Nội dung sáng kiến tập trung vào việc đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non, giúp các cô nuôi chế biến món ăn đa dạng, thơm ngon, hấp d
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên sáng kiến: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng
bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non”
Lĩnh vực: Nuôi dưỡng Tên Tác giả: Đỗ Thị Thu Nhung Đơn vị công tác: Trường Mầm non Châu Sơn Chức vụ: Nhân viên
Năm 2025
Trang 2
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm trường mầm non Châu Sơn;
Hội đồng Sáng kiến kinh nghiệm Huyện Ba Vì
Họ và
tên
Ngày tháng năm sinh
Nơi công tác
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Nhân viên Cao đẳng
Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non
1 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực Nuôi dưỡng
Vấn đề mà sáng kiến giải quyết: Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, đảm bảo cân đối dinh dưỡng theo từng lứa tuổi, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất và phát triển toàn diện Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường
2 Tên sáng kiến đề nghị công nhận:
Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non
3 Sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Từ tháng 9/2024 đến tháng 3/2025 tại trường Mầm non Châu Sơn
4 Mô tả bản chất của sáng kiến:
Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non Sáng kiến được trình bày theo đúng thể thức văn bản khoa học, gồm ba phần chính: Đặt vấn đề, nội dung sáng kiến và kiến nghị, đề xuất Nội dung sáng kiến tập trung vào việc đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non, giúp các cô nuôi chế biến món ăn đa dạng, thơm ngon, hấp dẫn, đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng và tuân thủ các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh đó, sáng kiến cũng hướng đến việc tạo tâm thế thoải mái cho trẻ khi
ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong nhà trường, góp phần xây dựng niềm tin vững chắc của phụ huynh khi gửi con em đến trường
Các giải pháp thực hiện:
Trang 3Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn kiến thức về nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ
Giải pháp 2: Nghiêm túc thực hiện các quy định đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Giải pháp 3: Tham mưu với ban giám hiệu và kế toán đổi mới xây dựng thực đơn, đảm bảo chất lượng bữa ăn cho trẻ
Giải pháp 4: Cải tiến, sáng tạo trong kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ
Giải pháp 5: Khảo sát bữa ăn của trẻ, trò chuyện để hiểu rõ tâm lý và thói quen
ăn uống của trẻ
Giải pháp 6: Phối hợp với giáo viên, nhân viên tổ chức các bữa tiệc buffet cho trẻ tại nhà trường
5 Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): Không
6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
Đối với nhân viên:
Nhân viên luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao, sự hỗ trợ tận tình cùng sự quan tâm kịp thời từ Ban Giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn
Nhân viên được học hỏi các chuyên đề, bồi dưỡng chuyên môn vững vàng, nắm
chắc kế hoạch chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
Nhân viên được sự ủng hộ và quan tâm nhiệt tình của phụ huynh học sinh và sự giúp đỡ, góp ý nhiệt tình của đồng nghiệp
Đối với phụ huynh:
Luôn quan tâm, ủng hộ phối hợp và động viên kịp thời con em mình trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại gia đình và tại trường
Đối với Ban giám hiệu:
Nhà trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc - nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường
Tổ chức các chuyên đề về nuôi dưỡng nhằm tạo điều kiện cho nhân viên trao đổi, thảo luận về các biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn, cũng như cải thiện công tác chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ một cách hiệu quả
7 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
tiền ăn của trẻ trong một ngày
Kỹ thuật chế biến món ăn của các cô nuôi được nâng cao, sử dụng tiết kiệm thời gian, không lãng phí thực phẩm
Trang 4Hàng ngày, tôi cùng các chị em nhân viên nuôi dưỡng lên thực đơn mẫu đạt về lượng, cân đối về chất trong ngân hàng thực đơn của nhà trường vì vậy tôi tiết kiệm được thời gian trong quá trình tính toán, điều chỉnh thực đơn hàng ngày cho trẻ
Lợi ích về xã hội:
Đối với trẻ: trẻ được ăn theo thực đơn khoa học, hợp khẩu vị, giúp tăng cảm giác ngon miệng, ăn hết khẩu phần và thích ăn cơm ở trường hơn ở nhà Nhờ chế độ dinh dưỡng hợp lý, trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần
Đối với nhân viên nuôi dưỡng: Nhân viên có ý thức trách nhiệm cao hơn trong công việc, không ngừng học hỏi, sáng tạo để xây dựng thực đơn phong phú, đa dạng Kỹ thuật chế biến món ăn ngày càng nâng cao, đảm bảo chất lượng bữa ăn tốt nhất cho trẻ
Đối với phụ huynh: Phụ huynh hài lòng với việc được tham gia giám sát vào khâu giao nhận thực phẩm và hoàn toàn tin tưởng khi gửi gắm con em mình ăn bán trú tại nhà trường Phụ huynh luôn đồng hành, ủng hộ và động viên kịp thời trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ
Đối với xã hội: Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm, ủng hộ từ các cấp, các ngành, các đoàn thể và nhân dân địa phương, tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
8 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử nếu có: Không
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật
Châu Sơn, ngày 16 tháng 03 năm 2025
Người yêu cầu
(Ký và ghi rõ họ tên)
Đỗ Thị Thu Nhung
Trang 5- Tác giả sáng kiến: Đỗ Thị Thu Nhung
- Họ tên người đánh giá: Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ
- Cơ quan công tác: Trường mầm non Châu Sơn
Nhận xét
1 Nội dung 1: Sáng kiến có tính mới, sáng tạo, tiên tiến: (Nhận xét về tính
mới và nêu rõ tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện, các bước thực hiện của giải pháp mới một cách cụ thể, rõ ràng cũng
như các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp): 45 điểm
1.1 Sáng kiến có tính mới, phù hợp với thực tiễn của cơ quan, đơn vị và
đối tượng nghiên cứu áp dụng: 20 điểm
Sáng kiến có giải pháp cải tiến so với phương pháp cũ, có tính ứng dụng cao và phù hợp với điều kiện hiện tại Cách thức thực hiện được trình bày chi tiết, dễ hiểu và
