1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập lớn những nội dung cơ bản của môn hà nội học và vị thế Địa lí hà nội

60 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Nội Dung Cơ Bản Của Môn Hà Nội Học Và Vị Thế Địa Lí Hà Nội
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Thu Hương
Trường học Trường Đại Học Thủ Đô Hà Nội
Chuyên ngành Hà Nội Học
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 4,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MÔN HÀ NỘI HỌC 1. Hà Nội – Không gian hội tụ và lan tỏa (7)
    • 2. Nghiên cứu Hà Nội và Hà Nội học (9)
    • 3. Đối tượng của Hà Nội học (11)
    • 4. Phương pháp tiếp cận (12)
    • 5. Cơ sở dữ liệu (13)
    • 6. Về nội dung nghiên cứu, đào tạo (15)
  • II. VỊ THẾ ĐỊA LÍ HÀ NỘI 1. Vị trí địa lí (0)
    • 2. Dân cư (20)
    • 3. Diện tích (21)
    • 4. Các đơn vị hành chính (23)
    • 5. Sự thay đổi địa lí hành chính của Hà Nội trong lịch sử (24)
  • KẾT LUẬN (29)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (30)
  • PHỤ LỤC (31)

Nội dung

“Hà nội học” là môn học sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến những tri thức về mọimặt và nhận thức tổng hợp về con người và mối quan hệ giữa con người vớithiên nhiên trên địa bàn hàng nghìn năm

NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA MÔN HÀ NỘI HỌC 1 Hà Nội – Không gian hội tụ và lan tỏa

Nghiên cứu Hà Nội và Hà Nội học

Hà Nội đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành chuyên môn từ lâu, nhưng những công trình được xếp loại theo tiêu chí học thuật có lẽ chỉ bắt đầu từ thế kỉ XIX với hệ thống sách địa lí tổng hợp từ cấp tỉnh, phủ cho đến huyện, xã Truyền thống này được nâng dần lên và được gia cố bằng các phương pháp khoa học hiện đại của phương Tây trong thời kì Pháp thuộc, nhưng những tác phẩm để lại cho ngày naycungx hết sức nhỏ nhoi. Chương trình điều tra sưu tầm văn hiến Thăng Long – Hà Nội giai đoạn 1 hoàn thành vào năm 2010 cho biết tính đến năm 2008 đã có 9130 cuốn sách, bài báo và các kết quả nghiên cứu về Hà Nội được công bố gồm 5 lĩnh vực chủ yếu là Lịch sử, Văn hóa, Kinh tế - xã hội, Nhân vật (con người) và Địa lí Còn nếu chia ra theo 3 giai đoạn gắn với lịch sử phát triển của Hà Nội thì giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 chỉ có 284 công trình, giai đoạn từ sau tháng 8 năm 1945 đến tháng 5 năm 1975 cũng chỉ có 370 công trình, nhưng giai đoạn từ sau tháng 5 năm 1975 cho đến tháng 8 năm 2008 có đến 8.476 công trình Đến giai đoạn hơn 30 năm sau ngày đất nước thống nhất, Hà Nội trwor thành Thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, số lượng các công trình nghiên cứu về Hà Nội đã gấp hơn 13 lần tất cả các giai đoạn trước cộng lại Đó là chưa nói đến các công trình chuyên khảo các giá trị chuyên môn cao cũng chủ yếu được hoàn thành trong những thập kỉ cuối thế kỉ XX và thập kỉ đầu thế kỉ XXI Điều này cho phép hình dung trong thực tế Hà Nội học chuyên ngành (hay Hà Nội học truyền thống) đã hình thành trong giai đoạn 1975 – 2008, lấy Văn hóa và Lịch sử làm hai trụ cột học thuật chủ yếu

Tuy nhiên có thể thấy rằng không phải cho đến bây giờ mới có người nghiên cứu về Thăng Long – Hà Nội Ngày trước các cụ ta đã từng làm, từng ghi chép về vùng đất này Trong kho sách Hán Nôm có tới vài chục tác phẩm trực diện về Thăng Long – Hà Nội và gấp vài ba lần thư thế là những tác phẩm có đề cập ở một góc độ nào đó về Thăng Long – Hà Nội Từ thế kỷ

XV, Hà Nội với tên gọi Thượng Kinh đã được ghi nhận trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, rồi “Bắc Thành dư địa chí” của một nhóm Nho sỹ thời Gia Long biên soạn theo sáng kiến của Tổng trấn Lê Chất; “Phương Đình địa chí loại”; “Hoàng Việt dư địa chí” của Phan Huy Chú; “Hà Nội dư địa chí” của Dương Bá Cung; “Hà Nội sơn xuyên phong tục” (khuyết danh)… là những cuốn khảo sát trọn vẹn hoặc từng phần về Thăng Long – Hà Nội Bên cạnh đó Thăng Long – Hà Nội còn được nhắc nhiều trong các tập sách chuyên khảo về các di tích ở kinh đô, rồi trong mảng thần phả các thành hoàng, các tập hương ước, địa bạ của các làng xã vừa là văn học dan gian, vừa là tư liệu dân tộc Ngoài ra cũng còn những tác phẩm truyện, ký, thơ, phú… tuy là văn học hư cấu, tưởng tượng nhưng cũng chứa nhiều thông tin về đất nước con người Thăng Long – Hà Nội.

