Về năng lực, hiện tại đối tượng bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dân sự do bệnh lý Tâm thần, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”, ta thấy việc Tòa án tuyên b
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
các yêu cầu.
Hà Nội, 2025Lớp: 2410732-4932.TMQT.TSC
Trang 2BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ
THAM GIA LÀM BÀI TẬP NHÓM
Ngày: / /2025 Địa điểm: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhóm số: 02 Lớp: 4932 Khóa: 49 Khoa: Luật TMQT
Tổng số sinh viên của nhóm: 17
+ Có mặt: 17
+ Vắng mặt: 0
Nội dung: Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia làm bài tập nhóm
Tên bài tập: Hãy sưu tầm một quyết định sơ thẩm của Tòa án liên quan đến việc
tuyên bố một cá nhân bị mất NLHVDS hoặc bị hạn chế NLHVDS mà theo quan
điểm của nhóm quyết định đó là chưa phù hợp, và giải quyết các yêu cầu
Môn học: Luật dân sự 1
Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia như sau:
Đánh giá của SV SV ký
12 241092869 Nguyễn Thanh Huyền
13 241092872 Nguyễn Minh Khuê
14 241092873 Nguyễn Sỹ Hoàng Lâm
15 241092874 Nguyễn Thị Mai Liễu
16 241092875 Đinh Phan Huyền Linh
17 241092876 Lê Khánh Linh
- Kết quả điểm bài viết:
+ Giáo viên chấm thứ nhất: ………
+ Giáo viên chấm thứ hai: ………
- Kết quả điểm thuyết trình:
Giáo viên cho thuyết trình: ………
- Điểm kết luận cuối cùng:
Hà Nội, ngày tháng năm 2025
TRƯỞNG NHÓM
Đàm Yến Duyên
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật dân sự BLDS
Trang 4MỤC LỤC
MỞ BÀI 1
NỘI DUNG 1
I Tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm số 221/2022/QĐST-VDS 1
II Những điểm chưa phù hợp trong quyết định sơ thẩm 3
1 Cơ sở pháp lý: 3
2 Phân tích: 3
III Cách giải quyết phù hợp với quyết định sơ thẩm 4
1 Căn cứ pháp lý 4
2 Phân tích 5
IV Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về việc tuyên bố một cá nhân bị mất hoặc hạn chế NLHVDS 7
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
PHỤ LỤC 13
Trang 5MỞ BÀI
Trong lĩnh vực dân sự, NLHVDS của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng
hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Trên thực tế,
NLHVDS của mỗi cá nhân là khác nhau, bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
sự phát triển tâm sinh lý, khả năng nhận thức và làm chủ hành vi Việc Tòa ántuyên bố một người bị mất hoặc bị hạn chế NLHVDS đôi khi vẫn còn chưachính xác, dẫn đến những hậu quả pháp lý đáng tiếc, ảnh hưởng nghiêm trọngđến quyền lợi của cá nhân đó Từ thực trạng này, nhằm phân tích, đánh giánhững điểm chưa hợp lý khi áp dụng các quy định của pháp luật trong việctuyên bố mất hoặc hạn chế NLHVDS của cá nhân, nhóm chúng em đã tìm hiểu
và lựa chọn “Quyết định sơ thẩm số 221/2022/QĐST-VDS ngày 28/10/2022
của TAND quận Nam Từ Liêm - thành phố Hà Nội về việc tuyên bố một
người bị hạn chế NLHVDS”, từ đó đưa ra kiến nghị và đề xuất hướng giải
quyết phù hợp hơn với tinh thần pháp luật và thực tiễn xã hội
NỘI DUNG
I Tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm số 221/2022/QĐST-VDS
