Quan điểm Marxist cho rằng hành vi của các giai cấp tư sản chủ sở hữu tư liệu sản xuất và giai cấp công nhân người lao động khác nhau rõ rệt, với các nhà tư bản tập trung vào việc tối đa
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIEN KINH TE & KINH DOANH QUOC TE
Môn: Dạo đức kinh doanh và Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
BÀI TẬP GIỮA KỲ: CÁC HOC THUYET VA QUAN DIEM VE DAO DUC
3 2215110403 Tran Doan Ha Trang 100%
4 2211110248 Triéu Minh Minh 100%
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 Quan điểm trước MarX -««-eexsxeeexeressexrssexexrxxsxe Ơ
1.1 NỘi dungQ - -.- co non nh in nu n nàn Bà nhi ph nàn nà n nà n ĐỘ 1.2 Các phương pháp đánh giá hành vi -. cuc an sec se coccce
1.2.1 Tuân thủ mệnh lệnh thiêng liêng trong dạo đức TƠH ĐỈÁO cà cuc nee 9 1.2.2 Hướng tới phẩm chất cao quỷ trong đạo đức đức hạnh
1.2.3 Đánh giá hành vì dựa trên bồn phận và mỗi Quan NE XG NGI r(“a) - 10
1.3.1 Case study 1: Johnson & Johnson và quyết định đạo đức trong khủng hoảng BÍeHỌ c cài ie 11 1.3.2 Case study 2: Atagonia va đạo đức đực hạnh trong kinh doanh bÊH VŨH cà cu nh nh nen he xe 13
Chương 2 Quan điểm Marxist se exererrrrsrrxrszexsrrrrxe L4
2.2.2 Phân tích giá trị thăng dư (Surplus Value Analwsi$) 18 2.2.3 Phân tích sự tha hĩa lao déng (Alienation Analysis) 18 2.2.4 Phân tích quyền sở hữu và kiểm sốt tư liệu san xudt (Ownership and Control Analysis) 18 2.2.5 Phân tích mâu thuẫn và xung đột giai cấp (Class Conflict ÁnQÌWSÍ) cuc nh nh kh nền kh he Ld 2.2.6 Phân tích sự phát triển của ý thức giải cắp (Class Consciousness Development Analysis) 19 2.2.7 Phân tích tác động đối với bắt bình đẳng xã hội (Social Ieqguality Impact Analwsis) Ld
2.2.8 Phan tich sw hop tac va twong tro (Cooperation qnd Mutual Aid ÁnalsiS) 19
2.3.1 Case studW 1: Umilever và chương trình phái triên bên vững tại K€HWƠ cà cuc nh nh nh nh nh nh kh khi, 20 2.3.2 Case study 2: Hành vi vỉ phạm đạo đức của mazon trong việc quản lý nhân VIÊH c cà 21
Chương 3 Học thuyết Friedman -« sex re re 2 2
3.1.2 Lợi ích của việc tối đa hĩa lợi nhuận
3.1.3 Phê bình đối với trách nhiệm xã HỘI Tnhh HH TT TK HE
3.1.4, Ven 6 ri: : nên nhhẦẦẢäẦẦẦ 3.1.5 Sự phát triển của lý thuyết bên thứ ba +
3.1.6 Phân tích phản biện học thuyết Friediman từ thực tiên
3.1.7 Phân tích phản bác học thuyết Friedman dựa trên lý thuyết quyền sở hiểu tư nhân 29
3.2.1 Phân tích chỉ phí - lợi ích (Cost-Ben©ƒfil ÁHQÌV§ÍN) (cu cuc nh nền nh nh nh TK TK Kế học tế he kh 31 3.2.2 Phân tích đạo đức kinh doanh (Ethical ÁHQÌWSÍN) uc cu nh» HT nh Kế TK tế kế kế 31
3.2.3 Phân tích tác động xã hội (Social Impact And[WÍ)L uc icon 32
3.2.4 Phân tích dựa trên lợi ích cơ đơng so với lợi ích bên liên quan (Shareholder vs Stakeholder Analsis)
FN NNN EN EE NII INI EI EEN IIE HIE I Đế ĐK TK KT ĐK ĐK TK ĐK ĐT nn nnn init 32
3.2.3 Phân tích tác động đài hạn (Long-terI IHĐQCE ÁHQÌVSÍS)L cà TH nh nh nh nh Bề Tnhh kế 32
3.3.1 Case study I: Walmart
3.3.2 Case study 2: Adelphia: Viéc lam tốt thơng qua một bàn tay làm việc đến cùng .36
3.3.3 Case study 3: Ice-T, Album Body Counf và phản ứng của các cỗ đơng ào cào co ằa 39 Phân tích dưới gĩc độ học thuyết FTÍGHH: TL Tnhh nh HH ke 40 3.3.4 Case study 4: Howdrd, Janet, Rosie, Don, v.v.: Thách Thức của Các Nhân Vật Trên SĨng 42
2
Trang 3Chương 4 Thuyết trơng đối văn hóa (CHÌtHradl reÌdfiVÌSIH) «.««seeesesesesesrsexrxrxrxrxrx-x 4 4.1 NỘi dUng - -.- - co nh nh nu nen nàn gà nà n nàn ben nen nà n CHẾT 4.2 Các phương pháp đánh giá hành vi
4.2.1 Dựa vào chuẩn mực văn hóa địt phƯƠH Er ki kh nh N2 410 1/07 nan ốc eeấw ä 4.2.4 Ton trong suv da dang VAN RO cà chinh thề HH HH HH HH TH HH HH tin 4.2.3 Kết hợp các nguyên tac dao ditc chung Khi CO UNE cu cu nh nh KT TK TK KT ki kh kh kh kế
43.1 Case study 1: Diéu kién làm việc và mức lương thấp trong CÁC XƯỞNG HHQỤ àààà cà ào cà ào cẰ 50 4.3.2 Case study 2: Sự khác biệt văn hóa trong việc bảo vệ người tiêu dùng OL 4.3.3 Case study 3: McDonald's va tiéu chudn hoa đạo đức toàn CđM 53 4.3.4 Case study 4: Lao động trẻ e [rOHg SẲN XHẤT CŒ CO àà 220 ST Sn ST ST tk khe, 54 4.3.5 Case study 5: "Grease payments" trong kinh doanh QUỐC HỄ cà co ch Sn vs khe 56
Chương 5: Học thuyết công bằng, - - «sex exeexexr 5 Z
5.1 Nội dUng -.- - con nọ n nh ni n HH n n Đ B HY n BÀ D Binh nhàn nà TT
3.2.1 Công bằng thủ tục (ProcedHrdl DHSHỈC) Lá cu uc cu UE ELE EI EEE EEE ne 3.2.2 Công bằng kết quả (Distributive Justice)
5.2.5 Đánh giá thông qua nguyên tắc đạo đức của chủ nghĩa khế ước xã hội à Ặ ccc veces e ees 63
5.3 CaS© SEU e nen ng mm mm ngu mm nu nan mm nu nan mm ng
5.3.1 Case study 1: Yéu cau trách nhiệm từ các ngân hàng lớn: trường hợp của Barclays Bank 64 5.3.2 Case study 2: Tiền thưởng và giới hạn lương của giám đốc tại ÁÏỚ à cào cSìn vn vv G7
Chương 6: Thuyết phi đạo đức ngây thơ - «s7 69
6.1 Nội (UNE iu ua su nh nh n ninh HH nh n n BỊ HH BÌNH BH Hàn nh Bàn h nh Ban nn nhàng Ế)
6.2 Các phương pháp đánh giá hành vi - cu con sen eseseeseeeeee L 6.2.1 So sánh hành vi của doanh nghiệp với chuẩn mực đạo đức chung71
Các bước phân tích cụ thé để đánh giá hành vi của phương pháp này bao gồm: 71
6.2.2 Phán tích động cơ của doanh nghiệp “ Các bước phân tích cụ thé để đánh giá hành vi của phương pháp này bao gồm: 73
6.3.2 Case study 2: Xung Dét Loi Ích trong Khoản Vay Thế Chấp Dưới Chuẩn tại Goldman Sachs và Enron
FN NNN EN EE NII INI EI EEN IIE HIE I Đế ĐK TK KT ĐK ĐK TK ĐK ĐT nn nnn init 77
Chương 7: Thuyết VỊ lợi - - sen ng ng ng ng nộ
7.1 Nội (Ung -.- - co on nh nọ n nh n min Hi tin in nu n nà n Hà n Bàn nà ĐỀ L 7.2 Các phương pháp đánh giá hành vi cu àenheekeeheeeneeeseeeesÖ2
Phương pháp vị lợi: Xác định xem hành động nao (trong sô các phương án thay thê hiện có) tôi đa hóa hạnh
7.3 Case StUGY sccccsscccsssccssssscsssecssssscessscssssecesssecsssecesssecsssecessecesssecesseesB4
Chương 8 Quan điểm của Kanit esexeessesessrsrsrsrsrrrr OD
8.1 Nội dụng - -.- co nh ni n nh nà ng Hàn Bà nh hàn na n TẾ 8.2 Các phương pháp đánh giá hành vi - c cccc se csccececcccecc 2G
3
Trang 48.1.2 Phuong phdp CI Bieter EE EE EE EEE ELIE EI EEE ‹<d
8.3.1 Case study 1: nguoi ban lam viéc kém hiệu qua
8.3.2 Case study 2: XYZ ShO@S, TH cu cà nh TH TK KT nh TK TK Ti KH TK tk Ti nề 8.3.3 Case study 3: Banh socola mién phi
Chương 9 Học thuyết nhân QUyỂN - »-s«s«xexexexexexex xe E10
9.2 Các phương pháp đánh giá hành vi cu on nh nhi 115
9.2.2 Phan tich tac déng nhén quyén (Human Rights Impact Assessment - HRIA)
VU 1.101.073 TERNNAẼ.Ẻốố.S Ă 9.2.4 Sur dung cong cu danh gid ESG (Environmental, Social, qnd COVETHGHG) cà cà hhhhhhhhhinnsre 9.2.3 Các khảo sát và phỏng vấn nhân viên, công đông địa pHƯƠNG cà cà nàn nen hà
9.2.6 Đánh giá thông qua giám sát và kiểm tra độc ÏẬp à Ăằ Tàn nành nhe,
9.2.7 Báo cáo công khai về quyền con người và trách nhiém xa hoi (CSR Reporting)
9.3.1 Case study 1: Tuyén bé vé quyên con người và chính sách của công tụ ChevroHTeXdCO ‹ 118
Chương 10 Phân tích hai case study học thuyết vị lợi 123
10.1 “Jim and the Indians” - Bernard Williams - - 123 10.2 Case "McCloskey’s Sheriff" - H.J McCloskey - 126
Tài liệu tham khảo - «se snererrrrrrrrrrrrrrrrsrrsnrrsssrrsasrrssrrs E3 0
DANH MUC BANG
Bang |: Phan tich theo thuyét vi loi (giup d& hay khéng gitip dB) ccc ecco 81
Bảng 2: Phân tích theo thuyết vị lợi (lái xe quá tốc độ hay không) eee eee 90
Bảng 3: Phân tích theo thuyết vị lợi (Thông báo và không thông báo) - 5 92 Bảng 4: Phân tích theo thuyết vị lợi của các trường hợp “Jim and the Indians” 125 Bảng 5: Phân tích theo thuyết vị lợi của các trường hợp case "MecCloskey`s Sheriff " .128
Trang 5PHAN CONG CONG VIEC
3 | 2215110403 | Tran Doan Ha Trang Thuyết vị lợi, Quan điểm của Kantt
4 |2211110248 | Triệu Minh Minh Quan điểm trước Marx, Quan điểm Marxist
5 | 2211510015 | Nguyễn Thị Ngọc Ảnh | Thuyết công bằng, Thuyết phi đạo đức ngây thơ
6 |2211510071 | Khiêu Đức Minh Quan điểm Marxist, Học thuyết Friedman
Trang 6
Chương l Quan điểm trước Marx 1.1 Nội dung
Đạo đức luôn là một chủ đề cốt lõi trong triết học và kinh doanh, Quan điểm cô
điển cho rằng đạo đức bắt nguồn từ các nguyên tắc tôn giáo, nơi Thượng Đề, Đức Phật hoặc các đẳng quyền uy khác đóng vai trò quyết định đúng sai Khái niệm này không chỉ giới hạn trong lĩnh vực triết học mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến quản trị kinh doanh và cách ứng xử của các doanh nghiệp trong cộng đồng
Trong “Business ethics case studies and selected readings” cia Marianne Jennings, lý thuyết mệnh lệnh thiêng liêng (Divine command theory) được trình bày như một hệ thông đạo đức dựa vào các nguyên tắc tôn giáo Nội dung nhân mạnh rằng các
quyết định đạo đức không đến từ suy luận cá nhân mà từ sự tuân thủ các mệnh lệnh của
đẳng tối cao Ví dụ, trong Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo, Mười điều răn cung cấp hướng
dẫn cho những hành vi đúng sai Theo lý thuyết này, việc hành động đúng đắn phải được
xác định theo các nguyên tắc bất biến từ các giáo điều thiêng liêng
Jennings chỉ ra rằng, trong một số quốc gia, đạo đức tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đến hành vi cá nhân mà còn được thê chế hóa trong luật pháp Luật Sharia trong Hồi giáo
là ví dụ điển hình: nó không chỉ điều chỉnh hành vi cá nhân mà còn đưa ra các hình phạt pháp lý cho những hành vi như ngoại tình hoặc gian lận Điều này cho thấy các chuẩn mực tôn giáo có khả năng xác lập ranh giới đạo đức rõ ràng, vượt qua phạm vi cá nhân đề trở thành tiêu chuẩn chung cho cộng đồng và xã hội