Với nguồn sách chữ Pháp Người phương Tây đặt chân tới Thăng Long –

Hà Nội từ thế kỷ XVII và họ đã viết nhiều sách về miền Bắc và Hà Nội Có thể kể đến như: “Quan hệ vương quốc Đông Kinh” (1626) của P.Baldinotti;

“Miêu tả quốc vương Đông Kinh” (1680) của S.Baro; “Báo cáo về Hải Phòng và Hà Nội” (1786) của B Robertson và “Lịch sử tự nhiên, văn minh và chính trị Đông Kinh” (1786) của A.Richard… Càng về sau này số người Pháp nghiên cứu về Hà Nội ngày càng đông lên, có thể kể đến một số tên tuổi như: G Dumoutier, M Durand, Cl.Bourrin…

Còn đối với các tác giả Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ về Thăng Long – Hà Nội trong thế kỷ XX khá đông đảo, với những tên tuổi như: Nguyễn Văn Tố, Doãn Kế Thiện, Trần Huy Bá, Nguyễn Quang Lục, Hoàng Đạo Thuý…

Từ những năm 70 của thế kỷ trước đến nay liên tiếp ra đời một số sách nghiên cứu về những mặt khác nhau của đời sống Thăng Long – Hà Nội trong quá khứ và hiện tại cho nên đã hình thành một dòng chuyên nghiên cứu khảo sát về Hà Nội, và cũng từ đó nói theo những thuật ngữ đã phổ biến về địa phương học như Trung Quốc học, Thái học, Việt Nam học… mà ra đời thuật ngữ Hà Nội học Thuật ngữ này được sử dụng chính thức lần đầu tiên trong tập sách “Hà Nội - Thủ đô nước CHXHCN Việt nam” do Nhà xuất bản Sự Thật ấn hành năm 1984.

Việc nghiên cứu về Hà Nội phải đặt Hà Nội trong mối tương quan với cả nước, kể cả về tự nhiên và xã hội Tất nhiên, Hà Nội học không phải là là sự cộng lại những nghiên cứu về địa - tự nhiên, địa – kinh tế, địa – nhân văn hay địa - lịch sử mà phải là sự tổng hợp các vấn đề thuộc về mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần làm chủ thể Có nghĩa là ngành Hà Nội học nghiên cứu chủ yếu về lịch sử và văn hoá Thủ đô nhưng cũng thông qua các dữ liệu về điều kiện tự nhiên, chính trị, hành chính, các hoạt động kinh tế, xã hội… Vậy Hà Nội học là gì? Hà Nội học chính là môn học sưu tầm, tìm hiểu, nghiên cứu và phổ biến những tri thức mọi mặt và nhận thức tổng hợp về con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên địa bàn hàng nghìn năm liên tục là trung tâm chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa hàng đầu của Việt Nam, phục vụ cho các chiến lược phát triển bền vững Thủ đô và đất nước.

Đối tượng của Hà Nội học

Hà Nội học hiện đại theo như định nghĩa được nêu trên, là bộ môn nghiên cứu các lĩnh vực hoạt động của con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên nhằm đạt tới nhận thức tổng hợp về không gian lịch sử - văn hóa và con người Hà Nội

Hoạt động của con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên không bị cắt khúc thời gian; có những hằng số trong suốt quá trình phát triển nhưng cũng có những biến số của mỗi giai doạn chuyển đổi Điều đó được phân ra theo các không gian cụ thể và quan trọng hơn cả là tạo nên các giá trị đặc trưng của tất cả không gian Hà Nội và nhất là khu vực Hà Nội cổ truyền.

Hà Nội cổ truyền là một đô thị “trong sông”, khép mình sau đê sông Hồng và căng sức hoạt động trên hai nhánh sông Kim Ngưu, Tô Lịch, đúng như dân gian từng mô tả: “Hồng Hà tây vắt qua đông/ Kim Ngưu Tô Lịch là sông bên này” Hà Nội vòng thứ hai bao gồm cả đô thị cổ truyền ở trung tâm và vùng nông thôn ven đô, có nghĩa là cả vùng thành thị và nông thôn nằm giữa sông Hồng và sông Đáy tính từ khu vực trung tâm và ngược lên phíaBắc Còn Hà Nội vòng thứ ba được tính từ quy mô thành phố được mở rộng ra cả 4 hướng Đông Tây Nam Bắc ( từ năm 1961), đặc biệt là sự mở rộng sang phía bên kia sông Hồng cũng là phá vỡ đi cái quy hoạch bất biến của một thành phố “trong sông” Phạm vi đó được mở rộng từ năm 2008, gồm những đô thị lõi, đô thị thuần thục và cả những vùng nông thôn tuy là xa trung tâm nhưng được cuốn rất mạnh, rất nhanh vào vòng xoáy của quá trình đô thị hóa của thành phố - đô thị trực thuộc trung ương đứng đầu đất nước và đúng thứ 17 trên thế giới về diện tích và dân số.

Như vậy, đối tượng của Hà Nội học là tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trên toàn bộ địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, trong đó chủ yếu dựa theo lịch sử phát triển đô thị mà phân ra thành địa bàn đô thị Thăng Long – Hà Nội cổ truyền, địa bàn Hà Nội thuần thục và địa bàn đô thị Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa.