có thể áp dụng trong thực tế
Điểm đánh giá: 18 điểm
1.2 Sáng kiến nêu rõ sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ (như
có số liệu khảo sát, đánh giá trước khi thực hiện giải pháp…): 5 điểm
pháp mới, có những số liệu khảo sát cụ thể trước và sau khi áp dụng, có so sánh đối chứng kết quả đầy đủ chi tiết, rõ ràng
Điểm đánh giá: 4 điểm
1.3 Sáng kiến nêu rõ cách làm, giải pháp mới, phân tích thể hiện sự sáng tạo,
hiệu quả (nêu rõ kết quả, hiệu quả khi áp dụng cách làm, giải pháp mới…): 20 điểm
Giải pháp mới được trình bày chi tiết, có tính logic và dễ dàng triển khai Sáng kiến có sự phân tích kỹ lưỡng về tính sáng tạo, thể hiện sự cải tiến
Điểm đánh giá: 16 điểm
2 Nội dung 2: Sáng kiến có khả năng áp dụng (Nhận xét mức độ thực hiện và
khả năng triển khai, áp dụng cho các đơn vị, cá nhân cùng ngành, lĩnh vực hoặc rộng
rãi cho nhiều ngành, địa phương trong thực tế đạt hiệu quả): 30 điểm
2.1 Sáng kiến có nêu nội dung so sánh số liệu, kết quả giữa trước (khi chưa áp
dụng nội dung sáng kiến) và sau khi áp dụng thực hiện cách làm, giải pháp mới: 10 điểm
HĐSK MN CHÂU SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Trang 6Sáng kiến đã đưa ra các số liệu cụ thể để chứng minh tính hiệu quả, bao gồm các chỉ số trước và sau khi thực hiện Những số liệu này góp phần khẳng định tính thực tiễn của giải pháp
Điểm đánh giá: 9 điểm
2.2 Sáng kiến có nêu được nội dung khả năng áp dụng cho các đơn vị, cá nhân
cùng lĩnh vực; có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều đơn vị 20 điểm
Sáng kiến có khả năng nhân rộng ra các đơn vị khác trong cùng lĩnh vực Phương pháp triển khai đơn giản giúp tăng tính ứng dụng và phổ biến của sáng kiến trong thực tế
Điểm đánh giá: 16 điểm
3 Nội dung 3: Sáng kiến mang lại hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu
được do áp dụng sáng kiến (Nhận xét sáng kiến đó đã được số đông thừa nhận và đã
mang lại hiệu quả cụ thể cho cơ quan, tổ chức như: Nâng cao hiệu quả hoạt động hành chính - sự nghiệp, hiệu quả kinh tế hoặc lợi ích xã hội, nâng cao năng suất chất
lượng và hiệu quả công tác): 20 điểm
Các giải pháp có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có thể ứng dụng rộng rãi đối với nhân viên công tác tại các trường mầm non, góp phần nâng cao chất lượng công tác nuôi dưỡng cho trẻ trong trường
Điểm đánh giá: 15 điểm
4 Nội dung 4 Về hình thức (Nhận xét cách trình bày khoa học, đầy đủ,
bố cục logic): 5 điểm
Sáng kiến được trình bày khoa học, bố cục rõ ràng và hợp lý Nội dung mạch lạc, dễ hiểu, đảm bảo tính logic trong từng phần, đúng thể thức văn bản, văn phong phù hợp
Điểm đánh giá: 4 điểm
Tổng số điểm sáng kiến: 82 điểm
Kết quả đánh giá (SKKN đánh giá Đạt phải đạt 70 điểm trở lên)
Người đánh giá
(Họ, tên và chữ ký)
Nguyễn Thị Ngọc Thuỷ
Trang 77
Trang 8Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ, cả về thể chất lẫn trí tuệ Đây chính là nền tảng vững chắc để trẻ lớn lên khỏe mạnh, thông minh, tạo tiền đề cho những bước phát triển sau này Chính vì tầm quan trọng đó, trẻ ở độ tuổi mầm non cần được đảm bảo một chế độ dinh dưỡng hợp lý, cân đối Tránh tình trạng thừa chất dẫn đến béo phì hay thiếu hụt dinh dưỡng gây suy dinh dưỡng Có thể nói, sự phát triển hài hòa của trẻ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng, đặc biệt là chất lượng bữa ăn hàng ngày của trẻ Ở lứa tuổi này, trẻ phát triển nhanh cả về thể lực và trí tuệ, nếu được chăm sóc tốt, trẻ không chỉ phát triển khỏe mạnh mà còn dễ dàng tiếp thu kiến thức trong quá trình học tập, đồng thời giảm nguy cơ ốm đau, bệnh tật
1.2 Cơ sở thực tiễn:
Là một nhân viên nuôi dưỡng trong trường mầm non, tôi luôn trăn trở và không ngừng tìm tòi, học hỏi để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ Mục tiêu của tôi là đảm bảo trẻ được ăn đủ chất, đủ lượng, đúng khẩu phần theo thực đơn khoa học, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm Tôi luôn cố gắng chế biến những món ăn thơm ngon, hấp dẫn để trẻ ăn ngon miệng, hết suất, từ đó đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng và giúp trẻ phát triển hài hòa theo từng độ tuổi Tôi mong muốn rằng, mỗi ngày đến trường của trẻ sẽ thực sự là một ngày vui và mỗi bữa ăn ngon không chỉ là một trải nghiệm thú vị mà còn là sự khởi đầu tuyệt vời cho hành trình phát triển toàn diện của các bé
Thực hiện nhiệm vụ năm học 2024 - 2025 đối với trường mầm non Châu sơn là tiếp tục nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường Tại trường mầm non Châu Sơn nơi tôi công tác, nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ là trách nhiệm của toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường Ở trường, các cháu ăn mức
ăn 20.000 đồng/ngày Chế độ này được áp dụng đồng đều cho tất cả học sinh từ nhà trẻ đến mẫu giáo Với mức ăn này, để xây dựng một khẩu phần ăn đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng, việc lựa chọn và kết hợp thực phẩm sao cho hợp lý là vấn đề tôi luôn quan tâm Tuy nhiên, do mức tiền ăn còn thấp, chất lượng bữa ăn của trẻ đôi khi chưa được cân đối một cách tối ưu Sự phân bổ dinh dưỡng giữa các bữa trong ngày, bao gồm bữa trưa, bữa phụ chiều và bữa chính chiều, đôi khi còn chưa đạt
Bên cạnh đó, đa phần phụ huynh của trẻ tại trường là nông dân, có thu nhập thấp và chưa ổn định, kinh tế gia đình còn khó khăn Vì vậy, họ chưa thực sự quan tâm nhiều đến sự phát triển thể chất của con em mình Chất lượng bữa ăn tại nhiều gia đình chưa đảm bảo, kết hợp với trình độ dân trí còn hạn chế, kiến thức về phương pháp
Trang 9chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ theo khoa học chưa cao, dẫn đến tình trạng trẻ trong độ tuổi mầm non có nguy cơ suy dinh dưỡng vẫn còn
Xuất phát từ nhận thức trên, với vai trò là nhân viên nuôi dưỡng, tôi thấu hiểu tầm quan trọng của chế độ dinh dưỡng hợp lý với các bữa ăn đảm bảo chất lượng cho trẻ trong độ tuổi mầm non Tôi nhận thấy rằng việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non nơi tôi công tác là hết sức cần thiết Chính vì vậy, tôi mạnh dạn
lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong
trường mầm non” làm sáng kiến kinh nghiệm của bản thân trong năm học