Một đặc điểm quan trọng của lý thuyết này là tính tuyệt đối của các nguyên tắc đạo đức Không như các lý thuyết dựa trên lý trí hoặc kết quả, lý thuyết mệnh lệnh thiêng liêng không cho phép sự linh hoạt tùy hoàn cảnh Đức tin vào đẳng tối cao là yếu tô trung tâm trong quá trình ra quyết định Điều này nghĩa là các cá nhân, dù trong tình huống nào, phải tuân thủ những nguyên tắc đã được định trước để duy trì đạo đức, ngay cả khi
điều đó có thể gây ra khó khăn hoặc tôn thất trước mắt
Trang 7Mặc dù lý thuyết mệnh lệnh thiêng liêng đưa ra các quy tắc rõ ràng cho đạo đức, Jennings cũng chí ra những hạn chế của nó Tính cứng nhắc và thiểu linh hoạt là một trong những hạn chế lớn Trong nhiều tình huồng phức tạp, đặc biệt trong kinh doanh, việc tuân thủ tuyệt đổi các nguyên tắc tôn giáo có thể gây ra xung đột với lợi ích thực tiễn hoặc khiến doanh nghiệp bỏ lỡ cơ hội quan trọng Ngoài ra, lý thuyết này không khuyên khích sự sáng tạo trong giải quyết vẫn đề và có thê tạo ra căng thăng trong các xã hội đa văn hóa hoặc không có chung nền tảng tôn giáo
Trong “Business Ethics” của Andrew Crane và Dirk Matten, đối với triết học đạo đức và kinh doanh trước Marx, có hai hệ thống chính dé xác định chuẩn mực đạo đức:
đạo đức tôn giáo và triết học đạo đức duy lý, và có sự phân biệt rõ ràng giữa hai loại này Mặc dù cá hai hệ thống đều nhằm giúp con người xác định hành vi đúng đắn trong kinh doanh, nhưng chúng khác biệt về nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức và hậu quả của việc làm theo hoặc vi phạm các nguyên tắc đó Đạo đức tôn giáo dựa trên sự tuân thủ các mệnh lệnh thiêng liêng, trong khi triết học duy lý nhân mạnh vào khả năng suy luận logic
và lý trí để xác định đúng sai
Đạo đức tôn giáo dựa trên niềm tin vào đắng thiêng liêng hoặc một hệ thống đức tin có tổ chức Các chuẩn mực được coi là bất biến, thê hiện thông qua những văn bản thiêng liêng như Kinh Thánh, Kinh Qur`an hoặc Talmud Do đó, hành động đúng đắn phụ thuộc vào sự vâng lời và lòng tin Ngược lại, triết học đạo đức duy lý cho rằng lý trí của con người là nguồn gốc của đạo đức Các quyết định không cần phải dựa vào đức tin mà dựa vào suy luận logic và khả năng tự đánh giá đúng sai của mỗi cá nhân Một ví dụ điển
hình là đạo đức Kant, khi mà một hành động chỉ được coi là đúng néu nó phù hợp với
nguyên tắc phô quát, tức là nễu mọi người đều hành động theo cách đó, xã hội sẽ tốt đẹp hơn
Trong tôn giáo, các hành vị đạo đức không chỉ nhắm đến lợi ích xã hội mà còn liên
quan đến hậu quả tỉnh thần như cứu rỗi, giác ngộ, hoặc luân hồi Những vi phạm đạo đức
có thê dẫn đến sự trừng phạt thích đáng Điều này có thể được thấy rõ trong hệ thông luật Sharia, nơi các hành vi gian dối và tham nhũng không chí bị phạt về mặt pháp lý mà còn
7
Trang 8bị coi là tội lỗi trước Thượng Đề Trong khi đó, triết học đạo đức duy lý đánh giá hành vi
dựa trên kết quả thực tế mà nó mang lại cho cộng đồng Một hành động được đánh giá là
đúng nếu nó mang lại lợi ích chung hoặc tránh được tôn hại cho cộng đồng
Áp dụng khi xét về tính linh hoạt và khả năng ứng dụng trong môi trường kinh doanh, Crane và Matten cho rằng đạo đức duy lý thường được xem là linh hoạt hơn trong
môi trường kinh doanh hiện đại, nơi tình huống thay đổi liên tục và cần sự thích ứng
nhanh Ngược lại, đạo đức tôn giáo có thể gặp khó khăn vì tính cứng nhắc và tuyệt đối của các quy tắc Điều này đặc biệt rõ ràng trong các xã hội đa văn hóa, nơi các doanh
nghiệp phải đối diện với những hệ thống giá trị khác nhau Chăng hạn, một doanh nghiệp
hoạt động tại nhiều quốc gia có thê phải đôi mặt với xung đột giữa nguyên tắc đạo đức của quê hương họ và quy chuân địa phương Nhưng cũng cần lưu ý, bởi trong thực tiễn kinh doanh, không phải lúc nào cũng có thê dựa vào các nguyên tắc bắt biến của tôn giáo
để ra quyết định đúng đắn Những nguyên tắc này có thể gặp thách thức trong môi trường toàn cầu hóa, nơi sự khác biệt về văn hóa và tôn giáo tạo ra những xung đột trong tiêu chuẩn đạo đức Mặc dù vậy, nhiều tô chức đã có gắng dung hòa bằng cách tìm kiếm các điểm chung giữa các tôn giáo, như nguyên tắc tôn trọng, trung thực và công bằng
Một ví dụ điển hình là sự chuyên đối của Nike sau khi đối diện với chỉ trích về điều kiện
làm việc trong chuỗi cung ứng Công ty đã phải điều chỉnh chính sách và hành vi của mình dựa trên các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế, thay vì chỉ dựa vào các nguyên tắc tôn giáo đơn gián về thiện ác
1.2 Các phương pháp đánh giá hành vỉ
Quan điểm đạo đức trước Marx chủ yếu bao gồm đạo đức tôn giáo và triết học cỗ
điển từ thời Hy Lạp, như của Plato và Aristotle, cùng với những nguyên tắc đạo đức Nho giáo ở phương Đông Các hệ thống này tập trung vào đức hạnh, bỗn phận và tuân thủ các
nguyên lý siêu nhiên hoặc luật lệ của đẳng tôi cao, khác biệt với những học thuyết hiện
đại như hậu quả luận hay Kantian ethics Phương pháp đánh giá hành vi của quan điểm trước Marx gồm:
Trang 91.2.1 Tuân thủ mệnh lệnh thiêng liêng trong đạo đức Tôn giáo
Đạo đức tôn giáo cho rằng hành vi đúng đắn được xác định bởi sự tuân thủ mệnh
lệnh từ các đắng thiêng liêng hoặc nguyên lý đạo đức có tính bất biến Trong hệ thống này, đúng và sai không dựa trên lý trí cá nhân, mà xuất phát từ các giáo điều và mệnh lệnh được tiết lộ thông qua văn bản tôn giáo hoặc các quy tắc thiêng liêng Người thực
hiện hành động không có quyền thay đổi hoặc diễn giải mệnh lệnh theo hoàn cảnh mà
phải vâng lời tuyệt đôi để duy trì đạo đức Ví dụ trong Thiên Chúa giáo, Mười Điều Răn
yêu cầu con người không được nói dồi, trộm cắp, hay giết người Các quy tắc này không phụ thuộc vào ngữ cảnh mà là những chuẩn mực bắt buộc mọi tín hữu phải tuân theo để giữ gìn mối quan hệ với Thượng Đề và cộng đồng Hay trong Hồi giáo, luật Sharia không
chỉ đưa ra các chuân mực đạo đức mà còn xác định hình phạt pháp ly cho các hành vĩ như
trộm cắp, gian lận, và ngoại tình Đây là một ví dụ cho thấy đạo đức tôn giáo không chỉ
hướng dẫn hành vi cá nhân mà còn được thể chế hóa thành luật pháp để duy trì trật tự xã
hội
Đạo đức tôn giáo đóng vai trò nền tảng trong nhiều cộng đồng, vì nó không chỉ
điều chỉnh hành vi cá nhân mà còn định hình chuẩn mực xã hội Vi dụ, việc thực hiện các
nghi thức và hành vi đạo đức trong tôn giáo Hồi giáo không chỉ vì mục đích cá nhân mà
còn để duy trì mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng Mệnh lệnh thiêng liêng
không phụ thuộc vào hoàn cảnh, mang tính tuyệt đối Một hành động được coi là sai dù
có thê mang lại lợi ích ngắn hạn Ví dụ, nói đối dù để cứu người khác cũng bị coi là vi
phạm Mười Điều Răn Những nguyên tắc đạo đức này còn được sử dụng để xây dựng hệ thống luật pháp và trật tự xã hội, như cách Sharia ảnh hưởng đến luật pháp tại các quốc gia Hồi giáo
Đạo đức tôn giáo cung cấp chuẩn mực rõ ràng và dễ hiểu cho những người có đức tin, giúp họ định hướng hành vi trong cuộc sông hàng ngày và xây dựng cộng đồng bền chặt Tuy nhiên, tính cứng nhắc của các nguyên tắc này khiến nó thiếu linh hoạt trong các
Trang 10tình huống phức tạp Một vi dụ là trong kinh doanh toàn cầu, các chuẩn mực tôn giáo có thê gây ra xung đột với những giá trị văn hóa hoặc pháp lý của các quốc gia khác 1.2.2 Hướng tới phẩm chất cao quý trong đạo đức đức hạnh
Đạo đức đức hạnh (Virtue Ethics) bắt nguồn từ triết học Hy Lạp cô đại, đặc biệt từ các tư tưởng của Platon và Aristotle Không giống như các học thuyết đánh giá hành vi dựa trên nguyên tắc hay kết quả, đạo đức đức hạnh tập trung vào sự phát triển phẩm chat
và nhân cách của con người Hành vi đúng đắn không chỉ là tuân thủ quy tắc hay tối đa
hóa lợi ích mà phải phản ảnh đức tính tốt đẹp của người thực hiện Theo Aristotle, con
người cân rèn luyện các đức tính (virtues) dé trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình Những đức tính như trung thực, can đảm, lòng nhân ái và tiết chế là nền tảng giúp con
người đạt đến “eudaimonia” — một trạng thái hạnh phúc và thịnh vượng toàn diện Trong
quan điểm này, hành vi đạo đức không phải là kết quả của các nguyên tắc cứng nhắc, mà đến từ thói quen rèn luyện đức hạnh qua thời gian
Trong bối cảnh kinh doanh, đạo đức đức hạnh nhân mạnh rằng người lãnh đạo và
tổ chức cần phát triển các phẩm chất tốt đẹp đề đạt được thành công bền vững Các quyết định kinh doanh không chỉ nên dựa vào lợi ích ngắn hạn hay tuân thủ quy định pháp lý,
mà cần phản ánh những giá trị cốt lõi của tổ chức Ví dụ: Một CEO không chỉ cần đạt
được các mục tiêu tài chính mà còn phải thể hiện trách nhiệm xã hội và sự trung thực
Khi đối diện với khủng hoảng, nhà lãnh đạo có phẩm chất đạo đức tốt sẽ ưu tiên các giải
pháp nhân văn, như giữ chân nhân viên hoặc hỗ trợ cộng đồng, dù điều này có thể làm
giảm lợi nhuận trước mắt Crane và Matten nhân mạnh rằng trong các tình huống kinh doanh phức tạp, phẩm chất đạo đức giúp xây dựng niềm tin từ đối tác và cộng đồng Điều này không chí mang lại lợi ích cho tổ chức mà còn đảm bảo sự phát triển bền vững về lâu dai
1.2.3 Đánh giá hành vi dựa trên bồn phận và moi quan hệ xã hội
10
Trang 11Hệ thống đánh giá hành vi dựa trên bốn phận và mối quan hệ xã hội bắt nguồn từ
các triết lý như Nho giáo (Confucianism) ở phương Đông và các hệ thông đạo đức cổ điển khác Đạo đức này nhắn mạnh rằng mỗi cá nhân trong xã hội đều có bổn phận cụ thê
với gia đình, tô chức và cộng đồng Sự đánh giá đạo đức dựa vào cách thức cá nhân thực
hiện các nghĩa vụ của mình và duy trì mối quan hệ hài hòa với những người xung quanh
Vi du, trong gia đình, con cái có nghĩa vụ hiểu thảo với cha mẹ, và trong doanh nghiệp,
nhà lãnh đạo có trách nhiệm đối với nhân viên của mình, không chỉ về mặt tài chính mà
còn về phúc lợi tinh thần và xã hội