Phương pháp tiếp cận

Hà Nội học hiện đại đòi hỏi dứt khoát phải triển khai nghiên cứu tổng hợp, liên ngành, gắn với Khu vực học, nhưng vẫn triệt để khai thác lợi thế và sử dụng hiệu quả phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành Ở đây vấn đề được đặt ra là các phương pháp Liên ngành và Khu vực học và Khoa học phát triển chỉ có thể phát huy được lợi thế nếu như biết triệt để khai thác tính cụ thể, chi tiết,khách quan và xác thực của đối tượng nghiên cứu chuyên ngành và khắc phục một cách hiệu quả những vách ngăn, rào chắn hạn chế tầm nhìn, cách nghĩ khi đang chìm sâu dưới “đáy giếng” hay len lỏi tong các

“ngõ ngách” hạn hẹp của chuyên môn Trong nghiên cứu Hà Nội học, trước sau và bao giờ cũng rất cần “có tầm nhìn hệ thống và phương pháp biện chứng”.

Các phương pháp cụ thể, tùy theo mỗi đề tài, có thể như sau:

- Phương pháp tiếp cận Khu vực học

- Phương pháp tiếp cận Lịch sử

- Phương pháp tiếp cận Không gian di sản văn hóa

- Phương pháp tiếp cận Mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển

- Phương pháp tiếp cận Thông tin khu vực học

- Phương pháp Điều tra điền dã

- Phương pháp tổ chức các hội thảo khoa học liên ngành

Từ quan niệm Hà nội học là khoa học thuộc lĩnh vực Khu vực học nên phương pháp tiếp cận chủ yếu phải là phương pháp chuyên ngành trong quan hệ tương đỗ đa ngành, liên ngành Các khoa học được vận dụng nghiên cứu Hà Nội là Địa lí, Địa chất, Khí hậu, Thủy văn, Chính trị học, Luật học,Kinh tế học, Lịch sử, Văn học, Ngôn ngữ học, Nghệ thuât, Giáo dục học Những khoa học trên có thể thấy chúng vừa cung cấp các phương pháp tiếp cận trong hoạt động nghiên cứu chung, vừa có tư cách chủ thể nghiên cứu riêng biệt Hà Nội học có nhiệm vụ tổng hợp các kết quả nghiên cứu,khái quát thành những nguồn lực tự nhiên, nguồn lực lịch sử, văn hóa truyền thống để phát triển kinh tế, khoa học – công nghệ, giáo dục đào tạo, xây dựng con người, đảm bảo quốc phòng an ninh, mở rộng hoạt động đối ngoại,năng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị.

Cơ sở dữ liệu

“Có bột mới gột nên hồ”, “bột” là chất liệu quyết định “hồ”có thực là

“hồ” hay không Nếu xem Hà Nội học như là “hồ”thì cơ sở dữ liệu chính là hay có vai trò như là “bột” vậy.

Có thể hình dung tư liệu về Hà Nội là vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó quý giá hơn cả và đặc biệt nhất là những tư liệu nguyên gốc phản ánh từ hoạt động của các Vương triều, các Nhà nước, các thể chế chính trị, cho đến đời sống dân sự của người dân Thăng Long – Hà Nội từ thuở định đô Thăng Long cho đến nay Đó là các loại thư tịch cổ (mà một phần đã được tập hợp trong bộ Tư liệu Văn hiến Thăng Long); các tư liệu văn kiện của Nhà nước, bộ Châu bản triều Nguyễn, các công văn, giấy tờ, văn bản hành chính của các triều đại, thể chế chính trị tại Hà Nội Nguồn tư liệu lưu trữ trong các kho lưu trữ trung ương, Hà Nội, trong các tủ sách, các bộ sưu tập ở Hà Nội, ở trong nước và nước ngoài Nguồn tư liệu vật chất, hiện vật đã được sưu tập trong các bảo tàng hay được lưu giữ tại các di tích lịch sử - văn hóa tại Hà Nội, trong các phố phường, thôn xóm và các gia đình, dòng họ… Tư liệu trong dân gian, văn hóa, văn học, nghệ thuật dân gian, tư liệu đặc chủng của các ngành Địa lí, Môi trường sinh thái, Khảo cổ học, Lịch sử, Văn hóa, Kinh tế, Xã hội… về Hà Nội hay có liên quan đến Hà Nội.

Có thể kể ra dưới đây một số bộ tư liệu đã được phân tích, tổng hợp, đánh giá, phân loại và trình bày một cách hệ thống theo các nội dung/ vấn đề thuộc Hà Nội học hay có liên quan đến Hà Nội học

Trong thập kỉ đầu thế kỉ XXI, Hà Nội đã xuất bản bộ Bách khoa thư HàNội (trên địa bàn Hà Nội trước năm 2008) 18 tập với trên 7.000 trang in,gồm Lịch sử (tập I), Địa lí (tập II), Chính trị (tập III), Luật pháp (tập IV),

