Báo cáo về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 1UBND TỈNH VĨNH PHÚC
SỞ BƯU CHÍNH, VIỄN THÔNG
Số: 15/BC-BCVT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Vĩnh Yên, ngày 11 tháng 11 năm 2005
BÁO CÁO
Về việc tổng kết 5 năm đầu tiên thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng
và phát triển công nghệ thông tin phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Căn cứ văn bản số 59/BCĐCNTT ngày 11-10-2005 của Ban chỉ đạo Quốc gia về CNTT về việc tổng kết 5 năm đầu tiên thực hiện chỉ thị số 58-CT/TW của
Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Sở Bưu chính, Viễn thông tỉnh Vĩnh Phúc báo cáo tổng kết 5 năm đầu tiên thực hiện chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT tại Vĩnh Phúc bao gồm các nội dung theo mẫu hướng dẫn như sau:
1 Các hoạt động chính đã triển khai quán triệt Chỉ thị 58- CT/TW
Sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai các hoạt động nhằm quán triệt, nâng cao nhận thức về CNTT, cụ thể:
- Tuyên truyền trên báo Vĩnh phúc, Đài phát thanh và Truyền hình tỉnh nội dung Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị;
- Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tổ chức hội nghị học tập, quán triệt Chỉ thị 58, sau
đó các Chi, Đảng bộ (trừ các chi, đảng bộ ở cơ sở xã, phường, thị trấn) tổ chức cho đảng viên nghiên cứu, học tập;
- UBND tỉnh mời các nhà khoa học nói chuyện chuyên đề với lãnh đạo, cán
bộ, công chức các sở, ban, ngành, huyện, thị xã về ứng dụng và phát triển CNTT trong xu thế toàn cầu hoá Thông qua học tập, lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức trong tỉnh đã hiểu rõ, nhận thức đầy đủ hơn hơn về vai trò, vị trí của CNTT trong thời kỳ CNH-HĐH;
- Các đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Công đoàn các cấp đã tham gia tích cực trong quá trình tuyên truyền Chỉ thị 58 Nhiều tổ chức về CNTT của Thanh
Trang 2niên, Công đoàn ra đời dưới hình thức các Trung tâm tin học, Công ty TNHH về CNTT, các điểm truy cập Internet, bước đầu tạo nên phong trào ứng dụng và phát triển CNTT trong toàn tỉnh; góp phần tạo ra bước chuyển biến tích cực trong quá trình quán triệt và thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị
2 Công tác tổ chức, chỉ đạo và quản lý CNTT
Ngày 06/3/2002 UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Quyết định số
662/QĐ-UB về việc thành lập Ban chỉ đạo CNTT tỉnh Vĩnh Phúc, giai đoạn 2001-2005
Ngày 18/3/2003 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã ban hành Quyết định
số 305/QĐ-TU về việc thành lập Ban chỉ đạo CNTT Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc giai đoạn 2001-2005 và các giai đoạn tiếp theo
Ngày 24/5/2002 UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Quyết định số 1889/QĐ-UB thành lập BĐH Đề án 112 tỉnh Vĩnh Phúc
Ngày 09/8/2004 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Quyết định số 3738/2004/QĐ-UB thành lập Sở Bưu chính, Viễn thông
Nhiều sở, ngành đã thành lập BĐH CNTT như: Sở Tài chính, Sở Kế hoạch
và Đầu tư, Sở Công nghiệp, Sở Nội vụ, Cục Thống kê, Công an tỉnh Ban điều hành có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, chỉ đạo ứng dụng và phát triển CNTT của ngành mình, triển khai các kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức
Xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án Tin học hoá quản lý hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, theo Đề án 112 của Chính phủ
Thực hiện đề án Tin học hoá các cơ quan của Đảng theo Đề án 47 của Đảng Ngay sau khi Sở Bưu chính, Viễn thông được thành lập, với chức năng quản lý nhà nước về CNTT trên địa bàn, Sở BCVT đã tham mưu và được UBND tỉnh đồng ý cho phép lập Qui hoạch phát triển CNTT tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn
2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020 Hiện nay Sở BCVT đã phối hợp với Viện Chiến lược BCVT và CNTT của Bộ Bưu chính Viễn thông cơ bản xây dựng xong Qui hoạch, đã được UBND tỉnh thông qua Dự kiến đề nghị trình Ban Thường vụ Tỉnh uỷ xem xét ra Nghị quyết về công tác ứng dụng và phát triển CNTT& TT của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 - 2010
3 Các ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý, cung cấp thông tin
và dịch vụ công
Trang 3Tại một số đơn vị, việc ứng dụng CNTT đã đạt được những kết quả bước đầu, đã có một số phần mềm ứng dụng đạt hiệu quả như các chương trình: Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Quốc hội, của HĐND, UBND tỉnh, Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Phúc (http://www.vinhphuc.gov.vn), Trang thông tin điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, CSDL về các văn kiện của Đảng
bộ tỉnh, Quản lý hồ sơ Đảng viên, Phần mềm quản lý thi đua khen thưởng, các phần mềm chuyên ngành của Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ , Sở Thương mại và Du lịch, Cục Thống kê các phần mềm ứng dụng phục vụ cho sản xuất, kinh doanh của một số doanh nghiệp
Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong các cơ quan vẫn còn hạn chế Công tác tin học hoá quản lý hành chính nhà nước mới chỉ được tiến hành bước đầu Nhiều đơn vị sử dụng máy tính vào các công việc đơn giản như xem tin tức, trao đổi thư điện tử và soạn thảo văn bản, kế toán, thống kê, tra cứu văn bản
Bài học về sự thành công: Trước hết phải có sự quan tâm và quyết tâm cao của lãnh đạo các đơn vị, đặc biệt là vai trò của các đồng chí lãnh đạo cao nhất của các cơ quan, đơn vị thì mới xây dựng được các ứng dụng (Cổng thông tin điện tử của tỉnh, các ứng dụng chuyên ngành Ngân hàng, Kho bạc, Cục thuế, Hải quan, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Bưu chính, Viễn thông )
Bài học về những vấn đề chưa thành công: Triển khai không hướng vào qui trình công việc cụ thể và vai trò, vị trí của người dùng trong hệ thống dẫn tới khi đưa ứng dụng vào không thể vận hành được
4 Các kết quả, sản phẩm của các hoạt động phát triển CNTT&TT
Theo kết quả thống kê sơ bộ, các cơ quan trong hệ thống chính trị của tỉnh
đã xây dựng được 34 mạng cục bộ với 52 máy chủ, 982 máy trạm Các sở, ban, ngành bắt đầu có những chuyển biến tích cực, chủ động từng bước xây dựng và mở rộng mạng máy tính cục bộ để thực hiện các ứng dụng CNTT phục vụ thiết thực cho công việc của ngành, lĩnh vực mình
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc chưa triển khai xây dựng được mạng dùng riêng của tỉnh Các đơn vị có thể truy cập vào Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh
để thực hiện một số dịch vụ cơ bản Do nhu cầu công tác chuyên ngành, hiện nay
Trang 4một số đơn vị đã thực hiện kết nối với mạng của các cơ quan quản lý ngành dọc của Trung ương
Dịch vụ điện thoại cố định đã được phổ cập trong toàn tỉnh, mật độ: 5,25 máy/100 dân, 100% số xã và 95% số thôn có máy điện thoại Mật độ điện thoại di động 1,7 máy/100 dân Internet băng rộng sử dụng công nghệ ADSL tính đến tháng 6/2005 là 130 thuê bao Có 41 kênh thuê riêng (leased line) cho các đơn vị, doanh nghiệp
Nhìn chung, công nghiệp CNTT ở tỉnh Vĩnh Phúc còn nhỏ bé, đang bước đầu có chiều hướng phát triển Đã có một số doanh nghiệp như: Công ty liên doanh thẻ thông minh MK, Công ty sản xuất CD và DVD chất lượng cao, Công ty NAGAKAWA Việt Nam, Công ty TNHH thiết bị đo lường điện tử THK Việt Nam, Công ty TNHH cáp điện SH-VINA, Công ty TNHH Công nghiệp chính xác Việt Nam 1 Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc mới chỉ có một số nhà máy sản xuất và lắp ráp các sản phẩm phần cứng, hầu như chưa có doanh nghiệp công nghiệp phần mềm và dịch vụ CNTT chư phát triển mạnh Nói chung, công nghiệp CNTT ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay chủ yếu là công nghiệp sản xuất và lắp ráp các sản phẩm phần cứng Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2003 của ngành công nghiệp CNTT ở tỉnh Vĩnh Phúc đạt 40,767 tỷ đồng (giá so sánh 1994) và chỉ chiếm 0,4% giá trị toàn ngành công nghiệp của tỉnh Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp CNTT còn quá thấp nếu so sánh với tốc độ tăng trưởng của toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc (xem bảng III.6) Trong giai đoạn