Trong môi trường kinh doanh, việc duy trì các mối quan hệ xã hội và thực hiện bốn phận với các bên liên quan đóng vai trò quan trọng Các nhà quản lý cần quan tâm không chỉ đến lợi nhuận mà còn đến sự hài hòa trong quan hệ với nhân viên, khách hàng
và cộng đồng Triết lý này được thê hiện rõ trong các công ty gia đình hoặc doanh nghiệp
ở châu Á, nơi sự trung thành và gắn bó lâu dài được coi là những giá trị cốt lõi Phương pháp đánh giá này mang lại sự ôn định và gắn kết trong tổ chức, giúp xây dựng niềm tin
và trung thành giữa các bên liên quan Khi doanh nghiệp thực hiện tốt bổn phận với cộng đồng và khách hàng, họ tạo ra một môi trường bèn vững và củng cé uy tín trên thị trường Tuy nhiên, hệ thống này cũng có những hạn chế Tính khắt khe và cứng nhắc trong việc tuân thủ bỗn phận có thê tạo ra áp lực cho cá nhân và tổ chức Ngoài ra, trong môi trường kinh doanh toàn cầu, sự khác biệt văn hóa về quan niệm bồn phận có thê gây ra hiểu lầm
11
Trang 12đưa ra những quyết định khó khăn nhằm đôi phó với khủng hoảng và bảo vệ danh tiếng
của mình, đồng thời đám bảo an toàn cho công chúng Mặc dù công ty không có liên quan trực tiếp đến vụ việc này do hành vi phá hoại của người ngoài, J&J vẫn quyết định thu hồi tất cả các sản phẩm Tylenol Extra-Strength khỏi thị trường Hoa Kỳ, gây tốn thất
ước tính khoảng 100 triệu USD
J&J không chỉ dừng lại ở việc thu hồi sản phâm mà còn hợp tác chặt chẽ với Cục
Quản lý Thực pham và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), các cơ quan an ninh, và giới truyền thông để cung cấp thông tin rõ ràng và kịp thời cho người tiêu dùng về vụ việc Họ thậm
chí đã giới thiệu một tiêu chuân mới cho ngành dược phâm khi tái phát hành sản phâm
với nắp chống mở và bao bì có tính năng chồng giả mạo Trong quá trình này, công ty cũng tận dụng các giá trị và nguyên tắc đạo đức đã được quy định trong bộ “Cương lĩnh
J&.J” (The Johnson & Johnson Credo), đặt lợi ích của người tiêu dùng lên trên lợi nhuận
Nhờ vào cách xử lý khủng hoảng này, J&J đã tái tạo được lòng tin của công chúng, trở thành hình mẫu điển hình về trách nhiệm đạo đức trong quản trị khủng hoảng
Phân tích theo quan điểm đạo đức trước Marx:
Quyết định của Johnson & Johnson (J&J) trong khủng hoảng Tylenol năm 1982 tuân theo quan điểm mệnh lệnh thiêng liêng (Divine Command Theory), cho thấy cách
công ty tuân thủ các nguyên tắc đạo đức vượt trên lợi nhuận và trách nhiệm pháp ly thông thường Mệnh lệnh thiêng liêng trong triết học đạo đức nhân mạnh rằng hành động đạo đức không chỉ được thực hiện vì luật pháp hay lợi ích, mà vì đó là "điều đúng” phải làm
theo lương tâm và giá trị tuyệt đối, bất kế hoàn cảnh
Thứ nhất, J&J không đặt mục tiêu lợi nhuận lên đầu, mà chỉ hành động vì điều
đúng đắn, dù sự cố ban đầu không phải do lỗi trực tiếp từ bản thân sản phẩm hay từ phía công ty Quyết định thu hồi toàn bộ sản phâm Tylenol Extra-Strength trên toàn nước Mỹ,
dù gây tôn thất 100 triệu USD, là minh chứng rõ ràng cho việc J&J đặt lợi ích của người tiêu dùng lên hàng đầu, thay vì lo sợ thiệt hại tài chính Dưới quan điểm mệnh lệnh thiêng liêng, J&J không đưa ra lựa chọn dựa trên phân tích chi phí-lợi ích thông thường, mà
12
Trang 13dùng bất kề chỉ phi
J&J đã hành động theo đúng Cương lĩnh (Credo) của mình, vốn nhấn mạnh trách
nhiệm với người tiêu dùng, xã hội, và nhân viên Quyết định này thê hiện sự tuân thủ
mệnh lệnh thiêng liêng vì công ty coi đây là nghĩa vụ đạo đức tuyệt đối Hành động này cho thấy J&J không đơn thuần tuân thủ luật pháp mà còn vượt lên trên các nghĩa vụ pháp
ly bang cách đặt giá trị đạo đức lên trên lợi ích thương mại
Mặc dù cuộc khủng hoảng là do hành vi phá hoại từ bên ngoài và không phải lỗi trực tiếp của công ty, J&J vẫn nhận trách nhiệm bằng cách hợp tác với chính quyền và
truyền thông Điều này thê hiện việc cam kết đạo đức không phụ thuộc vào hoàn cảnh —
một nguyên lý quan trọng trong mệnh lệnh thiêng liêng
ĐỀ xuất giải pháp:
J&J nên tiếp tục áp dụng các nguyên tắc đạo đức nghiêm ngặt này cho tat ca san phẩm của mình và áp dụng cho mọi trường hợp khủng hoảng, qua đó sẽ củng cô uy tín thương hiệu và tạo dựng một nền tảng niềm tin lâu dài với khách hàng Ngoài ra, J&J có
thê thiết lập các hệ thống giám sát tiên tiễn nhằm bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi
phá hoại tương tự trong tương lai, nâng cao các biện pháp báo vệ sản phẩm và ngăn chặn những sự cô ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Bằng cách chia sẻ công khai quá trình ra quyết định và cam kết đạo đức trong thời kỳ khủng hoảng, J&J có thê tạo động lực cho các công ty khác áp dụng các nguyên tắc tương tự và gia tăng nhận thức cộng đồng về
tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh
1.3.2 Case study 2: Atagonia và đạo đức đức hạnh trong kinh doanh bên vững
Tom tat:
Patagonia là một công ty nôi tiếng về các sản phâm quân áo ngoài trời, được biệt
đến với chiến lược kinh doanh dựa trên đạo đức và bền vững Nhà sáng lập Yvon
13
Trang 14Chouinard đã định hướng công ty theo các giá trị bảo vệ môi trường từ rất sớm Từ năm
1985, Patagonia bắt đầu dành 1% doanh thu hàng năm để hỗ trợ các tổ chức bảo vệ môi
trường, và đến nay đã đóng góp hơn 140 triệu USD cho các nỗ lực này Công ty cũng đã tiên phong trong việc sử dụng nguyên liệu tái chế và hữu cơ để sản xuất quần áo nhằm giảm thiêu tác động tiêu cực đến môi trường Năm 2011, Patagonia cho ra mắt chiến dịch
"Don’t Buy This Jacket" (Đừng Mua Chiếc Áo Khoác Này) với mục đích khuyến khích khách hàng giảm thiểu tiêu dùng và suy nghĩ kỹ trước khi mua hàng, nhằm giảm áp lực
sản xuất lên môi trường Chiến dịch táo bạo này đã nhận được sự ủng hộ và gây tiếng
vang lớn, góp phần xây dựng hình ảnh của Patagonia như một thương hiệu trung thực và tận tụy với mục tiêu bảo vệ môi trường, bất chấp những thiệt hại ngắn hạn về doanh thu Phân tích theo quan điểm đạo đức trước Marx:
Theo quan điểm đạo đức đức hạnh của Aristotle, một hành động đạo đức không chỉ dựa trên kết quả mà còn phản ánh phẩm chất và động cơ tốt đẹp của người thực hiện Patagonia, qua các hành động của mình, không chỉ thực hiện các quyết định đạo đức mà còn xây dựng phẩm chất trung thực, nhân ái, và trách nhiệm Việc khuyến khích khách hàng suy nghĩ kỹ trước khi mua và áp dụng các biện pháp giảm tác động môi trường thể
hiện cam kết sâu sắc của Patagomia với trách nhiệm xã hội, hướng đến eudaimonia - su
phat triển và hạnh phúc cho cả cộng đồng và hành tinh Bằng cách đặt mục tiêu bảo vệ môi trường lên hàng đầu và từ bỏ lợi nhuận ngắn hạn, Patagonia đã áp dụng một cách tiếp
cận đạo đức đức hạnh mà Aristotle mô tả, trong đó mục đích của hành động là đạt đến
điều tốt đẹp và cao quý cho cộng đồng (Desjardins, 2019: Weiss, 20 14)
ĐỀ xuất giải pháp:
Để tiếp tục mở rộng tầm ảnh hưởng tích cực, Patagonia có thể đầu tư nhiều hơn vào các chương trình giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường, bao gồm việc tổ chức các hội thảo về tiêu dùng bền vững và cung cấp tài liệu trực tuyến về các biện pháp giảm thiểu tiêu dùng Công ty cũng có thê hợp tác với các doanh nghiệp khác có chung giá trị
về bảo vệ môi trường đề gia tăng tầm ảnh hưởng, từ đó thúc đây ngành công nghiệp thời
14
Trang 15trang hướng đến mô hình bền vững hơn Bên cạnh đó, Patagonia có thể đầu tư vào các dự
án bảo vệ môi trường như tái trồng rừng và hỗ trợ các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi biến
đôi khí hậu, qua đó củng cô cam kết lâu dài với trách nhiệm xã hội và môi trường
Chương 2 Quan điểm Marxist
2.1 Nội dung
Quan điểm Marxist về đạo đức kinh doanh phản ánh sự phê phán mạnh mẽ của Karl Marx đối với hệ thông tư bản chủ nghĩa và những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến công bằng xã hội và đạo đức con người Marx cho rằng tư bản chủ nghĩa là một hệ thống với sự phân hóa sâu sắc về quyền lực và tải sản, tạo ra bất bình đăng xã hội và xói mòn giá trị đạo đức trong cộng đồng Các điểm chính trong quan điểm phê phán này có thê
được trình bày cụ thể như sau:
Bắt bình đăng về quyên lực và tai sản: Trong tư bản chủ nghĩa, quyền lực kinh tế
và tài sản chủ yêu nằm trong tay giai cấp tư sản (người sở hữu tư liệu sản xuất), trong khi giai cấp công nhân (người lao động) phụ thuộc vào các nhà tư bản để sinh sông Điều này khiến người lao động không thực sự có quyền tự do hay tự quyết, bởi họ phải làm việc để kiếm sống mà không có khá năng kiêm soát đầy đủ đối với lợi ích của chính mình Marx
nhân mạnh rằng sự bất bình đẳng này khiến người lao động bị đặt vào vị trí bất lợi, phải
đánh đổi quyền tự do cá nhân đề phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản
Bóc lột lao động và phân chia lợi ích không công bằng: Một điểm cốt lõi trong phê phán của Marx là bản chất bóc lột trong tư bản chủ nghĩa Người lao động chỉ nhận được một phần nhỏ giá trị thặng dư do chính sức lao động của họ tạo ra, trong khi phần lớn lợi nhuận rơi vào tay các nhà tư bản Điều này tạo ra sự phân chia bất công về lợi ích kinh té, trong đó tầng lớp tư sản ngày cảng giàu có, còn phần lớn người lao động không được hưởng lợi ích xứng đáng từ sự phát triển kinh tế mà họ góp phân tạo nên
15
Trang 16Tha hóa và suy giảm giá trị đạo đức: Theo Marx, tu bản chủ nghĩa gây ra sự tha hóa cho người lao động khi công việc không còn là phương tiện phát triển bản thân mà chỉ là cách kiếm sông Người lao động bị đây vào các công việc đơn điệu, lặp đi lặp lại, không tạo ra sự kết nối về mặt tinh thần hay giá trị với sản phâm họ lam ra Ho mat di cảm giác làm chủ công việc, cảm giác tự do sáng tạo và phát trién ban than Marx cho rằng, điều này không chỉ làm suy yếu tĩnh thần cộng đồng mà còn làm xói mòn giá trị đạo đức chung khi mỗi người chỉ tập trung vào lợi ích cá nhân thay vì lợi ích tập thẻ Bắt bình đẳng xã hội ngày càng sâu sắc: Tư bản chủ nghĩa không chỉ tạo ra chênh lệch về tài sản và thu nhập mà còn làm tăng thêm sự bất bình đẳng về cơ hội trong xã hội Người lao động gặp khó khăn trong việc cải thiện cuộc sông do không có điều kiện tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển như giai cấp tư sản Marx cho rằng đây không chỉ