Kinh tế (tập V), Khoa học và công nghệ (tập VI), Khoa học xã hội và nhân văn (tập VII), Giáo dục (tập VIII), Y tế (tập IX), Văn học (tập X), Tiếng Hà Nội (tập XI), Nghệ thuật (tập XII), Thông tin xuất bản (tập XIII), Di tích – Bảo tàng (tập XIV), Du lịch (tập XV), Tín ngưỡng – Tôn giáo (tập XVI), Phong tục – Lễ hội (tập XVII), Thể dục – Thể thao (tập XVIII) Bước vào thập kỉ thứ hai của thế kỉ XXI, Hà Nội lại triển khai Bách khoa thư Hà Nội phần mở rộng 14 tập đến nay Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã hoàn thành khâu biên tập xuất bản: Địa lí (tập I), Lịch sử - Chính trị - Pháp luật (tập II), Kinh tế (tập III), Khoa học và công nghệ (tập IV), Khoa học xã hội và nhân văn (tập V), Giáo dục (tập VI), Văn học (tập VII), Nghệ thuật (tập VIII), Du lịch (tập IX), Tín ngưỡng – Tôn giáo (tập X), Phong tục – Lễ hội (tập XI), Di tích – Bảo tàng (tập XII), Y tế (tập XIII), Thể dục – Thể thao (tập XVI). Chương trình khoa học cấp Nhà nước KX09 Phát huy tiềm lực tự nhiên, kinh tế, xã hội và và giá trị lịch sử - văn hóa, phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 đã hoàn thành các đề tài nghiên cứu và tổng kết một thiên niên kỉ xây dựng và bảo vệ Thăng Long – Hà Nội Nhà xuất bản Hà Nội năm

2010 đã xuất bản 11 tập sách của Chương trình bao gồm: “Tập thứ nhất giới thiệu tổng quan môi trường địa lí tự nhiên – một không gian vật chất, nơi người Thăng Long – Hà Nội, thế hệ tiếp nối thế hệ, lao động đấu tranh không mệt mỏi để sáng tạo nên một kinh đô – thủ đô ngàn năm Chín tập tiếp theo, tập trung phân tích đánh giá, tổng kết những nét đặc sắc, những giá trị lịch sử - văn hóa nổi bật trên những lĩnh vực hoạt động chủ yếu, chung đúc thành trí tuệ, khí phách của Thăng Long – Hà Nội văn hiến, anh hùng. Tập cuối của bộ sách, tập thứ mười một, chắt lọc, nâng cao kết quả nghiên cứu của các tập trước gắn với phân tích tình hình hiện nay, dự báo chặng đường sắp tới, đề xuất phương hướng phát triển bền vững Thủ đô trong một vài thập niên đầu thế kỉ XXI”

Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến đã xuất bản trên 100 đầu sách thuộc các mảng Địa lí, Lịch sử, Kinh tế, Văn hóa – xã hội, Văn học – nghệ thuật, Tư liệu – tổng hợp

Chương trình điều tra sưu tầm văn hiến Thăng Long giai đoạn I (tính cho đến năm 2010) đã tập hợp được hơn 40.000 trang tư liệu và 6.014 công trình nghiên cứu của 2.962 tác giả, tổ chức dịch, nghiên cứu, hệ thống và giới thiệu trong 3 bộ thư mục đề yếu và 26 tuyển tập tư liệu văn hiến về ThăngLong – Hà Nội… Trên cơ sở những thành quả này, Hà Nội quyết định triển khai giai đoạn II (bắt đầu từ năm 2014) mở rộng điều tra tập hợp tư liệu, xây dựng bộ dữ liệu chung cho toàn bộ khu vực Hà Nội và triển khai biện soạn các bộ sách công cụ, từ điển, xây dựng thư viện điện từ tổng thể về Hà Nội…

Trong quá trình chuẩn bị tiến tới kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin và Thời báo Kinh tế năm 2007 đã xuất bản bộ Tổng hợp nghìn năm văn hiến Thăng Long gồm 4 tập được chia ra thành

28 phần, với trên 8000 trang in cỡ lớn, không chỉ là bộ sách lớn nhất trong toàn bộ lịch sử xuất bản sách Việt Nam mà còn là bộ sách cung cấp một nguồn thông tin tư liệu đặc biệt phong phú và đồ sộ thuộc hầu hết các lĩnh vực giúp cho người quan tâm tiếp cận tư liệu Hà Nội học một cách toàn diện để có thể làm cơ sở triển khai nghiên cứu liên ngành.

Về nội dung nghiên cứu, đào tạo

Hà Nội học hiện đại không chỉ tập trung vào các chương trình nghiên cứu đầy đủ và tổng thể toàn bộ không gian lịch sử - văn hóa Thăng Long – Hà Nội, mà còn đặt ra yêu cầu rất ca cho những nghiên cứu về từng lĩnh vực, từng địa phương cụ thể, với một yêu cầu dứt khoát các đề tài khoa học này phải đặt trong các mối tương quan chung với yêu cầu rất chặt chẽ của phương pháp liên ngành Có thể nêu lên một số nội dung chủ yếu của Hà Nội học trong một vài thập kỉ tới:

Vị thế địa lí và tài nguyên thiên nhiên Hà Nội: Giới thiệu khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái; địa lí hành chính và có đề cập đến ở mức độ nhất định địa lí các ngành kinh tế và sự phân hóa lãnh thổ kinh tế Trên cơ sở đó đưa ra nhận xét và đánh giá tổng quát về nguồn tài nguyên vị thế - một nguồn tài nguyên đặc biệt nổi bật,