2000-2003, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của công nghiệp CNTT mới chỉ đạt 2,8% trong khi đó tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là 23,7%
Thị trường CNTT: Thị trường CNTT tỉnh Vĩnh Phúc nhìn chung chưa phát triển Theo thống kê chưa đầy đủ, trong giai đoạn 2000-2004, bình quân kinh phí đầu tư cho phát triển CNTT tại các cơ quan trong hệ thống chính trị của tỉnh, trong doanh nghiệp và nhân dân còn thấp Nguồn kinh phí này chủ yếu được sử dụng để trang bị thiết bị CNTT cho các cơ quan
Khu công nghệ cao, công nghệ phần mềm ở Vĩnh Phúc: đang chuẩn bị hình thành
Số lượng doanh nghiệp: 6 doanh nghiệp liên quan đến công nghiệp phần cứng; trên 30 công ty, cửa hàng kinh doanh về CNTT
Trang 55 Công tác đào tạo sử dụng CNTT trong các cơ quan Đảng, Nhà nước
và xã hội
a Nhân lực CNTT tại các cơ quan trong hệ thống chính trị của tỉnh
Theo thống kê bước đầu (tháng 3/2005), tại các cơ quan cấp tỉnh, huyện hiện
có hiện có 73 cán bộ, công chức có trình độ về tin học từ cao đẳng trở lên, 1.101 cán bộ, công chức có chứng chỉ tin học trình độ A trở lên (khoảng 90%), 406 cán
bộ, công chức thường xuyên truy cập, khai thác sử dụng Internet, 365 cán bộ, công chức có hộp thư điện tử, 32 cán bộ quản trị mạng tại các sở, ngành, đơn vị; 22 đơn
vị có cán bộ chuyên trách phụ trách CNTT
Theo số liệu điều tra tại 7/12 phường, 4/6 thị trấn, có khoảng 27% số cán bộ phường biết dùng máy tính và khoảng 5% biết sử dụng Internet; tại 46/134 xã, số cán bộ UBND xã biết dùng máy tính chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 18% và dưới 2% biết
sử dụng Internet; chưa có cán bộ chuyên môn về CNTT
b Nhân lực CNTT trong các doanh nghiệp
Tại các doanh nghiệp, khoảng 28% cán bộ, nhân viên làm công tác quản lý biết sử dụng máy tính và khoảng 22% biết sử dụng Internet Khoảng 60% doanh nghiệp đã có nhân viên chuyên trách về CNTT Tại các doanh nghiệp này, bình quân mỗi nơi có từ 1 đến 2 nhân viên chuyên trách về CNTT
c Đào tạo, bồi dưỡng về CNTT cho cán bộ, công chức
Theo số liệu điều tra tháng 4 năm 2005, tại các cơ quan trong hệ thống chính trị của tỉnh, tỷ lệ cán bộ được đào tạo chính quy, và đào tạo tại chỗ dài hạn về CNTT còn rất thấp, khoảng 3,5% Phần lớn cán bộ, công chức, viên chức trong các
cơ quan Nhà nước biết sử dụng các ứng dụng CNTT do được đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn Tuy vậy, tỷ lệ cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn về CNTT còn thấp, khoảng 25 - 30%/ năm
Tỷ lệ cán bộ UBND phường được đào tạo, bồi dưỡng về CNTT khoảng 11% Khoảng 15% cán bộ UBND thị trấn và 9% cán bộ UBND xã đã qua đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn về CNTT
Trung tâm CNTT đến nay đã đào tạo được khoảng 30 lớp, với 600 học viên, chủ yếu là cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Nhà nước
d Nhân lực CNTT trong các cơ sở y tế và giáo dục
Trang 6Theo số liệu điều tra tháng 4 năm 2005, tỷ lệ nhân viên làm công tác quản lý
và điều trị tại các bệnh viện và cơ sở y tế biết sử dụng máy tính khoảng 16% và khoảng 2% biết sử dụng Internet
Số liệu điều tra tháng 4 năm 2005 cho thấy tỷ lệ giáo viên biết sử dụng máy tính và Internet trong các cơ sở giáo dục như sau: tỷ lệ giáo viên biết sử dụng máy tính: khối trường cao đẳng 84%, Trung học chuyên nghiệp 82%, Trung tâm GD thường xuyên 71%, Trung học phổ thông 67%, Trung học cơ sở 24%, Tiểu học 17%; tỷ lệ giáo viên biết sử dụng Internet: khối trường cao đẳng 34%, Trung học chuyên nghiệp 46%, Trung tâm GD thường xuyên 30%, Trung học phổ thông 34%, Trung học cơ sở 3%, Tiểu học 1%
