức của giáo viên trong thời đạiCovid -19 đã chỉ ra tác động tiêu cực của KSNN đối với các chỉ số về sức khỏe tâm lý, baogồm trầm cảm, lo lắng, tuyệt vọng và ý định tự tử

- Hậu quả trên phương diện thể chất

Salvagioni et al (2017) đã thực hiện một bài đánh giá có hệ thống những nghiên cứu tiềncứu trên nhiều cơ sở dữ liệu nhằm mục đích tóm tắt các bằng chứng về hậu quả của tình trạng KSNN Kết quả cho thấy KSNN là một yếu tố dự báo đáng kể về các hậu quả thể chất sau: tăngđường huyết, tăng cholesterol máu, tăng nồng độ cortisol trong ngày, nguy cơ mắc tiểu đườngloại 2, bệnh tim mạch vành, nhập viện do rối loạn tim mạch, đau cơ xương khớp, thay đổi trảinghiệm đau đớn, tăng nguy cơ viêm, tăng độ kết dính của bạch cầu, mệt mỏi kéo dài, nhức đầu,các vấn đề về đường tiêu hóa, các vấn đề về hô hấp, chấn thương nặng, tăng nguy cơ vô sinh và

tử vong dưới 45 tuổi

- Hậu quả trên phương diện hành vi

Maslach & Leiter (1999) cho rằng sự kiệt sức của giáo viên, đặc biệt là sự cạn kiệt vềcảm xúc và phi nhân cách hóa sẽ làm họ ít tham gia và nỗ lực hơn trong việc chuẩn bị bài dạy,đồng thời có hành vi xã hội kém phù hợp đối với người học Ngoài ra tình trạng kiệt sức còndẫn đến các hành vi khác như vắng mặt hoàn toàn trong lớp học, tăng mức độ chỉ trích và ítkhuyến khích, động viên học sinh Một thống kê 21 nghiên cứu gồm 5267 giáo viên củaMadigan et al (2023) cho thấy những giáo viên thường xuyên gặp phải các triệu chứngKSNN có thể có các hành vi không lành mạnh Điều này có thể xảy ra khi đang làm việc

Trang 10

(hút thuốc), ở nhà (uống rượu, dùng chất kích thích, tự nhổ tóc, cắn móng tay) hoặc cả hai(thiếu tập thể dục/ít hoạt động thể chất, lạm dụng thuốc an thần)

- Hậu quả đối với chất lượng công việc và các mối quan hệ của người giáo viên

Theo Rudow (1999), tình trạng phi nhân cách hóa liên quan đến KSNN làm suy giảm cácmối quan hệ cá nhân của người giáo viên (quan hệ với học sinh, đồng nghiệp, hiệu trưởng vàphụ huynh) Giáo viên bị KSNN sẽ mất dần sự quan tâm và cảm xúc ấm áp khi đối xử với họcsinh Điều đó khiến cho hành vi, động cơ học tập và kỷ luật của học sinh bị ảnh hưởng nghiêmtrọng Maslach & Leiter (1999) chỉ ra nếu giáo viên mắc KSNN sẽ làm hạn chế sự chủ động,sáng tạo, giảm động cơ học tập, giảm năng lực và thành tích cá nhân của học sinh Gillespie et

al (2001) nhấn mạnh rằng thực trạng KSNN ở giảng viên có khả năng gây ra những tác độngbất lợi đến trải nghiệm học đường, thành tích học tập của sinh viên cũng như sự thành công củatoàn thể tổ chức Grayson & Alvarez (2009) cho rằng KSNN làm sụt giảm sức khỏe của ngườigiáo viên làm họ dễ dàng rơi vào mối quan hệ bất hòa với học sinh, trở nên khó chịu khi chúngkhông làm theo hướng dẫn, có quan điểm tiêu cực về học sinh

