Philipphê Binh đã dùng quốc ngữ viết Sách SỐ sang chep các việc ghi lại khoảng hơn ba mươi năm sống ở Lixbon Bỏ Đào Nha kẻ tử 1796, nhưng những sự kiện như thế hầu như không có một tiếng
Trang 1nào? Những câu hoi đại loại như vậy đã từng được nhiều học
gia quan tâm Về lý thuyết, một nên văn mình cỏ đại đã phát triển khá cao trên vùng đất của Việt Nam ngày nay rất có thể
đã sản sinh ra chữ viết riêng trước khi tiếp xúc với chữ Hán'
Trên thực tế, giới nghiên cứu cũng đã tìm thấy những dấu vết
dường như của một thứ văn tự cổ khác với văn tự Hán trên địa
bàn của các tỉnh Hà Giang, Thanh Hoá Trên các trang mạng internet gần đây có thể dễ dàng tìm thấy những thông tin vẻ
một số nhà nghiên cứu đã và đang tâm huyết tìm kiếm thông tin về chữ Việt cô khác chữ Hán Tuy nhiên từ tâm huyết khoa học đến những kết quả thực sự có tính thuyết phục cao lại là ca
một van dé còn phai chờ đợi trong tương lai Không nhất thiết các kiêu chữ này cứ khác với chữ Hán tức là chữ của riêng người Việt cô mà có thê chúng c ảnh hương của kiều chữ cỏ
đến từ Án Độ giống như lịch sử chữ viết cua các dân tộc trong
vùng văn hoá Đông Nam Á (cái gọi là chữ khoa đâu - chữ nòng nọc) Tóm lại, vấn đề về chữ viết riêng cua người Việt cô
cho đến nay còn khá mơ hỗ và một nén van học viết bằng chữ
Việt cô này lại càng không thể xác định Va lai, giả sử người
SAO
Trang 2Việt cô đã từng có chữ viết nhưng sau đó bị mai một thì kết luận này vẫn
không thay đổi được thực tế là văn học trung đại đã được viết bằng chữ
Hán và chữ Nôm
Vì thể, trong sách này, chúng ta chỉ bàn về chữ Hán” và chữ Nôm là
thứ chữ viết đã được người Việt thời trung đại sử dụng để ghi chép và sáng
tác Những chứng tích văn học do người Việt sáng tác hiện còn lưu giữ
được chính là mảng sáng tác chữ Hán và chữ Nôm
Văn học trung đại được viết bằng hai thứ chữ Hán và Nôm Thứ chữ
mà đến đầu thế kỹ XX được cả nước công nhận là " "quốc ngữ" tuy đã phôi
thai từ thuở Alexander de Rhodes soạn sách Phép giảng tám ngày (xuất
bản năm 1651) Philipphê Binh đã dùng quốc ngữ viết Sách SỐ sang chep
các việc ghi lại khoảng hơn ba mươi năm sống ở Lixbon (Bỏ Đào Nha) kẻ
tử 1796, nhưng những sự kiện như thế hầu như không có một tiếng vọng
nào vào đời sống văn học của kẻ sỹ Việt Nam trung đại Đến năm 1887
Thay Lazaro Phién cua Nguyễn Trọng Quản xuất bản ở Sài Gòn, một
truyện ngắn viết theo lỗi kể Tây phương, song tác phẩm này chỉ lưu hành
trong phạm vi hẹp của người Công giáo nên chưa thành ngôn ngữ văn học
chung cho cả dân tộc Ngay cả khi bản Kim Vân Kiều truyện (tức Truyện
Kiêu) của Nguyễn Du được Trương Vĩnh Ký phiên âm ra quốc ngữ năm
1875, và ông chính thức gọi đây là thứ “quốc ngữ" (ghi rõ trên bìa sách
transcrit la première fois en quốc ngữ) thì thứ chữ này vẫn chưa được các
nho sỹ ủng hộ, nghĩa là giới nho sỹ đông đảo vẫn chưa chịu sáng tác bằng
quốc ngữ Có thể nói là văn học trung đại Việt Nam được sáng tác bằng
chữ Hán và chữ Nôm Bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của
Phạm Thế Ngũ đã trình bày văn học Việt Nam trung đại theo hai tập riêng:
văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm
1.1 Chữ Hán và văn học trung đại
Trong lịch sử, vấn đẻ ứng xử với bộ phận tác phẩm chữ Hán của người
Việt cũng đã từng được nêu lên, tạo thành vấn để tranh luận Ngay từ trước
năm 1945, đã có những quan điểm mặc nhận văn học Việt Nam thời xưa
bao gồm cả sáng tác chữ Hán và sáng tác chữ Nôm đồng thời cũng có ý
kiến phản bác, cho rằng chỉ nên thừa nhận mảng văn học tiếng Việt, tức là
văn học chữ Nôm ~ thuộc về văn học Việt Nam Cuộc thảo luận kéo dài
107
Trang 3đến mãi năm 1955 - 1956 trên tập san Văn Sử Địa xuất bản tại Hà Nội”
Tiếp tục quan điểm của một số học giả trước đó công trình Lược thảo lịch
sử văn học Việt Nam của các tác giả nhóm Lê Quý Đôn (NXB Xây dựng,
Hà Nội, 1957) chủ trương chỉ thừa nhận mảng sáng tác bằng tiếng Việt,
tức chỉ gồm những sáng tác viết bằng chữ Nôm thời trung đại Tại Sài
Gòn, năm 1960 Phạm Văn Diêu xuất bản Văn học Việt Nam cùng chủ
trương bỏ qua phần Hán văn Nhưng ngay trong cuộc thảo luận trên tập
san Văn Sứ Địa này, nhiều ý kiến chủ trương phải khẳng định vị trí của
mảng sáng tác bằng chữ Hán, chỉ ra tính phi lịch sử của quan niệm gạt bo
bộ phận sáng tác này Tại Sài Gòn, Phạm Thế Ngũ đã giữ quan điểm dung
hoà, không gạt bỏ các sáng tác Hán văn nhưng tập trung dành nhiều trang
khảo luận bộ phận văn Nôm Hiện nay, van dé này đã được giải quyết:
đứng vững trên quan điểm lịch sử cụ thể giới nghiên cứu đã dành sự quan
tâm công bằng đến cả hai bộ phận sáng tác chữ Hán và chữ Nôm
Các nhà nghiên cứu Hán tự Trung Quốc cho rằng chữ Hán đã có một
lịch sử khoảng hơn 4 ngàn năm Chữ Hán đến Việt Nam từ khi nào?
Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên viết rằng nước ta thông thi
thư, tập lễ nhạc, trở thành một nước văn hiến (văn hiến chỉ bang) là bắt
đầu từ Sỹ Vương (tức Sỹ Nhiếp) Không kể loại tiếp xúc cá nhân khó kiểm
chứng, những tiếp xúc chính thức trên cấp độ quốc gia có thê liên quan
đến chủ trương bành trướng của triều đại nhà Tần diễn ra năm 221 trước
Công nguyên và sau đó của triều Hán vào năm 112 trước Công nguyên Sử
sách chép vào thể kỷ thứ nhất sau Công nguyên, Tích Quang (Thái thú
Giao Chị) và Nhâm Diên (Thái thú Cứu Chân) là hai người tích cực nhất
trong việc truyền bá chữ Hán và Nho học vào nước taẾ Chúng ta không có
đủ tư liệu để tìm hiểu thái độ của người Việt thời đó đối với thứ chữ của
quân xâm lược như thể nào, chỉ biết đến thời kỳ quốc gia độc lập vào thế
kỷ X, chữ Hán đã được người Việt nắm vững và sử dụng trong văn bản
hành chính, tôn giáo, văn học Các triều đại phong kiến của nước Việt
Nam độc lập đã chọn chữ Hán làm chữ viết chính thức và từ đời Lý lại tô
chức các kỳ thi bằng chữ Hán đề tuyển chọn người tài bổ sung cho bộ máy
lãnh đạo Điều đó khiến cho chữ Hán có được vị thé lâu dài ở Việt Nam
Khoa thi đầu tiên năm 1075, là khoa thi chọn người học rộng thông hiều
kinh điển nho gia (minh kinh bác học), người đỗ là Lê Văn Thịnh Có thé
lấy thời điểm này làm mốc mở đầu cho lịch sử văn học khoa cử viết bằng
Trang 4chữ Hán ở Việt Nam Từ đó cho đến khoa thi Hương cuối cùng năm
1919, ngót ngàn năm, những người giỏi chữ Hán, thi văn chương chữ
Hán, sáng tác thi văn bằng văn học chữ Hán là một lực lượng hùng hậu,
mà nếu văn học sử bỏ qua sẽ là một thiếu sót lớn Chữ Hán có ảnh hưởng
sâu rộng trong vùng Đông Á và Đông Nam Á Truyền nhập vào Việt
Nam khá sớm, vào quãng thời Tần - Hán, năm 1075 với việc thành lập
Văn Miếu - Quốc Tử Giám, chữ Hán trở thành văn tự chính thức của nhà
nước phong kiến Việt Nam Cho đến đầu thế kỷ XX, ngay cá khi chữ
quốc ngữ đã sử dụng rộng rãi thì chữ Hán vẫn tiếp tục được dùng làm
thơ, ghi chép các công việc giao dịch dân sự như văn tự khé ước, gia
phả Số chữ Hán trong tiếng Việt có thẻ chiếm đến hơn một nửa số lượng
chữ của tiếng ViệU, trong khi đó không muộn hơn thế kỷ III sau Công
nguyên chữ Hán mới vào Nhật Bản Từ điển tiếng Nhật tương đối đầy
đủ, thu thập khoảng 50000 chữ Hán, còn số chữ Hán sử dụng trong chữ
Nhật hiện nay (thời điểm năm 1981) là 1945 cha’
Tuy sử dụng chữ Hán nhưng ta thấy hiện nay, người Việt đọc chữ Hán
khác với người Trung Quốc Đây là hiện tượng có nguyên nhân lịch sử sâu
xa, dn dang sau nó là quy luật tiếp nhận ảnh hưởng và từ việc tiếp nhận
chữ Hán mà hình thành một thứ tiếng Việt riêng Trên tạp chí Nam Phong
tháng 7 năm 1926, Phạm Quỳnh đã lược thuật kết quả nghiên cứu của nhà
Đông phương học Henry Maspéro về nguồn gốc âm Hán Việt, đại ý nói
người Việt đã học tiếng Hán trực tiếp từ người Hán Sau khi giành được
độc lập vào thể kỷ X, tiếp xúc giữa người Việt và người Hán ít đi, người
Việt giữ cách đọc chữ Hán theo âm cũ đã từng học trước thời tự chủ, trong
khi tiếng nói của người Hán tiếp tục thay đôi Âm cũ được bảo lưu đó
chính là âm Hán Việt "Tiếng Hán Việt là tiếng người Việt Nam đọc chữ
Tàu tự thế kỷ thứ X theo tiếng Tàu về cuối đời Đường đầu đời Tống Cách
đọc ấy khác cả các tiếng địa phương của Tàu ngày nay, vì là chuyên lai tự
tiếng Tàu vẻ thế kỷ thứ X, và từ bay dén nay 6 An Nam vẫn cứ học là một
thứ tử văn không theo phép tắc của tiếng Tàu nữa mà theo âm vận tiếng
An Nam Kết quả thành một thứ tiếng đặc biệt ghép vào với tiếng Nôm,
nghiễm nhiên là thứ tiếng của bọn học giả của phái nhà nho không phai là
tiếng Tàu vì không giống một thứ tiếng địa phương nào ở nước Tàu ngày
nay, mà cũng không phải là tiếng An Nam, vì ngoài những tiếng Nôm
chuyển lai từ chữ Hán, lại có vô số những câu những chữ mượn trong các
109
SAO
Trang 5kinh dịch Tàu mà đọc ra tiếng An Nam” Tóm lại, theo Phạm Quỳnh người nước ta chỉ có chung với người Tàu chữ viết còn mỗi đẳng có cách đọc riêng Vì thể mà ta nói đó là "chữ ta” chứ không coi là ngoại ngữ Ông
lễ Tiếng " “Han Việt ấy là tiếng học van, tiếng giáo dục, mỗi ngày một thấm dẫn vào tiếng thông thường trong dân gian mà chính tiếng thông thường trong dân gian, ngoài một cái gốc Nôm lõi còn thời nhiều chữ cũng là chuyên lai tự tiếng Tàu mà âm vận biến hoá theo một cái phương pháp riêng sẽ giải sau này, cho nên tiếng * "chữ" với tiếng * "nôm” hầu như hỗn hợp với nhau, tiếng “chữ” gần tiếng “nôm” thời mất những cái đặc tính trong cú pháp Tàu mà cũng uốn theo hình thức tiếng An Nam, thành
ra một thứ tiếng rất phong phú và rất phức tạp, chính là iéng van chuong của ta, như tiếng Truyện Kiều và các tho truyện khác"” Các nhà nghiên cứu đều ghi nhận sự thực là do âm đọc chữ Hán Việt tương ứng với tiếng Hán khoảng thế kỷ X nên thơ Đường đọc theo âm Hán Việt vẫn giữ nguyên âm điệu, bằng trắc của thế kỷ X trong khi đó đọc theo tiếng Hán thể ky XXI-vi tiếng Hán đã biến đôi mạnh mẽ - không cảm nhận thấy cái hay về âm điệu, bằng trắc hay tiết tâu
Tuy cách đọc khác nhau nhưng nghĩa chữ Hán về cơ bản là tương
đồng trong nhận thức của kẻ šÿ trong không gian văn hoá chữ Hán Vì thể
nên nhà nho Việt Nam có thê bút đàm với nhà nho Trung Quốc các sứ
thần Việt Nam gặp gỡ các sứ thần Triều Tiên tại Trung Quốc có thé làm
thơ xướng hoạ với nhau Cuối thế ký XIX, khi đi * "dương trình hiệu lực”
ở vùng Đông Nam Á, các nhà nho Việt Nam như Cao Bá Quát Lý Văn
Phức Phan Huy Chú đã phát huy vốn chữ Hán uyên bác đề bút đàm với
Hoa kiều ở các nước Đông Nam Á Phan Bội Châu cũng nhờ bút đàm mà
hiểu được tư tưởng của người Nhật Bản Nói cách khác, việc tham gia
vào không gian văn hoá chữ Hán đã là một nhân tố quan trọng nâng tầm
tư tưởng và trình độ sáng tạo của trí thức Việt Nam thời trung đại lên tâm
quốc tế trong bối cảnh thời đại đó Nhờ nắm vững công cụ chữ Hán, trí
thức Việt Nam có thê phát triển, chiếm lĩnh được kho tàng văn hoá và
văn học rất phong phú cũng như qua đó, mở cánh cửa nhìn ra thể giới xa
rộng hơn Thời trung đại người Việt qua chữ Hán mà đọc được kinh Phật
của Án Độ, đến thời cận đại, các bản dịch của Nghiêm Phục từ sách tư