Ngày 28/10/2022, tại trụ sở TAND quận Nam Từ Liêm mở phiên họp sơ thẩm
công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 37/2022/TLST-VDS ngày 12/7/2022
về việc “Yêu cầu tuyên bố một người bị hạn chế NLHVDS” theo Quyết định
mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 05/2022/QĐST-VDS ngày20/10/2022
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Vũ Thị N, sinh 1981 (Có mặt) Đối với: Anh Nguyễn Hữu V, sinh 1978 (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị B, sinh 1948, là mẹ ông
Nguyễn Hữu V (Vắng mặt)
Tóm tắt nội dung quyết định:
Trang 6Tại đơn yêu cầu và phiên họp, chị Vũ Thị N trình bày: Chị là vợ anhNguyễn Hữu V Anh V sinh năm 1978, từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thànhthể chất và tinh thần đều phát triển bình thường cho đến năm 1998 thì bị Bệnhviện Tâm thần Sài Đồng chẩn đoán mắc tâm thần phân liệt Sau điều trị, anh V
đã ổn định tạm thời về tinh thần, gia đình đã đưa anh về nhà uống thuốc Banđầu anh V còn làm được vài việc nhà nhẹ nhàng nhưng sau đó bệnh khôngthuyên giảm, các triệu chứng cũ lại tiếp diễn Năm 2006, anh tiếp tục điều trị tạiBệnh viện Tâm thần Trung ương Thường Tín Tới nay, anh V chỉ tự tắm rửa, ăn,ngủ, không tự đi lại xa nhà, mọi sinh hoạt khác đều cần người hỗ trợ Từ đó, chị
N đề nghị TAND quận Nam Từ Liêm tuyên bố anh V bị hạn chế NLHVDS và
cử chị N là người giám hộ cho anh V để thay mặt anh V làm mọi thủ tục pháp lýliên quan.
Nhận định của Toà án như sau:
[1] Về tố tụng: Hiện anh Nguyễn Hữu V có địa chỉ tại Số nhà X, ngách Y, TDP D, phường T, quận N, thành phố H nên yêu cầu “Tuyên bố một người bị
hạn chế NLHVDS” của chị Vũ Thị N đối với anh Nguyễn Hữu V thuộc thẩm
quyền của TAND quận Nam Từ Liêm theo quy định tại Điều 27, 35, 39 Bộ luật
tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Anh Nguyễn Hữu V là chồng chị Vũ Thị N, có tiền sử phát
triển thể chất và tinh thần bình thường Từ năm 1998, do áp lực anh V bắt đầu
có biểu hiện bệnh lý tâm thần như nói cười một mình, cáu gắt, mất ngủ Ngày09/8/2002, anh được lập hồ sơ điều trị tại Trung tâm y tế quận Nam Từ Liêm.Anh V đã kết hôn với chị Vũ Thị N năm 2005 Dù đã điều trị nhiều năm, bệnhkhông thuyên giảm Ngày 07/10/2022, anh V được đưa đến Viện Pháp y tâmthần Trung ương giám định Qua thăm khám, ghi nhận: hình dạng lôi thôi,không giao tiếp, tư duy gián đoạn, phủ định bệnh, nói lẩm bẩm, trí nhớ, trí tuệ
và chú ý kém Tại đây, các bác sĩ đưa ra Kết luận giám định sức khoẻ Tâm thần
số 260/KLGĐ ngày 10/10/2022
Trang 7Xét tình trạng thực tế và kết quả giám định pháp y tâm thần của anhNguyễn Hữu V là phù hợp với pháp luật Do đó, chị Vũ Thị N yêu cầu Toà ántuyên bố anh Nguyễn Hữu V bị hạn chế NLHVDS là có căn cứ để chấp nhận.Chị N và bà B cùng thống nhất cử chị Vũ Thị N là người giám hộ cho anhNguyễn Hữu V (Biên bản họp có xác nhận của UBND phường Tây Mỗ) Việccác đương sự thống nhất cử chị N là người giám hộ cho anh V là đúng quy địnhcủa pháp luật nên cần được chấp nhận.