1.1.2.4 Các nghiên cứu hậu quả của kiệt sức nghề nghiệp đối với nhà trường

Theo Rudow (1999), hiệu suất làm việc của giáo viên là thứ rất khó để đo lường, nhưngviệc giáo viên bị căng thẳng và KSNN làm việc kém hiệu quả hơn người khác là điều hợp lýbởi họ có nhiều hành động không phù hợp hơn (la mắng học sinh, nhận thức sai lệch…) Ngoài

ra, những giáo viên mắc KSNN cũng thường xuyên nghỉ làm (tạm thời hoặc vĩnh viễn), gây ra

sự xáo trộn về mặt nhân sự và tổ chức, làm sụt giảm chất lượng và danh tiếng của nhà trường,thậm chí làm tan rã tổ chức nhà trường Stewart (2015) báo cáo tình trạng kiệt sức trong côngviệc ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dục của nhà trường vì những giáo viên bịkiệt sức không thể làm việc chăm chỉ, cống hiến, cam kết với nghề của mình

1.1.3 Khái quát về các nghiên cứu đã công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết

Qua việc tổng quan tài liệu nghiên cứu về KSNN ở giáo viên và GVMN, chúng tôi rút rađược các kết luận sau:

Một là, KSNN là cấu trúc tâm lý có tính năng động, đa chiều chứ không phải cố định ởmột chiều cạnh duy nhất Hai là, việc khảo sát, đánh giá KSNN ở mỗi nghề nghiệp khác nhau,mỗi nền văn hóa khác nhau có những đặc trưng riêng biệt Do đó, trong mỗi nghiên cứu cầnchú trọng tới việc xây dựng mô hình nghiên cứu và phát triển công cụ khảo sát cho phù hợp vớinghề nghiệp cụ thể cũng như địa bàn nghiên cứu

Từ đó, chúng tôi xác định những vấn đề cần nghiên cứu tiếp trong luận án của mình:

- Chúng tôi phát triển mô hình KSNN của GVMN dựa trên mô hình 3 thành tố (cạn kiệtcảm xúc, phi nhân cách hóa, cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc) của tác giả Maslach &Jackson (1981), tuy nhiên có sự điều chỉnh, bổ sung Việc xây dựng mô hình nghiên cứu mớiđược thực hiện bám chặt với hoạt động nghề nghiệp của GVMN và gắn liền với bối cảnh kinh

tế - văn hóa – xã hội đặc thù của Việt Nam Từ mô hình KSNN đã phát triển, luận án xây dựng

và thiết kế thang đo KSNN

- Nghiên cứu cần tập trung làm rõ đặc thù lao động sư phạm của GVMN gắn với KSNN

và những khó khăn của GVMN khi công tác tại các tỉnh Tây Nguyên

- Dựa vào phân phối chuẩn, luận án cần xác định và đánh giá được các mức độ KSNNcủa GVMN các tỉnh Tây Nguyên

- Cần đánh giá được các hậu quả của KSNN đối với GVMN trên phương diện cá nhân vàcông việc

- Xây dựng một số chân dung tâm lý điển hình của GVMN người dân tộc Kinh và ngườidân tộc thiểu số bị KSNN tại các khu vực có điều kiện kinh tế xã hội tương đối phát triển và

Trang 11

khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, qua đó làm sắc nét hơn kết quả nghiêncứu định lượng và khắc họa bức tranh tổng thể về KSNN của GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên.

- Tập trung nghiên cứu một số yếu tố nhất định có ảnh hưởng đến KSNN của giáo viên

- Đề xuất một số biện pháp tâm lý sư phạm nhằm giảm thiểu tình trạng KSNN choGVMN trên địa bàn

1.2 Hoạt động nghề nghiệp của giáo viên mầm non

1.2.1 Khái niệm giáo viên mầm non

Theo Điều lệ Trường mầm non: “Giáo viên mầm non là người thực hiện nhiệm vụ nuôi

dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 6 tuổi trong các cơ sở giáo dục mầm non”