2024-2025 Nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, giúp các cô nuôi chế biến đa dạng món ăn, đảm bảo thơm ngon, hấp dẫn, đầy đủ dinh dưỡng và đáp ứng các tiêu chuẩn
về vệ sinh an toàn thực phẩm Đồng thời, tạo cho trẻ tâm thế thoải mái khi ăn, giúp trẻ
ăn ngon miệng, ăn hết suất, từ đó góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục của nhà trường, tạo dựng niềm tin vững chắc đối với phụ huynh khi gửi con em mình đến trường
2 Mục tiêu của đề tài sáng kiến:
Đánh giá thực trạng về chất lượng bữa ăn trong trường mầm non, xác định những hạn chế và khó khăn còn tồn tại
Nghiên cứu và đề xuất các biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng bữa
ăn cho trẻ, đảm bảo cân đối dinh dưỡng, phù hợp với lứa tuổi
Giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất, tạo tâm lý thoải mái khi ăn, góp phần nâng cao thể chất và sức khỏe cho trẻ
Nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Xây dựng niềm tin vững chắc cho phụ huynh khi gửi con em đến trường, tạo sự đồng thuận và hợp tác trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ
3 Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 3 năm 2025
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ trong trường mầm non”, được thực hiện tại trường mầm non nơi tôi công tác
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu trên 213 trẻ mầm non từ 18 tháng đến 72 tháng tuổi tại trường mầm non nơi tôi công tác
Trang 10PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1 Hiện trạng của vấn đề:
1.1 Đặc điểm tình hình:
Trường mầm non tôi công tác là một trường nhỏ, trẻ tập trung tại một điểm trường Trong năm học vừa qua, nhà trường đã đặc biệt quan tâm và chú trọng đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Nhờ đó, chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ không ngừng được nâng cao Nhà trường đảm bảo 100% trẻ được ăn bán trú, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi và béo phì đã giảm so với năm học trước Đặc biệt, không có trường hợp ngộ độc thực phẩm xảy ra, thực đơn thường xuyên được thay đổi để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa chất lượng bữa ăn, Ban Giám hiệu, giáo viên và nhân viên nhà trường vẫn cần tiếp tục nỗ lực cải thiện và điều chỉnh phù hợp Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau:
1.1.1 Thuận lợi:
Trường mầm non chúng tôi nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao từ Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ba Vì Trong những năm qua, nhà trường đã áp dụng phần mềm Gokids trong việc tính khẩu phần ăn cho trẻ, giúp đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý
Cơ sở vật chất, trang thiết bị và đồ dùng phục vụ công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được đầu tư khá đầy đủ và theo hướng hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu của bậc học mầm non Bếp ăn của nhà trường được xây dựng khang trang, sạch sẽ, đảm bảo quy trình bếp một chiều theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm
Nhà trường thực hiện ký kết hợp đồng cung cấp thực phẩm với công ty uy tín,
có đầy đủ giấy tờ pháp lý, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Ban Giám hiệu giám sát chặt chẽ tất cả các khâu, từ tiếp nhận thực phẩm, sơ chế, chế biến, lưu mẫu đến khâu chia ăn, nhằm đảm bảo chất lượng bữa ăn cho trẻ
Hiện tại, tỷ lệ trẻ ăn bán trú tại trường đạt 100%, các cháu đều học đúng độ tuổi
Về cá nhân, tôi có trình độ trên chuẩn, luôn tận tâm với nghề, yêu thương trẻ, có chuyên môn vững vàng và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Tôi cũng thành thạo trong việc sử dụng phần mềm nuôi dưỡng Đặc biệt, tôi được làm việc cùng đội ngũ cô nuôi giàu kinh nghiệm, đoàn kết, luôn sẵn sàng hỗ trợ nhau trong công việc, tạo nên một môi trường làm việc chuyên nghiệp và hiệu quả
Mức tiền ăn của trẻ còn thấp, gây khó khăn trong việc tính khẩu phần ăn và cân đối tỷ lệ các chất dinh dưỡng, đảm bảo đủ năng lượng cho trẻ phát triển
Trang 11Việc xây dựng thực đơn cần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho nhiều độ tuổi khác nhau, điều này đòi hỏi sự tính toán kỹ lưỡng để đảm bảo bữa ăn vừa khoa học, cân đối vừa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trẻ
Giá cả thị trường thường xuyên biến động, trong khi mức ăn của trẻ chưa cao, dẫn đến khó khăn trong việc đảm bảo bữa ăn vừa ngon miệng vừa đầy đủ dinh dưỡng theo mong muốn
Nhà trường chưa có các thiết bị hiện đại để hỗ trợ kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm, điều này phần nào ảnh hưởng đến công tác giám sát chất lượng bữa ăn
Một số trẻ chưa biết tự xúc ăn, do đó giáo viên và nhân viên phải dành thêm
thời gian tìm hiểu trẻ và hỗ trợ trẻ trong giờ ăn
1.2 Cách làm cũ trước khi thực hiện đề tài:
Trước khi triển khai các biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ mầm non, mặc dù hàng năm, nhà trường luôn quan tâm và chỉ đạo sát sao trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, nhưng cách làm cũ còn tồn tại nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng dinh dưỡng và sự phát triển toàn diện của trẻ Cụ thể:
Thực đơn đã xây dựng theo mùa, theo tuần; tuy nhiên trong tuần chẵn, tuần lẻ có sự trùng lặp món ăn Thực đơn chưa có sự cân đối hợp lý giữa các nhóm thực phẩm: chất đạm, chất béo, tinh bột, vitamin và khoáng chất
Thực đơn của các tuần chẵn và các tuần lẻ còn có sự giống nhau, các món ăn thường đơn điệu và chưa có sự kết hợp khéo léo giữa các loại thực phẩm Thực đơn lặp lại trong nhiều tháng với những món ăn quen thuộc
Một số thực đơn chưa kết hợp thực phẩm có giá thành cao với thực phẩm có giá thành thấp đảm bảo tài chính mà vẫn cân đối các chất
Cách đặt tên một số món ăn còn chưa hấp dẫn
Nhân viên nuôi dưỡng chưa linh hoạt trong việc áp dụng các kỹ thuật chế biến món ăn, một số cô nuôi chưa thành thạo trong việc sử dụng phần mềm nuôi dưỡng để lên thực đơn và cân đối khẩu phần ăn
Những năm học trước bản thân tôi chưa xác định được tầm quan trọng của việc tự học và tự bồi dưỡng cho cá nhân, tham gia bồi dưỡng còn mang tính hình thức nên việc tiếp thu kiến thức còn chưa sâu, chưa áp dụng tốt vào thực tế công việc
Bản thân tôi chưa chủ động, chưa tìm hiểu sâu về đặc điểm tâm lý, thói quen và