e Dạy và học tin học trong các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh
Nhìn chung việc ứng dụng CNTT trong các trường phổ thông đã đạt được một số kết quả bước đầu, Sở Giáo dục - đào tạo đã có chương trình phổ cập tin học (bằng A) cho cán bộ quản lý và giáo viên các trường phổ thông trong tỉnh
Tại các trường tiểu học, hầu như chưa có giáo viên dạy tin học; bình quân mỗi huyện chỉ có 2 - 3 trường có dạy tin học; chưa trường nào sử dụng máy tính phục vụ giảng dạy và học tập Bình quân 24 giáo viên và 486 học sinh có một máy tính, giáo viên và học sinh không có nhiều cơ hội tiếp cận, sử dụng máy tính trong nhà trường
Khối trung học cơ sở có khoảng 33% số trường có giáo viên dạy môn tin học Nhưng trung bình mỗi trường mới chỉ có 1 - 2 giáo viên dạy tin học; khoảng 5 giáo viên, 94 học sinh có một máy tính Học sinh ít có cơ hội tiếp cận với máy tính Ứng dụng CNTT phục vụ công tác giảng dạy và học tập còn rất nhiều hạn chế
Khối trung học phổ thông có khoảng 73% số trường đã có giáo viên dạy môn tin học; 77% số trường học sinh được sử dụng máy tính khi học môn tin học; việc sử dụng máy tính cho giảng dạy và học tập có khá hơn so với các trường tiểu học và trung học cơ sở Tuy nhiên, mỗi trường mới chỉ có đến 2 - 3, cá biệt có trường có 6 giáo viên dạy tin học; bình quân 2 giáo viên, 74 học sinh mới có một máy tính nên việc tiếp cận và sử dụng máy tính của học sinh vẫn còn hạn chế Còn rất nhiều giáo viên và đa số học sinh chưa được tiếp cận, sử dụng, khai thác thông tin trên Internet phục vụ giảng dạy, học tập trong nhà trường
f Đào tạo CNTT tại các trung tâm tin học và các cơ sở đào tạo khác
Trang 7Tại các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, CNTT đã được
sử dụng trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; nhiều cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh đã được tiếp cận và sử dụng máy tính; bình quân một giáo viên,
25 - 26 học sinh có khoảng 1,12 máy tính 100% học sinh của các trường được sử dụng máy tính khi học môn tin học Nhiều cơ sở giáo dục - đào tạo đã có chuyên ngành về CNTT như: Đại học sư phạm II, Cao đẳng sư phạm Vĩnh Phúc, một số trường dạy nghề và các cơ sở giáo dục khác trên địa bàn tỉnh
Tại các trung tâm giáo dục thường xuyên, tình hình ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và giảng dạy còn hạn chế Hệ thống cơ sở hạ tầng CNTT còn chưa được quan tâm đầu tư Tính bình quân 1,2 giáo viên có một máy tính; khoảng 30% số trung tâm có giáo viên dạy tin học; việc sử dụng máy tính, ứng dụng CNTT vào giảng dạy, học tập còn gặp nhiều khó khăn
Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện có Trung tâm CNTT thuộc Sở BCVT và đang hình thành nhiều trung tâm đào tạo tin học của các tổ chức, doanh nghiệp, tư nhân Trong thời gian gần đây, các cơ sở đào tạo này đã đóng góp đáng kể vào việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT cho tỉnh Vĩnh Phúc Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy, quy mô của các trung tâm còn nhỏ, vốn đầu tư có hạn, loại hình và nội dung đào tạo chưa đa dạng, số lượng học viên chưa nhiều
g Đánh giá chung
Nguồn nhân lực CNTT của tỉnh đã có những bước phát triển đáng kể trong một số năm gần đây Tuy nhiên, phần lớn cán bộ, công chức, viên chức mới chỉ được đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, cán bộ được đào tạo chính quy, hoặc đào tạo tại chỗ dài hạn về CNTT còn rất thấp Còn rất nhiều cán bộ cấp xã chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về CNTT Số nhân viên biết sử dụng máy tính trong các doanh nghiệp còn chưa cao, nhiều doanh nghiệp không có nhân viên chuyên trách
về CNTT Tại các cơ sở y tế, tỷ lệ cán bộ biết sử dụng máy tính và Internet thấp