tưởng Tây phương ra chữ Hán đã là một nguồn tri thức mới mẻ làm thay
đổi tư tưởng bảo thủ cũ kỹ của các nhà nho Việt Nam Trước khi đội ngũ
110
BAN SAO
Trang 6trí thức Tây học có khả năng tiếp xúc trực tiếp nguyên bản tài liệu bằng
các thứ tiếng Tây Âu, thì sách Tân thư chữ Hán đã giúp cho dòng tư
tưởng đôi mới được liên tục Bước sang thời hiện đại, vào năm 1930, khi
mà chữ quốc ngữ đã hầu như độc chiếm đời sống báo chí xuất bản, Đào
Duy Anh đã kịp thời biên soạn Từ điển Hán Việt, đóng góp tích cực cho
chuẩn hoá thuật ngữ, danh từ khoa học bằng chữ Hán Vai trò của chữ
Hán đối với văn hod, van học Đông Á có thể so với vai trò của tiếng
Latinh đối với văn hoá Tây Âu
Tắt nhiên, là thứ chữ viết có âm đọc khác với tiếng Việt và mặt chữ
không dễ nhớ nên chữ Hán hiển nhiên khó học, khó hiểu ngay cả đối với
quan lại triéu đình nếu như ít học, nói gì đến người dân thường không biết
chữ Đại Việt sử ký toàn thư chép sự việc năm 1288, cho hay: " "Lệ cũ mỗi
khi tuyên đọc lời vua, thì viện Hàn lâm lĩnh đưa bản tháo tờ chiếu cho
Hành khiển để giảng tập trước Đến khi tuyên đọc, thì giảng cả âm nghĩa
cho dân thường dễ hiểu, vì chức Hành khiển chỉ dùng hoạn quan thôi Bây
giờ, Lê Tòng Giáo làm tả phụ, vốn bất hoà với Hàn lâm phụng chi Đỉnh
Củng Viên Ngày tuyên đọc lời vua đã đến rồi mà Củng Viên vẫn cố ý
không đưa bản thảo Tòng Giáo đòi nhiều lần vẫn không được Hôm ấy, xa
giá sip ra ngoài cung, Củng Viên mới đưa bản thảo Tong Giáo tuyên đọc
tờ chiều đại xá, không hiểu âm nghĩa phải im lạng by gọi Củng Viên
đứng đẳng sau nhắc bảo âm nghĩa Tòng Giáo rất thẹn”!°, Câu chuyện này
cho thấy viên hoạn quan có trình độ sơ học về chữ Hán đã gặp khó khăn
thế nào, đồng thời cho thấy sự phiền phức trên thực tế của chữ Hán - dân
chúng không hiểu được chiếu của vua, phải qua phiên dich, giải thích
Người xưa đã phải trải qua nhiều năm đèn sách rèn tập, lại được thử thách
thi cử mới có thể viết văn làm thơ được bằng chữ Hán Điều này hạn chế
đến sức phô cập của văn học chữ Hán trong xã hội Công chúng của văn
học chữ Hán chủ yếu giới hạn trong phạm vi những người biết chữ Hán,
nghĩa là tác giả và độc giả có sự cộng thông cả về tầng lớp, giai cấp và học
vấn Có những điều rất khó hiểu đối với người đọc hiện đại như các điên
tích, điển có, các đặc ngữ, các thi pháp văn pháp đòi hói có chuyên gia
chú giải thì cộng đồng văn hoá chữ Hán xưa lại tiếp nhận một cách dễ
dang vì tất cả được rèn tập, được trang bị học vấn tương đồng Những nhà
biên dịch khảo cứu hiện nay phải có trình độ nhất định kết hợp với việc
tra cứu các loại từ điển, các loại sách tham khảo thì mới có thê hiểu được
MW
SAO
Trang 7nội dung văn bản xưa Cứ xem Nguyễn Văn Tó phê bình bộ sách Việt Nam
văn học do Ngô Tắt Tổ biên soạn hồi năm 1942 thì đủ hình dung tính chất
phức tạp của việc chúng ta tiếp nhận văn học trung đại '
Vì chữ Hán trong hàng ngàn năm là chữ viết chính thức của nhà nước nên những người nắm vững chữ Hán - đội ngũ trí thức - được tuyển chọn vào bộ máy quan liêu phục vụ chế độ phong kiến, được hưởng bỏng lộc triều đình, hay ít ra, do đọc được sách vớ về y học, vẻ phong thuỷ, về bói
toán mà có sinh kẻ an nhàn hơn người nông dân Chữ Hán đã trở thành
phận con
một biểu tượng vẻ sức mạnh kỳ diệu, thần bí, có thẻ thay đổi
người nắm vững chữ Hán là một bước lên quan, hay ít nhất cũng giúp ke
sỹ kiếm sống ung dung, nhàn hạ bằng nghễ làm thuốc dạy học bói toán,
cầu cúng, những lĩnh vực mà ngay cả thời hiện đại xã hội vẫn tiếp tục có
nhu cầu Và chữ Hán lại khó học, người giỏi chữ Hán được xã hội sùng
bái, kính nề, trọng vọng như là người siêu phàm, đường như của trời phật,
thánh thần Chữ Hán đã đi vào văn hoá Việt Nam, từng chiếm một vị trí
quan trọng trong tâm thức văn hoá người Việt Người ta sùng bái chữ Hán
với một niềm tin tôn giáo Trên Đông Dương tạp chí năm 1913 có viết về
điều này như sau: "Người Á châu ta cho văn tự là một cái tài của thần
thánh đặt ra, có cái thiêng liêng ở trong ấy Cho nên kính chữ là kính hình
dạng chữ mà thôi Giấy có chữ bắt cứ là chữ gì, chữ hay hoặc chữ dơ, cũng
phải nhặt mà đốt đi Có nhà làm phúc thuê người đeo cái giỏ tay cầm cái
gắp đi các ngã ba đầu chợ thấy giấy chữ đâu nhặt về mà đốt, tin rằng làm
như thể thì được phúc to, cũng như phúc cứu cháy vớt đắm ( r Bay giờ
chùa Ngọc Sơn cũng vẫn có một người đi nhặt giấy chữ về đốt"!? Các tờ
giấy có chữ được gom nhặt để đót đi nói trên chính là những giấy có chữ
Hán Sự sùng bái chữ thánh hiền hãy còn vang bóng trong văn học nửa đầu
thể kỷ XX ví dụ truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân kể về thú
chơi thư pháp chữ Hán ảnh hưởng cả đến một người quản ngục Phóng sự
Việc làng của Ngô Tắt Tổ kế về người dân quê quý trọng câu đối chừ Hán
như thể nào Mãi đến năm 1970, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân ở miễn
Nam vẫn có thẻ mô tả sự sùng bái chữ Hán ở nông thôn: "Ở thôn quê hiện
nay, đôi nơi vẫn còn cái tục trọng chữ thánh hién, người ta dùng bắt kỳ thứ
giấy quốc ngit, Tay, My dé biến thành giấy vệ sinh, nhưng giấy có chữ
Nho thì tuyệt nhiên không bao giờ",
112
Trang 8Trong thé ky XX, tạp chí Nam Phong — xuất bản từ 1917 đến 1934,
chắc hăn đã tính đến ba loại độc giả chủ yếu khi ấy nên có ba thứ chữ Việt
(quốc ngữ), Hán, Pháp Khi mà chữ quốc ngữ đã thống trị, rải rác vẫn có
một số tác giả tiếp tục sáng tác bằng chữ Hán va theo thi pháp tập cô thơ
Đường luật (như Phan Mạnh Danh) Hiện nay, trong một số câu lạc bộ thơ
của người cao tuổi một số người còn tiếp tục làm thơ Đường luật chữ
Hán Thú chơi thư pháp chữ Hán hiện đang hỏi sinh Những ' "ông đỏ" già
có trẻ có tưởng như đã biến mắt từ hồi Vũ Đình Liên viết bài thơ Ông đổ
trước 1945, nay lại bày mực tàu giấy đỏ quanh khu Văn Miều - Quốc Tư
Giám vào những ngày xuân, đặc biệt là ngày Thơ Việt Nam vào rằm tháng
giêng Không nói đến thời trung đại, ngay hiện nay, việc sử dụng các từ
ngữ gốc Hán (còn gọi là từ Hán Việt) có một vị trí quan trọng trong tu từ
học tiếng Việt Điều này thì từ thập niên 1930, Phan Khôi đã lưu ý Ông đã
nói đến phong cách học của từ ngữ Hán Việt dùng trong những hoàn cảnh
cần có sự lịch thiệp trang trọng, ví dụ như chữ tiên sanh trang trọng hơn
chữ thay, khái niệm đức dực gọn hơn là dịch nghĩa sự nuôi nắng dạy dỗ
cho người ta có đức, không thé rút gọn thành nưôi đức hoặc đức nuôi
Nhiều khái niệm liên quan đến khoa học xã hội nhân văn như đạo đức
nhơn nghĩa, lương tâm, chánh trị, triết học, khoa học không thể thiếu
trong từ vựng tiếng Việt Tuy không thể lạm dụng việc dùng từ ngữ Hán
ở những ngữ cảnh có thê thay bằng tiếng Việt, song rõ ràng, từ ngữ Hán đã
nhập tịch vào ngôn ngữ hing ngày, vào sáng tác văn chương và nghiên cứu
khoa học của người Việt
Văn học Việt Nam trung đại được viết bằng hai thứ chữ Hán và Nôm
Nhưng ngay cả khi viết chữ Nôm, các tác giả trung đại Việt Nam cũng đã
qua đào luyện học vấn và văn chương bằng chữ Hán, trong không ít sáng
tác của họ ngén ngang những từ ngữ, khái niệm Hán học không dé nắm bắt
với người hiện dail’
Về đặc điêm của chữ Hán, các nhà nghiên cứu Trung Quốc có những
thuyết khác nhau Có thuyết cho đây là thứ chữ âm nghĩa, cũng tức là thứ
chữ "hình thanh”, ví dụ chữ 4È (hoa) gém hinh bang ** (thao đầu nguyên
nghĩa là có) và thanh bàng fÈ (hoá, chỉ âm) tạo thành ký hiệu chỉ ' "hoa"
Hiện tại loại chữ hình thanh chiếm trên 90% chữ Hán Lại có thuyết nói
BAN SAO
Trang 9đây là văn tự tượng hình, ví dụ như để chỉ vị trí trên dưới có chữ |:
(thượng), F (hạ) Lại có thuyết nói đến chữ Hán như là thứ văn tự ngữ tỏ mỗi chữ Hán biểu thị một âm tiết Mỗi thuyết đẻ cập đến một nét đặc
trưng của chữ Hán trong lịch sử vận động của nó Chúng ta không đi quá sâu vào hướng này mà chỉ quan tâm đến phương diện thẩm mỹ của chữ Hán do văn hoá tạo chữ mang lại Ở đây chỉ lưu ý những đặc điềm riêng
mà để đánh giá nó phải nhìn nhận nhiều mặt, không thể nhìn một chiều
hoặc chỉ có ưu điểm, hoặc chỉ có hạn ché Ngày nay chúng ta đã quen với
việc dùng chữ quốc ngữ - tức các ký tự Latinh đẻ ghi âm tiếng Việt, ghi
các từ Hán Việt, nên nhìn vào các chữ quốc ngữ abc đó, không thấy có gợi
ý gì về mặt biểu tượng, thậm chí là không hiểu hết cái hay, cái thú vị của
chữ Hán xét về tư duy, về văn hoá mà không dễ gì các thứ chữ khác có
được Có rất nhiều ví dụ về phương diện này Chữ #ƒ (háo) nghĩa là rố:
được tạo thành từ hai chữ #4 (nữ) và -ƒˆ (#) Số là người cỏ đại khi tạo chừ
này, xuất phát từ quan niệm phỏn thực đã chọn sự quan tâm nhiều nhất của
con người là sự phén diễn sinh dục Chit #1 (16) voi chit H (tha) dién ta
biểu tượng sinh thực khí nam, phản ánh quan niệm vẻ sự tiếp nối dòng dõi
là điều căn bản nhất trong văn hoá thờ phụng tổ tiên Nhiều chữ có bộ #4
(nữ) phản ánh quan niệm văn hoá của xã hội nam quyền vốn coi thường
phụ nữ Chữ # (gian) gồm ba chữ #4 (nữ) - nhiễu phụ nữ là gian trá Chữ
3 (thứ — lấy vợ) gồm lft (thủ — lấy) và É (nữ) có nghĩa là bắt lấy vợ (nam
chủ động); chữ É (hôn - lấy vợ) gồm # (nữ) và ‡Ÿ (hôn - hoàng hôn)
phan ánh tục lệ cổ đoạt vợ vào lúc hoàng hôn, chữ cỏ chỉ viết 4Ÿ, sau thêm
bộ # (nữ) Khái niệm văn học chính trị quan trọng hàng đầu là Øt (chính -
chính trị) cũng rất thú vị Chữ này đồng âm với IE (chính - là ngay thăng)
Khong Tử nói # #í II“†B “chính giả chính dã" (làm chính trị chính là ngay
thắng chính bản thân mình), nguyên tắc chính trị của nhà nho là trước hết
gương mẫu làm chính trực, ngay thăng chính bản thân mình, dùng đạo đức
dé cảm hoá thiên hạ Chữ + (vương = dé vương, vua) theo giải thích của
Đông Trọng Thư là ba vạch có nét sô diễn ý vua là người nói thông ba giới
Thiên - Địa - Nhân, người tham thông ba giới này là vương có ý biện
luận vương quyên và thần quyền là một Người xưa khi học chữ Hán đọc
sách chữ Hán không thê không bị ảnh hướng bởi những quan niệm về con
người, về xã hội, về chính trị an sau các chữ đó
SAO
Trang 10Do là thứ chữ tượng hình, hội ý nên chữ Hán có những kỹ thuật tu từ
rất đặc biệt Chẳng hạn nếu ta đọc bài thơ Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch bằng
chữ quốc ngữ thì không thể biết được rằng nhà thơ được mệnh danh là thì
tiên đã công phu chọn chữ Hán như thé nao dé dem lại ánh trăng tràn ngập
cho bài thơ này Câu đầu tiên Sang tién mình nguyệt quang đọc qua lời
dich chí biết nghĩa là Ánh trăng sáng đâu giường Nhưng nhìn vào câu thơ
chữ Hán I4: fi!] /] %, thấy 5 chữ này có đến ba chữ mang bộ ƒ] (iguyẻ! =
trăng) - một câu thơ đầy ánh trăng mà đọc theo âm Hán Việt hay nhìn vào
chữ quốc ngữ đã mắt hết Một ví dụ đề thấy tại sao văn thơ chữ Hán xưa
hấp dẫn các văn sỹ đến vậy, một sự hấp dẫn mà người không biết chữ Hán
không thẻ hiểu được Ưu điểm này là do lịch sử hình thành cách tạo chữ
biểu ý đem lại cho nó Chữ Hán không chỉ là thông tin đơn thuần mà còn
mang trong nó những quan niệm văn hoá cổ đại sâu sắc, tạo hứng thú thâm
mỹ mạnh mẽ cho người viết,