sở thích ăn uống của trẻ để xây dựng thực đơn phù hợp
1.3 Phân tích nhược điểm của hiện trạng vấn đề:
Thực đơn của các tuần chẵn và các tuần lẻ còn có sự giống nhau, các món ăn thường đơn điệu và chưa có sự kết hợp khéo léo giữa các loại thực phẩm Thực đơn lặp lại với các món ăn quen thuộc trong nhiều tháng khiến trẻ cảm thấy nhàm chán, thiếu hứng thú khi ăn
Đôi khi cân đối khẩu phần ăn của trẻ chỉ ở mức đạt hoặc cân đối
Tên gọi và màu sắc của một số món ăn chưa đủ hấp dẫn, chưa khơi gợi sự hứng thú cho trẻ Nhân viên nuôi dưỡng chưa linh hoạt trong việc áp dụng các kỹ thuật chế biến món ăn mới, dẫn đến món ăn chưa thực sự đạt chuẩn vị và chưa kích thích trẻ hứng thú khi ăn
Trang 12Bản thân chưa chú trọng đến việc nắm bắt tâm lý, thói quen và sở thích ăn uống của trẻ nên xây dựng thực đơn đôi khi còn chưa phù hợp
Ngoài ra, một số nhân viên nuôi dưỡng chưa thành thạo trong việc sử dụng phần mềm quản lý dinh dưỡng để lập thực đơn và cân đối khẩu phần ăn Điều này khiến quá trình xây dựng thực đơn vẫn còn gặp khó khăn, chưa thực sự tối ưu và hiệu quả Do vậy chất lượng bữa ăn của trẻ còn chưa đạt được kết quả như mong đợi
1.4 Số liệu khảo sát trước khi thực hiện:
Để đảm bảo việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non được triển khai hiệu quả, ngay sau khi khai giảng và ổn định trẻ tại các lớp, tôi đã tiến hành thu thập số liệu khảo sát với kết quả như sau:
Bảng khảo sát trẻ đầu năm (khảo sát 213 trẻ)
Qua bảng khảo sát trên tôi nhận thấy: Số trẻ có cân nặng bình thường, số trẻ có chiều cao bình thường chiếm tỷ lệ chưa cao, chỉ đạt 93,8% và 96,2% Số số trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân chiếm tỷ lệ 3,8% và số trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi chiếm
tỷ lệ 3,8% – cả hai chỉ số này vẫn còn cao Ngoài ra, có 5 trẻ thừa cân, béo phì chiếm
tỷ lệ 2,3% Trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất chỉ đạt 84,0%; số trẻ thích ăn bán trú tại trường chỉ đạt 87,8%
Khi tập hợp được kết quả khảo sát trẻ đầu năm học, tôi đặt ra cho mình mục tiêu là tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn của trẻ để tăng tỷ lệ trẻ có chiều cao, cân nặng bình thường, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở thể nhẹ cân và thấp còi, trẻ thừa cân Nâng tỷ lệ trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất; trẻ thích ăn cơm ở trường lên cao hơn nữa, góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường một cách toàn diện
2 Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề
Giải pháp 4: Cải tiến, sáng tạo trong kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ
Giải pháp 5: Khảo sát bữa ăn của trẻ, trò chuyện để hiểu rõ tâm lý và thói quen
ăn uống của trẻ
Trang 13Giải pháp 6: Phối hợp với giáo viên, nhân viên tổ chức các bữa tiệc buffet cho trẻ tại nhà trường
2.2 Cách thức thực hiện từng giải pháp:
2.2.1 Giải pháp 1: Tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, kiến thức về nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ
Mục đích: Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, việc không ngừng học
hỏi là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cá nhân Đặc biệt với bản thân tôi là một nhân viên nuôi dưỡng, hàng ngày trực tiếp nấu ăn cho trẻ tại trường, thì việc tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ là hết sức cần thiết để đáp ứng yêu cầu công việc được giao
Cách thực hiện: Nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học, tự bồi dưỡng
chuyên môn, bản thân tôi đã tích cực tìm tòi học hỏi, nghiên cứu qua nhiều nguồn: Qua bạn bè đồng nghiệp, qua các chuyên đề nuôi dưỡng, qua những hội thi dành cho nhân viên nuôi dưỡng, qua các tài liệu về dinh dưỡng, qua sách báo trong thư viện của nhà trường, internet… để bản thân tôi ngày càng hiểu sâu hơn những kiến thức về nâng cao
chất lượng bữa ăn cho trẻ và làm tốt được công việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường
Tôi học hỏi rất nhiều từ các bạn đồng nghiệp thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ nuôi, được tổ chức hai buổi mỗi tháng Mỗi buổi sinh hoạt là cơ hội
để tôi giao lưu, trao đổi kinh nghiệm và học hỏi từ những người đồng nghiệp của mình Trong các buổi họp này, chúng tôi tập trung nghiên cứu cách xây dựng thực đơn cho trẻ: cách tạo ra nhiều món ăn mới, kết hợp đa dạng các loại thực phẩm, xây dựng thực đơn theo mùa và điều chỉnh linh hoạt theo tuần để đáp ứng đầy đủ nhu cầu về năng lượng và dinh dưỡng cần thiết cho trẻ, để áp dụng trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường Tôi được hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng hướng dẫn chi tiết cách tính khẩu phần ăn trên phần mềm nuôi dưỡng, giúp đảm bảo thực đơn cho trẻ đạt đủ lượng và cân đối về chất Qua đó, tôi đã thành thạo cách tạo món ăn trong ngân hàng món ăn, xây dựng thực đơn và cân đối khẩu phần cho trẻ trên phần mềm Ngoài ra, các buổi họp chuyên môn còn là dịp để chúng tôi chia sẻ kinh nghiệm chế biến món ăn sao cho quy trình được đảm bảo, hàm lượng dinh dưỡng được giữ nguyên và món ăn trở nên hấp dẫn, kích thích trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất
(Hình ảnh 1: Buổi sinh hoạt bồi dưỡng chuyên môn tổ nuôi)
Ngoài ra, tôi thường xuyên trao đổi và liên hệ với các bạn đồng nghiệp trong và ngoài huyện, cũng như với các thầy cô giảng dạy chuyên ngành kỹ thuật chế biến món
ăn tại Trường Cao đẳng Giao Thông Vận Tải Trung Ương I Qua đó, tôi học hỏi được nhiều kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn và các món ăn mới dành cho trẻ mầm non, giúp tôi đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc và sáng tạo hơn trong quá trình chế biến món ăn tại trường mầm non nơi tôi công tác
Tôi cũng tham gia các buổi tập huấn chuyên đề nuôi dưỡng do Phòng Giáo dục
và nhà trường tổ chức Cụ thể, tôi đã tham gia lớp bồi dưỡng kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ nấu ăn chuyên nghiệp, cùng các buổi tập huấn chuyên đề đổi mới xây dựng thực đơn và nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non Qua đó, tôi được tiếp thu những kiến thức cơ bản
về vệ sinh an toàn thực phẩm, nghiệp vụ nấu ăn chuyên nghiệp, cách đổi mới thực đơn