“làm cho các tài nguyên vốn có khác của Hà Nội, cả về tự nhiên, kinh tế - xã hội đều có them giá trị gia tăng” – cắt nghĩa vì sao Thăng Long – Hà Nội lại trở thành kinh đô “mãi muôn đời” của đất nước

Dân cư và người Hà Nội: Nói đến người Hà Nội không thể không nói đến quá trình tụ cư, hình thành cộng đồng cư dân với những phẩm chất và tính cách đặc trưng của người Thăng Long – Hà Nội Lâu nay các công trình nghiên cứu thường quan tâm đến nét đẹp thanh lịch, văn minh và coi đó như phẩm chất vốn có của người Hà Nội, mà bỏ qua những hạn chế, những cái cái thiếu, cái yếu khó tránh khỏi của khối cộng đồng cư dân nông nghiệp trồng lúa nước từ bốn phương tụ hội Hà Nội học, xét cho cùng, là môn học nghiên cứu về người Hà Nội trong môi trường tự nhiên, xã hội, trong cuộc sống làm ăn và đánh giặc của cộng đồng dân cư luôn ở vị trí đầu não nắm giữ vận mệnh của đất nước, nên nội dung này cần được đặc biệt quan tâm, trình bày một cách đầy đủ các mặt của vấn đề. Đặc trưng lịch sử Thăng Long – Hà Nội: Lịch sử Thăng Long – Hà Nội có thể được hình dung giống như nhân lõi của toàn bộ lịch sử đất nước Có sự kiện lịch sử trọng đại nào của đất nước hơn nghìn năm qua lại không được quyết định từ đây, khai mở ở đây và tác động mạnh mẽ tới đây Vì thế để tránh trở thành một cuốn lịch sử Việt Nam giản lược, chúng tôi chỉ trình bày những dấu ấn lịch sử tiêu biểu và những giá trị lịch sử đặc trưng nhất chia ra theo 4 thời kì: Tiền Thăng Long (trước thế kỉ XI); Thăng Long (từ thế kỉ XI đến giữa thế kỉ XIX); Hà Nội thời Nguyễn (từ giữa thế kỉ XIX đén năm

1945) và Thủ đô Hà Nội từ 1945 đến nay.

Di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội: Văn hóa Thăng Long – Hà Nội có giá trị hội tụ, kết tinh, lan tỏa rất mạnh Vấn đề giao lưu, giao thoa, tiếp biến và phục hưng các giá trị văn hóa truyền thống Thăng Long – Hà Nội trong thời cận – hiện đại Đặc biệt, các nội dung chính yếu này được kết tinh lại trong các di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể) của Thăng Long – Hà Nội. Trên khắp đất nước Việt Nam không có địa phương nào hội được một khối lượng rất lớn với các di sản văn hóa tiêu biểu đại diện chung của nhân loại, của quốc gia như ở Hà Nội Di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng nhất và nguồn lược hàng đầu cho phát triển bền vững Thủ đô, cần phải được nghiên cứu và khai thác một cách khoa học và hiệu quả Vì thế, trách nhiệm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội càng ngày càng đặt ra cho Hà Nội trách nhiệm nặng nề và khó khăn hơn bất cứ một địa phương nào của Việt Nam Đô thị và đô thị hóa nông thôn Hà Nội: Hà Nội vốn là đô thị trung đại đặc trưng nhất của Việt Nam nên trình bày của chúng tôi bắt đầu từ đô thị ThăngLong – Hà Nội cổ truyền, rồi chuyển sang đô thị Hà Nội thời cận đại và hiện đại Làng xã ở đây cũng mang những nét tiêu biểu của làng xã người Việt châu thổ sông Hồng nên có giá trị đại diện chung của cả nước Đây cũng là vùng nông thôn có quan hệ đối thoại thường xuyên và trực tiếp với đô thị trung tâm, nên quá trình đô thị hóa diễn ra sớm và liên tục hơn nhiều vùng nông thôn khác Quy hoạch đô thị, nông thôn và mô hình tổ chức, quản líThành phố Hà Nội với tư cách là thành phố trực thuộc trung ương cũng có rất nhiều nét đặc thù Định hướng phát triển Thủ đô Hà Nội, mô hình phát triển bền vững Thành phố Hà Nội cũng như các nguồn lực phát triển Thủ đô

Hà Nội cũng sẽ được đề cập đến và bàn thảo trong phần giới thiệu này.

Những thành tựu tiêu biểu của Hà Nội: Chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách khai quát nhất những thành tựu cơ bản của Hà Nội trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, đối ngoại… tính từ sau năm 1986 cho đến nay Có thể coi đây là bước nhảy vọt về chất để “phát triển Thủ đô Hà Nội xứng đáng với vai trò là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, một động lực phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước…”

Ngoài ra còn có thể tổ hợp triển khai các đề tài nghiên cứu thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội; văn hóa, di sản văn hóa và các tiểu vùng văn hóa; nghiên cứu thiên nhiên và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên; nghiên cứu địa lí tự nhiên và môi trường sinh thái; nghiên cứu Hà Nội cổ truyền và các vùng mở rộng; nghiên cứu đặc trưng đô thị, quá trình đô thị hóa, các vùng nông thôn ven đô, ngoại thành; nghiên cứu các nguồn lực tự nhiên, chính sách, khoa học công nghệ và con người phục vụ phát triển bền vững Thủ đô Hà Nội…

Hà Nội là thủ đô, thành phố trực thuộc trung ương và là một đô thị loại đặc biệt của Việt Nam Hà Nội nằm về phía tây bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, với địa hình bao gồm vùng đồng bằng trung tâm và vùng đồi núi ở phía bắc và phía tây thành phố.