Bộ phận tác phẩm do người Việt viết bằng chữ Hán rất đỏ sộ Những
hệ quả của việc sử dụng chữ Hán là: các tác giả Việt Nam đã chịu ảnh
hưởng của quan niệm chính trị, đạo đức, thấm mỹ, của hệ thong thê loại
của thì pháp văn học Trung Quốc Để hiểu văn học trung đại Việt Nam,
người đọc cần có những tri thức cần thiết nhiều mặt về văn học Trung
Quốc Việc chú giải từ ngữ, điển tích ở các tác phẩm văn học trung đại là
thực tế cần thiết hiện nay, khi mà tuyệt đại bộ phận người Việt Nam hiện
đại không học và viết bằng chữ Hán nữa Nhưng cũng phải chú ý đến sự
Việt hos của nhiều từ ngữ Hán trong các tác phẩm văn học tiếng Việt Có
một số học giả chủ trương tìm nguồn gốc của mọi khái niệm mọi thuật
ngữ chỉ thể loại hay điển tích, điển cố trong nguồn văn liệu văn học Trung
Quốc cho một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam thì quan niệm này
lại cực đoan và có thể sai lầm Người nghiên cứu hiện nay phải một mặt
tính đến ảnh hưởng nhiều mặt này, mặt khác, cũng cần chú ý đến bản sắc
dân tộc độc đáo của văn học trung đại Dẫu là sử dụng chữ Hán dẫu là
chịu ảnh hưởng nhiều mặt của văn học Trung Quốc song sáng tác của các
tác giá Việt Nam vẫn phản ánh hiện thực Việt Nam thể hiện tâm hồn
người Việt Nam nên tất yếu có nội dung riêng, có những nét đặc trưng
riêng Không phải bất cứ từ ngữ, hình tượng nào có mặt trong một tác
phẩm (như Truyện Kiểu) đều có thể truy tìm xuất xứ từ văn học Trung
Quốc So sánh những từ ngữ như tric mai, loan phượng quân tử trong văn
115
SAO
Trang 11học chữ Hán và trong ca dao, dân ca Việt Nam dé thay có sự khác nhau'” Nhưng đó là so sánh giữa văn học bác học và văn học dân gian Người bình dân chi nghe các khái niệm Hán học và sử dụng chúng theo cách hiểu riêng của mình Đối với các khái niệm hay phạm trù văn hoá, văn học
trung đại viết bằng chữ Hán, tình hình phức tạp hơn ta tưởng
Bộ phận sáng tác bằng chữ Hán thời trung đại đã và đang dat ra cho
giới nghiên cứu hiện đại một vấn để khá phức tạp không dễ giải quyết đó
là vấn để ảnh hưởng của các khái niệm, phạm trù triết học, tư tưởng chính
trị, đạo đức, thâm mỹ viết bằng chữ Hán đến tư tưởng của các tác giả Việt
Về lý thuyết, khi ta sử dụng ngôn ngữ nào thì sẽ bị chính ngôn ngữ đó
"điều kiện hoá” Chúng ta đều biết, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư
tưởng Thượng Chỉ (tức Phạm Quỳnh) ở đầu thế ký XX đã nêu nhận xét:
"Có thể nói rằng các nhà cựu học hau hết tư tương bằng chữ Nho cả mà các bậc tân học cũng phản nhiễu tư tưởng bằng chữ Pháp hết Tư tưởng bằng thứ chữ nào là trong óc hỗ nghĩ ra một cái ý tưởng gì thời liền tự nhiên diễn ra bằng thứ chữ ấy, hoặc diễn ra thành câu rõ ràng hoặc diễn ra
u âm trong trí Nhu thé nhà nho học không mấy khi là không ám diễn tư tưởng mình bằng chữ nho, mà nhà tây học không mấy khi là không ám diễn tư tường mình bằng chữ Tây Như thế thời dẫu là tư tưởng riêng của mình mà một nứa thành ra Tây hay Tàu vậy"!”, Do quan niệm như vậy nên ông chủ trương xây dựng nên quốc văn để nhà văn Việt Nam tư duy bằng tiếng Việt: "Từ đó tôi đã gia công thí nghiệm và tự đặt lệ riêng cho mình rang: pham ur tưởng gì mà không nói ra được tiếng ta thì chưa phải là tư
tưởng của mình, còn là tư tưởng mượn cả” Thực vậy, khí một khái niệm được diễn đạt bằng một ngôn ngữ nào thì nó mang theo cả một nội hàm
văn hoá ân sau từ ngữ đó, đã được trình bày qua cả một hệ thông sách vở
văn hoá, lịch sử văn chương Khi ta tư duy bằng các khái niệm của một hệ thống tư tưởng thì hiển nhiên, ta chịu ảnh hưởng của tư tưởng ấy Các tác
giả trí thức thời trung đại thông kim bác cỏ đã tiếp nhận chúng qua sách vo
chữ Hán, tức là hiểu các khái niệm, phạm trù qua những ngữ cảnh cụ thê
Đọc càng nhiều sách, nghĩa là có nhiều ngữ cánh thì khả năng tiếp cận
đúng nội hàm văn hoá của các khái niệm càng cao
Nhưng trên thực tế nghiên cứu, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cho
rằng, khi đi vào ngữ cảnh văn hoá Việt Nam những từ ngữ gốc Hán không
116
Trang 12còn giữ nguyên nghĩa gốc nữa mà đã bị lọc qua tâm thức Việt Nam Đây là
một vấn đề vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn rất phức tạp mà việc
giải quyết nó liên quan không chỉ đến lý luận ngôn ngữ học mà còn cả lý
luận tiếp nhận văn hoá, tư tưởng, mở rộng ra là ảnh hưởng của các hệ tư
tưởng ngoại lai như Nho - Phật - Đạo vào Việt Nam thời cổ trung đại (và
rộng ra, cả việc tiếp nhận văn hoá và văn học phương Tây ở Việt Nam thời
hiện đại) Cách giải quyết vấn đẻ thường gây chia rẽ ngay trong giới
nghiên cứu Chăng hạn, nhiễu nhà nghiên cứu nhìn Nho giáo từ lập trường
dân tộc (cho Nho giáo là vũ khí tư tưởng của kẻ xâm lược) và tử lập
trường giai cấp (cho Nho giáo là công cụ của giai cấp thống trị) đã không
thừa nhận nội hàm của những phạm trù văn hoá chính trị Nho giáo trong
sáng tác của Nguyễn Trãi, tiêu biểu là trường hợp lý giải khái niệm nhân
nghĩa Nhà nghiên cứu Đỉnh Gia Khánh viết: "Nhân nghĩa vốn là những
khái niệm của Nho giáo và có nội dung đạo đức gắn với quyền lợi của giai
cấp phong kiến Nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi, nhân nghĩa lại có
nội dung lịch sử cụ thé: đó là bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, chống xâm
lược, chống bóc lột"'', Nhà nghiên cứu vẫn lưu ý vai trò của Nho giáo đối
với việc củng có quyền lực thống trị của các triều đại phong kiến Việt
Nam: "Giai cấp phong kiến Đại Việt muốn mở mang cơ đỗ thì tất nhiên
không thể quên khả năng lớn lao của Nho giáo trong việc củng cô địa vị
thống trị của nó Ông cũng thừa nhận vai trò của nho sỹ Việt Nam như là
một giai cấp này: “Triéu đình (nói về nhà Trần - TNT) ngày càng phát
triển quy mô đào tạo tầng lớp nho sỹ, những người sẽ tỏ ra đắc lực nhất
trong việc củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyền" "2, Trên lập
trường dân tộc, Phan Ngọc cho rằng vẫn những phạm trù văn hoá chữ Hán
song nội dung ở Trung Quốc khác với ở Việt Nam, đó là do "độ khúc xạ”
(chữ dùng của Phan Ngọc, có lẽ tương tự như khai niém differance — dién
dị - của J Derrida) của văn hoá Nho giáo vào thực tiễn Việt Nam: "Có
một chữ rung, một chữ hiểu Việt Nam rất khác hai chữ này trong Nho
giáo Trung Hoa Tên gọi là một, nhưng nội dung khác nhau vì xuất phát từ
hai tâm thức khác nhau Sự đối lập này biểu hiện trong lịch sử nhiều
lần"”! Tuy nhiên, trong công trình của mình, các lập luận của Phan Ngọc
đôi khi tự mâu thuẫn Có khi ông lưu ý độ khúc xạ, nhưng có chỗ ông lại
ghi nhận ảnh hướng hiển nhiên, sâu đậm của Nho giáo, như khi ông viết về
117
SAO
Trang 13các sách dạy Nho giáo của người Việt Nam trung đại: "Chúng ta cần biết Nho giáo của cha ông thuộc Nho giáo gì Trước hết chỉ có Tổng Nho, các sách đều được lý giải theo một lò duy nhất"?
*2: hay ông viết về sử học của nho gia Việt Nam xưa: "Cách nhìn sử vẫn mang nặng tính chất Nho giáo: coi nhẹ sinh hoạt vật chất và sản xuất, chú trọng văn học, chú ý rất ít tới những tộc người miền núi, cách bàn luận vẫn theo những tiêu chuẩn vẻ lễ của Kinh Xuân Thu'” Có lề nào khi viết sách viết sử, day hoc thi nha nho Viét mang day chat Nho nhưng quan niệm /rưng, hiểu của họ - đạo đức vốn là những nội dung quan tâm hàng đầu của các bộ sử, của sách day học - thì lại không có tỉnh thần Nho? Song cũng có quan điểm khác như của Đào Duy Anh Nguyễn Khắc Viện, Trần Đình Hượu đẻ nghị nhìn
nhận Nho giáo và các khái niệm của nó như một hệ thông văn hoá chứ
không nhìn từ góc độ giai cấp hay dân tộc chủ nghĩa Đào Duy Anh đã phân tích ba nhân vật lịch sử của Việt Nam là Nguyễn Trãi Phan Bội
Châu và Hồ Chí Minh như ba nhân vật có những nét con người lý tưởng
của Nho giáo Đáng chú ý là ông đã phân tích biện luận khá thuyết phục:
"Có người cho rằng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là cái nhân nghĩa của dân
tộc ta đã sẵn có từ xưa, khác hãn với nhân nghĩa của nhà nho Nguyễn Trãi
là một vị anh hùng dân tộc tiêu biêu có nhiên là đã kế thừa được bao nhiêu
truyền thống ưu tú của dân tộc Nhưng những truyền thống tình nghĩa
tương thân tương ái, truyền thống nhiễu điều phủ lấy giá gương truyền
thống yêu nước thương nòi và bất khuất chống giặc của dân tộc mà nhà
nho Nguyễn Trãi đã thửa hưởng lại được biểu hiện bằng khái niệm, bằng
ngôn ngữ, bằng lý luận của nho gia Ví như tư tưởng nhân nghĩa chỉ cử, tư
tưởng điểu dân phạt tội đó chang phải là những truyền thống ưu tú của
dân tộc được nói lên bằng những khái niệm truyền thống của nho gia hay
sao?"È!, Câu hoi 1a tại sao nhà nho Việt lại đưa các tư tưởng truyền thống
vào: khuôn của các khái niệm Nho giáo Đào Duy Anh dẫn nhiễu trường
hợp Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn dụng, phu diễn những châm ngôn quen
thuộc của nho gia để chỉ ra ảnh hưởng của nhiều yếu tổ Nho giáo đến
"phong cách, phẩm cách và tư tưởng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh Nhà
nghiên cứu Trần Đình Hượu lại cho rằng các quan điểm phủ nhận tư tưởng
Nho giáo ở Nguyễn Trãi chi là những thành kiến khác nhau: "thành kiến
coi Nho giáo chì là ngoại lai, Nho giáo là gắn với Trung Quốc, nước láng
118
Trang 14giềng suốt hai ngàn năm lịch sử cho đến tận ngày nay, luôn xâm lược nước
ta, gắn với các Thiên triều, gắn với bọn bành trướng phương Bắc: thành
kiến về tính phong kiến của Nho giáo, coi nó chỉ bảo vệ quyền lợi vua
quan, địa chủ, chống nhân dân; Nho giáo là phản động, là đối tượng cần
quét sạch trong cuộc cách mạng tư tưởng hiện nay Nguyễn Trãi là người
con kiệt xuất của dân tộc thì không thể theo Nho giáo; là nhà nho, ông, đã
không thê đi với nhân dân, đi đầu trong cuộc kháng chiến được” Và câu
chuyện đưa chúng ta đến một vấn đẻ lý luận lớn hơn về bản sắc dân tộc
Trần Đình Hượu viết: "Trong tư tướng Việt Nam trước đây có thành phần
thuộc truyền thông dân tộc, có thành phần Nho giáo Phật giáo, tư tương
Đạo gia đều là ngoại lai 6 Nguyễn Trãi, trong tư tưởng cũng có những
thành phần như vậy Bản sắc dân tộc của tư tưởng Việt Nam, có phải hình
thành trong quá trình “trong sáng hoá”, bài ngoại, phi Nho hoá?” Từ cách
đặt vấn đề như vậy, Trần Đình Hượu nhìn vấn đề giao lưu văn hoá trên
một hướng khác, thoả đáng hơn, đó là "thành phần truyền thống dân tộc và
thành phần ngoại lai khác không phải là bài xích nhau mà kết hợp với nhau
trên cơ sở Nho giáo” Phải thừa nhận là không thể nhìn vấn đẻ một chiều
Có những trường hợp mà nội dung của khái niệm viết bằng chữ Hán không
hoàn toàn ăn khớp với nghĩa từ điên của chữ đó Có những chữ Hán trong
Đại Việt sử ký toàn thư đã được Tạ Chí Đại Trường thao luận lại với các
dịch giả hiện đại về cách hiểu nội dung của chúng Ví dụ, khái niệm quan
điền trong Đại Việt sử ký toàn thie vẻ lịch sứ triều Lý được các sử gia hiện
đại hiểu là "công điền" Trương Hữu Quýnh giải thích là ruộng công do
làng xã quản lý vì được dùng nhất quán trong các bi ký và minh chuông