Trang 14với nhiều món ăn mới, hấp dẫn, cũng như các kỹ thuật chế biến món ăn đạt chuẩn Từ những kiến thức đó, tôi có thể vận dụng linh hoạt vào thực tế công việc của mình để tạo ra những bữa ăn chất lượng cho trẻ
(Hình ảnh 2: Bản thân trực tiếp tham gia thực hành làm một số loại bánh trong buổi tiếp
thu chuyên đề nuôi dưỡng do phòng giáo dục tổ chức)
Không chỉ dừng lại ở đó, tôi còn tích cực học tập và bồi dưỡng thông qua việc tham gia các hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường và cấp huyện Trong năm học 2024 - 2025, khi nhà trường tổ chức hội thi nhân viên giỏi cấp trường, tôi rất phấn khởi và say mê tìm tòi, nghiên cứu, xây dựng được những thực đơn đạt yêu cầu về lượng, cân đối về chất, được ban giám hiệu duyệt thực đơn và cho áp dụng tại hội thi Tôi được giải nhất hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường và đạt giải nhì hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp huyện Qua quá trình tham gia hội thi, tôi rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu, giúp chuyên môn của mình ngày càng vững vàng hơn Từ những kết quả đạt được đã tiếp thêm động lực to lớn để tôi không ngừng học hỏi và
cống hiến cho sự nghiệp nuôi dưỡng trẻ tại quê hương của mình
Cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, việc tìm hiểu các món ăn cho trẻ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều Các kiến thức về nuôi dưỡng được phổ biến rộng rãi thông qua internet Tận dụng thời gian cuối tuần hoặc sau giờ làm việc, tôi thường truy cập mạng để cập nhật các công thức và kỹ thuật chế biến món ăn mới, tìm hiểu chế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ mầm non, cũng như các biện pháp giải quyết vấn đề khi trẻ chưa hứng thú với món ăn Những phương pháp nấu ăn hiện đại giúp giữ trọn dinh dưỡng và hương vị tự nhiên của thực phẩm Ví dụ các trang mạng thông tin chính thống như: Cổng thông tin dinh dưỡng của Bộ Y Tế Việt Nam, Web Trẻ Thơ, Sức khoẻ và dinh dưỡng cho trẻ em – Vinmec, hay trang Website của Bệnh viện nhi Trung Ương Tôi tìm đọc một số cuốn sách như: “Dinh dưỡng cho trẻ em mầm non” của tác giả Trần Bích Ngọc, cuốn sách này giúp tôi nắm bắt được những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng cho trẻ nhỏ, giúp cải thiện sức khoẻ và sự phát triển của trẻ Sau mỗi lần tự học, tôi luôn ghi chép có hệ thống và lưu giữ cẩn thận để áp dụng vào thực tế công việc
Kết quả: Nhờ quá trình tự học, nghiên cứu và bồi dưỡng chuyên môn, cùng với
kinh nghiệm tích lũy qua thời gian công tác tại trường mầm non, tôi đã nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mầm non và có nhận thức sâu sắc về chế độ dinh dưỡng phù hợp cho lứa tuổi này Tôi đã trang bị thêm cho mình nhiều kiến thức và hiểu biết chuyên sâu, giúp tôi tự tin hơn trong công việc và vận dụng hiệu quả những kiến thức
đã học để mang đến những bữa ăn chất lượng nhất cho các con
2.2.2 Giải pháp 2: Nghiêm túc thực hiện các quy định đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Mục đích: Vệ sinh an toàn thực phẩm là việc đưa ra các biện pháp không để
thực phẩm bị ô nhiễm và đảm bảo thực phẩm không gây hại cho người sử dụng Đây là tiêu chí quan trọng nhất tại trường mầm non nơi tôi công tác, vì nó liên quan trực tiếp đến sinh mạng và sự sống của học sinh Một bữa ăn đảm bảo chất lượng phải đáp ứng được ba yếu tố cơ bản: an toàn thực phẩm, đầy đủ dinh dưỡng và ngon miệng
Trang 15Cách thực hiện: Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, bản thân tôi
luôn tự giác nâng cao tinh thần trách nhiệm và nghiêm túc thực hiện các quy định về
vệ sinh an toàn thực phẩm Tôi luôn tuân thủ đúng hệ thống tổ chức chế biến một chiều và quy trình chế biến món ăn một chiều, đảm bảo mọi khâu từ tiếp nhận, sơ chế, chế biến đến phân phát đều được thực hiện một cách khoa học và an toàn
Tôi thực hiện tốt công tác giao nhận thực phẩm:
toàn thực phẩm, tôi cùng đồng nghiệp luôn quan tâm và chú trọng với sự giám sát chặt chẽ của nhà trường, lựa chọn thực phẩm an toàn để chế biến cho trẻ Tôi luôn tuân thủ nghiêm túc quy trình kiểm thực ba bước nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm Khi nhận thực phẩm, tôi ghi chép đầy đủ vào sổ kiểm thực, bao gồm ngày, tháng, năm giao nhận, thời gian nhập, tên thực phẩm, khối lượng, đơn giá, tên và thông tin liên hệ của cơ sở cung cấp, người giao hàng, cùng các chứng từ như hóa đơn, giấy đăng ký vệ sinh thú y, giấy kiểm dịch Tôi kiểm tra cảm quan thực phẩm như màu sắc, độ tươi, tình trạng bao bì, điều kiện bảo quản, đồng thời ký xác nhận với bên giao nhận để đảm bảo minh bạch và trách nhiệm trong quá trình tiếp nhận thực phẩm Khi nhận thực phẩm, tôi kiểm tra kỹ lưỡng, chỉ nhận thực phẩm tươi sống, đảm bảo chất lượng Nếu phát hiện dấu hiệu hư hỏng, ôi thiu, tôi lập tức báo cáo Ban Giám hiệu và tuyệt đối không sử dụng Đồng thời, tôi luôn lưu ý không nhận thực phẩm không rõ nguồn gốc, không có thông tin về hạn sử dụng hoặc đã quá hạn
(Hình ảnh 3: Công tác giao nhận thực phẩm tại bếp ăn của nhà trường)
Tôi luôn thực hiện tốt các yêu cầu trong sơ chế, chế biến, lưu mẫu và chia ăn cho trẻ:
Chế biến thực phẩm phải đảm bảo chất lượng ngon, hấp dẫn phù hợp với
trẻ, đảm bảo an toàn Muốn có được món ăn ngon và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì nhân viên nấu ăn phải nghiêm túc từ khâu sơ chế đến khâu chia thức ăn cho trẻ Khi nấu ăn cho trẻ, tôi luôn thực hiện đúng các yêu cầu trong sơ chế, chế biến, lưu
mẫu và chia ăn cho trẻ như:
Tôi rửa tay bằng xà phòng với nước ấm trong ít nhất 20 giây trước và sau khi sơ chế, mặc bảo hộ lao động đúng quy định như, đội mũ, đeo khẩu trang, tạp dề đúng quy định, cắt ngắn móng tay, không đeo đồ trang sức…khi sơ chế, chế biến thức ăn
Các loại thực phẩm tôi rửa dưới vòi nước sạch kể cả quả chín, sau đó mới được cắt thái đựng vào rổ, rá trước khi chế biến Sơ chế rau quả, tôi rửa từng lần, từng quả, từng củ Nhất là với rau có nhiều lá tôi rửa kỹ dưới vòi nước hoặc rửa ba lần trở lên sau đó ngâm với nước muối loãng khoảng 15 đến 20 phút tuỳ theo từng loại rồi rửa lại một lần nữa Tôi luôn lưu ý tránh để rau dập nát khi rửa Thực phẩm động vật chứa nhiều chất đạm là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn sống và phát triển làm cho nguyên liệu dễ bị ôi, hỏng Vì vậy khi sơ chế tôi tiến hành nhanh tay, dụng cụ sơ chế phải sạch sẽ, khi sơ chế xong phải cho vào chế biến ngay nếu chưa kịp chế biến thì phải bảo quản lạnh hoặc phải phối hợp với gia vị để bảo quản an toàn