Do cơ sở hạ tầng CNTT - TT còn yếu kém, nên việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý và giảng dạy tại các trường phổ thông trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn Học sinh ít được tiếp cận và sử dụng máy tính, có trường học sinh chưa được tiếp cận máy tính Tại các trường cao đẳng, THCN đã bước đầu được quan tâm đầu
tư, tỷ lệ giáo viên và học sinh được sử dụng máy tính cao hơn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới Các cơ sở đào tạo tin học trên địa bàn tỉnh quy
mô còn nhỏ, vốn đầu tư có hạn, loại hình và nội dung đào tạo chưa đa dạng, số
Trang 8lượng học viên chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo nhân lực CNTT cho các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp cũng như nhu cầu học tập và ứng dụng CNTT ngày càng tăng của nhân dân trong tỉnh Nhìn chung, nguồn nhân lực CNTT của tỉnh Vĩnh Phúc còn thiếu về số lượng, chất lượng chưa cao; chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển và ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh
6 Kinh phí đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT&TT
Đề án tin học hoá QLHCNN (ĐA112) theo quyết định phê duyệt của tỉnh là
60 tỷ cho giai đoạn 2001-2005, thực tế đến năm 2004 mới đầu tư được khoảng trên
15 tỷ đồng, tính cả năm 2005 đã bố trí 9,5 tỷ đồng thì tổng số cũng chỉ được khoảng 30% theo kế hoạch Kinh phí đầu tư cũng như việc triển khai ở khối các cơ quan của Đảng đạt kết quả và hiệu quả khá, nhưng bên cạnh đó, kinh phí đầu tư của TW theo Đề án 112 của Chính phủ cho địa phương không đảm bảo như dự án
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (dưới 20%)
7 Đánh giá chung về kết quả hoạt động chính, giai đoạn 2001-2004
a Kết quả đạt được
Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự cố gắng của các ngành, đơn vị trong tỉnh, do vậy, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư, nhưng công tác ứng dụng và phát triển CNTT trong giai đoạn này đã có một số chuyển biến tích cực phục vụ công tác cải cách thủ tục hành chính, có hiệu quả rõ rệt về mặt xã hội và góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển KT-XH của địa phương Cụ thể:
- Bước đầu xây dựng được hệ thống kỹ thuật hạ tầng CNTT, triển khai các
hệ thống thông tin, các kho dữ liệu điện tử phục vụ công tác quản lý, điều hành của Tỉnh uỷ - HĐND - UBND tỉnh và các sở, ngành, huyện, thị xã, các xã, phường, thị trấn Đến hết năm 2004, hệ thống mạng tin học diện rộng của UBND tỉnh đã được kết nối tới các sở, ngành,UBND các huyện, thị xã, một số đơn vị, doanh nghiệp Mạng diện rộng của tỉnh đã kết nối hoàn chỉnh với mạng của Chính phủ, các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Các sở, ban, ngành bắt đầu có
sự chủ động, từng bước xây dựng và mở rộng mạng máy tính cục bộ để thực hiện các ứng dụng CNTT phục vụ thiết thực cho công việc của ngành, lĩnh vực mình
Trang 9- Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức CNTT được tăng cường hơn: Những năm qua, đã có hàng trăm lượt cán bộ, công chức được đào tạo qua các lớp tin học cơ bản và trên thực tế đã sử dụng được máy tính ở các mức độ khác nhau vào công việc chuyên môn của mình
- Việc ứng dụng CNTT trong quản lý, chỉ đạo điều hành đang có xu hướng được nhân rộng: Đã có một số phần mềm ứng dụng đạt hiệu quả như các chương trình: Văn bản qui phạm pháp luật của Chính phủ; Quốc hội; của HĐND, UBND tỉnh; Cổng thông tin điện tử tỉnh Vĩnh Phúc; trang thông tin điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy; CSDL về các văn kiện của Đảng bộ tỉnh, quản lý hồ
sơ Đảng viên, Phần mềm quản lý thi đua khen thưởng, các phần mềm chuyên ngành của Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường,
Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ, Cục Thống kê Theo kết quả tổng hợp chưa đầy đủ, trên địa bàn tỉnh hiện nay có gần 150 phần mềm ứng dụng các loại Thông qua những phần mềm ứng dụng này, các đơn vị đã thực hiện việc truyền, nhận thông tin đa chiều, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống báo cáo định kỳ, đột xuất và thư tín điện tử, bảo đảm nhanh chóng, an toàn, phục vụ có hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan của Đảng, quản lý hành chính nhà nước và phục vụ thiết thực cho sản xuất, kinh doanh của một số doanh nghiệp