lại có nơi dùng nhóm từ "quan điển bản xã" Song Tạ Chí Đại Trường đã
chi ra, từ đời Lý, chữ quan điền dùng để chỉ đất đai của vua (vua Trần còn
xưng là "quan gia”) Phân tích của ông về các hoạt động của vua kiêm đại
địa chủ Lý Nhân Tông khá thú vị, gợi nhiều suy nghĩ Nhà vua sở hữu
những nông dân làm thuê gọi là điền nhi, quan nô Hoạt động của ông bận
rộn đối với những ruộng đất mênh mông của ông: các việc đích thân cày
tịch điển, xem cày, xem gặt thường ứng với mùa màng; các địa điểm đặt
hành cung của vua Lý thường ứng với các địa điểm nơi các vua Lý đến
thăm ruộng đất riêng của mình «Sang đời Trần thì khái niệm quan điển
mới dẫn tương ứng với ruộng công” Vấn đề phân tích ngữ cánh cụ thé va
119
SAO
Trang 15phân tích liên văn bản của một khái niệm chữ Hán - chứ không chỉ đơn
giản tra cứu từ điền Hán ngữ - là rất cần thiết Qua những ý kiến khác
nhau về khái niệm đạo đức chính trị của Nho giáo (tất nhiên bảng chữ Hán) như nhân nghĩa ta có thẻ rút ra bài học là trong khi đọc lịch sử văn học trung đại, cằn thoát khói các thiên kiến giai cấp, thiên kiến dân tộc,
thoát khỏi điểm nhìn “hậu thực dân”, cần phân tích các nghĩa văn hoá của
một chữ Hán kết hợp so sánh với nghĩa ngữ cảnh cu thé trong hệ thống văn
bản sáng tác của một tác giả Chăng hạn, nếu ta lập bảng so sánh khái
niệm nhân nghĩa trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi (Nhân nghĩa duy trì thể
nước an) với nhân nghĩa trong Bình Ngô đại cáo (Nhân nghĩa chỉ cử yếu
tại an dân), lại mở rộng ra so sánh ngữ nghĩa với các bài phú khác đời
Trần như Bạch Dang giang phú, đời Lê như Chí Linh sơn phú, Lam Sơn
phú Xương Giang phi, ta thay phạm trù "đức” được bàn đến một cách hệ
thống Nhân nghĩa chỉ là một phương diện cụ thể của “đức trị”, nghiêng về
đức hiểu sinh thuộc văn hoá chính trị của Nho giáo nói chung, bàn về
đường lỗi ứng xử thân dân của người lãnh đạo đối với nhân dân Đây
chính là điểm khác biệt giữa nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và nhân nghĩa
của Nguyễn Đình Chiêu
Nhân đây cần đẻ cập đến thời hiện đại, khi mà người Việt đã tiếp nhận
khái niệm truyền thống hay văn hoá của phương Tây, ví dụ như *chủ
nghĩa nhân đạo”; song trong thực tế vận dụng ở Việt Nam, người ta đã
cấp cho nó những nét nghĩa riêng không hoàn toàn giống với khái niệm
gốc ở phương Tây” Tuy nhiên, chúng tôi cho là ở đây, lý luận về sự du
hành của tư tưởng từ nơi này qua nơi khác cần được vận dụng uyên
chuyển Vấn để là người Việt Nam đã dịch các khái niệm phương Tây
sang từ Hán Việt, ví dụ như khái niém humanism (hay humanitarism)
sang tiếng Việt là "chủ nghĩa nhân đạo” (hay chủ nghĩa nhân văn) có khi
còn là "chủ nghĩa nhân bản" Và khi đó, những áp lực của các chữ
*nhân” và *đạo” truyền thống vốn hiểu theo Nho giáo đã hướng người
Việt nghĩ đến tha nhân (nhân giả ái nhân - nhân là yêu thương người)
chứ không phải cái tôi cá nhân đến đấu tranh giai cấp chứ không phải
giải phóng cá nhân Nghĩa là các khái niệm văn hoá truyền thống đã dẫn
đất tư duy hiểu sai lệch các nghĩa gốc của từ ngữ trong các thứ tiếng
phương Tây Còn trong văn học trung đại Việt Nam, sự “du hành"
120
SAO
Trang 16(travelling) của các khái niệm văn hoá, tư tưởng đạo đức hay triết học
bằng chữ Hán sang Việt Nam đã không qua con đường dịch thuật sang từ
thuần Việt mà được các trí thức xưa tiếp nhận thăng từ nguyên bản chữ
Hán (văn học chữ Hán, sách triết học sử học bằng chữ Hán) với ngữ
cảnh văn bản chữ Hán Vậy khó có khả năng "diên di” (đổi khác) Vận
dụng lý thuyết du hành trong mỗi trường hợp là khác nhau
1.2 Chữ Nôm và văn học trung đại
Việc văn học trung đại Việt Nam được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm
được giới nghiên cứu gọi là hiện tượng văn học song ngữ Hai thứ chữ ghi
hai loại hình ngôn ngữ khác nhau, nhưng phần đông các tác giả vừa viết
bằng chữ Hán vừa viết bằng chữ Nôm Nguyễn Trãi có hơn hai trăm bài
thơ chữ Nôm và khoảng một trăm bài thơ chữ Hán Nguyễn Du có hơn hai
trăm bài thơ chữ Hán, không có bài thơ Đường luật Nôm nào nhưng lại
viết Truyện Kiểu bằng chữ Nôm dài đến 3254 câu thơ lục bát Nguyễn
Khuyến đã sáng tác những bài thơ bằng cả hai thứ chữ với nội dung tình
điệu như nhau, nói là ông dịch bài thơ viết bằng chữ Hán ra tiếng viet
(chữ Nôm) hay dịch bài thơ viết bằng chữ Nôm ra chữ Hán đều đúng cả
Đã từng có những công trình văn học sử Việt Nam triển khai trên hệ nhềng
chữ viết, phân biệt chữ Hán và chữ Nôm khiến cho một tác giả bị xé lẻ
thành hai bộ phận, khiến việc nghiên cứu một tác giả không có tính hệ
thống chặt chẽ” Thực ra hai bộ phận sáng tác này có quan hệ bd sung
cho nhau, giúp thê hiện đầy đủ, hoàn chỉnh hơn tư tướng thâm mỹ của tác
giả So sánh hai bộ phận sáng tác Hán - Nôm của một tác giả là một trong
những phương pháp nghiên cứu tác giả văn học trung, đại
Xét từ góc độ người Việt và cả người Hán, nhu cầu có một thứ chữ ghi
âm tiếng Việt là một thực tế ai cũng có thể hình dung Dé ghi tên Nom cua
một người, tên một xứ đồng, tên một làng quê nào đó, một thứ cây cỏ
thuần tuý chỉ có trên đất Việt cần có chữ viết riêng mà chữ Hán không
thê thay thế Ngôn ngữ là công cụ của tư duy Tâm tư tình cảm của người
Việt được biểu hiện thuận lợi nhất chính là bằng tiếng Việt Không phải
ngẫu nhiên mà nhiều làng ở miền Bắc Việt Nam vừa có tên Nôm vừa có
tên chữ Hán Làng Về - Kẻ Vẽ (tên Nôm) có tên chữ Hán là Đông Ngạc
Làng Chèm có tên chữ Hán là Thuy Phương Từ ngữ Việt không chí là
121
BAN
Trang 17thông tin mà an sau nó là ký ức văn hoá cảm xúc, tư tưởng rất riêng của
dân tộc, nhiều trường hợp không thé dich ra thir tiếng khác được Vẻ lý thuyết, có thê người Hán đã đi những bước đầu tiên dùng chữ Hán đẻ mô phòng lại các âm tiếng Việt chỉ những sự vật không có ở thực tiền cuộc
sống của người Hán, song chắc chắn là chí có người Việt mới sáng tạo và
phát triển phương thức ghi âm đặc biệt mà người ta gọi là chữ Nôm
(Nôm tự)
Vẻ thời điểm xuất hiện chữ Nôm, các ý kiến có phân tán tựu trung thì
thông nhất quanh các thẻ ky từ IX đến khoang XIH Nhưng thời điểm
người Việt đã làm chủ chữ Nôm đền độ thành thục có thé sáng tác văn học
được thì đa phần các ý kiến của giới nghiên cửu thường đặt vào thể ky
XII va chúng tôi cũng tin như vậy Gần đây có những nghiên cứu mới
cho rang tir thé ky XII hay sớm hơn, với Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân
trong kinh (ban in lai khoảng trước 1730) còn lưu giữ những chứng tích
chữ Nôm thể kỷ XII hay thậm chí sớm hơn””, - Ngay cả nếu xác định được
chắc chắn thời điểm sớm hơn thì tình hình vẫn không thay đổi (hiện nay
vẫn còn có ý kiến phân vân) Vi van dé một bộ văn học sử phải quan tâm
là trình độ giới trí thức viết chữ Nôm phát triển đến mức nào để có thẻ viết
thơ văn Nôm được, là wigs các chứng tích văn học Nôm cụ thể là gì? Trả
lời những câu hỏi này, vẫn phải dựa vào những thông tin do Đại Việt sử ký
toàn thư ghỉ chép về mức độ phô biến của các hoạt động sáng tác văn học
Nôm trong vai thé loại khác nhau quãng thế kỷ XIII - XIV",
Chữ Nôm là thứ chữ viết được cấu tạo từ chữ Hán dùng để ghi âm
tiếng Việt Nom có nghĩa là nam - chữ Nôm là chữ của người Nam (so với
Hán ở phương Bắc), mà Nôm cũng có nghĩa là thông tục, nôm na Trong
lực thư (sáu cách tạo chữ Hán), người Việt dùng phỏ biến ram thie 1a giả tá,
hội ý và hình thanh Giả tá là tạo chữ bằng cách mượn nguyên chữ Hán đẻ
viết một âm Nôm (ví dụ chữ ÿ# để (Hán) được mượn đẻ ghi âm *đè")
Phép hội ỹ là ghép hai chữ Hán lại với nhau theo một lôgic nhất định (số
chữ này rất ít, chưa đến 10 chữ: ví dụ để viết âm “trời”, người ta ghép chữ
Ä (hiên — nghĩa là trời) và chữ |: (thượng — nghĩa là trên) Phép hình
thanh lấy một chữ Hán biêu nghĩa (có khi là một bộ thủ, có khi là một
chữ), một chữ Hán biêu âm ghép lại tạo thành một chữ Nôm, ví dụ âm
RE "mắt" được ghi bởi bộ [Ì (muc) biéu ¥ chi mat, va chit A (mat, biéu
122
SAO
Trang 18âm) Tuy nhiên, đó chi là bang phân loại đơn giản nhất về phép cấu tạo
chữ Nôm, chỉ đem lại một ý niệm tương đối, chứ không phản ánh được tất
cả các kiêu tạo chữ Nôm (mà có nhà nghiên cứu tông hợp lên đến con số
hàng chục kiểu)
Do đặc điểm của việc cấu tạo chữ Nôm là dùng chữ Hán theo một số
quy tắc nhất định để ghi âm tiếng Việt, những quy tắc này lại không được
nhà nước phong kiến điển phạm hoá, tiêu chuân hoá nên chữ Nôm không
chặt chẽ, thiếu sự thống nhất Giới nghiên cứu từ lâu đã lưu ý đến thực tế
khác biệt giữa tiếng Hán và tiếng Việt về cầu tạo âm tiết Một số phụ âm
đầu hay phần vần của tiếng Việt không có trong tiếng Hán nên có nhiều
âm tiếng Việt không thé ding chit Han dé ghi âm chính xác đành chấp
nhận lỗi ghi na ná, tương đối Số lượng thanh điệu của tiếng Việt nhiều
hơn của tiếng Hán nên cũng gây khó khăn cho việc viết và đọc Nôm'”
Giữa các vùng miễn, các giai đoạn lịch sử khác nhau có thê viết một âm
bằng các chữ không giống nhau Chit Nôm Nam Bộ có thẻ do cach ghi
theo phát âm nên một số chữ không giống với chữ Nôm Bắc Bộ ” Thực tẻ
viết Nôm xưa đã gây không ít khó khăn cho các chuyên gia đọc Nôm hiện
nay Nhà nghiên cứu Nguyễn Tá Nhí đã phải sử dụng khái niệm "mã chữ
Nôm” để nói lên tính chất phức tạp của việc đọc Nôm tương tự như việc
giải mã Ông nhận xét: “Chit Hán là loại chữ vuông đã được định hình từ
rất sớm nên trước khi muốn viết một chữ gì người viết thường đã hình
dung được đầy đủ hình đáng cấu tạo của nó như thế nào rồi Nhưng đổi với
chữ Nôm không phải hoàn toàn như thế do dường như là chưa được quy
phạm, có những mã chữ chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian hoặc không
gian nhất định, khi thay đổi thời gian hoặc không gian thì khả năng giao
tiếp của mã chữ đó mắt đi Nói cách khác là, để ghi lại một từ, diễn đạt
một khái niệm, người ta có thé dùng nhiều mã chữ Nôm cấu tạo theo
những cách thức khác nhau Người viết chỉ cần tuân thủ theo một số quy
tắc tạo chữ nhất định, rồi có thể tuỳ theo sở thích mà đặt ra mã chữ đê ghi
Người thì thích dùng luôn chữ Hán đọc chệch âm, người lại thích dùng các
bộ trong chữ Hán ghép lại Người này hay dùng bộ chữ Hán này làm phần
chỉ âm, người kia lại hay dùng bộ chữ Hán kia làm bộ phận chỉ âm Vì vậy
có những mã chữ có tới hàng chục cách viết khác nhau”*', Chính sở thích
riêng đó tạo nên khó khăn cho người đọc Nôm hiện nay Hai chữ 3¿ []
"song viết" trong thơ Nôm Nguyễn Trãi vẫn còn tiếp tục là thách thức đối
123
BAN SAO
Trang 19với các chuyên gia doc Nom, dẫu đã có hàng chục phương án đọc khác
nhau mà vẫn chưa có phương án nào đủ sức thuyết phục
Nói cho công bằng, chữ Nôm cũng có những ưu điểm so với chữ quốc
ngữ (thực ra không hề có một thứ văn tự nào hoàn hảo) Phép hình thanh
có một bộ phận biêu nghĩa, một bộ phận biểu âm nên tránh được mơ hồ
khi ghỉ một từ có đồng âm - điều này chữ quốc ngữ không làm được Ví
như chữ quốc ngữ có hai từ đồng âm “năm”, nhưng chữ Nôm viết phân
biệt rõ chỉ số lượng IH fc (5), chi thoi gian fF (năm tháng) nhờ có bộ