Khi chế biến, ngoài việc chế biến đúng thực đơn, đúng kỹ thuật thì còn phải đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Các món ăn tôi đều phải nấu chín kỹ để tiêu diệt được hầu hết các vi sinh vật nguy hại đảm bảo an toàn cho cơ thể trẻ Các món ăn, nước uống của trẻ đều được nấu sôi, chín hoàn toàn, không tái hồng nhất là các thực
Trang 16phẩm có nguồn gốc động vật Tôi hạn chế mở vung khi nấu, thức ăn sau khi chế biến xong, tôi đạy vung cẩn thận Nấu xong cần cho trẻ ăn ngay vì thực phẩm nấu chín nguội dần khi để ở nhiệt độ thường, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển Thời gian để càng lâu, nguy cơ nhiễm khuẩn càng cao An toàn nhất, chúng ta nên cho trẻ ăn ngay thức ăn khi vừa được nấu chín
Tôi và các đồng nghiệp trong tổ nuôi luôn thực hiên nghiêm túc quy định về lưu mẫu thức ăn Hàng ngày, phải lưu mẫu thức ăn theo quy định đủ 24 giờ, mẫu thức ăn phải được lấy khi vừa nấu xong và trước khi cho trẻ ăn Hộp đựng mẫu thức ăn luôn được đảm bảo sạch sẽ, có nhãn mác rõ ràng ghi ngày, giờ và tên món ăn, kèm theo chữ
ký của người lưu mẫu và nhân viên y tế
(Hình ảnh 4: Nhân viên nuôi dưỡng nghiêm túc thực hiện sơ chế, chế biến
thực phẩm đúng quy định)
Vệ sinh nhà bếp và dụng cụ nhà bếp:
Hàng ngày, theo sự phân công công việc, tôi và các đồng chí trong tổ nuôi thay
nhau đến sớm mở cửa bếp để đảm bảo ánh sáng và thông thoáng bếp, nền bếp tôi giữ
sạch sẽ, khô ráo, không có nước đọng
Các dụng cụ dùng để thái, đựng thực phẩm sống và chín được phân biệt rõ ràng, không để lẫn và không dùng chung Ví dụ, dao và thớt dùng cho thức ăn sống và thức
ăn chín được đánh dấu, có ký hiệu riêng trên thành thớt và chuôi dao để tránh nhầm lẫn khi sử dụng
Sau mỗi lần sử dụng, cối xay thực phẩm (dùng cho thức ăn sống) được tháo rời, rửa sạch và phơi khô
Tôi làm việc theo đúng dây chuyền phân công công việc, sắp xếp dụng cụ lao động cũng theo thứ tự một chiều:
Người chế biến thô => Chế biến sạch => Người nấu => Người chia thức ăn Tôi luôn ghi nhớ phương châm: “Làm đâu sạch đấy; đứng dậy sạch ngay; môi trường sạch, thực phẩm sạch, đồ dùng sạch ”
Với việc chống côn trùng và các loài gặm nhấm:
Tôi thường xuyên quét dọn, vệ sinh bếp, phòng ăn hằng ngày
Nơi sơ chế, chế biến thực phẩm tôi luôn dọn sạch sẽ ngay sau khi làm xong Rác thải tôi gom hàng ngày, để xa nơi nấu và chia thức ăn
Tôi luôn che đậy thức ăn khỏi ruồi nhặng, gián truyền vi khuẩn
Tôi luôn chú ý đến các biện pháp diệt côn trùng an toàn, nhằm tránh ngộ độc cho trẻ
Kết quả: Bản thân tôi cùng các đồng chí nhân viên trong tổ nuôi ngày càng nêu
cao tinh thần và nghiêm túc thực hiện các quy định đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Trẻ có những bữa ăn ngon, đảm bảo an toàn, không để xảy ra tình trạng ngộ độc thực phẩm tại nhà trường, chất lượng bữa ăn của trẻ ngày càng được nâng cao
2.2.3 Giải pháp 3: Tham mưu với ban giám hiệu và kế toán đổi mới xây dựng thực đơn, đảm bảo chất lượng bữa ăn cho trẻ
Mục đích: Đổi mới xây dựng thực đơn mang đến sự hấp dẫn từ đó kích thích trẻ
ăn ngon miệng, ăn hết suất Bữa ăn đảm bảo tỷ lệ các chất dinh dưỡng cân đối giúp các
Trang 17con phát triển toàn diện là mục tiêu hướng tới để nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ tại trường mầm non nơi tôi công tác
Cách thực hiện: Nhận thức được tầm quan trọng của đổi mới thực đơn, cùng với
tinh thần trách nhiệm cao của bản thân mình, ngay từ đầu năm học tôi thường xuyên theo dõi giờ ăn của trẻ trên lớp để kịp thời tham mưu điều chỉnh thực đơn, chế biến thức ăn cho trẻ được ngon hơn và dảm bảo dinh dưỡng Tôi phối hợp với đồng chí kế toán và tổ nuôi cùng xây dựng thực đơn tuần chẵn, tuần lẻ hợp lý, thay đổi phù hợp theo mùa, phù hợp với trẻ nhà trẻ và mẫu giáo, đảm bảo đúng theo mức tiền ăn của trẻ Thực đơn chúng tôi xây dựng lên có sự thay đổi từ từ để trẻ dần thích nghi với món ăn và thực phẩm mới
Muốn lên thực đơn thật chuẩn xác, đảm bảo cân đối, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng, bản thân tôi đã phải nghiên cứu thật kỹ Quyết định số 777/QĐ-BGDĐT ngày 14/3/2017(điều chỉnh lại điểm d khoản 2 điều 1 Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT) với nội dung: Quy định về tỷ lệ các chất trong khẩu phần ăn của trẻ ở trường mầm non
Năng lượng
ở trường
600 - 651 Kcal = 60-70% năng lượng cả ngày (930-1000 Kcal)
- Bữa chính trưa: 30-35%/năng
lượng cả ngày
- Bữa phụ: 5-10%/năng lượng
cả ngày
- Bữa chính chiều: 30%/năng lượng cả ngày
25-615 - 726 Kcal 50-55% năng lượng cả ngày (1230-1320 Kcal)
- Bữa chính trưa: 30-35%/năng
béo)
30 – 40% (Năng lượng khẩu
phần) (70% động vật, 30% thực vật)
25 – 35% (Năng lượng khẩu
phần) (70% động vật, 30% thực vật) Gluxit (tinh
Khi xây dựng thực đơn cho trẻ, tôi luôn thực hiện theo nguyên tắc:
Đảm bảo cho khẩu phần đáp ứng đủ về nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết
Trang 18Đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa các chất sinh năng lượng Cân đối tỷ lệ đạm động vật và thực vật, mỡ động vật và dầu thực vật, cân đối các loại vitamin và chất khoáng
Xây dựng thực đơn theo mùa, phù hợp với sở thích của trẻ Ví dụ vào mùa hè, cần ưu tiên các món nhiều nước, thanh mát, tăng cường các loại hoa quả…; vào mùa đông, có thể bổ sung các món chiên xào hoặc hầm nhừ Các loại thực phẩm tiêu biểu của mùa nào nên ưu tiên sử dụng của mùa đó, không nên sử dụng thực phẩm trái mùa Thức ăn nên được cắt nhỏ để trẻ dễ nhai, dễ tiêu hóa
Lựa chọn thực phẩm an toàn trước khi chế biến là yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng bữa ăn Các loại thịt, cá phải tươi sống, không có dấu hiệu ôi thiu, biến chất Rau củ quả cần được chọn kỹ, đảm bảo độ tươi ngon, không bị dập nát Việc kiểm tra kỹ lưỡng nguồn gốc và chất lượng thực phẩm trước khi chế biến sẽ giúp bữa ăn đảm bảo dinh dưỡng và an toàn cho sức khỏe của trẻ
Trong những năm học trước, nhà trường cũng rất chú trọng tới chất lượng bữa
ăn của trẻ, tuy nhiên thực đơn của trẻ vẫn còn nhiều món ăn truyền thống, chưa có nhiều cải tiến, việc kết hợp các loại thực phẩm trong món ăn còn đơn điệu chưa thật sự