là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề đạo đức, bởi xã hội bị chia cắt và bất công, tạo ra sự
thiệt thòi cho những người yếu thế và giới hạn tiềm năng phát triển của họ
Khuyến khích hệ thống kinh doanh và kinh tế vì lợi ích chung: Từ góc nhìn
Marxist, một nền kinh tế đạo đức cần ưu tiên lợi ích của toàn xã hội thay vi chỉ phục vụ cho một nhóm nhỏ Marx cho rằng hệ thống kinh doanh tư bản chủ nghĩa nên được thay thể bằng một hệ thống công bằng hơn, trong đó tài sản và quyền lực được phân bồ hợp lý,
để mọi người đều có cơ hội phát triển và tự do thật sự Đây là một lời kêu gọi cho sự thay
đôi cơ cấu xã hội nhằm xây dựng một nền kinh tế hướng đến công bằng xã hội và phúc lợi chung
Ngoài ra, Marx cũng đưa ra những phê phán sắc bén đối với các khái niệm như hiệu quả, cạnh tranh và thỏa mãn lợi ích cá nhân trong kinh tế tư bản:
Hiệu quá: Theo Marx, "hiệu quả" trong tư bán chủ nghĩa không đơn thuần là sự phân bỗ tài nguyên tối ưu mà thực chất là sự khai thác lao động nhằm tôi đa hóa lợi nhuận cho giai cấp tư sản Người lao động nhận về rất ít so với giá trị lao động mà họ tạo
ra Hiệu quả từ góc nhìn Marxist vì thế không phải là lợi ích chung mà là cơ chế bóc lột, duy trì sự bất công và làm sâu sắc thêm khoảng cách giàu nghèo
16
Trang 17Cạnh tranh: Marx nhận định cạnh tranh trong tư bản chủ nghĩa là một yếu tô gây mâu thuẫn và tạo ra áp lực cho các nhà tư bản phải tìm cách giảm chỉ phí sản xuất, thường là bằng cách bóc lột lao động nhiều hơn, giảm phúc lợi hoặc thậm chí tạo ra thất nghiệp Điều này không những không mang lại công bằng mà còn làm sâu sắc thêm sự phân hóa giàu nghèo và bất công xã hội, khi nhà tư bản ngày càng giàu có trong khi tầng lớp lao động ngày càng chịu thiệt thòi
Thỏa mãn lợi ích cá nhân: Tư bản chủ nghĩa khuyến khích mỗi cá nhân tối đa hóa lợi ích của mình, nhưng Marx cho rằng lợi ích cá nhân trong hệ thống này chủ yếu phục
vụ cho tầng lớp tư sản Quyền lực kinh tế của họ cho phép kiểm soát phần lớn tài sản và lợi ích của xã hội, trong khi đại đa số người lao động phải phụ thuộc vào tiền lương ít ỏi
để sinh sống Động lực thỏa mãn lợi ích cá nhân, do đó, không phải là giá trị đạo đức mà
chỉ là công cụ để duy trì hệ thống bất bình đăng và bóc lột
Theo Marx và Engels, đạo đức kinh doanh trong hệ thống tư bản là phi nhân đạo
và phi đạo đức bởi bản chất bóc lột, làm tha hóa người lao động và tạo ra môi trường làm việc thiếu công bằng Marx chỉ ra rằng lao động bị coi như hàng hóa, còn công nhân chỉ
là công cụ để gia tăng lợi nhuận cho nhà tư bản Các doanh nghiệp lớn liên kết với các tô
chức quyền lực chính trị để bảo vệ lợi ích của mình, bất chấp thiệt hại cho người lao động
và cộng đồng Marx khăng định chỉ khi hệ thông tư bản bị thay thế bởi một hệ thống xã
hội chủ nghĩa, đạo đức xã hội, công bằng và nhân đạo mới có thê tồn tại
2.2 Các phương pháp đánh giá hành vỉ
Trong quan điểm Marxist, hành vi của các cá nhân và tổ chức, đặc biệt trong hệ thống tư bản, thường được đánh giá dựa trên những tiêu chí mang tính phê phán về bất bình đăng xã hội, quyền lực kinh tế và sự bóc lột lao động Dưới đây là các phương pháp đánh giá hành vi dựa trên quan điểm của Marx:
2.2.1 Phân tích giai cấp (Class Analysis)
17
Trang 18Hành vi của cá nhân và tô chức được xem xét qua lăng kính giai cấp đề xác định
mức độ quyền lực và lợi ích mà họ chiếm giữ trong hệ thống tư bản Quan điểm Marxist
cho rằng hành vi của các giai cấp tư sản (chủ sở hữu tư liệu sản xuất) và giai cấp công nhân (người lao động) khác nhau rõ rệt, với các nhà tư bản tập trung vào việc tối đa hóa
lợi nhuận, còn người lao động phải làm việc để tồn tại Bằng cách đánh giá hành vi từ góc
độ giai cấp, phương pháp này giúp phát hiện sự chênh lệch về quyền lực và tài sản trong
xã hội
2.2.2 Phân tích giá trị thăng du (Surplus Value Analysis)
Một trong những tiêu chí cơ bản của phương pháp đánh giá Marxist là xem xét hành vi thông qua việc tạo ra và phân phối giá trị thặng dư Giá trị thặng dư là phần giá trị được tạo ra bởi lao động nhưng không được trả lương xứng đáng, mà lại được chiếm
hữu bởi nhà tư bản Phân tích này nhằm phát hiện hành vi bóc lột và đo lường mức độ bất
công trong việc phân chia lợi nhuận Nếu người lao động tạo ra giá trị thặng dư nhưng không nhận được phần chia tương xứng, điều này thể hiện sự bất bình đẳng và bóc lột trong quan điểm của Marx
2.2.3 Phân tích su tha héa lao déng (Alienation Analysis)
Theo Marx, trong hé thống tư bản, người lao động bị tha hóa khỏi sản phẩm họ tạo
ra, quá trình lao động, đồng nghiệp và bản thân Phương pháp đánh giá này nhằm phân
tích hành vi của cá nhân và tổ chức dựa trên mức độ tha hóa của người lao động Ví dụ,
nếu doanh nghiệp chỉ chú trọng vào việc tối ưu hóa năng suất mà bỏ qua nhu cầu cá nhân
và sự phát triển của người lao động, điều này phản ánh mức độ phi nhân đạo và tha hóa cao Mức độ tha hóa càng cao thì hành vi của tổ chức càng phi đạo đức và phản ánh rõ
hơn bản chất bóc lột trong tư bản chủ nghĩa
2.2.4 Phân tích quyền sở hữu và kiểm soát tư liệu sản xuất (Ownership and Control Analysis)
18
Trang 19Marx cho rằng tư liệu sản xuất là yếu tô quyết định đến quyền lực kinh tế và xã hội của một giai cấp Do đó, phương pháp này đánh giá hành vi dựa trên quyền sở hữu và mức độ kiểm soát tư liệu sản xuất Nếu quyền lực sản xuất và tài sản tập trung vào một số
ít người, hành vi này được xem là phản ánh sự bất bình đăng quyền lực và thể hiện tính
phi đạo đức trong quan điểm Marxist Quyền sở hữu không cân bằng dẫn đến việc một
nhóm người chỉ phối nền kinh tế và chính trị xã hội, trong khi phần lớn người lao động bị
phụ thuộc vào nhóm thiểu số nay
2.2.5 Phân tích mâu thuần và xung đột giai cấp (Class Conflict Analysis)
Hành vi được xem xét qua các mâu thuẫn và xung đột giữa các giai cấp Theo Marx, tư bản chủ nghĩa không tránh khỏi sự mâu thuẫn giai cấp khi quyền lợi giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân đối lập nhau Phương pháp này giúp đánh giá các hành
vi có phải là nguyên nhân gây ra xung đột giai cấp hay không, và mức độ mà các hành vi này thúc đẩy các cuộc đối kháng trong xã hội Ví dụ, nếu các doanh nghiệp duy trì mức lương thấp, gây bất công lao động hoặc áp đặt điều kiện làm việc khắc nghiệt, điều này
dễ dẫn đến xung đột giai cấp, vì người lao động sẽ tìm cách phản kháng đề bảo vệ quyền
19
Trang 202.2.7 Phân tích tác động đối với bất bình đẳng xã hội (Social Inequality Impact Analysis)
Quan điểm Marxist danh gia hành vi dựa trên tác động đến mức độ bất bình đăng
xã hội Nếu hành vi của doanh nghiệp hay cá nhân làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo
và thu nhập, tạo ra khoảng cách lớn về tài sản, quyền lực và cơ hội, thì hành v1 này được
coi là phi đạo đức trong góc nhìn Marxist Hành vi càng làm tăng bất bình đăng, càng thê hiện rõ tính chất phi đạo đức của hệ thông tư bản chủ nghĩa
2.2.8 Phân tích sự hợp tác và tương tro (Cooperation and Mutual Aid Analysis) Quan điểm Marxist cho rằng tư bản chủ nghĩa khuyến khích cạnh tranh thay vì hợp tác, gây ra mâu thuẫn giữa các cá nhân và tổ chức Phương pháp này đánh giá hành
vi dựa trên mức độ hợp tác và tương trợ giữa các thành viên trong xã hội Nếu hành vi
của tô chức chỉ tập trung vào cạnh tranh để tối đa hóa lợi nhuận mà không quan tâm đến
phúc lợi chung của xã hội, hành vi này được xem là phản ánh tính phi đạo đức trong hệ
thống tư bản Ngược lại, hành vĩ nào thể hiện sự hợp tác và chia sẻ lợi ích giữa các cá nhân sẽ được đánh giá tích cực hơn
2.3 Case
2.3.1 Case study 1: Unilever và chương trình phát triển bên vững tại Kenya
Tom tat:
Vào đầu những năm 2010, Unilever, một trong những tập đoàn hàng tiêu dùng lớn
nhất thể giới, đã khởi động các sáng kiến bền vững nhằm hỗ trợ nông dân và cải thiện
chuỗi cung ứng tại các quốc gia đang phát triển Một trong những dự án nỗi bật là hỗ trợ nông dân trồng trà tại Kenya, nơi có hàng nghìn người phụ thuộc vào nông nghiệp nhưng
gặp nhiều khó khăn về kinh tế và điều kiện làm việc
20
Trang 21dân trồng trà Unilever đã triển khai nhiều hoạt động, bao gồm dao tao ky thuật canh tác
bên vững, cải thiện quy trình thu hoạch và xử lý trà, cũng như tạo cơ hội thị trường ổn định cho sản phẩm của nông dân thông qua việc mua trà trực tiếp với giá hợp lý Theo báo cáo, thu nhập của nông dân đã tăng từ 25-30% nhờ vào việc áp dụng các phương pháp canh tác mới và đảm bảo giá mua ôn định từ Unilever
Nhờ vào chương trình, nông dân đã thấy sự gia tăng đáng kể trong thu nhập, với 50.000 nông dân được hưởng lợi từ các sáng kiến của Unilever Điều kiện sống của họ cũng được cải thiện, với 70% nông dân cho biết họ có khả năng chỉ trả cho giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho gia đình Thực hành nông nghiệp bền vững đã góp phân bảo vệ môi trường, giảm thiểu sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học, và tăng cường khả năng
phục hồi của đất
Sáng kiến này xuất phát từ nhu cầu thực tế của cộng đồng nông dân đang gặp khó
khan Unilever nhan thay rang cai thién diéu kién song của nông dân không chỉ có lợi cho
họ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của chuỗi cung ứng trà, đảm bảo nguồn cung ôn định và chất lượng cho sản phẩm của công ty
Phân tích theo quan điểm đạo đức Marx:
Vấn đề của doanh nghiệp là nhiều nông dân tại Kenya trồng trà cho Unilever sống