phận biểu ý (ngữ số lượng từ 5 và niên - năm) Hay chữ quốc ngữ có hai
từ đồng âm “ngàn” nhưng chữ Nôm phân biệt ngàn }È (núi) với ngàn (chỉ
số lượng 1000) `Š
Chữ Hán chỉ là thứ “văn ngôn” tổn tại trong văn viết, còn những nội
dung liên quan đến tiếng Việt nói hằng ngày thì phải ding chit Nom
(tương tự như "bạch thoại”) Các nhà nghiên cứu đã nhắn mạnh đến tỉnh
thần dân tộc, ý nghĩa dân tộc của việc sử dụng chữ Nôm Tuy có một số
trường hợp chữ Nôm viết khác nhau do cách phát âm của phương ngữ
vùng này vùng khác không gióng nhau, nhìn chung, việc sử dụng chữ Nôm
trên khắp các vùng miễn chứng tỏ vai trò của nó trong sự thống nhất tiếng
Việt, dân tộc Việt, văn hoá Việt So với các tác phẩm chữ Hán thì dễ thấy,
tác phẩm văn học chữ Nôm thường có sức phỏ biến rộng trên phạm Vỉ toàn
quốc mà Truyện Kiểu là một dẫn chứng cụ thể Nhờ được viết bang chi
Nôm (tiếng Việt) mà Truyện Kiêu đã được Trương Vĩnh Ký phiên âm từ
chữ Nôm ra chữ quốc ngữ (xuất bản năm 1875 tại Sài Gon) dé tac phẩm
văn học này không chi pho bién trên toàn quốc mà có mặt ngay cả trong
cộng đồng giáo dân khi đó đã đông đáo và đã quen dùng chữ quốc ngữ Sẽ
không hẻ là phóng đại nêu ta nói rằng Truyện Kiểu Nôm đã tham gia đắc
lực vào quá trình nhất thẻ hoá văn học dân tộc! Nhờ có chữ Nôm mà các
nhà nho xưa đã sưu tầm, biên soạn các câu ca dao, dân Ca, tục ngữ của
người Việt, sưu tầm các vở chèo cổ, tudng Nôm cỏ, sưu tầm thơ hát nói,
thơ ca giáng bút Chính chữ Nôm đã có công lớn trong việc bảo lưu kho
tàng văn hoá dân gian phong phú của dân tộc, đưa trí thức và người bình
dân lại gần nhau Đặc biệt phải nói việc dùng chữ Nôm đã mở đường cho
các thê loại nội sinh, có tính dân tộc đi vào lịch sử văn học như ngâm
khúc, truyện thơ, hát nói Tuy nhân dân lao động không đọc được chữ
124
Trang 20Nôm song văn học dân gian và văn học bác học ghi bằng chữ Nôm thông
qua các hình thức sinh hoạt văn hoá khác nhau, dễ dàng được lưu lại trong
ký ức của những người lao động, mở rộng đáng kế phạm vi phô biến,
truyền bá của chúng Bên cạnh các bộ quốc sử viết bằng chữ Hán nho gia
xưa còn soạn những bộ quốc sử bằng thơ lục bát, giúp phỏ cập trí thức lịch
sử trong dân gian Một số nhà nghiên cứu còn cho rằng, thẻ thơ :hdr ngôn
xen kẽ lục ngôn được dùng khá phô biến trong sáng tác Nôm của Nguyễn
Trãi, Nguyễn Binh Khiêm là sự thê hiện một nỗ lực tìm tòi, xây dựng thê
thơ dân tộc Cũng nhờ chữ Nôm mà tiếng Việt dần dà thành thục, tiếng
Việt văn học dần trở nên điêu luyện Phải nói rằng tuy ở các mức độ khác
nhau, không đồng đều, song trong tất cá các sáng tac bang chit Nom cua
nhà nho đã có mặt chất liệu ngôn từ dân gian, cảm quan văn hoá dân gian
tư duy dân gian Nói cách khác, chữ Nôm đã góp phần quan trọng trong
quá trình dân chủ hoá nền văn học trung đại, đưa những phương thức tư
duy nghệ thuật và thi pháp của văn học bác học đến với nhân dân lao động
đồng thời đem ảnh hưởng của văn hoá dân gian vào văn học viết bác học
Không có chữ Nôm, làm sao có thể ghi lại được những lỗi đồ tục giảng
thanh, đó thanh giảng tục độc đáo, làm sao có thê ghi lại những biện pháp
tu từ đặc sắc của riêng tiếng Việt như nói lái trong thơ Nôm Ho Xuân
Hương (Trái gió cho nên phải lộn lèo, Tràng hạt vai lần đêm lại đeo )
hay kỹ thuật khai thác đặc điêm ngữ âm tiếng Việt để "về" đường đi gian
nan Vó câu kháp khênh bánh xe gập ghênh? Không có chữ Nôm nếu chỉ
viết bằng chữ Hán, làm sao đại thi hào Nguyễn Du có thẻ đóng góp cho
tiếng Việt văn học đến thé? Không có chữ Nôm, những âm điệu du dương,
ngọt ngào, uyên chuyển của thơ lục bát, song thất lục bát không thê đi vào
văn học viết của nhà nho Về một số phương diện nào đó, ở một giai đoạn
nào đó, phải khẳng định rằng bộ phận sáng tác bằng chữ Nôm là bộ phận
chủ đạo của văn học dân tộc Nhóm sáng tác tác phẩm bằng chữ Hán và
chữ Nôm có thể có những giá trị riêng, bổ sung cho nhau Chữ Nôm là một
sản vật đặc sắc của giao lưu văn hoá Hán - Việt, nhưng biết chữ Hán chưa
đủ mà phải biết cả tiếng Việt, nhiều trường hợp phải biết lịch sử tiếng Việt
mới có thê đọc được chữ Nom” Da cé tinh trạng do không đọc được chữ
Nôm, không hiều tiếng Việt, chỉ đọc qua bản dịch sang tiếng Trung mà
Truyện Kiểu hay thơ Hỗ Xuân Hương đã bị một vài nhà nghiên cứu Trung
125
BẢN SAO
Trang 21Quốc hiểu không đúng - điều này chúng tôi đã trình bày trong chương
nghiên cứu so sánh văn học Việt Nam - Trung Quốc Nếu các nhà nghiên
cứu Trung Quốc có thuận lợi trong khi tiếp cận tác phẩm viết bằng chữ
Hán của người Việt thì lại không dễ gì nắm bắt được tỉnh thần của các tác
phẩm văn học Nôm nếu không nghiên cứu chữ Nôm và tiếng Việt
Trong khi văn học chữ Hán có xu hướng thiên về tính quan phương,
chính thống thiên về giáo huấn nói chí tải đạo thì văn học chữ Nôm lại
có xu hướng thiên vẻ tính dân chủ, thông tục chứa đựng tỉnh thần cách
tân, chú trọng tính thâm mỹ Nếu văn học chữ Hán bàn nhiều vẻ tư tưởng
chính trị, về tu thân t gia, trị quốc, bình thiên hạ thì văn học chữ Nôm lại
viết nhiều về người phụ nữ, về con người tự nhiên về con người nhân ban
với quyền sống trần thế kế cả quyền sống thân xác Hai bộ phận sáng tác
bổ sung cho nhau, tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau, tạo thành một hệ
thống văn học hoàn chinh, không thê coi nhẹ bộ phận nào
Thái độ của giai cấp phong kiến với chữ Nôm, một thứ chữ viết không
được coi là văn tự chính thức, cũng rất phức tạp, không nên nhận định một
chiều, hoặc thuần tích cực hoặc thuần tiêu cực Thành ngữ môm na là cha
mách qué không rõ xuất hiện từ khi nào, không phải là hoàn toàn vô căn
cứ Chẳng hạn Phạm Đình Hỗ đã từng thú nhận ông không quan tâm chữ
Nom”, - Tuy vậy cần ghi nhận các sự kiện lịch sử đẻ tránh định kiến như
trước đây, một số nhà nghiên cứu từng ngộ nhận về thái độ coi nhẹ chữ
Nôm của các triều đại phong kiến Năm 1395, Hỗ Quý Ly đã “chép thiên
Vô đạt, dịch ra quốc ngữ để dạy quan gia, mệnh lệnh ban ra thì xưng là
Phụ Chính Cai Giáo Hoàng Đế", tức là day kinh dién Nho gido cho vua
bằng chữ Nôm Vua Trần Nhân Tông viết phi Cir tran lac đạo bằng chữ
Nôm Lê Thánh Tông ông vua của thời thịnh trị hoàng kim của Nho giáo
Việt Nam nhưng có tham gia sáng tác thơ Nôm và bảo trợ cho tập thơ
Hong Bure quốc âm thi tập Thời Mạc Mậu Hợp năm 1565, trong kỳ đệ tứ
khoa thi Tiến sỹ, đề thi là một bài phú chữ Nôm Bốn chúa Trịnh có sáng
tác thơ Nôm: Trịnh Căn có tập thơ Ngự đề Thiên Hoà doanh bách vịnh -
còn gọi là Khâm định thăng bình bách vịnh: Trịnh Cương với tap Lé triéu
ngự chế quốc âm thỉ: Trịnh Doanh là tác giả Càn nguyên ngự chế thi tập:
Trịnh Sâm sáng tác Tâm thanh tôn duy tập Chỉ lấy riêng năm 1718, chúa
Trịnh Cương đã có vài lần cùng lúc làm hai bài thơ, một bài chữ Hán một
Trang 22bài chữ Nôm nghĩa là ông có ý coi hai chữ viết có giá trị ngang nhau Các
chúa Trịnh nếu có chủ trương cắm chữ Nôm là cấm những thể loại phi
chính thống bằng chữ Nôm, "tiếng dâm dễ khiến người say” chứ không
chống lại chữ Nôm nói chung Vua Quang Trung đã lập Sùng chính viện
có chức năng chuyên dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm, giao cho La Sơn phu
tử Nguyễn Thiếp làm viện trưởng tiếc là Quang Trung mắt sớm nên chủ
trương nay chưa đem lại kết quả gì đáng kể" Vua Tự Đức đời Nguyễn là
ông vua nồi tiếng hay cả thơ Hán và thơ Nôm Các nhà nho từ thé ky
XYVIII còn dùng chữ Nôm đẻ trình bay Kinh Thỉ, một trong năm kinh cua
nhà nho Một số sự kiện riêng rẽ như thế cho thấy cần xem xét lại những
nhận định không sát thực tế của giới nghiên cứu trước đây Các nhà nghiên
cứu ngày nay đều tiếc rằng nếu như các triều đại phong kiến có chủ trương
điển chế hoá chữ Nôm thì hãn là nó đã thành một hệ thống chữ viết hoàn
chính Nhưng đây lại là vẫn đề ngôn ngữ chính thức của quốc gia Không
riêng gì ở Việt Nam, trong các nước vùng Đông Á chữ Hán đã từng được
lấy làm ngôn ngữ chính thức của nhà nước cho đến tận cuối thế kỷ XIX
2 HỆ THỐNG THỂ LOẠI
2.1 Lý thuyết thể loại và hệ thống thể loại của văn học trung đại
Nói đến hệ thống thể loại của một nền văn học là nói đến tính chỉnh
thể, tính cấu trúc chặt chẽ theo sự phân công giữa các thể loại vốn là các
phương thức tô chức văn bản khác nhau, và do đó, thông qua hệ thống thé
loại có thê xác định được đặc điểm của nên văn học đó Một nên văn học
như một sinh thể mà các bộ phận cấu thành của nó là các thê loại khác
nhau, mỗi thê loại đảm nhận một chức năng riêng, không thé thay thé Dé
diễn đạt tâm tình, người ta thường viết thơ, nhưng đẻ kể chuyện, những bài
thơ ngắn gọn không thể làm được công việc của một thiên iểu thuyết -
tiểu thuyết văn xuôi hay tiểu thuyết bằng thơ Bia dựng tại đến chùa tất
nhiên phải có nội dung và ngôn ngữ trình bày phù hợp với chức năng của
tắm bia Để tuyên cáo với quốc dân một vấn để, một sự kiện quan trọng
thuộc về đường lỗi chính sách nhà vua cần có những nho sỹ năng văn viết
thể cáo bằng giọng văn hùng hỗn thuyết phục Cũng như bất cứ một sinh
thể nào khác hệ thống thể loại là một hệ thống mở cũng có lịch sử vận
127
SAO
Trang 23động biến đôi trong thời gian Có những thẻ loại mới hình thành những
thể loại cũ thay đổi hoặc suy tàn, và các thể loại chiếm vị trí trung tâm ở
một thời kỳ này có thê sẽ bị đây ra ngoại vi ở thời kỳ khác và ngược lại
Vẻ lý thuyết, khái niệm “thê loại” là một từ gốc Hán, trong đó có khái
niệm "thể" #P với bộ "cốt" ††' nghĩa là xương cót, thân thẻ (nếu viết gián
thể là k sẽ không hình dung được bộ thủ này) Theo nhận xét của nhà
Đông phương học B.L Riftin thì ở Trung Quốc khái niệm “thể tài” (tương
đương với khái niệm thể loại ở Việt Nam - TNT) mới xuất hiện trong thế
kỷ XX nhưng nó bảo lưu chữ "thể" mang bộ "cốt" đã xuất hiện thời cổ đại
(chăng hạn trong Kinh Thư) Suy từ nghĩa thì "thể" là thân thể, là xương
cốt, bộ khung chứa đựng hay biểu hiện nội dung của tác phẩm văn học
Nói một cách đơn giản, mỗi thể loại do đặc trưng hình thức của mình (ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp và cấu trúc) tương ứng với một loại nội dung nhất
định, với một kiểu tác giả nhất định, với một kiểu thời đại văn học nhất
định Vì thế, không có thể loại nào cố định, khép kín, không thay đi Giới
lý luận quốc tế từ lâu đã nói đến một nguyên tắc có tính phương pháp luận
trong nghiên cứu thể loại - nguyên tắc lịch sử D S Likhachiev viết:
*Phạm trù thể loại là một phạm trù lịch sử” và ông lưu ý: "Nhà văn học sử
cần phải nhận biết không chỉ sự thay đổi trong những thẻ loại riêng rẽ, sự
xuất hiện những thể loại mới và sự tàn tạ những thê loại cũ, mà còn sự
thay đôi bán thân hệ thông các thê loại" Học gia Bùi Duy Tân xuất phát
từ góc nhìn lịch sử đã kháng định: "Thẻ loại văn học là một hiện tượng
lich sử, vừa ổn định tương đối, vừa dần dẫn biến đỏi để phù hợp với sự
phát triển của tư duy văn học"*!, Đây là gợi ý lý luận quan trọng cho việc
trình bày hệ thống thẻ loại văn học trung đại trong sách này Chúng ta sẽ