1.2.2 Đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của GVMN

GVMN có mục đích lao động gắn liền với mục tiêu giáo dục trẻ từ 0-6 tuổi, đòi hỏikhông chỉ dạy dỗ mà còn chăm sóc với tình yêu thương Công cụ lao động chính là nhân cáchgiáo viên, nhưng quá trình rèn luyện phẩm chất và năng lực kéo dài, tốn nhiều thời gian vàcông sức Sản phẩm lao động là nhân cách trẻ, song phải đứng giữa một bên là khối lượngcông việc khổng lồ với 1 bên phải đảm bảo sự chuẩn xác trong công việc khiến nhiều giáo viênkhông thể đáp ứng nổi Mặt khác, GVMN làm việc với cường độ cao trong không gian nhỏ,tiếng ồn lớn, nếu không sắp xếp hợp lý sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và cuộc sống

1.3 Kiệt sức nghề nghiệp ở giáo viên mầm non

1.3.1 Kiệt sức và kiệt sức nghề nghiệp

1.3.1.1 Khái niệm kiệt sức

Kiệt sức là trạng thái cạn kiệt cảm xúc, suy kiệt nguồn lực thể chất, thái độ tiêu cực, hoài nghi và cảm giác sụt giảm động lực cũng như khả năng hoàn thành một hoạt động bất kỳ trong cuộc sống của chủ thể

1.3.1.2 Khái niệm kiệt sức nghề nghiệp

Kiệt sức nghề nghiệp là trạng thái cạn kiệt cảm xúc, suy kiệt nguồn lực thể chất, phi nhân cách hóa và cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp của chủ thể.

1.3.1.3 Các thành phần của kiệt sức nghề nghiệp

Theo chúng tôi, cấu trúc của KSNN bao gồm 4 thành tố sau: Kiệt sức về mặt cảm xúc, suy kiệtnguồn lực thể chất, hoài nghi/ phi nhân cách hóa và cảm giác sụt giảm hiệu quả nghề nghiệp

1.3.2 Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non

1.3.2.1 Khái niệm kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non

Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non là trạng thái cạn kiệt cảm xúc, suy kiệt nguồn lực thể chất, phi nhân cách hóa và cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc khi thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em từ 03 tháng đến 6 tuổi của người giáo viên mầm non.

1.3.2.2 Cấu trúc kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non

- Cạn kiệt cảm xúc: Không còn hứng thú với công việc hiện tại; Thất vọng với công việc

hiện tại; Ghét bỏ công việc hiện tại; Hối hận vì đã lựa chọn công việc này; Sợ hãi khi nghĩ đếnviệc đi làm; Cảm thấy công việc của mình quá căng thẳng; Buồn rầu, chán nản mỗi khi nghĩ đến

Trang 12

công việc; Dễ xúc động khi gặp những tình huống khó khăn tại nơi làm việc; Không cảm nhậnđược niềm vui trong công việc.

- Suy kiệt nguồn lực thể chất: Cảm thấy bị rút cạn năng lượng vào cuối ngày làm việc;

Mệt mỏi, uể oải vào buổi sáng khi đối mặt với một ngày làm việc mới; Cảm thấy đuối sứctrong khi tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ hằng ngày; Không cònsức lực để chăm sóc bản thân/gia đình sau giờ làm việc; Cảm thấy công việc hiện tại đangvắt kiệt sức lực của bản thân

- Phi nhân cách hóa: Chỉ coi trẻ là đối tượng làm việc mà đôi khi “quên” mất rằng trẻ là

một con người với đầy đủ các quyền cơ bản; Cảm thấy mình trở nên vô cảm, khắc nghiệt hơn khichăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ; Thờ ơ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ; Phớt

lờ hoặc mặc kệ khi trẻ gặp phải một vấn đề nào đó; Gây ra những tổn thương về thể chất và tâm

lý cho trẻ; Không quan tâm đến đồng nghiệp/phụ huynh khi họ cần giúp đỡ; Dửng dưng vớinhững lời góp ý từ đồng nghiệp/phụ huynh/cấp trên về các vấn đề liên quan đến công việc

- Cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc: Cảm thấy mình không đủ năng lực để nuôi

dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ; Cảm thấy mình vô dụng, kém cỏi khi thực hiện nhiệm vụđược giao; Cảm thấy mình không đáp ứng được các nhu cầu/nguyện vọng/mong muốn của trẻ;Cảm thấy bất lực khi xử lý các tình huống nảy sinh trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ;Cảm thấy bị đồng nghiệp/phụ huynh/cấp trên coi thường, thương hại; Cảm thấy công việc củamình thật tầm thường, vô nghĩa; Tìm cách tránh né, từ chối các nhiệm vụ được giao; Trì hoãnviệc thực hiện nhiệm vụ

1.3.3 Hậu quả của kiệt sức nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non

1.3.3.1 Hậu quả đối với cá nhân giáo viên mầm non

- Hậu quả trên phương diện tâm lý: Căng thẳng, lo âu kéo dài; Có thái độ tiêu cực với tất

cả mọi thứ liên quan đến công việc; Tâm trạng ủ rũ, buồn bã; Dễ nổi nóng, tức giận vớitrẻ/đồng nghiệp/phụ huynh/cấp trên; Ghét bỏ bản thân; Có ý định tự tử; Sụt giảm động lực làmviệc; Mất đi sự nhiệt huyết trong công việc; Mất đi lý tưởng nghề nghiệp; Suy giảm trí nhớ;Hay nhầm lẫn/Kém minh mẫn; Lơ đãng, khó tập trung; Khả năng đánh giá, phán đoán, nhìnnhận vấn đề kém; Gặp khó khăn trong việc đưa ra quyết định

- Hậu quả trên phương diện thể chất: Đau đầu; Buồn nôn, chóng mặt, ù tai; Đau dạ dày;Đau ngực, tim đập nhanh; Nhức mỏi cơ/xương/khớp; Ăn không ngon miệng/chán ăn/thèm ăn

vô độ; Mất ngủ/ác mộng/ngủ quá nhiều; Khô họng/khàn giọng/nói đứt hơi; Giảm hứng thútình dục; Tiêu chảy/Táo bón/Đầy hơi; Rối loạn kinh nguyệt

- Hậu quả trên phương diện hành vi: Ít tích cực trong chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dụctrẻ; Ít đầu tư vào việc chuẩn bị đồ dùng dạy học, soạn giáo án; Hay đi làm muộn/về sớm; Haynghỉ làm (có phép lẫn không phép); Thực hiện công việc một cách qua loa, đối phó

- Hậu quả đối với chất lượng công việc và các mối quan hệ của người giáo viên: Ảnhhưởng xấu đến trải nghiệm của trẻ trong các hoạt động do giáo viên tổ chức; Ảnh hưởng xấuđến sự phát triển thể chất của trẻ; Ảnh hưởng xấu đến sự phát triển các chức năng tâm lý củatrẻ; Ảnh hưởng xấu tới sức khỏe tâm thần của trẻ; Mất tương tác và tạo ra sự xa cách vớitrẻ/đồng nghiệp/phụ huynh/nhà quản lý; Mâu thuẫn với đồng nghiệp trong quá trình nuôi

Trang 13

dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ cũng như thực hiện các nhiệm vụ khác mà nhà trường giao phó; Mâu thuẫn với cha mẹ trẻ trong việc phối hợp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ; Mâu thuẫnvới ban giám hiệu, quản lý nhà trường trong quá trình thực hiện công việc.

1.3.3.2 Hậu quả đối với trường mầm non

Gây mất đoàn kết nội bộ, chia rẽ tập thể nhà trường; Sụt giảm tinh thần làm việc chungcủa toàn trường; Sụt giảm hiệu quả làm việc của nhà trường; Khiến môi trường làm việc trởnên tiêu cực; Ảnh hưởng tới chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ của nhà trường;Ảnh hưởng tới danh tiếng/bộ mặt của nhà trường; Ảnh hưởng tới nề nếp, nội quy, quy định củanhà trường (Khi giáo viên đi trễ, về sớm); Gây xáo trộn về mặt nhân sự của nhà trường (Khigiáo viên bỏ việc, vắng mặt)