II Những điểm chưa phù hợp trong quyết định sơ thẩm số 09/2020/TLST-DS
Thứ nhất, căn cứ vào Kết luận của Viện pháp y tâm thần trung ương đưa ra:
“Về y học, tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Hữu V bị bệnh Tâm thần
phân liệt thể di chứng Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh
có mã số F20.5 Về năng lực, hiện tại đối tượng bị hạn chế khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi dân sự do bệnh lý Tâm thần, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi”, ta thấy việc Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Hữu V bị hạn chế
NLHVDS là điểm không phù hợp của quyết định này Bởi trường hợp bị hạn
chế NLHVDS được quy định tại Khoản 1 Điều 24 BLDS 2015: “Việc tuyên bố
một cá nhân bị hạn chế NLHVDS chỉ áp dụng cho trường hợp người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản gia đình” Trong
khi đó, trường hợp của anh Nguyễn Hữu V được xác định mắc bệnh tâm thầnphân liệt, nhận thức không được bình thường nên anh không đủ khả năng nhậnthức và làm chủ hành vi Xét thấy, ông V không phải người nghiện ma túy hoặcchất kích thích dẫn đến phá tán tài sản của gia đình, nên không thể thuộc trường
Trang 8hợp bị hạn chế NLHVDS được quy định tại Khoản 1 Điều 24 trên Thực tế, xét
trường hợp ông V bị tâm thần phân liệt thuộc tình trạng tinh thần không đủ khả
năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức “không thể nhận thức,
làm chủ hành vi” nên cũng không thuộc trường hợp mất NLHVDS Như vậy đủ
điều kiện để kết luận ông V là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi được quy định theo Khoản 1 Điều 23 BLDS 2015 Tuy nhiên, do nhầm lẫn
nên chị N không phân biệt được anh V đang bị hạn chế NLHVDS hay là người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Đồng thời sự thiếu sót của Tòa
án khi xem xét kết luận giám định pháp y cũng là cơ sở cho việc đưa ra phánquyết sai
Thứ hai, việc Tòa án chấp thuận yêu cầu từ phía đương sự cử chị N là người
giám hộ cho anh Nguyễn Hữu V không phù hợp với căn cứ pháp luật Căn cứ
vào Khoản 1 Điều 24 BLDS 2015: “Tòa án quyết định người đại diện theo
pháp luật của người bị hạn chế NLHVDS và phạm vi đại diện.”, nhận thấy rằng
Tòa phải trực tiếp chỉ định người đại diện theo pháp luật chứ không phải chấpnhận yêu cầu cử người giám hộ từ chị N và gia đình Như vậy, Tòa đã áp dụngkhông đúng thẩm quyền của Tòa án trong việc chỉ định người giám hộ Để chị N
có thể trở thành người giám hộ thì anh V buộc phải thuộc trường hợp bị khó
khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc mất NLHVDS theo Khoản 1 Điều
46 BLDS 2015: “Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được
Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 BLDS 2015 để thực hiện về chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên người mất NLHVDS, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi”.
III Cách giải quyết phù hợp với quyết định sơ thẩm số 09/2020/TLST-DS
1 Căn cứ pháp lý
- Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015
- Khoản 1 Điều 23 Bộ luật Dân sự 2015
- Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015
Trang 9- Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015.
- Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Dân sự 2015
- Khoản 2 Điều 48 Bộ luật Dân sự 2015
- Điểm d, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015
- Điều 49, Bộ luật Dân sự 2015
2 Phân tích
Căn cứ theo những điểm chưa phù hợp đã nêu trên, có thể thấy những quyếtđịnh liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự trên là chưa thích đáng Theonhóm chúng em, cách giải quyết phù hợp đối với vụ việc dân sự trên như sau:
Thứ nhất, về việc tòa chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Vũ
Thị N, tuyên bố anh Nguyễn Hữu V bị hạn chế khả năng nhận thức và điềukhiển hành vi dân sự là chưa đúng Theo đó, cách giải quyết phù hợp ở đây là
Tòa án căn cứ theo khoản 1 Điều 23 BLDS 2015 để tuyên bố anh Nguyễn Hữu