trong điều kiện nghèo đói và thiếu tiếp cận với công nghệ hiện đại hoặc kiến thức nông
nghiệp Điều này dẫn đến năng suất thấp và làm suy yêu khả năng cạnh tranh trong chuỗi cung ứng Và giải pháp được Unilever đưa ra là, Unilever đã phối hợp vdi Rainforest Alliance va Fairtrade dé cung cap dao tao, công nghệ mới, và cải thiện điều kiện làm việc cho các nông dân Công ty cũng đảm bảo thu nhập ôn định và công bằng cho họ, bất kê biến động giá cả thị trường Từ đó nhằm mục tiêu không chỉ tập trung vào lợi nhuận, mà còn tạo ra tác động xã hội tích cực và giúp các cộng đồng nông dân phát triển bền vững,
từ đó duy trì một chuỗi cung ứng ôn định và lâu dài
21
Trang 22Unilever nhận ra rằng đề nâng cao năng suất và sự gắn kết của nông dân, họ cần
cải thiện điều kiện kinh tế và đời sống của cộng đồng Đây là ví dụ minh họa cách điều
kiện vật chất thúc đây nhận thức đạo đức trong doanh nghiệp Nhờ có nguồn lực tài chính
mạnh, Unilever có thê đầu tư vào các sáng kiến bền vững và đáp ứng yêu cầu về trách nhiệm xã hội từ cộng đồng và cỗ đông Sự phát triển kinh tế của công ty đi đôi với kỳ vọng ngày càng cao về hành vi đạo đức Từ đó, các sáng kiến của Unilever không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sông cho người lao động mà còn đảm bảo nguồn cung ôn định cho chính công ty Điều này thê hiện mỗi quan hệ tương hỗ giữa phát triển kinh tế và
trách nhiệm đạo đức và nhắn mạnh tác động bền vững mà doanh nghiệp vẫn luôn muốn
duy trì
2.3.2 Case study 2: Hanh vi vi pham dao đức của Amazon trong việc quản lý nhân viên Tom tat:
Vao nam 2021, Amazon da phai đối mặt với sự chỉ trích mạnh mẽ về điều kiện
làm việc tại các kho hàng của mình, đặc biệt là trong thời diém dai dich COVID-19 Theo một báo cáo của The Guardian, công ty đã bị cáo buộc về việc áp dụng các biện pháp
quản lý khắc nghiệt, khiến cho nhân viên cảm thấy áp lực trong công việc Một nghiên cứu từ tô chức The Center for American Progress đã chí ra rằng l trong 3 nhân viên của
Amazon cảm thây áp lực trong việc hoàn thành mục tiêu sản xuât của mình
Trong bồi cảnh của Amazon, sự bất bình đăng giữa nhà quản lý và nhân viên là rất
rõ rệt Các nhà quản lý thường có mức lương cao hơn và hưởng nhiều đãi ngộ tốt hơn,
trong khi nhân viên làm việc tại kho hàng phải đối mặt với điều kiện làm việc khó khăn,
áp lực sản xuất và ít cơ hội thăng tiến Theo CNBC, trung bình một nhân viên kho của Amazon nhận lương khoảng 15 USD/giờ, trong khi các giám đốc điều hành có thê nhận hàng triệu USD mỗi năm, cho thấy sự chênh lệch đáng kế về tài chính Điều kiện làm
việc không tốt đã ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và tỉnh thần của nhân viên Nhiều
người đã báo cáo về tình trạng kiệt sức và cảm giác áp lực Hành vi của Amazon đã gây
22
Trang 23ra sự chỉ trích mạnh mẽ từ công chúng và các tô chức nhân quyền Nhân viên đã tô chức
các cuộc biêu tỉnh và kêu gọi cải thiện điêu kiện làm việc
Phân tích dựa trên quan điểm đạo đức Mlarx:
Theo quan điểm Marxist, hệ thống tư bản chủ nghĩa dẫn đến sự phân chia bất bình đăng về quyền lực và tài sản giữa giai cấp tư sản (các nhà quản lý, giám đốc điều hành)
và giai cấp công nhân (nhân viên kho hàng) Tại Amazon, giám đốc điều hành và nhà
quản lý nhận được mức lương cao và các đãi ngộ tốt hơn nhiều so với nhân viên làm việc tại kho hàng Sự chênh lệch này không chỉ phản ánh sự bất bình đăng về tài chính mà còn cho thấy quyền lực kinh tế tập trung vào tay một số ít người, trong khi phần lớn nhân viên phải làm việc vất vả đê kiếm sống mà không có khả năng kiểm soát lợi ích của chính
minh
Marx đã phê phán hệ thống tư bản vì bản chất bóc lột của nó, trong đó người lao
động chỉ nhận được một phan nhỏ gia tn thang du ma ho tao ra Tai Amazon, nhan vién
kho hàng bị yêu cầu đạt chỉ tiêu sản xuất cao mà không được trả lương tương xứng Họ
làm việc trong những điều kiện khó khăn và áp lực, trong khi lợi nhuận không lồ lại chủ
yếu thuộc về công ty và các cô đông Hành vi này thê hiện rõ sự bóc lột lao động trong tư bản chủ nghĩa, nơi mà người lao động không được đền bù xứng đáng cho sức lao động
cua minh
Marx cũng chỉ ra rằng trong hệ thông tư bản, người lao động thường bị tha hóa khỏi sản phâm mà họ tạo ra Tại Amazon, nhiều nhân viên cảm thay họ không có sự kết nối với công việc của mình và chỉ như những "chiếc máy" trong dây chuyền sản xuất Áp lực phải hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất khiến họ không thể tìm thấy giá trị hay sự thỏa mãn trong công việc Sự tha hóa này dẫn đến sự suy giảm tỉnh thần cộng đồng và giá trị đạo đức, khi mỗi cá nhân chỉ tập trung vào lợi ích cá nhân thay vì sự phát triển chung
Tư bản chủ nghĩa không chỉ tạo ra chênh lệch về tài sản và thu nhập mà còn làm
tăng thêm sự bất bình đăng về cơ hội trong xã hội Nhân viên Amazon gặp khó khăn
23
Trang 24trong việc cải thiện cuộc sông do không có điều kiện tiếp cận các nguồn lực và cơ hội phát triển, trong khi những người ở vị trí cao hơn có nhiều cơ hội hơn đề thăng tiến Sự
bất bình dang này không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề đạo đức, vì nó tạo ra một
xã hội bị chia cắt và bắt công
trợ tài chính sẽ giúp cải thiện điêu kiện làm việc và chât lượng cuộc sông của nhân viên Hơn nữa, Amazon nên cải thiện điều kiện làm việc, bằng cách xem xét giảm bớt
yêu cầu về năng suất để tạo ra môi trường làm việc thoải mái hơn cho nhân viên Điều này sẽ giúp họ cảm thấy an tâm hơn và có thể tập trung vào chất lượng công việc thay vì chỉ chạy theo số lượng Bên cạnh đó, việc tăng cường các biện pháp an toàn tại nơi làm việc, đảm bảo rằng nhân viên có môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, cũng cần
được ưu tiên
Một giải pháp nữa là phân chia lợi nhuận công bằng, thiết lập các chương trình chia sẻ lợi nhuận cho nhân viên, trong đó một phần lợi nhuận của công ty được phân phối cho người lao động Điều này sẽ khuyến khích họ công hiến hơn và cảm thấy mình là một phần quan trọng của công ty Hơn nữa, việc tạo ra các chương trình đào tạo và phát triên nghề nghiệp cho nhân viên giúp họ có cơ hội thăng tiễn và nâng cao kỹ năng cũng
cân được thực hiện
24
Trang 25Cuối cùng, tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng rất cần thiết
Amazon nên tham gia vào các hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, đầu tư vào các
dự án cộng đồng đề nâng cao chất lượng cuộc sông của người dân địa phương Điều này không chỉ tạo ra một hình ảnh tích cực cho công ty mà còn góp phân cải thiện môi trường sông của nhân viên
Chương 3 Học thuyết Friedman
3.1 Nội dung
Học thuyết của Milton Friedman về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là một trong những luận điểm nỗi bật và gây tranh cãi nhất trong lĩnh vực kinh tế học và
quản trị kinh doanh Friedman cho rằng trách nhiệm duy nhất của doanh nghiệp là tối đa
hóa lợi nhuận cho các cô đông, và không nên dành nguồn lực cho các hoạt động xã hội,
từ thiện nêu điều đó không trực tiếp góp phần vào mục tiêu lợi nhuận Ông lập luận rằng
mọi hành động ngoài mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp đều có thê gây thiệt hại cho cỗ
đông, làm xói mòn tính hiệu quả của thị trường tự do, và thậm chí làm suy yếu nền tảng
của xã hội tự do
3.1.1 Trách nhiệm của giám đốc điều hành
Milton Friedman khăng định rằng giám đốc điều hành của một doanh nghiệp có trách nhiệm chính yếu trong việc đại diện cho cô đông, tức những người sở hữu công ty
Do đó, nhiệm vụ cốt lõi của họ là tối đa hóa lợi nhuận cho cô đông, miễn là mọi hoạt
động này tuân thủ luật pháp và các nguyên tắc đạo đức xã hội Friedman cho rằng việc sử dụng quỹ của công ty cho các hoạt động từ thiện hoặc cộng đồng mà không mang lại lợi ích trực tiếp cho cô đông là hành động sai trái Nếu các cô đông có ý muốn thực hiện các
hoạt động từ thiện, họ nên sử dụng lợi nhuận cá nhân của mỉnh thay vì trích xuất từ tài
sản của doanh nghiệp Theo quan điểm của ông, sự tham gia của giám đốc điều hành vào
các hoạt động này không chỉ là một hành động phi lý mà còn có thể xem là sự lạm dụng
tài sản của cô đông
25
Trang 26ich của công ty sẽ trở thành một dạng "thuế ân," đánh cắp lợi nhuận từ cỗ đông mà không thông qua quy trình chính thức Điều này không chỉ gây tốn hại đến lợi ích của cỗ đông
mà còn có thể làm tăng giá sản phẩm, từ đó tác động tiêu cực đến người tiêu dùng, hay dẫn đến việc giảm lương và phúc lợi cho nhân viên Ông cũng cảnh báo rằng việc doanh
nghiệp không tuân thủ nhiệm vụ tối đa hóa lợi nhuận có thể dẫn đến sự xói mòn quyền
lực của ban lãnh đạo va gia tăng chi phí hoạt động Khi ban lãnh đạo không đặt lợi ích của cô đông lên hàng đầu, họ có thé làm suy yếu vị thế của công ty trong thị trường cạnh tranh, điều này cuối cùng không chỉ ảnh hưởng đến cổ đông mà còn ảnh hưởng đến toàn
bộ hệ thống kinh tế
3.1.2 Lợi ích của việc tối đa hóa lợi nhuận
Milton Friedman lập luận rằng khi các doanh nghiệp tập trung vào việc tối đa hóa lợi nhuận, họ không chỉ mang lại lợi ích cho cỗ đông mà còn góp phần tích cực vào sự
phát triển của xã hội Trong một nền kinh tế tự do, sự cạnh tranh vì lợi nhuận sẽ kích
thích các doanh nghiệp phân bố nguồn lực một cách hiệu quả, đáp ứng nhu câu của thị trường và người tiêu dùng Khi các công ty nỗ lực để tôi ưu hóa lợi nhuận, họ sẽ phát triển các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao hơn, từ đó thúc đây tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng này không chí mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn cải thiện đời sống của người dân thông qua việc cung cấp các lựa chọn phong phú và đa dạng trong tiêu dùng,
tạo ra một môi trường kinh tế năng động và thịnh vượng