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới kiệt sức nghề nghiệp của GVMN

1.4.1 Các yếu tố thuộc về bản thân người giáo viên

1.4.1.1 Sức khỏe thể chất và tinh thần của giáo viên mầm non: Sức khỏe thể chất kém, Các

vấn đề về sức khỏe tinh thần có ảnh hưởng đến tình trạng kiệt sức của giáo viên

1.4.1.2 Năng lực nghề nghiệp của giáo viên mầm non: Chưa kịp thời cập nhật các kiến thức

mới liên quan đến giáo dục mầm non; Chưa hình thành được những kỹ năng mới đáp ứng yêucầu công việc; Chưa có thái độ tích cực với nghề

1.4.2 Các yếu tố thuộc về công việc của người giáo viên mầm non

1.4.2.1 Tính đặc thù của đối tượng làm việc: Trẻ còn quá bé bỏng, non nớt, nhạy cảm với các

tác động bên ngoài; Trẻ chưa có/chưa thuần thục các kỹ năng tự phục vụ; Trẻ có hành vi chưaphù hợp (khóc quấy, la hét, ăn vạ, nói dối ); Trẻ chưa diễn đạt được nhu cầu, nguyện vọngcủa mình; Lớp mà GVMN đang phụ trách có trẻ khuyết tật học hòa nhập

1.4.2.2 Tình trạng quá tải công việc: Sĩ số trẻ trong lớp học quá đông; Vừa phải nuôi dưỡng,

vừa phải chăm sóc, giáo dục, phòng bệnh và đảm bảo an toàn cho trẻ; Phải thực hiện nhiềucông việc ngoài chuyên môn; Phải chuẩn bị quá nhiều đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc dạyhọc và giáo dục; Phải tham gia quá nhiều cuộc thi, các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao donhà trường và các Sở, ban, ngành tổ chức; Phải tham gia học tập, bồi dưỡng kiến thức chuyênmôn, tập huấn, cập nhật chương trình giáo dục mầm non; Phải thực hiện quá nhiều hồ sơ sổsách; Phải thực hiện công tác huy động trẻ đến trường

1.4.2.3 Thời gian làm việc khắc nghiệt: Thời gian làm việc mỗi ngày tại trường mầm non dài

hơn quy định; Không có thời gian nghỉ ngơi trong quá trình làm việc; Phải đi làm cả nhữngngày nghỉ

1.4.2.4 Môi trường làm việc áp lực, thiếu sự hỗ trợ tại nơi làm việc: Nghề GVMN chưa được

xã hội đánh giá cao; Ông bà, cha mẹ trẻ quá bao bọc, nuông chiều trẻ; Ông bà, cha mẹ trẻ đặt rayêu cầu quá cao cho GVMN trong chăm sóc, giáo dục trẻ; Ông bà, cha mẹ trẻ không quan tâm,phó mặc việc chăm sóc, giáo dục trẻ cho GVMN; Không nhận được sự hỗ trợ, hợp tác củađồng nghiệp trong quá trình làm việc; Đồng nghiệp ganh ghét, đố kỵ lẫn nhau; Ban giám hiệuthiếu quan tâm, chỉ đạo công việc chưa sát sao; Ban giám hiệu thiếu khách quan và công bằngtrong phân chia nhiệm vụ và đánh giá kết quả làm việc của giáo viên; Ban giám hiệu chuyênquyền, độc đoán, trù dập giáo viên

Trang 14

1.4.2.5 Chế độ chính sách chưa tương xứng với công sức của người giáo viên: Tiền lương

thấp, không đủ trang trải cuộc sống; Những cống hiến của người giáo viên trong công việckhông được ghi nhận, tôn vinh một cách xứng đáng; Thiếu cơ hội học tập, phát triển bảnthân, thăng tiến trong nghề nghiệp; Điều kiện ăn ở, sinh hoạt của GVMN trong quá trìnhlàm việc còn thiếu thốn sẽ tác động không nhỏ đến tình trạng KSNN của GVMN ở các tỉnhTây Nguyên