V là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Điều kiện để Tòa ántuyên bố một cá nhân có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là:
Về độ tuổi, phải là người thành niên (người từ đủ mười tám tuổi trở lên) ở
trường hợp này, có thể thấy anh Nguyễn Hữu V sinh năm 1978 và thời gian raquyết định của bản án là năm 2022 Do đó anh Nguyễn Hữu V hoàn toàn làngười đã thành niên
Về yếu tố thể chất (có sự khuyết tật về cơ thể như mù, câm, điếc hoặc bị tai nạn
dẫn đến liệt người, ) hoặc yếu tố tinh thần, nhận thức (những sang chấn tâm lý
hoặc các chứng bệnh gây ảnh hưởng đến tâm lý của cá nhân, bệnh tật hoặc cácnguyên nhân khác làm ảnh hưởng, đến nhận thức) khiến cho cá nhân đó không
đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất NLHVDS.Theo lời kể của chị Vũ Thị N, anh V vẫn có thể tự làm vài việc cá nhân và kết
quả của Viện pháp y tâm thân cũng chỉ rõ anh Nguyễn Hữu V có “tư duy nhịp
chậm gián đoạn…trí tuệ, trí nhớ kém…” nên mới không đủ khả năng nhận thức
và làm chủ hành vi tuy nhiên chưa đến mức mất NLHVDS theo khoản 1 Điều
22 BLDS 2015 Trường hợp của anh V chỉ là trạng thái cảm xúc không ổn định
Trang 10do căng thẳng, suy nghĩ nhiều, nhận thức của anh V không được bình thường do
bị tâm thần phân liệt chứ không rơi vào trường hợp mất khả năng nhận thức,kiểm soát hành vi hoặc không nhận thức được hậu quả của mình.
Về yêu cầu, cần có yêu cầu của chính người này, người có quyền, lợi ích liên
quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan Ở vụ việc này đã có yêu cầu củangười có quyền, lợi ích liên quan là chị Vũ Thị N - vợ anh Nguyễn Hữu V.
Về cơ sở kết luận, cần có kết luận giám định pháp y tâm thần, tại Kết luận giám
định sức khỏe tâm thần số 260/KLGĐ ngày 10/10/2022 của Viện pháp y tâm
thần trung ương Có thể thấy rằng dựa trên kết luận của Trung tâm pháp y tâm
thần trung ương, trường hợp của anh Nguyễn Hữu V không phải là người mất
NLHVDS và cũng không thuộc trường hợp hạn chế hành vi dân sự theo Khoản
1 Điều 24 BLDS 2015 là người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác
dẫn đến phá tán tài sản của gia đình
Trên cơ sở của các điều kiện trên, Tòa án hoàn toàn có thể ra quyết địnhtuyên bố anh Nguyễn Hữu V là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi theo Khoản 1 Điều 23 BLDS 2015.
Thứ hai, về chỉ định người giám hộ Theo Khoản 1 Điều 46 BLDS 2015
và điểm d Khoản 1 Điều 47 BLDS 2015, người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi thuộc đối tượng người được giám hộ Đồng thời, việc giám hộphải do Tòa án chỉ định theo quy định pháp luật, không thể căn cứ vào sự thốngnhất của gia đình Tuy nhiên với việc Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Hữu V làngười bị hạn chế NLHVDS thì đối với người bị trường hợp này căn cứ theo
Khoản 1 Điều 24 BLDS 2015 Tòa án sẽ quyết định người đại diện theo pháp
luật và phạm vi đại diện cho anh Nguyễn Hữu V Tuy nhiên, theo sự thống nhấtcủa gia đình, Tòa án đã quyết định chị Vũ Thị N là người giám hộ cho anhNguyễn Hữu V Có thể thấy Tòa án đã có sự nhầm lẫn trong việc xác định ngườigiám hộ và người đại diện cho trường hợp của anh Nguyễn Hữu V, đồng thời có
Trang 11sai sót trong việc xác định người giám hộ phải theo sự chỉ định của Tòa án chứkhông thể theo yêu cầu từ phía gia đình.
Để giải quyết vụ việc dân sự cho phù hợp, Tòa án cần căn cứ theo Khoản
1 Điều 23 về người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, chỉ định
người giám hộ, xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ cho anh NguyễnHữu V Như vậy, Tòa án sẽ thực hiện việc chỉ định người giám hộ cho anh
Nguyễn Hữu V theo Khoản 1 Điều 23 BLDS 2015 về người có khó khăn trong
nhận thức làm chủ hành vi chứ không phải theo thỏa thuận của gia đình và cần
có sự được sự đồng ý từ cá nhân phía anh Nguyễn Hữu V nếu tại thời điểm đóanh Nguyễn Hữu V có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu
căn cứ theo Khoản 2 Điều 46 BLDS 2015: “Trường hợp giám hộ cho người có
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người
đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu.”.