Friedman còn nhắn mạnh rằng việc theo đuổi lợi nhuận buộc doanh nghiệp phải
quan tâm đến lợi ích của cả nhân viên và khách hàng đề duy trì khả năng cạnh tranh Khi
doanh nghiệp tập trung vào lợi nhuận, họ sẽ phải đáp ứng các yêu cầu và mong đợi của
khách hàng, đồng thời đảm bảo rằng nhân viên được trả lương và đãi ngộ hợp lý Điều
này không chỉ bảo đảm rằng cô đông nhận được lợi ích tối đa mà còn thúc đây nên kinh
tế vận hành hiệu quả hơn Sự tự động điều chỉnh của doanh nghiệp thông qua cơ ché thi trường cho phép họ phản hồi một cách nhanh chóng và linh hoạt với các yêu cầu xã hội,
26
Trang 27giúp phát triển một mô hình kinh doanh bền vững mà không cần sự can thiệp từ bên ngoai
3.1.3 Phê bình đối với trách nhiệm xã hội
Friedman đã chỉ trích mạnh mẽ những người ủng hộ trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp (CSR), cho rằng họ đang “giáng đạo một cách thuần túy và tỉnh khiết về chủ nghĩa xã hội.” Theo ông, các lý thuyết này không chỉ đặt ra những yêu cầu không cần
thiết đối với doanh nghiệp mà còn có thê bị xem như một hình thức điều tiết từ nhà nước
đối với hoạt động kinh doanh Friedman lập luận rằng nêu các doanh nghiệp bị ép buộc phải tham gia vào các hoạt động xã hội mà không có lợi ích kinh tế rõ ràng, điều này sẽ
dẫn đến việc nhà nước can thiệp sâu hơn vào các quyết định kinh doanh Kết quả là, điều
này không chỉ làm giảm tính tự do của các doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả
của thị trường, khiến nó trở nên kém linh hoạt và mất đi khả năng tự điều chỉnh đề đáp
ứng nhu cầu của người tiêu dùng
Theo Friedman, doanh nghiệp nên tuân thủ những "quy tắc của trò chơi", có nghĩa
là hoạt động trong khuôn khỗ của pháp luật và các quy định xã hội Ông nhắn mạnh rằng doanh nghiệp cần cạnh tranh một cách công bằng, không sử dụng các phương pháp gian
lận hay lừa dôi để đạt được lợi nhuận Việc tuân thủ này không chỉ giúp bảo vệ lợi ích của
cô đông mà còn góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh lành manh Friedman tin rằng khi các doanh nghiệp thực hiện đúng vai trò của mình trong khuôn khô pháp luật, ho không chỉ phục vụ cho các cô đông mà còn tự động đáp ứng nhu cầu của xã hội thông qua cơ chế thị trường, từ đó thúc đây sự phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sông cho mọi người
3.1.4 Vấn đề của quản trị doanh nghiệp
Một trong những yếu tổ cốt lỗi trong lý thuyết của Milton Friedman là việc phân định rõ ràng giữa vai trò của ban quản lý và cô đông Friedman lập luận rằng nếu ban quản lý không cam kết tối đa hóa lợi nhuận cho cô đông, quyền lợi của các cỗ đông sẽ bị
27
Trang 28đe dọa, dẫn đến những hậu quả tiêu cực không chỉ cho các nhà đầu tư mà còn cho toàn bộ
nên kinh tế Để đảm bảo rằng giám đốc điều hành luôn thực hiện trách nhiệm của mình,
ông khuyến nghị rằng các chính sách quản lý nên tập trung vào việc phân phối toàn bộ lợi nhuận dư thừa cho cô đông, thay vì giữ lại để phục vụ cho các mục tiêu khác Quan điểm
này nhân mạnh rằng, trong một thị trường tự do, việc tôi đa hóa lợi nhuận không chỉ là
trách nhiệm mà còn là nghĩa vụ của các nhà quản lý đối với những người đã đầu tư vào doanh nghiệp
Thực tế đã chứng minh rằng quản lý kém có thê gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho
cô đông và nền kinh tế, như đã thấy trong các vụ bê bối nổi tiếng như Enron và WorldCom Những sự kiện này không chỉ làm tốn thất tài sản của các nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tin của công chúng vào hệ thống tài chính Các vụ bê bồi này đã củng cô quan điểm của Friedman rằng ban giám đốc cần phải tập trung vào việc
tôi đa hóa lợi nhuận và duy trì hoạt động minh bạch Sự mình bạch trong hoạt động của
doanh nghiệp không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của cỗ đông mà còn tạo ra một môi trường
kinh doanh lành mạnh, góp phần thúc đây sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việc
này cũng nhân mạnh vai trò của trách nhiệm xã hội trong quản trị doanh nghiệp, mà không làm giảm đi nghĩa vụ tôi cao của các giám đốc đối với các cô đông
3.1.5 Sự phát triển của lý thuyết bên thứ ba
Mặc dù lý thuyết cổ đông của Friedman đã trở thành tiêu chuẩn trong quản lý doanh nghiệp, lý thuyết bên thứ ba (stakeholder theory) đang ngày càng thu hút sự chú ý như một phản biện quan trọng Lý thuyết này nhân mạnh rằng doanh nghiệp không chỉ có
trách nhiệm tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông mà còn cần chú trọng đến lợi ích của các
bên liên quan khác, bao gồm nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và cộng đồng Các nhà
lý thuyết bên thứ ba lập luận rằng, bằng cách cân nhắc và bảo vệ lợi ích của tất cả các bên liên quan, doanh nghiệp có thê tao ra giá trị bền vững và đạt được sự phát triên lâu dai Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì mỗi quan hệ tốt với các bên liên quan mà
28
Trang 29còn thúc đây lòng trung thành của khách hàng và nhân viên, từ đó cải thiện hình ảnh
thương hiệu và vị thế cạnh tranh trên thị trường
Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn nhất của lý thuyết bên thứ ba là việc
xác định rõ ràng quyền lợi và trách nhiệm của từng bên liên quan, cũng như phương pháp giải quyết các xung đột lợi ích có thê phát sinh giữa họ Sự đa dạng trong nhu cầu và mong đợi của các bên liên quan có thê tạo ra những tình huống phức tạp, đòi hỏi các nhà
quản lý phải có khả năng đánh giá và điều chỉnh chiến lược kinh doanh một cách linh
hoạt Việc này trở thành một điểm mấu chốt trong quản trị doanh nghiệp hiệu quả, đặc biệt trong một thế giới ngày càng phức tạp, nơi mà các giá trị xã hội, môi trường và đạo đức ngày càng được chú trọng Đề thành công trong bối cảnh này, doanh nghiệp cần phát triên một hệ thống quản lý có khả năng lắng nghe và đáp ứng nhu cầu của tất cả các bên liên quan, đồng thời xây dựng một nền tảng vững chắc cho sự hợp tác và đối thoại
3.1.6 Phân tích phản biện học thuyết Friedman tit thuc tién
Mac du hoc thuyét cua Friedman nhận được sự ủng hộ từ nhiều nhà kinh tế học,
nó cũng đối mặt với nhiều phản biện đáng ké tir góc độ thực tiễn Một trong những chỉ trích chính là sự thất bại của thị trường trong việc điều chỉnh các hành vi của doanh
nghiệp, dẫn đến những tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội mà không bị xử lý về mặt tài chính Chăng hạn, nhiều doanh nghiệp có thê gây ô nhiễm môi trường mà không
phải chịu trách nhiệm về các chỉ phí xã hội liên quan đến những thiệt hại này Những tác
động tiêu cực đó thường được gánh chịu bởi cộng đồng hiện tại hoặc các thế hệ tương lai, trong khi doanh nghiệp lại thu lợi nhuận từ hoạt động của mình mà không hề xem xét đến
hệ lụy lâu dài
Thêm vào đó, các hàng hóa công cộng như không khí sạch và nước trong lành thường không có giá trị kinh tế rõ ràng, khiến cho doanh nghiệp thiếu động lực đề bảo vệ
và duy trì chúng Điều này dẫn đến việc tài nguyên thiên nhiên bị khai thác một cách bừa
bãi, làm gia tăng áp lực lên môi trường Hơn nữa, sức ảnh hưởng của các doanh nghiệp đối với chính sách công và ý kiến công chúng thông qua các hoạt động vận động hành
Trang 30lang có thể làm lệch lạc lợi ích công cộng, tạo ra những quyết định chính sách không phục vụ cho lợi ích chung Từ đó, có thể thấy rằng Friedman đã đánh giá thấp vai trò của
các doanh nghiệp trong việc định hình thị trường và các chính sách xã hội, qua đó cần có những cơ chế hiệu quả hơn để đảm bảo doanh nghiệp không chỉ hoạt động vì lợi nhuận
mà còn có trách nhiệm với cộng đồng và môi trường
3.1.7 Phân tích phản bác học thuyết Friednan dựa trên lý thuyết quyền sở hữu tư nhân Học thuyết của Milton Friedman về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) khang định rằng doanh nghiệp chỉ có nghĩa vụ tối đa hóa lợi nhuận cho các cô đông trong khuôn khô của pháp luật Tuy nhiên, một trong những lập luận phản biện quan trọng đối với quan điểm này là sự nhận thức rằng quyền sở hữu tư nhân không phải là tuyệt đối Quyền sử dụng tài sản cá nhân luôn bị ràng buộc bởi lợi ích của người khác và quy định của xã hội Ví dụ, một cá nhân không thê sử dụng súng để gây hại cho người khác, ngay
cả khi đó là tài sản của mình Các quy định như phân vùng (zoning laws) trong khu dân
cư cũng thê hiện rằng việc sử dụng tài sản có thê bị giới hạn để đảm bảo lợi ích chung Những người ủng hộ học thuyết Friedman có thê thừa nhận rằng tồn tại các giới hạn này,
nhưng họ cần phải biện luận rằng tối đa hóa lợi nhuận luôn cần được ưu tiên hơn các lợi
ích khác Tuy nhiên, ngay cả Friedman cũng công nhận rằng quyền sở hữu có thê bị hạn chế khi xung đột với các nguyên tắc cơ bản của xã hội, được thê hiện qua luật pháp và
phong tục đạo đức
Thêm vào đó, thách thức thứ hai đối với học thuyết của Friedman liên quan đến
cách hiểu về các cô đông trong doanh nghiệp hiện đại Trong nhiều trường hợp, cổ đông không phải là những chủ sở hữu thực sự mà chỉ là các nhà đầu tư Cổ đông trong các công ty cô phần lớn thường có quyền lợi hạn chế và không tham gia trực tiếp vào các quyết định hàng ngày của doanh nghiệp Điều này tạo ra một môi trường cạnh tranh, nơi
mà các nhà quản lý không chỉ phải đáp ứng nhu cầu của cỗ đông mà còn cần duy trì sự hợp tác từ nhiều bên liên quan khác như nhân viên, nhà cung cấp và thị trường tiêu thụ Hơn nữa, tư duy cho rằng việc tuân thủ pháp luật là giới hạn duy nhất trong việc tối đa
30
Trang 31hóa lợi nhuận cũng có thể dẫn đến những hệ quả không mong muốn Nếu doanh nghiệp chỉ đơn thuần tuân theo pháp luật mà không xem xét các vấn đề đạo đức, họ có thể tìm
cách tối ưu hóa lợi nhuận bằng cách “đây lùi” ranh giới của sự hợp pháp Những vụ bê