II ĐỊA LÍ HÀNH CHÍNH HÀ NỘI

Lãnh thổ Hà Nô ̣i trải dài theo chiều Bắc - Nam khoảng 91 km, theo chiều Tây - Đông khoảng 77 km Phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Thái Nguyên Phía Tây - Bắc giáp tỉnh Phú Thọ Phía Tây - Nam giáp tỉnh Hoà Bình Phía Đông - Bắc giáp hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh Phía Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên và phía Nam giáp tỉnh Hà Nam.

Hà Nô ̣i nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bô ̣, có 2 khối núi trung bình là núi Sóc ở phía Bắc và núi Ba Vì ở phía Tây Sông Hồng là con sông chính chảy qua thành phố Hà Nô ̣i từ đỉnh phía Tây Bắc qua phía Đông Nam đi vòng qua phía Bắc sang phía Đông khu vực trung tâm nô ̣i thành Mô ̣t phần sông Đà trước khi đổ vào sông Hồng là ranh giới tự nhiên giữa Hà Nô ̣i và Phú Thọ. Sông Hồng có những đoạn là ranh giới tự nhiên giữa Hà Nô ̣i với các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc ở phía Bắc, Hưng Yên ở phía Đông… Đồng bằng sông Hồng là một vùng đất cổ, có dân số đông, tốc độ đô thị hóa nhanh, nên đã hình thành nhiều đô thị lớn, trong đó, thành phố Hà Nội là đô thị đặc biệt, trung tâm và động lực phát triển của toàn vùng Thành phố Hà Nội là một “đỉnh” của tam giác trọng điểm phía Bắc: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, sau phát triển thành vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh.

Hà Nội hiện nay có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên - Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam - Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Giang- Bắc Ninh- Hưng Yên ở phía Đông và Hòa Bình- Phú Thọ ở phía Tây.

Thực hiện kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) và Nghị quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12, ngày 29 tháng 05 năm 2008 và Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm

2008, toàn bộ hệ thống chính trị của thành phố Hà Nội sau hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính Thủ đô bao gồm: Thành phố Hà Nội, tỉnh Hà Tây, huyện

Mê Linh - tỉnh Vĩnh Phúc và bốn xã thuộc huyện Lương Sơn - tỉnh Hòa Bình.Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diện tích tự nhiên 334.470,02 ha, lớn gấp hơn 3 lần trước đây và đứng vào tốp 17 Thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất; dân số tăng hơn gấp rưỡi, hơn 6,2 triệu người, hiện nay là hơn 7 triệu người; gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị trấn.

Hà Nội hiện nay vừa có núi, có đồi và địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tõy sang Đụng, trong đú đồng bằng chiếm tới ắ diện tớch tự nhiờn của thành phố Độ cao trung bình của Hà Nội từ 5 đến 20 mét so với mặt nước biển, các đồi núi cao đều tập trung ở phía Bắc và Tây Các đỉnh cao nhất là Ba Vì 1.281 mét; Gia Dê 707 mét; Chân Chim 462 mét; Thanh Lanh 427 mét và Thiên Trù 378 mét…Khu vực nội đô có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng.

1.3 Diện tích đất phân bổ sử dụng (332889,0 ha)

- Đất nông, lâm nghiệp, thủy sản : 188601,1 ha

- Đất phi nông nghiệp : 134947,4 ha

- Đất chưa sử dụng : 9340,5 ha

(Theo“Niên giám thống kê Hà Nội năm 2010” của Cục Thống kê thành phố Hà Nội).

VỊ THẾ ĐỊA LÍ HÀ NỘI 1 Vị trí địa lí

Dân cư

Tính đến đầu năm 2022, tổng dân số Hà Nội đạt 8.418.883 người Dân số nam là 3.991.919 người, chiếm 49,6%; dân số nữ là 4.061.744 người, chiếm 50,4% Dân số sống ở khu vực thành thị là 3.962.310 người, chiếm 49,2% và ở khu vực nông thôn là 4.091.353 người, chiếm 50,8%

Mật độ dân số của thành phố Hà Nội là 2.398 người/km2, cao gấp 8,2 lần so với mật độ dân số cả nước So với năm 1999 và năm 2009, mật độ dân số của Thành phố tăng khá nhanh: Năm 2019 tăng 469 người/km2 so với năm

2009 và tăng 833 người/km2 so với năm 1999 Điều này cho thấy áp lực về cơ sở hạ tầng đối với Thành phố ngày càng lớn.

Diện tích

Hà Nội là thủ đô, thành phố trực thuộc trung ương và cũng là một đô thị loại đặc biệt của Việt Nam Hà Nội nằm về phía Tây Bắc của trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, với địa hình bao gồm vùng đồng bằng trung tâm và vùng đồi núi ở phía Bắc và phía Tây thành phố Với diện hiện tại toàn thành phố Hà Nội là 3.359 km², Hà Nội là thành phố có diện tích lớn nhất Việt Nam.