b Tồn tại và nguyên nhân
Những năm vừa qua, Chương trình CNTT của tỉnh đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, so với mục tiêu đề ra của Quyết định số 274-QĐ/TU ngày 02-12-2002 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ phê duyệt Đề án tin học hoá hoạt động các cơ quan của Đảng giai đoạn 2001-2005, Quyết định số 1889/QĐ-UB ngày 24-5-2002 của UBND tỉnh phê duyệt Đề án tin học hoá quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 thì kết quả đạt được còn rất khiêm tốn Có thể nêu lên một số tồn tại và nguyên nhân cơ bản sau đây:
- Về nhận thức: Lãnh đạo các cấp, các ngành chưa thực sự coi CNTT là phương tiện chủ lực để đi tắt, đón đầu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị đã nêu; chưa kết hợp chặt chẽ quá trình ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính, thực hiện kỷ cương hành chính trong việc cập nhật thông tin điện tử, đưa hệ thống ứng dụng tin học vào guồng máy hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước để đổi mới phương
Trang 10thức lãnh đạo Các cơ quan Nhà nước chưa chưa kiên quyết gắn việc ứng dụng CNTT với xử lý công việc hàng ngày, chưa thực sự chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin để đổi mới lề lối làm việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Số lượng lãnh đạo, cán bộ của các cơ quan đề nghị cử đi học tin học còn rất thấp so với yêu cầu, thậm chí có xu hướng giảm, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo từ trưởng, phó phòng trở lên, có tâm lý ngại tiếp cận với tin học
- Công tác tuyên truyền, phổ biến và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước về CNTT còn chậm: Chưa có cơ quan chủ trì giúp UBND tỉnh thường xuyên tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến các chỉ thị, nghị quyết, chính sách về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin của Đảng và Nhà nước, do đó việc tổ chức triển khai thực hiện chưa kịp thời và hiệu quả;
Chưa có cơ chế, chính sách cụ thể và thích hợp để khuyến khích, ràng buộc trách nhiệm và lợi ích của các cơ quan trong hệ thống chính trị của tỉnh, các đơn vị sản xuất kinh doanh, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp trong việc ứng dụng công nghệ thông tin Thực tế ở các cấp, các ngành, những thông tin phát sinh trong quá trình hoạt động quản lý hành chính rất phong phú, nhưng việc tích luỹ thông tin dưới dạng điện tử chỉ mới dừng ở mức thấp, đến nay mới tích luỹ trên mạng một
số loại thông tin cơ bản
- Bất cập về nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng: cùng với việc thiếu hoàn thiện về môi trường pháp lý, chúng ta chưa có được nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng phù hợp để sẵn sàng tiếp nhận và ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội; không đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển của địa phương hiện nay như: hệ thống mạng viễn thông còn nhiều hạn chế về chất lượng, tốc độ đường truyền; cách thức quản lý còn bất cập, chưa đáp ứng kịp yêu cầu bức xúc của thực tiễn, chưa tạo điều kiện thuận lợi để thu hút được nhiều người khai thác, sử dụng công nghệ thông tin và Internet Dịch vụ Internet băng thông rộng ADSL trên địa bàn tỉnh phát triển với tốc độ rất chậm, gây nhiều khó khăn cho các đơn vị trong việc thực hiện các ứng dụng liên quan đến truy cập, khai thác dữ liệu trên mạng Internet
- Chưa thực sự đổi mới phương pháp, lề lối làm việc: về mặt xã hội, chưa hình thành được thói quen hoạt động dựa vào việc khai thác thông tin, trên cơ sở
xử lý thông tin để đưa ra những chủ trương, quyết sách trong quản lý và sản xuất