bối gần đây, như vụ Enron, minh chứng cho việc các nhà quản lý có thê cảm thấy được phép hành động trong khuôn khô pháp luật, ngay cả khi hành động đó mang tính chất đạo đức đáng ngờ Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một cái nhìn toàn diện hơn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, vượt ra ngoài việc chỉ tuân thủ pháp luật
3.1.8 So sánh học thuyết Friedman với các mô hình quản trị khác
Ly thuyét của Friedman về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đại diện cho mô
hình cổ đông (shareholder model), nhân mạnh mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông
như một động lực chính trong hoạt động kinh doanh Theo quan điểm này, doanh nghiệp
được coi như một thực thể có nhiệm vụ duy nhất là tạo ra gia tri cho cac cô đông, mà
không nhất thiết phải cân nhắc đến những ảnh hưởng xã hội hoặc môi trường từ hoạt động của mình Tuy nhiên, lý thuyết này đã gặp phải sự phản biện mạnh mẽ từ mô hình bên liên quan (stakeholder model), cho rằng doanh nghiệp cần xem xét và cân nhắc lợi ích của tất cả các bên liên quan, bao gồm nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và cộng đồng
Trong bổi cảnh doanh nghiệp hiện đại, việc tìm kiếm sự cân bằng giữa lợi nhuận
và trách nhiệm xã hội đang trở thành một thách thức lớn Mặc dù lý thuyết cua Friedman
có tinh thuyét phuc khi nhan manh vai tro cua thi trường tự do va lợi nhuận trong việc
thúc đây phát triển kinh tế, nhưng không thê phủ nhận những hạn chế của nó, đặc biệt là
trong việc đối phó với các ngoại ứng tiêu cực như ô nhiễm môi trường, khai thác tài nguyên hay bất công xã hội Hơn nữa, với sự gia tăng nhận thức của người tiêu dùng về vai trò đạo đức của doanh nghiệp, nhiều tổ chức đang dần chuyên mình đề tích hợp trách
nhiệm xã hội vào chiến lược kinh doanh của mình, nhằm không chỉ tối đa hóa lợi nhuận
mà còn góp phân cải thiện chât lượng cuộc sông cho cộng đồng và môi trường
31
Trang 323.2 Các phương pháp đánh giá hành vỉ
3.2.1 Phân tích chi phi - loi ich (Cost-Benefit Analysis)
Phương pháp này đánh giá cách doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận, cân nhắc giữa chỉ phí bỏ ra và lợi ích mang lại cho cỗ đông Theo học thuyết của Friedman, việc tối đa hóa lợi nhuận là trọng tâm, vì vậy, bất kỳ hành động nào không đem lại giá trị trực tiếp cho cô đông được xem là không cần thiết hoặc không phù hợp Đánh giá dựa trên chỉ phí
- lợi ích giúp xác định mức độ hiệu quả của các quyết định, từ đó xem xét liệu việc thực hiện trách nhiệm xã hội có ảnh hưởng đến lợi nhuận hay không
3.2.2 Phân tích đạo đức kinh doanh (Ethical Analysis)
Phương pháp này xem xét các khía cạnh đạo đức trong việc tôi đa hóa lợi nhuận
Dù Friedman ủng hộ việc doanh nghiệp chỉ tuân thủ luật pháp và nguyên tắc đạo đức cơ bản, nhưng các doanh nghiệp có thê bị đánh giá dựa trên các chuân mực đạo đức cao hơn,
đặc biệt là khi hành động của họ ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng hoặc môi trường
Phân tích đạo đức giúp đánh giá tác động xã hội của doanh nghiệp và xem xét liệu các hành động của công ty có đúng đắn và công bằng với tất cả các bên liên quan hay không 3.2.3 Phân tích tác động xã hội (Social Impact Analysis)
Phương pháp này đánh giá tác động của doanh nghiệp đối với các bên liên quan và
xã hội, không chỉ dựa trên lợi nhuận mà còn trên hiệu quả lâu dài đối với cộng đồng Nó
đo lường ảnh hưởng gián tiếp của doanh nghiệp thông qua việc làm, phúc lợi và tác động môi trường Dựa vào đây, có thê đánh giá liệu việc chỉ tập trung vào lợi nhuận như Friedman đề xuất có thực sự tạo giá trị bền vững hay làm suy yếu các lợi ích cộng đồng 3.2.4 Phân tích dựa trên lợi ích cô đông so với lợi ích bên liên quan (Shareholder vs Stakeholder Analysis)
32
Trang 33Đây là phương pháp quan trọng để so sánh tác động của chiến lược tập trung vào lợi ích cổ đông (theo học thuyết của Friedman) và chiến lược mở rộng cho lợi ích bên liên quan (theo lý thuyết stakeholder) Phương pháp này đo lường mức độ tác động của doanh nghiệp lên tất cả các nhóm có lợi ích liên quan như cô đông, khách hàng, nhân viên, và cộng đồng Từ đó, có thê đánh giá sự thành công hay hạn chế của việc tập trung
vào lợi nhuận so với việc mở rộng trách nhiệm xã hội
3.2.5 Phân tích tác động dai han (Long-term Impact Analysis)
Phương pháp này kiểm tra xem liệu mục tiêu tôi đa hóa lợi nhuận có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Bằng cách đánh giá hành vi doanh nghiệp trong dài hạn, phương pháp này giúp xác định liệu các chiến lược
tối đa hóa lợi nhuận có đáp ứng được cả mục tiêu tài chính lẫn trách nhiệm xã hội hay
không
3.3 Case
3.3.1 Case study 1: Walmart
Tóm tat:
Ngay 21/4/2012, to The New York Times dang tải cuộc điều tra nội bộ kéo dai sau
năm của Walmart, cho thấy công ty đã hồi lộ hơn 24 triệu USD đề thúc đây việc mở rộng
kinh doanh tại Mexico Báo cáo cho thay lanh dao Walmart tại Mexico không chỉ biết về các khoản hối lộ mà còn có tình che giấu, trong khi lãnh đạo trụ sở chính tại Mỹ lại hủy
bỏ điều tra nội bộ khi nhận được báo cáo Chỉ khi biết The Times điều tra độc lập và sắp
đăng bài, họ mới thông báo với các cơ quan pháp lý Năm 2011, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ bắt
đầu điều tra Walmart vì nghi ngờ vĩ phạm Đạo luật về Thực hành Tham nhũng ở Nước
ngoai
Vu viéc lam day lên nhiều tranh luận về trách nhiệm xã hội của Walmart, công ty
bán lẻ lớn nhất thế giới với 8.100 cửa hàng và 2,1 triệu lao động, có ảnh hưởng lớn tại
33
Trang 34đề cao trung thực, tôn trọng và chính trực Các nhà ủng hộ cho rằng Walmart tạo giá trị cho cô đông, người tiêu dùng, nhân viên, nhà cung cấp và cộng đồng qua việc đóng thuế
và thực hiện các chương trình từ thiện Tổ chức từ thiện Walmart là nhà tài trợ lớn tại Mỹ,
với các hoạt động bền vững như giảm phát thải carbon và cải thiện chuỗi cung ứng
Tuy nhiên, Walmart bị chỉ trích về các chuẩn mực đạo đức Các nhà phê bình lên án
chính sách tiền lương thấp, phúc lợi tôi thiêu và hạn chế công đoàn khiến nhiều nhân viên
sông trong cảnh nghèo đói, phụ thuộc trợ cấp chính phủ Walmart cũng vướng vào nhiều
vụ kiện vì không trả lương ngoài giờ, vi phạm luật lao động và tuyên dụng lao động nhập
cư bất hợp pháp Chính sách giảm chi phí của Walmart còn ép các nhà cung cấp cạnh tranh mạnh mẽ, dẫn đến tình trạng phá sản hoặc thuê sản xuất ngoài nước, gây ảnh hưởng
việc làm tại Mỹ Các điều kiện làm việc tại các nhà may cua Walmart tai Trung Quốc và Trung Mỹ cũng bị cáo buộc là bóc lột lao động Những tranh cãi vé Walmart phan anh
những xung đột phức tạp giữa kinh doanh toàn cầu và trách nhiệm xã hội
Phân tích dưới géc nhin hoc thuyét Friedman:
Dựa trên học thuyết Friedman, các câu hỏi trên có thê được phân tích với quan
điểm rằng trách nhiệm chính của doanh nghiệp là tôi đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, miễn
là doanh nghiệp tuân thủ các quy định của pháp luật và các chuân mực đạo đức cơ ban Theo Friedman, các hành động từ thiện hay trách nhiệm xã hội không phải là nghĩa vụ của doanh nghiệp nếu chúng không liên quan trực tiếp đến lợi nhuận hoặc sự tuân thủ luật pháp
1 Triết lý quản lý của Walmart và các nguyên tắc áp dụng
Triết lý quản lý của Walmart tập trung mạnh vào việc tối ưu chỉ phí và lợi nhuận, dựa trên tôn chỉ cung cấp giá cả thấp nhất cho khách hàng Các hành động như tăng cường kiểm soát chi phi lao động, giảm thiểu chỉ phí sản xuất bằng cách ép giá nhà cung cấp và mở rộng nhanh chóng qua các phương tiện có thê gây tranh cãi đã trở thành chiến
34
Trang 35lược chính của họ Nguyên tắc cơ bản mà Walmart áp dụng là tạo ra giá trị cao nhất cho
cô đông bằng mọi cách, đôi khi đi kèm các hành vi gần như vi phạm đạo đức và thậm chí phạm pháp
2 Quyết định liệu Walmart có hành động có trách nhiệm với xã hội hay không Walmart đã vi phạm quy tắc đạo đức và Đạo luật về Thực hành Tham nhũng ở
Nước ngoài (FCPA) khi thực hiện hành vi hồi lộ ở Mexico Theo học thuyết của Milton
Friedman, việc tôi đa hóa lợi nhuận là hợp lý nếu doanh nghiệp hoạt động trong khuôn
khổ pháp luật Tuy nhiên, hối lộ là hành vi bất hợp pháp và đi ngược lại tiêu chuân đạo đức, khiến hành động này không chỉ thiếu trách nhiệm với xã hội mà còn gây tốn hại đến
các đối tượng liên quan như nhân viên, cộng đồng và môi trường Mặc dù Walmart có đóng góp từ thiện và thúc đây phát triển bền vững, nhưng các hành vi như hối lộ và bóc lột lao động cho thấy công ty vẫn chưa tuân thủ tiêu chuẩn đạo đức cao, đặc biệt khi các
hành vi đó nhằm tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi giá
3 Quan điểm cá nhân về Walmart với tư cách khách hàng hoặc nhân viên tiềm năng
Là khách hàng hoặc nhân viên tiềm năng, các hành vi bị cáo buộc phi đạo đức của
Walmart có thê khiến nhiều người đặt câu hỏi về tính minh bạch và trách nhiệm xã hội
của công ty Theo quan điểm của Friedman, khách hàng có quyền lựa chọn doanh nghiệp
mà họ cảm thấy phù hợp với giá trị cá nhân Walmart, với vị thế là một tập đoàn lớn,
được kỷ vọng không chỉ tôi đa hóa lợi nhuận mà còn thê hiện trách nhiệm xã hội cao Tuy nhiên, các cáo buộc liên quan đến bóc lột lao động và hành vĩ hối lộ đã làm giảm sự tôn
trọng của công chúng, khiến cá khách hàng lẫn nhân viên tiềm năng nghi ngại về sự bền vững lâu dài của công ty
4 Có thể đưa ra phán xét đạo đức chung về Walmart hay không
Việc đưa ra phán xét đạo đức chung về Walmart là một thách thức lớn bởi đây là
một tập đoàn đa quốc gia với nhiều khía cạnh phức tạp, bao gồm cả mặt tích cực lẫn tiêu
35
Trang 36thủ luật pháp và tập trung vào việc tao ra lợi nhuận cho cổ đông, mà không nhất thiết phải xem trách nhiệm xã hội là mục tiêu chính Tuy nhiên, những hành động v1 phạm đạo đức,