Vị trí của Hà Nội nằm ở Tây Bắc trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng từ 20º53′ đến 21°23′ vĩ độ bắc và 105º44′ đến 106º02′ kinh độ đông. Ranh giới giáp các tỉnh phía Bắc giáp Thái Nguyên, Vĩnh Phúc phía nam giáp

Hà Nam, Hòa Bình phía đông giáp Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên phía Tây giáp Phú Thọ Tổng diện tích của Hà Nội cập nhập mới nhất sau khi mở rộng là 3342,92km².

Bản đồ Hà Nội xưa

Trong lịch sử kháng chiến Hà Nội trải qua nhiều thời kỳ bị các đế quốc Châu Âu đô hộ, xâm chiếm Cho nên khi nhìn lại bản đồ Hà Nội xưa cũ và bản đồ Hà Nội mới có khá nhiều thay đổi Bản đồ bên dưới được phục chế lại từ bản vẽ 1873 của Phạm Đình Bách

Bản đồ tổng thế Hà Nội hiện tại:

Hà Nội được chia nhỏ ra 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện Trong đó có 30 đơn vị hành chính cấp huyện.

+ 12 Quận: Hoàn Kiếm, Đống Đa, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Long Biên, Nam Từ Liêm, Bắc Từ Liêm, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hà Đông.

+ 17 Huyện: Ba Vì, Chương Mỹ, Phúc Thọ, Đan Phượng, Đông Anh, GiaLâm, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Quốc Oai, Sóc Sơn, ThạchThất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Thanh Trì.

Các đơn vị hành chính

Lịch sử hành chính Hà Nội có thể xem mốc khởi đầu từ năm 1831 với cuộc cải cách hành chính của Minh Mạng, chính thức thành lập tỉnh Hà Nội. Tính tới năm 2020, về mặt hành chính, Hà Nội được chia làm 30 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 12 quận, 17 huyện và 1 thị xã, với 579 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 383 xã, 175 phường và 21 thị trấn

Khu vực trung tâm thành phố gồm 12 Quận là: Ba Đình, Bắc Từ Liêm, Cầu Giấy, Đống Đa, Hà Đông, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Hoàng Mai, Long Biên, Nam Từ Liêm, Tây Hồ và Thanh Xuân

Các huyện ngoại thành là: Ba Vì, CHương Mỹ, Đan Phượng, Đông Anh, Gia Lâm, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Sóc Sơn, Thạch Thất, Thanh Oai, Thanh Trì, Thường Tín và ứng Hòa

Và một thị xã là thị xã Sơn Tây.

Bản đồ hành chính thành phố Hà Nội

Sự thay đổi địa lí hành chính của Hà Nội trong lịch sử

Để có được diện mạo thành phố Hà Nội như bây giờ, trong lịch sử đặc biệt là trong thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI đã có rất nhiều lần Hà Nội thay đổi địa giới hành chính.

Theo sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh, thì vào thời Hán, vùng Hà Nội mở rộng thuộc các huyện Mê Linh, Chu Diên và một phần huyện Liêu Lâu.

Kinh thành Thăng Long vào thời phong kiến trước năm 1831 có phạm vi tương đương với 4 quân Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa hiện nay Từ sau cải cách hành chính của Minh Mệnh, tỉnh Hà Nội được giới hạn bởi sông Hồng (ở phía Bắc và phía Đông) và sông Đáy (ở phía Tây và phía Nam) Tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đức của trấn Sơn Tây (gồn 3 huyện: Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm) và ba phủ Ứng Hòa, Thường Tín, Lí Nhân của trấn Sơn Nam ( phủ Ứng Hòa gồm 4 huyện: Sơn Minh, Hoài An, Chương Đức, Thanh Oai; phủ Thường Tín gồm 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên; phủ Lí Nhân gồm 5 huyện: Nam Xang, Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục).

Năm 1888, vua Đồng Khánh ra chỉ dụ cắt phần lớn đất huyện Thọ Xương và huyện Vĩnh Thuận cho Pháp làm nhượng địa Ngày 18/7/1888, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội Phần đất nhượng địa được sáp nhập làm huyện Hàm Long Năm 1889, thành lập ngoại thành Hà Nội, gồm một số xã của các huyện Vĩnh Thuận, Thọ Xương, Từ Liêm, Thanh Trì Năm

1904, nội thành Hà Nội được chia thành 8 quận.

Cho đến năm 1954, Hà Nội chính thức thành lập ủy ban hành chính các quận, khi đó Hà Nội có 4 quận nội thành với 34 khu phố và 4 quận ngoại thành với 46 xã, với diện tích toàn thành phố khoảng 130 km 2 , dân số khoảng380.000 người.