quan sát không phải từng thẻ loại đơn lẻ, riêng rẽ mà đặt chúng trong hệ
thống thể loại với sự biến đổi cùng với tiên trình văn học trung đại Thơ
Nôm Đường luật từ Nguyễn Trãi qua Hồ Xuân Hương đến Nguyễn
Khuyến đã có những thay đôi quan trọng về đẻ tài, ngôn ngữ, phong cách
Truyện thơ Nôm đã đi từ truyện thơ Nôm Đường luật đến truyện thơ lục
bát, nhưng không phai chỉ có thay đỏi thẻ thơ mà quan trọng hơn là sự
thay đôi kiêu nhân vật, kiểu chủ đẻ tuy vẫn là truyện thơ Các tác giả trung
đại ở những thế ky đầu tiên đã ưu tiên viết các thẻ loại chức năng nhưng
về cuối thời trung đại, nhừng thể loại chức năng không còn chiếm vị trí
128
SAO
Trang 24trung tâm của hệ thống thể loại nữa - những thể loại văn học nghệ thuật đã
chiếm vị trí này
Có nhiều quan niệm phân loại thẻ loại văn học trung đại Việt Nam Có
cách trình bày từ góc độ tiếp nhận (các thể loại vay mượn) và sáng tạo (các
thể loại đân tộc, nội sinh) Nguyễn Đăng Na viết: “Song song với văn tự là
việc tiếp thu các thể loại văn học Trung Hoa Án Độ Những thê văn liên
quan đến các công việc hành chính như chiếu, cáo, hịch biểu hoặc liên
quan đến các nghỉ lễ như kệ, biển văn, văn tế câu đối, trướng mừng
người Việt đều tiếp nhận để phục vụ cho công cuộc xây dựng bảo vệ đất
nước và sinh hoạt văn hoá dân tộc Những thể loại thuộc văn học nghệ
thuật như thơ ca, từ phú, từ khúc, truyện về cơ bản ta cũng tiếp nhận
dùng chúng để phản ánh đời sống tâm linh người Việt Phát minh thê loại
văn học bao giờ cũng khó khăn, phức tạp và theo một quy luật khác: từ
Việt hoá đến sáng tạo Bước đầu ta đã Việt hoá thành công thé phii va tho
Duong Tit gợi ý của mô hình thơ Đường thể thất ngôn tứ tuyệt kết hợp
với lối gieo vần lưng và ngắt nhịp lẻ trước, chin sau trong thơ ca dân gian
người Việt đã chế tác ra các thể thơ dân tộc là song thất lục bát, lục bát và
thơ hát nói Sự sáng tạo thành công ba thể thơ nói trên đã mở ra một chân
trời mới cho thơ ca Việt Nam trung đại nói riêng và cho thơ ca Việt Nam
nói chung”'? Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na cũng đưa ra tiêu chí phân
loại văn học viết thành văn học chức năng và văn học nghệ thuật: "Các
nhà nghiên cứu chia văn học thành văn làm hai loại hình: văn học chức
năng và văn học nghệ thuật Văn học chức năng lại gồm hai bộ phận: van
học chức năng hành chính và văn học chức năng lễ nghỉ Văn học chức
năng hành chính là tác phẩm văn học có chức năng thực thi các công việc
mang tính chất hành chính nhà nước Văn học chức năng lễ nghi có chức
năng thực thi các nghỉ lễ mang tính chất tôn giáo hoặc tập tục Văn học
nghệ thuật là tác phẩm nhằm mục đích thoả mãn nhận thức ~ thâm mỹ cho
người đọc, người nghe Chức năng nhận thức — thâm mỹ là thuộc tính cơ
bản của tác phẩm văn học nghệ thuật” pet
Qua nghiên cứu so sánh với hệ thống thể loại văn học Trung Quốc và
lịch sử phân loại văn học ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã có
nhận xét: "Nhìn chung bức tranh hệ thống thể loại văn học trung đại đầy
mâu thuẫn, cần được hình dung trên hai mặt Một mặt là hệ thống thê loại
BAN
Trang 25theo nghĩa rộng gồm tất cả các thể loại văn - sử - triết bất phân Mặt khác
là hạt nhân thê loại văn học nghệ thuật sẽ phát triên và tồn tại như một
hiện tượng thảm mỹ Sự mâu thuẫn trong hai cách nhìn nhận thê loại văn
học trung đại của người đương thời và người hiện đại là do đâu? Nó nói
lên tính chất gì? Theo chúng tôi sự mâu thuần đó là do thứ nhất, tắt cả
các thê loại văn học trung đại, không một thẻ loại nào mang được tính chất
thuần tuý văn học Không phải chỉ riêng cáo, chiếu biểu sử ký kệ tán, bi
văn là như vậy mà ngay thơ, phú cùng vậy: thơ dâng tỏ chí thơ bang
giao, thơ dé mừng bạn lên chức, mừng con trai, đẻ tự giới thiệu hoặc phú
dâng vua Nhưng mặt khác thứ hai, không có thẻ loại nào là không thẻ
đạt tới chất van hoc - do kha năng tự biêu hiện và văn chương của ngôn
tir Diéu nay tuỷ thuộc vào tài năng, mức độ biều hiện tình cam cua tác
giả Thứ ba, chất văn học của chúng không nằm khít trong quy phạm thê
loại, mà nằm trong xu thẻ siêu việt các quy phạm ấy Người trung đại thích
noi theo, vay mượn các chất liệu truyền thông (cốt truyện, điển có )
nhưng chính họ cũng thích đồi mới Và do đó, thứ tư, nghiên cứu, phân
loại tác phẩm văn học trung đại không thẻ tuân thủ giản đơn nguyên tắc
phân loại cô điển có từ thời cổ đại: tự sự, trữ tình, kịch, bởi đó là các
phương thức biểu hiện thuần tuý được phân hoá từ nghệ thuật nguyên hợp
cô đại Ở đây, cần tôn trọng sự tạo thành tự nhiên của các thê loại và tên
gọi của chúng, đồng thời coi trọng cấu tạo loại văn, tiền hành miêu tả,
phân tích đặc trưng nghệ thuật của chúng"”' Từ quan niệm trên day, Tran
Dinh Sur dé nghị phân loại hệ thông thê loại văn học trung đại thành rhơ
phú, văn, truyện, tuông và chèo Báng phân loại của Nguyễn Đăng Na chỉ
tiết hơn: Văn học chức năng có: 1) chức năng hành chính gồm chế, chiếu,
cáo, biểu hịch sớ, tấu 2) chức năng lễ nghỉ có văn tế rrướng câu đổi
(hiểu hi), thản phá, văn mừng thọ mừng đám cưới, những tác phẩm triết
học tôn giáo Văn học nghệ thuật có: thơ ca, từ phú, truyện truyền kỳ tiểu
thuyết chương hỏi Nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân lại đưa ra hai tiêu chí
phân loại khác nhau Nếu phân loại theo “thể văn” thì có vận văn (chủ yêu
là thơ), biển văn (chủ yếu là văn tử lục có đối) và tan van (văn xuôi chính
luận và văn xuôi nghệ thuật) Nhưng ông còn để nghị nhìn hệ thống thẻ
loại văn học trung đại trong tương quan vùng văn học chữ Hán để phân
biệt: nhóm thẻ loại thứ nhát vỏn là những thẻ loại của văn học Trung Quốc
Trang 26
cỏ trung đại - có thể gọi là nhóm thẻ loại ngoại nhập bao gồm thơ phú,
truyện ký và khá nhiều những áng văn chương chính luận: hịch cáo
chiếu, thư, sớ, tấu nhóm thứ hai có nguồn gốc từ văn học dân gian
Việt Nam có thể gọi là nhóm thể loại nội sinh thông qua ba thê thơ ca cơ
bản rồi từ đó phát huy thành nhiều thể loại: viết bằng thơ lục bát thì có
văn, diễn ca lịch sử truyện Nôm viết bằng thê thơ song thất lục bát thì
có diễn ca lịch sử, ai vãn ngâm khúc viết bằng thê ca khúc thì có: ca
trù hát nói hát á đào, về nói lỗi "Ý Gần đây hai nhà nghiên cứu Trần
Thị Kim Anh và Hoàng Thị Hồng Cảm đã phân loại những thé văn chữ
Hán Việt Nam thành 9 thê chính: văn bia, phú văn ai điểu tự - bạt,
luận - thuyết - nghị - biện, sách văn - kinh nghĩa, ký, công văn, châm -
minh - tụng - tán" Như vậy, hai tác giá này phân loại dựa vào chức
năng đồng thời cả phương thức văn bản hoá (ghi chép ~ khắc), tuy nhiên
nếu đi theo hướng này thì bảng phân loại sẽ còn phải tiếp tục (riêng văn
xuôi chữ Hán đã có nhiều tiêu thé loại) và không tách được những thê
loại thiên về văn chương””
Chúng tôi đã điểm sơ lược các cách phân loại hệ thống thê loại văn
học trung đại Việt Nam khác nhau trong đó mỗi cách đều có những ưu
điểm và nhược điểm riêng Thực ra, không một bảng phân loại nào là hoàn
thiện vì chính bản thân đối tượng phân loại là một sinh thê vận động biến
đổi nên nói như Trần Đình Sử, đầy mâu thuẫn Thẻ loại vừa là khung khô
là giá đỡ, là thân thể của một nội dung văn học nhưng đồng thời lại vừa
cản trở, ràng buộc cá tính sáng tạo của người nghệ sỹ Mỗi thẻ loại là một
tập hợp những tác phẩm có chung một số đặc điểm nào đó, song những
cộng đồng đặc điểm này không nhất thành bất biến mà có sự thay đôi theo
thời gian, theo cá tính sáng tạo Thực tế văn học sử cho thấy có sự mâu
thuẫn giữa một bên là thể loại tồn tại trong lịch sử (tức là thể loại đã có
trên thực tế sáng tác) với một bên là thể loại lý tướng (do nhà phê bình
tông kếu Mỹ học tiếp nhận với khái niệm tầm đón đợi đã đưa việc nghiên
cứu thê loại văn học từ chỗ chỉ tìm kiếm các tiêu chí phân loại hệ thông
thể loại sang tìm hiểu bán chất của phạm trù thể loại xem thẻ loại là
những thiết chế, những quy ước diễn ra trong thời gian Chủ nghĩa cấu trúc
lại để nghị xem thể loại như là một mã khoá (code) cho phép hoàn thành
hành động giao tiếp giữa nhà văn và độc giá Todorov chú ý đến nguồn
131
SAO
Trang 27gốc của thể loại trên bình diện lịch sứ, từ ba hình thức thê loại đơn giản
nhất, cô sơ nhất là tiếng khóc, lời ca ngợi và lời chào mà diễn ra các bậc
thang tiến hoá thể loại từ đơn giản đến chỗ ngày càng phức tạp, nghĩa là sự
ra đời của một thê loại bao giờ cũng dựa trên cơ sớ các thể loại khác!$,
F.Jameson cho rằng thẻ loại là những cấu trúc chịu sự chế định không chỉ
vẻ hình thức mà còn cả về tư tưởng hệ nó là bản hợp đồng giữa tác giả và
người đọc: thể loại là dấu hiệu mà căn cứ vào đó công chúng chờ đợi ở tác
phẩm một kinh nghiệm về cảm xúc, đạo đức, thâm mỹ Từ góc độ chú giai
học, Hirsh lại nhận xét việc xếp một diễn ngôn vào thé loại nào là bước
đầu tiên, cần thiết để hiểu nghĩa của diễn ngôn đó Tuỷ theo góc độ lý
thuyết của người nghiên cứu mà hệ thống thẻ loại được trình bày theo một
cách nào đó Chúng tôi cho rằng, để phân biệt vẻ thẻ loại của từng nhóm
văn bản, cần xem xét sự tương đồng của các văn bản (và từ đó cũng suy ra
sự khác biệt với nhóm văn ban khác) về những phương diện sau: sự tương
đồng về bố cục hình thức (bài thơ sonnet); sự tương đồng về nội dung
(truyện hình sự, tiểu thuyết khoa học): sự tương đồng về phương pháp tự
sự (ngôi thứ nhất không đáng tin); tương đồng kiểu độc giả định nhắm tới
(ví dụ tính toán tác phâm cho một nhóm tuôi nào đó); tương đồng về phản
ứng hỏi đáp (bi kịch phải khiến bạn suy nghĩ, hài kịch khiến bạn cười);
tương đồng vẻ tình huồng phục vụ (viết cho đám cưới hay đám tang);
tương đồng vẻ thời gian (thời kỳ hay giai đoạn viết tác phẩm); tương đồng
về sự sản xuất (được sáng tác bơi cùng một nhóm người dù họ không nghĩ
vẻ mình là cùng nhóm vào thời điểm đó); tương đồng vẻ tác gia (néu chi
có riêng Shakespeare, chting ta nghién ctru Shakespeare)" Cac yếu tố trên
sẽ chỉ phối cách sử dụng ngôn ngữ khi viết Trong tập sách này, tham khảo
quan điểm trên, đẻ tránh sự trình bày bức tranh tĩnh tại hệ thống thể loại
một cách đồng đại, chúng tôi sẽ kết hợp các hệ thống phân loại của các
nhà nghiên cứu nói trên đẻ trình bày một lịch sử vận động của hệ thống thể
loại văn học trung đại
2.2 Tiến trình vận động của hệ thống thể loại trong văn học trung đại
Quy luật hình thành và phát triển hệ thống thẻ loại của một nền văn
học thường là từ các thể loại văn học dân gian được bác học hoá Quy luật
này cũng có hiệu lực trong thực tiễn văn học trung đại Việt Nam Nhưng
132
BAN
Trang 28như chúng ta đã biết, văn học trung đại Việt Nam ra đời và phát triển trong
một hoàn cảnh đặc biệt: trong không gian văn hoá chữ Hán (Hán tự văn
hoá quyền) Các tác giả văn học Việt Nam trước khi viết chữ Nôm đã viết
bằng chữ Hán” Cộng đồng tác giả và độc giả của văn học chữ Hán tỷ lệ
thuận với lịch sử phát triển khoa cử ở Việt Nam, với chính sách của các
triểu đại phong kiến Việt Nam dùng chữ Hán làm văn tự chính thức trong