Trong trường hợp chị Vũ Thị N muốn trở thành người giám hộ cho anh
Nguyễn Hữu V thì căn cứ theo Khoản 2 Điều 48 BLDS 2015: “Trường hợp
người có NLHVDS đầy đủ với lựa chọn người giám hộ cho mình thì khi họ ở tình trạng cần được giám hộ cá nhân pháp nhân được lựa chọn là người giám
hộ nếu người này đồng ý việc lựa chọn người giám hộ phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực”, tức là khi anh Nguyễn Hữu V có
NLHVDS đầy đủ lựa chọn chị Vũ Thị N làm người giám hộ cho mình khi anh V
ở tình trạng cần được giám hộ thì chị Vũ Thị N mới được trở thành người giám
hộ cho anh Nguyễn Hữu V và phải được lập thành văn bản có công chứng hoặcchứng thực Đồng thời chị Vũ Thị N cần phải đáp ứng đủ các điều kiện của cá
nhân làm người giám hộ theo Điều 49 BLDS 2015.
IV Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về việc tuyên bố một cá nhân bị mất hoặc hạn chế NLHVDS
Việc lần đầu tiên luật hóa khái niệm “người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” là một điểm mới tích cực Thay vì chỉ phân biệt cứng nhắc
Trang 12giữa người có năng lực hành vi đầy đủ và người mất hoàn toàn năng lực, pháp luật hiện hành đã công nhận sự tồn tại của một nhóm đối tượng trung gian – những người tuy chưa mất hoàn toàn năng lực hành vi nhưng vẫn cần có sự hỗ trợ, giám hộ để tham gia các giao dịch dân sự một cách an toàn và hợp pháp Điều này góp phần mở rộng cơ chế bảo vệ pháp lý, giúp những người rơi vào hoàn cảnh đặc biệt có thể sống và hòa nhập xã hội một cách tốt hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, quy định hiện hành vẫn còn tồn tại
một số bất cập Đáng nói, điểm hạn chế ở đây là sự gần nghĩa giữa “người có
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” với “người bị hạn chế NLHVDS”
nên một số chủ thể có thẩm quyền như Tòa án đôi khi cũng lúng túng dẫn đến
tuyên bố không chính xác và người dân cũng đồng nhất rằng “khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi” và “hạn chế NLHVDS” là một thuật ngữ pháp lý
như nhau Hơn nữa, đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vithì rất khó xác định vì người đó là người không nhận thức và làm chủ hành vi của mình nhưng lại chưa đến mức mất NLHVDS, quy định không cụ thể như vậy rất khó có thể phân biệt những trường hợp nào là trường hợp mất NLHVDS
và người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi, căn cứ để xác định đối với cả hai trường hợp trên là dựa vào kết luận giám định pháp y về tâm thần.Điều này khiến cho việc áp dụng pháp luật thiếu tính linh hoạt, thậm chí có thể dẫn đến lạm dụng hoặc bỏ sót trong quá trình bảo vệ quyền lợi người dân Từ bất cập nêu trên, nhóm chúng em có một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện nay:
Thứ nhất, cần hoàn thiện quy định cụ thể về căn cứ tuyên bố trường hợp
hạn chế NLHVDS hoặc mất NLHVDS hoặc khó khăn trong nhận thức và làm
chủ hành vi Trước hết, cần lí giải các trường hợp cụ thể về người bị tuyên bố
mất NLHVDS “Bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác dẫn đến mất khả năng nhậnthức, làm chủ hành vi” của cá nhân bị mất NLHVDS, bao gồm những bệnh gì,nhận biết những bệnh này bằng dấu hiệu gì, mức độ nghiêm trọng của từng loạibệnh Từ đó có thể phân biệt rõ ràng với cá nhân bị tuyên bố khó khăn trong