1.4.3 Điều kiện kinh tế - xã hội: Đi làm xa xôi, vất vả, nguy hiểm; Trường lớp tạm bợ, cơ

sở vật chất phục vụ giáo dục còn nghèo nàn lạc hậu; Đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học cònthiếu thốn; Trường mà thầy cô đang công tác có nhiều điểm trường; Lớp học mà thầy côphụ trách có nhiều trẻ em dân tộc thiểu số; Có sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa của thầy

cô với học sinh của mình; Lớp học mà thầy cô phụ trách là lớp ghép, có trẻ ở nhiều độ tuổikhác nhau

Tiểu kết chương 1

Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoàinước về KSNN, tuy nhiên chưa nhiều công trình nghiên cứu về KSNN của GVMN Tuy nhiêntại Việt Nam, theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến thời điểm hiện tại có rất ít công trình nghiêncứu về KSNN ở GVMN, đặc biệt là ở các tỉnh Tây Nguyên

Trên cơ sở tiếp cận và kế thừa quan điểm của các tác giả đi trước, chúng tôi đã xây dựng

được khái niệm KSNN của GVMN: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non là trạng thái

cạn kiệt cảm xúc, suy kiệt nguồn lực thể chất, phi nhân cách hóa và cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc khi thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em từ 03 tháng đến

6 tuổi của người giáo viên mầm non.

KSNN của GVMN được biểu hiện ở bốn khía cạnh sau: cạn kiệt cảm xúc, suy kiệt nguồnlực thể chất, phi nhân cách hóa và cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc

KSNN gây ra những hậu quả không chỉ cho GVMN mà còn cho tổ chức nhà trường nơigiáo viên đang công tác

KSNN của GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: yếu tốthuộc về bản thân người giáo viên, yếu tố thuộc về công việc và yếu tố điều kiện kinh tế - xãhội

Ngày đăng: 16/07/2025, 10:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Mức độ kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non - Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Bảng 1. Mức độ kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non (Trang 16)
Bảng 2. Biểu hiện cạn kiệt cảm xúc của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên - Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Bảng 2. Biểu hiện cạn kiệt cảm xúc của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên (Trang 17)
Bảng 4. Biểu hiện phi nhân cách hóa của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên - Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Bảng 4. Biểu hiện phi nhân cách hóa của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên (Trang 18)
Bảng 5. Biểu hiện cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc của giáo viên mầm non ở các - Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Bảng 5. Biểu hiện cảm giác sụt giảm hiệu quả công việc của giáo viên mầm non ở các (Trang 19)
Bảng 7. Hậu quả thể chất của KSNN đối với GVMN các tỉnh Tây Nguyên - Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Bảng 7. Hậu quả thể chất của KSNN đối với GVMN các tỉnh Tây Nguyên (Trang 20)
Bảng 6. Hậu quả tâm lý của kiệt sức nghề nghiệp đến GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên - Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Bảng 6. Hậu quả tâm lý của kiệt sức nghề nghiệp đến GVMN ở các tỉnh Tây Nguyên (Trang 20)
Bảng 8. Hậu quả của kiệt sức nghề nghiệp đến công việc và các mối quan hệ của giáo - Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Bảng 8. Hậu quả của kiệt sức nghề nghiệp đến công việc và các mối quan hệ của giáo (Trang 21)
Bảng 9. Hậu quả của KSNN đến trường mầm non nơi giáo viên đang công tác - Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Bảng 9. Hậu quả của KSNN đến trường mầm non nơi giáo viên đang công tác (Trang 22)
Bảng 11. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố độc lập đến tình trạng kiệt sức nghề nghiệp - Tóm tắt: Kiệt sức nghề nghiệp của giáo viên mầm non ở các tỉnh Tây Nguyên
Bảng 11. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố độc lập đến tình trạng kiệt sức nghề nghiệp (Trang 25)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w