hoạt động nội trị và ngoại giao Lại nữa, vào quãng thế kỷ X, khi bắt đầu
hình thành nền văn học viết của nước Đại Việt độc lập thì văn học Trung
Quốc đã có một hệ thống thể loại phong phú, phát triển Vì thể, việc các
tác giả Việt Nam ở những thế kỷ đầu tiên của nên văn học dân tộc đã vay
mượn các thể loại của văn học Trung Quốc để sáng tác trước khi dùng thé
loại văn học dân tộc cũng là điều dễ hiểu Đời Trần, Mạc Dinh Chi viết
Ngoc tinh liên phú, Trương Hán Siêu làm Bạch Đảng giang phú khi mà
trước các ông thể phú đã đạt đến độ thành thục từ thời Hán Các thiển sư
Lý - Trần viết thi - kệ thì đã có thẻ tiếp nhận thi pháp thơ thiền Đường -
Tống, khi mà thi tăng Đường - Tống đã trải qua giai đoạn "tự giác vẫn
học” như đã nói trong chương về kiểu tác giả trung đại Thơ ca Trung
Quốc qua các thời đại với những tên tuổi như Khuất Nguyên, Đào Tiém,
Ly Bach, Đỗ Ph đã rất quen thuộc với các nhà thơ Việt Nam trung đại
qua các thê tài cô thê, cận thê (luật), ngũ ngôn, thất ngôn, ca hành Chí
quái, truyền kỳ đã có những thành tựu rực rỡ sẽ ảnh hưởng đến văn xuôi
chữ Hán Việt Nam Nguyễn Dữ đã tiếp nhận ảnh hưởng thê loại truyền kỳ
từ Tiển đăng tân thoại của Cù Hựu đê sáng tác Truyền kỳ mạn lục nội
tiếng Sau nay, tiểu thuyết chương hồi Minh - Thanh có những thành tựu
quan trọng, nhất là với Tan quốc diễn nghĩa đã ảnh hưởng sâu sắc đến tiêu
thuyết chương hồi Việt Nam như Nam triêu công nghiệp diễn chí, Hoàng
Lê nhất thông chí ở thế kỳ XVIII Quá trình giao lưu, tiếp biến văn học
của các quốc gia trong không gian văn hoá chữ Hán về phương diện thể
loại là quá trình vay mượn những thể loại cần thiết cho thực tién văn hoá
và văn học của mỗi nước Văn học viết bằng chữ Hán tiếp tục tôn tại cho
đến mãi những thập niên đầu thế kỷ XX là một thực tế lịch sử Có thể loại
văn học Trung Quốc không chỉ được các tác giá Việt Nam sử dụng để viết
tác phâm bằng chữ Hán mà còn đi vào thơ Nôm (thơ quốc âm) - đó là
trường hợp thể “từ” đi vào truyện thơ Nôm lục bát (ví dụ các bài từ chữ
Nôm trong Sơ kính tân trang của Phạm Thái) và thơ Đường luật bằng chữ
133
BAN
Trang 29Nôm rất phô biến trong văn học trung đại từ Nguyễn Trãi cho đến mãi
hiện NAY Phú Nôm cũng là một hiện tượng phỏ biến trong văn học Việt
NamŸ! - Về hệ thong thé loai vay mugn, van hoc Viét Nam không phải là
ngoại lệ nếu chúng ta nhìn sang văn học trung đại các nước cũng từng có
nên văn học chữ Hán như Triều Tiên, Nhật Bản Tất nhiên khi nói đến su
vay mượn, du nhập hay “bimg trong”, “di thực” các thé loại văn học là nói
sự vay mượn có thẻ diễn ra xét vẻ ý thuyết chứ không khẳng định anh
hưởng theo nghĩa là bê nguyên hệ thống thẻ loại của văn học Trung Quốc
sang văn học Việt Nam trong cùng một thời đại Mặt khác, điều quan trọng
hơn là không ít trường hợp các tác gia Việt Nam tiếp nhận thê loại văn
học Trung Quốc nhưng đã sáng tạo đến mức không thay có sự tương đồng
nào hết với tên gọi thẻ loại Trung Quốc Kiệt tác Bình Ngo dai cdo cua
Nguyén Trãi có những đặc điểm như vậy Nếu chi căn cứ vào tên gọi "đại
cáo", chúng ta dễ nghĩ đến việc Nguyễn Trãi đã vay mượn thể cáo trong
Kinh Thư một tác phẩm kinh điển của nho giả” Nhưng trên thực tế, về
cấu trúc và thi pháp “đại cáo” trong Kinh Thư và “đại cáo" của Nguyễn
Trãi không có liên hệ gì với nhau Qua trường hợp Bình Ngô đại cáo ta có
thê nói đến những Sáng tạo mới, vượt khỏi khuôn khô của thẻ loại văn học
chữ Hán chứ không phải là sự tiếp thu hầu như nguyên vẹn thể loại của
văn học Trung Quốc Sự tương đồng giữa "đại cáo” của Thượng Thư và
"đại cáo” của Bình Wgô đại cáo chí đơn thuần là hai chữ * "đại cáo” diễn đạt
tư thế của Lê Lợi tương đỏng với Chu Công, còn kết cấu và thi pháp của
tác phâm “dai cáo” Việt Nam không thể bắt gap trong bat cir mot bài cáo
nào của văn học Trung Quo Nguyễn Trãi đã vận dụng nhiều yếu tổ thi
pháp của thê phú đề viết bài đại cáo thiên cỏ hùng văn bảng một cảm xúc
mãnh liệt và chân thực cua người trong cuộc Điều này cùng tương tự như
Nguyễn Đình Chiều viết Văn rể nghĩa sỹ Cân Giuộc Tuy nhìn bẻ ngoài,
tên gọi của tác phâm gây ấn tượng về thể loại Pig tế”, song thực ra, ông
đã dùng thé phú đề viết bài văn tế Nhân đây cần ghi nhận một thực tế là
thời trung đại, đặc trưng thê loại của nhiều tác phẩm văn học thường được
báo trước qua nhan đẻ, song cũng có không ít trường hợp khi mà tên gọi
chỉ thông báo nội dung, còn thẻ loại không tương thích với tên gọi Trong
Truyền kỳ mạn lục có truyện Kim Hoa thi thoại, nêu cử theo nghĩa gốc của
thi thoại thì phải hiểu đây là một Ang van luận hay thi luận, song thực ra
đây lại là một truyện ngắn truyền kỳ Thiên Nam ngữ lục là một dng su ca
Trang 30bằng thơ lục bát và khái niệm ngữ lục hay lực ở đây chăng có quan hệ
với lực trong Truyền kỳ mạn lục hay Tang thương ngdu luc, Lan Trì kiến
văn lục, lại rất khác với lực của Kiến văn tiểu lục
Việc sử dụng các thể loại văn học Trung Quốc trong ca van hoc chữ
Hán và chữ Nôm ở văn học trung đại Việt Nam có những nét đặc trưng
riêng biệt, tuân thủ quy luật thể loại riêng của văn học Việt Nam trung
đại Như trên vừa nói, vào thế kỷ X, khi nền văn học viết của nước Đại
Việt độc lập hình thành thì hệ thống thê loại của văn học Trung Quốc đã
ở giai đoạn hoàn chỉnh” Nhưng điều đó không có nghĩa là văn học chữ
đất mới Những thê loại được chọn là những thể loại cần thiết do yêu cầu
mọi mặt của nên văn học khi ấy đòi hỏi Những nhiệm vụ trước mắt cua
nền văn học chịu sự chỉ phối của hiện thực cuộc sống đương thời Như đã
trình bày ở chương viết về tác giả, trong những thể kỷ đầu cua văn học
trung đại, tác giả phần lớn thuộc vẻ tẳng lớp trên, là vua chúa, quý tộc,
quan lại cung đình, thiền sư Địa vị xã hội điểm nhìn giai cấp của họ chỉ
phôi thực tiễn sáng tác sâu sắc Những vấn đề thiết thân, cắp bách đối với
thuần mà là những tác phẩm phục vụ trự: tiếp cho hoạt động chính trị xã
hội, bao vệ chế độ, triều đại (đối nội, đối ngoại) xây dựng mẫu nhân
cách lý tương đáp ứng các nhiệm vụ lịch sử ấy Chúng ta cần xem xét các
thê loại văn học nghệ thuật mà họ sử dụng trước hết từ tính mục đích
tính chức năng, từ sự phù hợp của bản thân thẻ loại với mục đích mà họ
muốn đạt được Các mục đích này phần nhiều lại nằm ngoài mục đích
văn chương nghệ thuật
các triểu đại phong kiến Đại Việt độc lập đều theo đuổi những đối sách
ngoại giao khôn ngoan, trí tuệ, vừa mềm dẻo, vừa cương quyết đối với thế
lực phong kiến phương Bắc Văn chương nghệ thuật đã được huy động
thực hiện đắc lực nhiệm vụ này Không chỉ là những văn kiện ngoại giao
khô khan, trong các cuộc gặp gỡ với sứ thần phương Bắc người Đại Việt
đã tỏ rõ tài năng văn chương Năng lực văn chương đó nêu nhìn từ quan
niệm văn học truyền thống phương Đông người có đức tất có văn - tất
nhiên tạo được tâm lý tôn trọng Bài từ được sư Ngô Chân Lưu viết theo
135
AN
SAO
Trang 31điệu Nguyễn lang qwy`° đề tiễn đưa sứ giả nhà Tống là Lý Giác về nước
(năm 987) thực hiện nhiệm vụ này 7ừ vốn là sản vật kết hợp giữa âm nhạc
các dân tộc Tây vực với âm nhạc người Hán, đã trải qua một quá trình sinh
thành, phát triển lâu dài, và rất phát triển ở đời Tổng đi từ các tác pham tir
dân gian đến từ bác học là thê loại văn học giải trí Thể loại từ mà các tác
giả Việt Nam tiếp nhận đã phát triển đến giai đoạn hoàn chỉnh ở Trung
Quốc và không phải là thê loại văn học chức năng Ngô Chân Lưu viết bài
từ tiễn biệt sứ giả Trung Quốc vào thời kỳ thể loại từ đã khá phát triên ở
đời Đường Dùng một thẻ loại văn nghệ giải trí phô biển được yêu chuộng
của quê hương sử giả lại là từ điệu có nội dung nam nữ tiễn biệt, phai
chăng đó là nghệ thuật ngoại giao của người xưa, vừa để chứng minh nẻn
văn hiển phát triển của Đại Việt, vừa gây được cảm tình của đối tác? Đẻ
cắt nghĩa đúng hién trang bai tir Nguyen lang quy này không chuân mực so
với từ phô là rất phức tạp, vì nó đã qua quá trình truyền bản Điều thú vị là
nhà sư Ngô Chân Lưu đã dùng điệu Nguyễn lang 4wy, điệu từ dùng điển
Lưu Thân, Nguyễn Triệu vào núi hái thuốc gặp hai tiên nữ, sống nửa năm
trong tiên cảnh nhưng rồi nhớ nhà, từ biệt hai tiên nữ, khi về đến nhà mới
biết ở hạ giới đã trải qua mười đời Nhà sư đã biết chọn một từ điệu khá
lãng mạn, tình điệu quyến luyén nam nữ, kẻ ở người đi, gửi gắm ngụ ý sâu
xa vẻ quan hệ chính trị giữa hai quốc gia để đưa tiễn sứ giả về nước Điều
đó cho thấy trình độ chiếm lĩnh nghệ thuật viết từ (điền từ) của người Việt
khi đó đã rất cao và họ có cách khai thác rất riêng chức năng của từ, không
phụ thuộc vào chức năng của thé loại từ ở văn học Trung Quốc Vẻ hình
thức thể loại, đây là bài từ song nó đã vượt ra khỏi khuôn khổ thứ văn
chơi, thứ thể loại đậm chất diễm tình để đảm nhận chức năng của áng văn
thư ngoại giao nghiêm túc Đó là sáng tạo, là nét độc đáo của thê loại từ
trong buổi đầu tiên trên đất Việt Nam Nhưng đến các thé ky sau, nhất là
thé ky XVIII, thé loai tir da chuyên chở những cảm xúc phù hợp với phong
cách thể loại này, chẳng hạn như các bài tử trong Sơ kính rân trang của
Phạm Thái (1777 - 1813) dành cho tình yêu nam nữ Vậy tức là thẻ loại từ
đứng cả trong nhóm thẻ loại chức năng và cả trong nhóm thẻ loại nghệ
thuật phi chức năng Nhận diện bộ phận từ như một nhóm thé loại riêng
của văn học trung đại Việt Nam là vấn đề khá phức tạp, khi mà tình trạng
Sao chép lẫn cả từ có xuất xứ Trung Quốc hay chí còn tổn tại tên gọi
136
Trang 32những từ tập còn thực tế từ tập đó đã mắt Xu hướng chung là số lượng tác
phẩm viết theo thẻ từ tăng dẫn lên cho đến đời Nguyễn là thời kỳ cực thịnh
của từ ở Việt NamŸ Nếu như về sau, từ không mấy phát triển ở văn học
Việt Nam thì có thể do những lý do khác chứ không phải là vì từ quá khó
quá phức tạp đối với người Việt Thể phú vẫn được giới nghiên cứu đánh
giá rất khó viết nhưng lại là thể loại có nhiễu thành tựu cả trong văn học
chữ Hán và chữ Nôm Chúng tôi nghĩ rằng, thẻ thơ hát nói thuần Việt, vì
chức năng và thi pháp tương đồng với từ khúc, đã thay thế từ khúc, khiến
cho từ khúc không mấy phát triển ở văn học trung đại Việt Nam Nhân đây
phai nói là xét về chức năng, có những thê loại khá xa nhau nhưng thực tế
đã tham gia vào nhóm thể loại chức năng đối ngoại của văn học trung đại
Số lượng một bài từ được dùng đối ngoại như trên tất nhiên là quá ít so với
thơ, câu đối được sáng tác trong thực tế đối ngoại, trong các giai thoại đi
sứ Các sứ thần Đại Việt khi nhận mệnh lệnh của quân vương đi sứ
phương Bắc, vua quan Đại Việt tiếp sứ thần phương Bắc, đều là những
người hay chữ tài thơ Họ viết thơ xướng hoạ làm câu đối cả với quan lại
phương Bắc và cả sứ thần Triều Tiên đến Trung Quốc Trong khi vẫn là
thơ, các sáng tác xướng hoạ của sứ thần người Việt và các sứ thần Trung
Quốc (đi Việt Nam) cần được xem xét như là các tác phẩm ngoại giao,
phục vụ cho mục đích nâng cao quốc thẻ thẻ hiện ý chí độc lập dân tộc