đa dạng, thực đơn của các tuần chẵn và các tuần lẻ còn có sự giống nhau, thường áp dụng trong nhiều tháng khiến trẻ cảm thấy nhàm chán, không có sự hứng thú cao trong bữa ăn Màu sắc một số món ăn chưa hấp dẫn nên chưa gây hứng thú cho trẻ Một số thực đơn chưa kết hợp thực phẩm có giá thành cao với thực phẩm có giá thành thấp đảm bảo tài chính mà vẫn cân đối các chất
Nhận thức được thực trạng của vấn đề, tôi đã nghiên cứu tìm hiểu cách xây dựng thực đơn, tôi tham mưu với ban giám hiệu đề xuất mỗi một đồng chí trong tổ nuôi tự xây dựng lên một thực đơn hoàn chỉnh cho các tuần chẵn và tuần lẻ Nhờ đó, mỗi thành viên trong tổ đã đóng góp được một thực đơn với các món ăn đa dạng Sau
đó chúng tôi sẽ tập hợp lại, phối hợp với đồng chí kế toán và phụ trách nuôi dưỡng cân đối thử trên phần mềm nuôi dưỡng để kết hợp các món ăn giữa các bữa, giữa bữa chính và bữa phụ sao cho thực đơn mỗi ngày của trẻ đều phải đạt về lượng, cân đối về chất, phù hợp với mức ăn của trẻ và áp dụng được tại trường
(Hình ảnh 5, 6: Thực đơn mùa đông, mùa hè năm học 2024 – 2025)
Ngoài ra trong quá trình lên thực đơn, tôi đặc biệt chú ý cân đối tỷ lệ năng lượng phân bổ giữa bữa ăn chính trưa và bữa ăn phụ chiều của mẫu giáo; cũng như bữa chính trưa, bữa phụ chiều và bữa chính chiều của nhà trẻ phải đạt chuẩn theo tỷ lệ khuyến nghị Món ăn bữa phụ chiều của mẫu giáo và bữa chính chiều của nhà trẻ
không được trùng nhau
Ở những năm học trước, thực đơn hàng ngày của trẻ chỉ bổ sung một đến hai món rau xào mỗi tuần, thì trong thực đơn năm học 2024 -2025, tôi đã xây dựng sao cho mỗi ngày trong tuần đều có món rau xào cho trẻ Điều này giúp trẻ làm quen và thích nghi với các món rau mới, thay đổi thường xuyên để trẻ không bị nhàm chán, đồng thời giúp trẻ được ăn uống đa dạng các loại thực phẩm Ngoài ra, tôi mạnh dạn thay đổi các món ăn mặn, cũng như món ăn cho bữa phụ chiều và chính chiều của trẻ Trước kia nếu như trẻ chỉ được ăn các món ăn om, hầm như thịt gà nấu cà ri, hầm củ quả thì nay tôi thay đổi thành món xíu mại gà Hay món thịt bò hầm khoai tây cà rốt
Trang 19tôi thay đổi thành thịt bò lúc lắc với sự kết hợp đa dạng các loại thực phẩm hơn Tôi có thể thay thế từ hai tuần trẻ đều ăn thịt gà thành một tuần trẻ ăn món thịt gà còn một tuần khác tôi thay bằng thịt ngan Tôi thay trứng thịt đảo bông thành trứng thịt hấp củ quả, trẻ rất dễ ăn và thích ăn, không bị ngán khi ăn Với các món rau xào, tôi luôn có
sự thay đổi thường xuyên theo mùa như món: Bí xanh xào ngô bao tử, rau diếp sốt nấm; rau giá, cà rốt xào; bầu cà rốt xào hành thơm, rau cải sốt nấm kim châm, su su xào tỏi; su hào, cà rốt xào hành thơm, đặc biệt với món khoai môn đảo muối vừng - món ăn mà trẻ nào cũng rất yêu thích Bữa chiều tôi thay đổi cho trẻ các món ăn khác nhau, thay thế cháo, mì bằng các loại bánh như bánh giò, bánh tẻ, bánh bao bí đỏ nhân thập cẩm, bánh bí đỏ kết hợp với uống sữa, nước ép, hoặc ăn cùng các loại hoa quả
Nếu như năm học trước, thực đơn chưa cân đối tỷ lệ Lipid động vật và thực vật thì trong thực đơn tôi xây dựng cho năm học này tôi đặc biệt chú ý tới tỷ lệ này cụ thể là Lipid động vật chiếm 70%, Lipid thực vật chiếm 30% Sau mỗi lần lên được thực đơn, tôi lại xin ý kiến từ đồng chí hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng Áp dụng thực đơn đã lên tính khẩu phần ăn hàng ngày cho trẻ Qua các bữa ăn tại trường tôi ghi chép, dõi những phản ứng từ trẻ về thực đơn tôi đưa ra Xem trẻ có thích ăn những món ăn mới như trong thực đơn hay không, trẻ có tăng cân và phát triển cân đối hơn hay không Từ sự thay đổi trên, tôi thấy thực đơn tôi xây dựng lên đa dạng các món ăn, kết hợp đa dạng các loại thực phẩm (trên mười loại), thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất, trẻ rất hào hứng với các món ăn, không bị nhàm chán khi ăn, trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất, thích ăn ở trường và đặc biệt phát triển cân đối, hài hoà
(Hình ảnh 7, 8, 9, 10: Một số thực đơn đạt về lượng, cân đối về chất đã được áp
dụng tại trường)
Ngay từ đầu năm học, khi cuộc thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường, cấp huyện diễn ra Sau khi áp dụng thực đơn vào thực tế, trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất, hào hứng với những món ăn mới Được sự đồng ý và xét duyệt của ban giám hiệu tôi
đã đem thực đơn của một tuần mà mình xây dựng và cân đối đến hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp huyện và được hội đồng chấm thi đánh giá cao về thực đơn của tôi Tôi đã đạt giải nhì hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp huyện trong cách xây dựng thực đơn cũng như chế biến món ăn cho trẻ trong hội thi
(Hình ảnh 11: Bản thân tham dự hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường, cấp
huyện năm học 2024 – 2025)
Kết quả: Tôi đã biết phối hợp các loại thực phẩm để xây dựng thực đơn cho trẻ
phong phú, ít bị trùng lặp món ăn, đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, thường xuyên thay đổi, sáng tạo các món mới phù hợp với chế độ dinh dưỡng và sở thích của các bé nhờ đó các bé ăn ngon miệng hơn và ăn hết suất Chất lượng bữa ăn được cải thiện rõ rệt, từ đó chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại nhà trường đạt kết quả tốt hơn
2.2.4 Giải pháp 4: Cải tiến, sáng tạo trong kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ
Mục đích: Chế biến món ăn là khâu quyết định đến chất lượng của từng bữa ăn
Chính vì vậy với thực đơn mà các cô nuôi chúng tôi xây dựng lên, tôi luôn nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với nhau để cùng tìm ra cách chế biến những món ăn ngon và
Trang 20hấp dẫn nhất, nhằm tạo cho trẻ tâm lý thoải mái và hứng thú trong giờ ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất
Cách thực hiện: Tâm lý chung của trẻ đa số là thích đẹp, nhiều màu sắc, thích
được khen Vì vậy trước khi chế biến tôi và các đồng chí trong tổ nuôi luôn chú trọng từng khâu từ sơ chế, chế biến đến trình bày món ăn
Cải tiến khâu sơ chế: Khi sơ chế thực phẩm, tôi đã cải tiến cách cắt, tỉa củ quả như su hào, cà rốt, khoai tây, bí đỏ thành những hình dạng xinh xắn, như bông hoa, hình vuông hay tròn ngộ nghĩnh Nhờ đó, trong bữa ăn, trẻ sẽ được thưởng thức những