dù chỉ ở một bộ phận nhỏ trong tập đoàn, có thé lam tốn hại đến hình ảnh chung của
Walmart trong mắt công chúng Điều này cho thấy sự cân bằng giữa các yêu tổ đạo đức
và phi đạo đức sẽ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá trách nhiệm của doanh nghiệp
5 Cách các giám đốc điều hành Walmart có thể bảo vệ hành động của họ sau vụ hồi
lộ ở Mexico
Các giám đốc điều hành Walmart có thê bảo vệ hành động của mình sau vụ hối lộ
ở Mexico bằng cách lập luận rằng hối lộ là một "thông lệ cần thiết" trong bối cảnh thị
trường nơi mà thực hành này phô biến Họ có thê cho rằng hành động này nhằm mục đích
duy trì tính cạnh tranh và đảm bảo sự tồn tại của công ty Tuy nhiên, việc viện dẫn những
lý do này không thê biện minh cho việc vi phạm Đạo luật về Thực hành Tham nhũng ở
Nước ngoài (FCPA), vì theo quan điểm của Friedman, bất kỳ hành vi nào vi phạm pháp
luật đều không thể chấp nhận được, cho dù có được thực hiện với mục đích tối đa hóa lợi
nhuận Hành động này có thể dẫn đến sự sụp đồ niềm tin từ phía công chúng, điều này cho thấy sự xung đột rõ ràng giữa trách nhiệm đạo đức và lợi ích tài chính của công ty
6 Lý do một doanh nghiệp thực hiện các hành động không bắt buộc theo luật pháp Việc thực hiện các hành động không bắt buộc theo luật pháp có thể giúp doanh nghiệp tạo ra lợi ích bền vững và củng cô hình ảnh thương hiệu Dù có thê làm giảm lợi nhuận trong ngắn hạn, những hành động này như tăng lương hoặc cải thiện phúc lợi cho nhân viên có thê gia tăng lòng trung thành và hiệu suất làm việc, từ đó tạo dựng uy tín lâu dài Theo quan điểm của Friedman, nêu những chỉ phi nay gop phan tối đa hóa lợi nhuận
về sau hoặc duy trì lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp nên cân nhắc chấp nhận đề xây dựng nên tảng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai
36
Trang 377 Trách nhiệm của Walmart đối với các nhà cung cấp ngoài hợp đồng
Walmart có trách nhiệm với các nhà cung cấp không chỉ qua các điều khoản hợp đồng mà còn trong việc hỗ trợ họ phát triển bền vững Dù theo quan điểm của Friedman, doanh nghiệp không nhất thiết có nghĩa vụ ngoài hợp đồng, nhưng việc hợp tác bền vững với nhà cung cấp giúp củng cô chuỗi giá trị và ôn định nguồn cung ứng dài hạn, đồng
thời bảo vệ hình ảnh thương hiệu Điều này không chỉ đảm bảo sự phát triển cho các nhà
cung cấp mà còn đóng góp vào sự tăng trưởng bên vững của Walmart trong tương lai 3.3.2 Case study 2: Adelphia: Viéc làm tốt thông qua một bàn tay làm việc đến cùng Tóm tat:
John Rigas khởi nghiệp vào năm 1952 tại Coudersport, Pennsylvania, với một rạp chiều phim Năm 1952, ông cùng anh trai mua nhượng quyền cáp và thành lập công ty Adelphia Đến năm 2002, Adelphia trở thành công ty cáp lớn thứ sáu tại Mỹ với 5,7 triệu thuê bao Gia đình Rigas, đặc biệt là John, nổi tiếng tại Coudersport vì sự hào phóng và đóng góp cho cộng đồng Tuy nhiên, gia đình này cũng bị phát hiện lạm dụng tài sản
công ty dé phục vụ lợi ích cá nhân
Các báo cáo điều tra cho thấy gia đình này đã “mượn” hơn 3 tý USD từ công ty mà không thông báo rõ ràng với các cỗ đông và kiêm toán viên, dé tài trợ cho những sở thích
cá nhân như mua đội khúc côn cầu, đầu tư vào phim ảnh, sân golf và nhà cửa Những giao dịch này diễn ra công khai và tỉnh vi, chăng hạn như John Rigas sở hữu một cửa hàng đồ nội thất và Adelphia mua tất cả đồ nội thất văn phòng từ đó, trong khi cho cửa hàng này quảng cáo miễn phí trên dịch vụ của Adelphia Thêm vào đó, Doris Rigas, vợ
của John, được trả I2,8 triệu USD cho việc trang trí văn phòng, trong khi các nhân viên
của Adelphia thường xuyên được điều động đề phục vụ các nhu cầu cá nhân của gia đình Công ty Adelphia cũng tài trợ cho các công ty do gia đình Rigas sở hữu để mua dịch vụ
cáp, sau đó bán lại dịch vụ này cho chính Adelphia với giá cao Gia đình còn tạo ra các
khoản vay ngoài số sách lên đến 2,3 tỷ USD và lừa dối kiểm toán viên của mình để che
37
Trang 38giấu những hành vi này Khi một nhà phân tích phát hiện ra ít nhất I tỷ USD nợ chưa
được khai báo, ban giám đốc buộc phải điều chỉnh báo cáo tài chính và thông báo cho nhà đầu tư, dẫn đến sự điều tra từ chính phủ
Mặc dù John Rigas đã đóng góp nhiều cho cộng đồng địa phương và thực hiện các hoạt
động từ thiện lớn như quyên góp cho các tô chức xã hội và hỗ trợ các dự án phát triển địa
phương, nhưng sự sụp đồ của Adelphia đã làm chấn động Coudersport Ông và con trai Timothy bị kết tội gian lận chứng khoán và ngân hàng, với John Rigas nhận bản án 15 năm tù Vụ việc của Adelphia là một trong những vụ bê bối nồi bật nhất về việc lạm dụng công ty vì lợi ích cá nhân, thê hiện qua sự mờ nhạt giữa tài sản công ty và sở hữu gia đình Rigas
Phân tích dưới géc nhin hoc thuyét Friedman:
Sử dụng học thuyết của Milton Friedman để phân tích trường hợp của Adelphia và gia đình Rigas có thê mang lại những quan điểm thú vị về trách nhiệm của doanh nghiệp
và cách mà các hành động từ thiện có thể ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh Dưới
đây là một số phân tích liên quan đến các câu hỏi thảo luận
1 Việc sử dụng tiền cho những hành động tốt có biện minh cho các vi phạm pháp luật hoặc nguyên tắc kế toán không? John Rigas có phải là Robin Hood không?
Theo học thuyết Friedman, muc tiéu chính của một doanh nghiệp là tôi đa hóa lợi
nhuận cho cô đông Việc John Rigas sử dụng tiền từ Adelphia cho các hoạt động từ thiện
và lợi ích cá nhân không thê biện minh cho các vi phạm pháp luật và nguyên tắc kế toán,
vì điều này không phục vụ lợi ích của cô đông mà chỉ làm tăng lợi ích cá nhân của gia
đình Rigas Friedman lập luận rằng bất kỳ hành động nào làm giảm giá trị cô đông đều
không thê được biện minh, ngay cả khi những hành động đó có vẻ tích cực từ góc độ xã hội
38
Trang 39John Rigas không thể được xem là Robin Hood, người chỉ chiêm đoạt của người giàu đề giúp đỡ người nghèo Thay vào đó, ông đã lợi dụng vị trí của mình để trục
lợi cá nhân, điều này không tương đồng với tinh thần của Robin Hood, mà là một hành vi
tham nhũng điển hình Các hoạt động từ thiện của ông, mặc dù có thể tạo ra hình ảnh tích
cực cho bản thân và Adelphia, nhưng không thể làm giảm bớt trách nhiệm pháp lý và đạo đức của ông trong việc lạm dụng nguồn lực của công ty
2 Tại sao bạn nghĩ các cán bộ lại trở nên thoải mái với việc xung đột và hòa trộn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích doanh nghiệp? Liệu những hoạt động từ thiện và lợi ích cho Pennsylvania có cung cấp cho họ lý do biện minh không?
Theo học thuyết của Milton Friedman, mục tiêu chính của doanh nghiệp là tối
đa hóa lợi nhuận cho cỗ đông Các cán bộ của Adelphia, dưới sự lãnh đạo của gia đình
Rigas, đã trở nên thoái mái với việc xung đột lợi ích vì họ đã phát triển một tư duy mà trong đó lợi ích cá nhân và lợi ích doanh nghiệp được hòa trộn một cách sai trái Một số
yếu tố góp phần vào hiện tượng này bao gồm:
Thiếu tính mình bạch và trách nhiệm: Khi một doanh nghiệp không có hệ thống
kiêm soát chặt chẽ và thiếu minh bạch trong quản lý, cán bộ có thể cảm thấy tự do hơn trong việc lạm dụng quyền lực Trong trường hợp của Adelphia, sự tập trung quyền lực trong tay gia đình Rigas đã dẫn đến một môi trường mà các hành vi sai trái có thê xảy ra
mà không bị phát hiện
Chủ nghĩa cá nhân và ti duy tự phục vụ: Học thuyết Friedman nhân mạnh rằng doanh nghiệp nên tập trung vào lợi ích cổ đông Tuy nhiên, gia đình Rigas đã biến
Adelphia thành công cụ phục vụ lợi ích cá nhân của họ Sự thoải mái của các cán bộ
trong việc hòa trộn lợi ích cá nhân với lợi ích doanh nghiệp cho thấy rằng họ đã chấp nhận văn hóa “tự phục vụ” này như một phần không thể tách rời của hoạt động kinh doanh
39
Trang 40Sự biện mình thông qua hoạt động từ thiện: Các hoạt động từ thiện mà gia đình Rigas thực hiện, mặc dù có thể giúp cải thiện hình ảnh của họ trong mắt công chúng, nhưng không thê biện minh cho việc lạm dụng nguồn lực của công ty Theo học thuyết Friedman, bat ky hanh động nào làm giảm giá trị cho cô đông đều không thê được biện minh, ngay cá khi những hành động đó có vẻ tốt đẹp từ góc độ xã hội Cán bộ Adelphia
có thê đã tự thuyết phục mình rằng những hoạt động từ thiện của họ đã mang lại lợi ích
cho cộng đồng và do đó, việc họ trục lợi cả nhân là chấp nhận được Tuy nhiên, điều này thực sự đi ngược lại với trách nhiệm tôi đa hóa lợi nhuận cho cô đông mà Friedman đề xuât
Áp lực từ lãnh đạo: Gia đình Rigas không chỉ kiểm soát cô phần mà còn có quyền lực lớn trong việc ra quyết định Các cán bộ có thê đã cảm thấy áp lực phải đồng tình với những quyết định không chính đáng, từ việc thực hiện các giao dịch cá nhân đến việc phê
duyệt các khoản chi tiêu không mình bạch Việc này tạo ra một bầu không khí nơi mà sự
xung đột lợi ích trở thành điều bình thường và được chấp nhận
3.3.3 Case study 3: Ice-T, Album Body Counf và phản ứng của các cỗ đông
Tóm tắt:
Case study này kế về vụ tranh cãi xoay quanh Time Warner và bài hát "Cop Killer" của rapper Ice-T trong album Body Count nam 1992 Bài hát gây phản ứng mạnh mẽ từ cảnh sát và cộng đồng khi có nội dung bạo lực nhằm vào lực lượng thực thi pháp luật, dẫn đến các cuộc biểu tình từ phía cảnh sát và cô đông Tại cuộc họp cô đông của Time Warner, nhiều người chỉ trích rằng công ty thiếu đạo đức khi cho phát hành album này, cho rằng
Time Warner khuyến khích nội dung phản xã hội
CEO Time Wamer, Gerald Levin, không chịu thu hồi album, mà thay vào đó bảo vệ rằng
nội dung chỉ phản ánh sự tuyệt vọng trong xã hội, đồng thời đề xuất một diễn đàn thảo luận công khai về các vấn đề phân biệt chủng tộc và tự do ngôn luận Tuy nhiên, làn sóng
phản đối tiếp tục, dẫn đến việc quỹ hưu trí của Philadelphia bán cô phần trong Time
40