đồng thời giữ gìn hoà bình Toàn Việt thỉ lực và An Nam chí lược đã ghỉ lại
một số thơ mà vua tôi nhà Trần như Thái Tông, Nhân Tông Anh Tông,
Minh Tông làm tặng Bắc sứ Còn lưu lại ít nhất năm bài thơ Trần Nhân
Tông đẻ tặng sứ giả nhà Nguyên trong bối cảnh áp lực xâm lược luôn đè
nặng Lê Thánh Tông cùng quân thần có thơ xướng hoạ với sứ thần Trung
Quốc” Vì là thơ thù tạc, là sản phẩm đặc biệt của quan hệ đối ngoại
Việt - Trung thời trung đại, thể hiện văn hoá đối ngoại trong tương quan
vị thế đầy phức tạp giữa hai nước, nhiều khi diễn ra đấu tranh căng thăng”
nên chúng ta cần áp dụng phương pháp nghiên cứu riêng, giải thích ngữ
cảnh lịch sử chính trị riêng cho những bài thơ loại này, không hoàn toàn
tương đồng như khi nghiên cứu thơ bình thường Như vay, trong thé loại
thơ, cần phân biệt nhiều tiểu loại thơ khác nhau, thơ vịnh cảnh, vịnh vật,
nói chí là chức năng, mà thơ xướng hoạ với sứ thần Trung Quốc cũng là
thơ chức năng, không hoàn toàn đồng nhất với thơ xướng hoa vén là hình
137
Trang 33thức sinh hoạt văn học rất riêng ma rat phô biến của văn thi nhân xưa Đê đạt mục đích đối ngoại người viết thơ xướng hoạ, thù tặng có thê phải
chấp nhận công thức khuôn sáo, mà hy sinh phần nghệ thuật Nếu cứ áp
dụng máy móc thi pháp cảnh/tnh (ý cảnh thuyết) nhiều khi không thê phân tích được các bài thơ thất ngôn bát cú mang tỉnh thần ngoại giao
Về tản văn đối ngoại, tiêu biểu nhất có Quân trung từ mệnh tập của
Nguyễn Trãi là tập văn thư mang tỉnh thần đầu tranh ngoại giao trao đôi với các tướng lĩnh quân xâm lược nhà Minh Nghiên cửu tản văn ngoại giao xưa hiện chưa được quan tâm đúng mức, tư liệu về mảng này còn nằm rải rác đây đó ví dụ ta có thê bắt gặp những ghỉ chép về việc chuân bị cho sỹ tử tham dự thi cử năng lực soạn tháo công văn thư từ đổi ngoại ở thé ky XVIIL Lich triểu tạp kỷ cho biết tháng 8 năm 1724 trong khoa thi Hoành từ, chúa Trịnh cho các sỹ tử soạn một công văn trả lời Tông đốc
Vân Nam vẻ vấn dé biên giới lãnh thỏ phía Bắc làm đề thi" Tất nhiên,
văn xuôi - tản văn ngoại giao cần lý lẽ sắc bén, lập luận hùng hon, can có dung lượng phù hợp, tức là có những yếu tô hình thức riêng phù hợp với
mục đích
Về đối nội, các nhiệm vụ đặt ra thật là bộn bể trước tác gia những thế
kỷ đầu tiên của văn học trung đại chúng chỉ phối việc sử dụng thê loại văn học, cả chữ Hán và chữ Nôm Như đã trình bày, ở thời kỳ này, hầu hết
những người viết văn làm thơ thuộc về tầng lớp lãnh đạo kể cả nhiều vị thiển sư cũng có liên hệ gắn bó mật thiết với triều chính Thơ văn của họ thể hiện điểm nhìn của người lãnh dao, cua tang lớp quý tộc
Trong hoạt động đối nội trước hết, cần có những kiểu diễn ngôn xác lập tính chính danh quyền thống trị hợp hiến, hợp pháp của các triểu đại
phong kiến mà đại diện cho triểu đại là bậc quân chủ, bậc để vương Tất nhiên, người ta có thể sử dụng bất cứ thê loại văn học nào cho mục đích này Bài tho thần Nam quéc sơn hà, một bài thơ viết theo thể thơ tứ tuyệt
28 chữ, gọn gàng, chắc nịch, thích hợp với giọng điệu trang nghiêm day
uy lực dưới hình thức là lời phán bảo của thần linh về ý chỉ thiêng liêng của trời trao cho vua nước Nam quyển cai quán đất đai sông núi nước
Nam Học thuyết Nho giáo về thiên mệnh, thiên tử, về bậc dé vương nhận
mệnh trời cai quản vùng không gian dưới ười (thiên hạ) phô thiên chỉ hạ
mạc phi vương thỏ được vận dụng đúng hoàn cánh, đúng mục đích làm
138
Trang 34tăng niềm tin tương, sự phán chân cho binh lính Đại Việt và sự hoảng sợ
của quân Tống xâm lược” Bài thơ này có thê xếp trong nhóm tác phâm
văn hoá chính trị rất đặc thù Trong một bối cảnh chính trị xã hội khác, dé
phát biểu lý tưởng chính trị, tác giả Việt Nam trung đại có thể sử dụng thẻ
phú - đó là trường hợp Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo Phú vốn là thể
loại văn học thuộc nhóm tán văn, có nhịp điệu, vẫn, ngôn từ hoa mỹ diễm
lệ được cho là giúp bộc lộ tài năng của người viết, được dùng như một thể
loại văn khoa cử đẻ thử thách văn tài của sỹ tử (biết nhiều chữ Hán mới
viết nôi) Trong lịch sử văn học Trung Quốc, phú các thời đại được giới
nghiên cứu phân loại khác nhau oO day chi giới thiệu một cách phân loại
tiêu biêu theo trình tự lịch triều: cổ phú đời Hán bài phí hay biên phú rất
hưng thịnh thời Nguy Tấn Nam Bắc triểu, /ưệt phú phô biến ở đời Đường
va van phi Duong -Téng™ Nhung béi cánh lịch sử khi nhân dân Đại Việt
dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã giành chiến thắng oanh liệt trước quân
Minh xâm lược tàn bạo đòi hỏi Bình Ngô đại cáo phải được viết với một
kết cấu tái hiện lại quá trình khơi nghĩa giải phóng dân tộc với những
ngôn từ hùng biện, hình tượng có tầm vóc sử thi, với cảm xúc mãnh liệt,
nhịp điệu lôi cuôn Qua đó mới diễn ta hết được không khí lịch sử hào
hùng của cuộc chiến thắng quân xâm lược và tài đức của người lãnh tụ Lê
Lợi, đồng thời khẳng định tính hợp hiến, hợp pháp của ngôi vua mà Lê Lợi
đăng quang Không có một bài phú nào tương tự như vậy trong lịch sử của
thể phú ở Trung Quốc Vậy nhìn vào những thể kỷ đầu tiên, những thê loại
văn chương nghệ thuật của văn học chữ Hán như thơ, phú lại được chú
trọng khai thác ở tính chức năng Và điều này một lần nữa cho thấy, tách
biệt thể loại chức năng và thẻ loại nghệ thuật trong văn học trung đại
không hẻ là chuyện đơn giản Về phương pháp nghiên cửu, thực tế cho
thấy không nên quá câu nệ gò vào so sánh với thẻ loại văn học trên quê
hương của chúng mà cần chú ý đến sự di thực của chúng sang mảnh đất
mới với những biến hoá rất phong phú và linh hoạt theo yêu cầu thực tế
sáng tác
Trong bói cảnh văn hoá tâm linh đậm đặc của thời trung đại, thường
quan sát thấy sự kết hợp khá tỉnh tế giữa vương quyền - thể quyền và thân
quyền Các triều đại phong kiến không chỉ đánh dẹp các cuộc nổi loạn,
chống lại các cuộc xâm lược từ bên ngoài, vận dụng lý thuyết chính trị và
139
BAN
Trang 35thực thi các biện pháp trấn áp hay vỗ về dân chúng mà còn phát huy sức mạnh của tôn giáo vào công cuộc trị vì, các ông vua không chỉ bảo trợ cho
tôn giáo mà còn có thể đích thân làm “giáo chủ” Theo sử gia Nguyễn Thể Anh, có những nguyên nhân lịch sử xã hội làm nên vị thế quan trọng của nhà chùa Việt Nam thời kỳ này “Trong thời kỳ bất ổn chính trị ở Việt
Nam vào khoảng giữa cuối thế kỷ thứ IX và thứ X, những vùng có nhiều chùa chiền đã tránh khói sự tàn phá và trở thành những nơi tu hoc, trong
khi đó các thiền viện lại là nơi bao che cho những nam nhân đi tìm một sự
an toàn về xã hội và kinh tế Vì thế, vai trò quản trị ruộng đất và tài sản của các thiền viện đã dần dà phát triển thành vai trò lãnh đạo chính trị tại
địa phương Sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của nhà Đường và trở thành một nền quân chủ độc lập, những thiển viện này tiếp tục đóng vai trò
là những trung tâm văn hoá và chính trị Ảnh hưởng của vị quốc sư, người lãnh đạo toàn thẻ tăng lữ và phụ trợ các vị vua cầu nguyện quốc thái dân an với tư cách có vấn đã rất lớn lao Ngược lại, việc bảo trợ cho tăng già Phật giáo lại là một phương cách đẻ triều đình bày tỏ uy quyền và xây dựng một guồng máy lãnh đạo ở địa phương Theo định nghĩa, các sinh
hoạt công cộng đều có ý nghĩa tôn giáo, cho nên việc sùng đạo trên thực tế còn là một phương cách trị dân trị nước”'' Lý giải của một sử gia khác về
sự kết hợp thần quyền và thể quyền cũng đáng được chú ý: "Khi Đinh Bộ
Lĩnh đẹp tan các sứ quân thì ngoài cái uy chuồng cop vac dau còn có sự
ủng hộ của tập đoàn tăng đạo - nhất là tăng, được mời gọi lập thành hệ
thống quan giai có chức có quyền trên đinh cao xã hội Lý, Trần vượt lên
một bậc nữa trong khi chia xẻ hệ thống tín ngưỡng chung của thời đại đó, bằng cách tự mình làm lãnh tụ tông phái (thiền phái) để thực hiện ý định thu tóm quyển uy thể tục và siêu linh vào trong một tay: Lý Thánh Tông
mở phái Thảo Đường, Trần Thái Tông mở phái Yên Tử; Lý Cao Tông tự
xưng là Phật, Trần Thái Tông được tôn xưng là Điều Ngự Vương Phật, lộ
ra ý định hình thành một quan niệm vua - Phật không có cơ hội xuất hiện
lâu dài như quan niệm Thiên Vương (deva - rajah) ở phía Nam và Tây
Nam"®, Trong không khí sùng phụng đạo Phật, các thể loại văn học ké ca
thơ, phú và văn xuôi (văn xuôi cốt truyện và phi cốt truyện) ưu tiên cho
nội dung xây dựng hình tượng các nhà tu hành và truyền giảng giáo lý Về
thơ ca, có thi kệ của các thiền sư mà một phan quan trọng được ghi lại
140
BAN
Trang 36trong Thiên uyén tập anh (thé ky XIV) với hầu hết các bài kệ dưới dạng
thơ tứ tuyệt; có thơ mang ý vị Thiền của các ông vua và quý tộc nhà Trần
Vua Trần Thái Tông soạn Khoá hư lực - một tác phẩm văn xuôi phi cốt
truyện ~ không đơn thuần chỉ là giảng giải các giáo lý của đạo Phật mà còn
nhằm mục đích giáo dục, răn đe tầng lớp quý tộc, quan lại phong kiến về
việc tu dưỡng nhân cách đạo đức, vươn lên xứng tầm của giai cấp thống
trị Trong tác phẩm này, có thẻ thấy rõ cả những tư tưởng Nho giáo được
xen cài với tư tướng Phật giáo Trần Nhân Tông viết bài phú Cư tran lac
đạo trong đó có bài thơ nỗi tiếng Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên ân sau
phạm trù tâm, thién là mục đích giáo dục nhân cách đạo đức cho tang lớp
quan lại, quý tộc phong kiến
Văn xuôi cốt truyện, hay có thể gọi như nhiều nhà nghiên cứu là
truyện ký - trong thế kỷ XIV, thực hiện chức năng tôn giáo có Thién uyén
tập anh, Tổ gia thực lục nơi lưu giữ ky ức sống động vẻ hành trạng cuộc
đời, tư tưởng và sự nghiệp tu hành của các nhân vật tiếng trong vườn
Thiền Việt Nam như là một bản tổng kết đẩy tự hào về văn hiến dân tộc
Trong lời tựa viết cho lần tái bản Thiển uyền tập anh năm 1715 có câu
"Nước Đại Việt ta, lời Phật thắm nhuần khắp cả, mưa pháp sóng gội nhiều
nơi, cắt tóc xuất gia, chứng ấn ngộ không thì cũng có người"9 đã phản ánh
cách đọc của nhà nho đối với mục đích biên soạn Thiên uyển tập anh
Truyện kể các thiển sư có những nét nhất định chịu ảnh hưởng của thể loại
sách truyén dang luc rat pho biến trong văn học Phật giáo Trung Quốc
Tuy mô hình tự sự giữa các truyện kể tiểu sử các thiền sư không hoàn toàn
giống nhau, song chức năng của chúng tương đồng với nhau Mô hình kết
cấu phổ biến của các tiểu truyện thiền sư là kể chuyện cuộc đời tu hành
đắc đạo của một vị thiền sư theo trình tự thời gian, từ khi sinh ra, lớn lên,
quá trình tu học với các bậc thầy và bản thân trở thành thầy, rồi kết thúc
bằng môtip toạ thiển, đọc bài thi kệ rồi viên tịch Mô hình kết cầu ba giai
đoạn như vậy cũng tương đồng mô hình kết cầu của các truyện trong Việr
điện w linh, Lĩnh Nam chích quái Như vậy, đến thê ký XIV, văn xuôi ra
đời trước hết để đáp ửng chức năng chính trị tôn giáo, đạo đức mà thời đại
yêu cầu Đấy là chưa kê văn bia, một thể loại hiển nhiên có địa vị cao quý
khi mà hệ thống chùa chiền mọc lên khắp nơi, người dé van bia được lưu
danh muôn thuở Nội dung của văn bia thể hiện rõ tính chức năng: thường
141
SAO