“tác phẩm” đa dạng về hình dáng và màu sắc, kích thích hứng thú
Giảm độ tanh và nâng cao hương vị: Với món canh rau cải nấu tôm, tôi thường làm giảm độ tanh của tôm bằng cách dùng khăn sạch thấm khô tôm sau khi bóc vỏ rồi mới đem xay và thêm một chút nước cốt gừng khi chế biến Làm theo cách như vậy canh sẽ không tanh mà rất thơm ngon
Sáng tạo trong chế biến các món ăn từ cá, thịt: Thông thường, các món ăn từ cá, thịt gà, thịt lợn được xào hay hầm nấu Tôi thay đổi phương pháp bằng cách xay nhỏ mịn các nguyên liệu kết hợp cùng hành tây, cà rốt, nấm hương, sau đó tẩm ướp gia vị rồi đem viên thành những viên nhỏ nấu cùng nước sốt cà chua với các màu sắc hấp dẫn kết hợp với những viên thức ăn tròn trịa Phương pháp này tạo ra những món ăn kích thích thị giác và vị giác của trẻ
Đổi mới cách chế biến bánh và đồ uống: Với món bánh bao, tôi đã nhận thấy rằng việc biến tấu hình dáng của bánh bao thành các hình ảnh động vật ngộ nghĩnh hoặc những bông hoa xinh xắn, thành quả cam hay quả bí ngô sẽ làm trẻ thêm hứng thú Bên cạnh đó, tôi mạnh dạn sử dụng các màu tự nhiên từ lá, củ quả (như màu tím của lá cẩm, màu xanh của lá dứa, màu vàng của hạt dành…) để tạo màu cho bột bánh cũng là một sáng kiến thú
vị Hay việc thêm vào bí đỏ trộn lẫn bột làm vỏ bánh bao, để trẻ được thưởng thức những chiếc bánh bao thơm ngon, đa dạng sắc màu mà vẫn giữ được hương vị thơm ngon đặc trưng Đối với món hoa quả tráng miệng, tôi thường cắt thành các hình ngôi sao, bông hoa, hình vuông, hình tròn Ngoài ra, thay vì cho trẻ ăn hoa quả, tôi đã tham mưu với Ban Giám hiệu để ép lấy nước (ví dụ: nước ép cam, nước ép dưa hấu) dùng kèm với các loại bánh trong bữa phụ chiều, giúp trẻ dễ tiêu hóa và thích thú hơn, đặc biệt vào mùa hè nóng bức
Kỹ thuật chế biến đảm bảo dinh dưỡng: Tôi luôn đảm bảo các món ăn được nấu mềm, cháo được nấu nhừ để trẻ dễ ăn, dễ tiêu hoá Tôi tẩm ướp gia vị cho các các loại thịt
từ 10 đến 15 phút trước khi đem xào nấu Tôi thường sử dụng hành khô phi lên để tạo mùi thơm, giảm độ tanh của một số loại thực phẩm Trong quá trình chế biến tôi cố gắng đạy vung để giữ lại vitamin và hạn chế bay hơi Đặc biệt tôi luôn chú ý giảm lượng muối bởi ở lứa tuổi này, trẻ cần phải ăn nhạt hơn so với người lớn, hệ tiêu hoá của trẻ còn non nớt, vị giác của trẻ rất nhạy, nếu cho trẻ ăn thêm muối từ sớm thì khi lớn lên trẻ có nguy cơ ăn mặn hơn bình thường, ăn mặn là một trong các nguyên nhân chính làm tăng huyết áp, suy thận Ăn nhiều muối cơ thể trẻ kém hấp thu kẽm, bé sẽ biếng ăn, khó ngủ, chậm lớn Khi nấu, tôi đậy vung, không quấy đảo nhiều thức ăn sẽ mau chín và giữ được các chất dinh dưỡng có trong thức ăn Tôi luôn đảm bảo thức ăn của trẻ phải được nấu chín, không cho trẻ ăn thức ăn tái hoặc sống, dễ gây tiêu chảy, nhiễm trùng đường tiêu hoá Để chế biến
Trang 21món ăn ngon hấp dẫn đối với trẻ thì nhân viên bếp phải nhanh nhẹn, có kỹ thuật, thao tác chính xác, có sáng kiến chế biến thực phẩm nhanh để đảm bảo thời gian cho trẻ ăn đúng giờ quy định Đặc biệt trong quá trình chế biến thức ăn cho trẻ, tôi luôn đặt vấn đề vệ sinh
an toàn thực phẩm lên hàng đầu Trước khi chế biến tôi luôn vệ sinh sạch sẽ khu vực chế biến, rửa tay bằng xà phòng trước khi chế biến, mang bảo hộ, và tuân thủ các biện pháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đúng quy định
Sáng tạo cách chế biến, trình bày món ăn mới: Tôi cải tiến chế biến món ăn bằng cách thay đổi, đổi mới về cách trình bày, cách chế biến và nấu những món ăn mới cho trẻ Tôi tìm hiểu cách chế biến những món ăn mới mà trẻ chưa được ăn bao giờ như món xíu mại gà, món trứng thịt hấp củ quả, món khoai môn đảo muối vừng, cháo ngan khìa nước dừa, bánh bao bí đỏ nhân thập cẩm, bánh giò…Dưới sự chỉ đạo của ban giám hiệu, tôi cùng các đồng chí trong tổ nuôi đã cải tiến cách chế biến một số món ăn mới như sau:
*Xíu mại gà: Xíu mại gà là sự kết hợp hương vị giữa gà, hành tây, cà rốt, nấm hương, chút lá chanh Các nguyên liệu trên được sơ chế sạch, để riêng từng loại Thịt
gà thái miếng nhỏ sau đó dần cho mềm Bánh mì đem ngâm nước 10 phút sau đó vắt sạch nước Trộn hỗn hợp thịt gà, bánh mì, hành tây, cà rốt, nấm hương, lá chanh, bột nghệ đem say nhỏ; Để món ăn vừa vị chúng tôi ướp thêm chút hạt nêm, xì dầu, dầu hào, nước mắm trộn đều và đem viên thành những viên nhỏ sau đó đem chiên tới vàng
Cà chua đem rửa sạch, thái hạt lựu Phi thơm hành khô, cho cà chua vào đảo, cho thêm một ít nước, một chút gia vị như dầu hào, hạt nêm, ngũ vị hương để tạo mùi thơm và
độ sánh Cho thịt gà đã chiên vào nước sốt cà chua đun 3-5 phút, cho thêm hành thơm
là món ăn hoàn thiên Sự kết hợp hài hòa giữa thịt gà, nấm hương, hành tây, cà rốt, bột nghệ tạo nên món ăn đảm bảo dưỡng chất cho trẻ, trẻ ăn ngon miệng Khi thành phẩm Xíu mại gà có màu sắc bắt mắt, thịt gà mềm, ngọt và nước sốt có độ sánh
*Khoai môn đảo muối vừng: Khoai môn đảo muối vừng là món ăn chúng tôi mới áp dụng tại trường Đây là món ăn có sự kết hợp nhiều loại thực phẩm chứa các vi chất dinh dưỡng và chất béo thực vật như lạc, vừng tốt cho mắt, não bộ, tim mạch, phát triển xương và răng Thành phẩm khoai môn đảo muối vừng: Thơm, bùi, béo ngậy của khoai và muối lạc vừng, có vị ngọt của nước sốt
*Canh rau cải nấu tôm: Món canh rau cải nấu tôm là món ăn phù hợp khẩu vị của trẻ, đảm bảo dinh dưỡng, chứa nhiều Canxi, độ ngọt thanh mát của rau kết hợp với tôm tạo nên món canh ngon ngọt kich thích vị giác cho trẻ Để tôm không bị tanh khi nấu canh chúng chú ý đến khâu sơ chế trước khi đem xay: Tôm rửa sạch, bóc vỏ, tôi dung khăn sạch thấm khô Khi nấu canh chúng tôi cho ít nước cốt gừng cho trẻ ấm bungj khi ăn và làm giảm độ tanh của tôm Canh rau cải nấu tôm chứa nhiều protein, canxi, vitamin, omega3 và khoáng chất tốt cho việc chuyển hóa năng lượng, xương khớp khỏe mạnh, tăng cường trí nhớ Thành phẩm: Canh rau cải có vị ngọt thanh giữ được màu xanh của rau, không có mùi tanh, riêu tôm nổi lên
*Bánh bao nhân thập cẩm: Bánh bao nhân thập cẩm sự kết hợp của bột mì, mọc nhĩ, miến dong, thịt, trứng cút Bánh bao mềm, lạ miệng trẻ hào hứng khi ăn Đặc biệt
để món ăn hấp dẫn với trẻ chúng tôi sử dụng màu sắc tự nhiên tạo màu cho bột, khi nặn