Bản đồ Hà Nội năm 1873

Giai đoạn 1955-2008: Ở Việt Nam, từ sau ngày miền Bắc được giải phóng (1954) và nhất là sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đến nay, Đảng, Nhà nước đã có nhiều lần phân định, điều chỉnh địa giới hành chính các địa phương để phục vụ việc phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, trong đó có Thủ đô

Hà Nội Hà Nội đã có bốn lần điều chỉnh lớn về địa giới hành chính vào các năm: 1961, 1978, 1991 và 2008 Trong đó, năm 1961, năm 1978 là mở rộng, năm 1991 là thu hẹp và năm 2008 lại được mở rộng với quy mô lớn hơn nhiều như hiện nay Cụ thể là:

Căn cứ Nghị quyết của Bộ Chính trị, Hội đồng Chính phủ đệ trình Quốc Hội Dự án mở rộng thành phố Hà Nội đồng tâm về 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, sáp nhập các vùng phụ cận vốn có quan hệ với thành phố Hà Nội và có cơ sở kinh tế xã hội tương đối phù hợp với khu vực ngoại thành của Hà Nội.

Ngày 20-04-1961, Quốc hội khóa II kỳ họp thứ 2 đã ra nghị quyết phê chuẩn quy hoạch mở rộng đồng tâm thành phố Hà Nội về 4 hướng và phân vạch địa giới mới của Hà Nội mở rộng Theo Nghị quyết, Hà Nội sáp nhập 18 xã, 6 thôn và 1 thị trấn thuộc tỉnh Hà Đông; 29 xã và 1 thị trấn của tỉnh Bắc Ninh; 17 xã và một nửa thôn của tỉnh Vĩnh Phúc; 1 xã của tỉnh Hưng Yên. Địa giới Hà Nội sau khi mở rộng năm 1961: phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên và Bắc Ninh, phía Tây và Nam giáp tỉnh Hà Đông, phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc và Bắc Ninh Diện tích Hà Nội năm 1961 là: 586,13 km 2 gồm 4 khu nội thành và 4 huyện ngoại thành; dân số là 910.000 người, địa giới gấp gần 4 lần và dân số gấp 1,5 lần so với năm 1960.

Thành phố Hà Nội được mở rộng lần thứ nhất (tính từ năm 1954) đồng tâm về 4 hướng, không chỉ ngoại thành được mở rộng gấp hai lần khu vực nội và ngoại thành cũ, mà khu vực nội thành mới cũng được nới rộng thêm đáp ứng nhu cầu phát triển và xây dựng Thủ đô trong quy hoạch dài hạn

Ngày 29-12-1978, Quốc hội khóa VI kỳ họp thứ 4 đã phê chuẩn đề án của Chính phủ về việc mở rộng địa giới hành chính thành phố Hà Nội bằng việc sáp nhập một số huyện, thị xã, xã và thị trấn của tỉnh Hà Sơn Bình và tỉnh Vĩnh Phú vào thành phố Hà Nội: huyện Ba Vì (32 xã), huyện Phúc Thọ (22 xã), huyện Thạch Thất (19 xã), huyện Đan Phượng (15 xã và 1 thị trấn), huyện Hoài Đức (27 xã), thị xã Sơn Tây (9 xã và 5 phường) của tỉnh Hà Sơn Bình; huyện Mê Linh (22 xã và 2 thị trấn) và huyện Sóc Sơn (25 xã) của tỉnh Vĩnh Phúc Hà Nội sau mở rộng năm 1978, có diện tích là 2,123 km 2 , gồm 4 khu nội thành và 12 huyện thị xã ngoại thành, dân số là 2.500.000 người. Ngày 17-2-1979, Hội đồng Chính phủ có Quyết đinh số 49-CP về việc điều chỉnh địa giới một số xã, thị trấn của các huyện Sóc Sơn, Mê Linh, Hoài Đức, Phức Thọ, Thanh Trì, thuộc thành phố Hà Nội.

Về tổ chức địa lí hành chính, vào năm 1981, các khu phố nội thành chính thức đổi thành quận, đơn vị hành chính cơ sở là phường (tương đương cấp xã)Sau đó, Hà Nội tiếp tục có những biến đổi địa giới hành chính nhỏ, chủ yếu là mở rộng địa giới hành chính về phía Tây và phía Bắc Đến trước ngày12-8-1991, Hà Nội có diện tích là 2.139km 2 , dân số là 3.057.000 người, địa giới: phía Đông giáp Hà Bắc và Hải Hưng, phía Tây giáp Vĩnh Phú, phía Nam giáp Hà Tây, phía Bắc giáp Vĩnh Phú và Bắc Thái.

Cuộc điều chỉnh địa giới tháng 12-1978 mở rộng Hà Nội gấp 14 lần so với năm 1955, gấp 3,6 lần băn 1961 Trong điều kiện kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn ở thập nhiên 1980, một vùng ngoại thành rộng lớn làm phân tán đầu tư, giảm hiệu quả quản lí Chính vì thế, theo Nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 ra nghị quyết điều chỉnh theo hướng thu hẹp địa giới hành chính thành phố Hà Nội: chuyển huyện Mê Linh của thành phố Hà Nội về tỉnh Vĩnh Phúc, chuyển thị xã Sơn Tây và 5 huyện: Hoài Đức, Phúc Thọ, Đan Phượng, Ba Vì và Thạch Thất của thành phố Hà Nội về tỉnh Hà Tây Địa giới

Hà Nội sau khi thu hẹp: phía Đông giáp Hà Bắc và Hải Hưng, phía Tây giáp Vĩnh Phú, phía Nam giáp Hà Tây, phía Bắc giáp Vĩnh Phú và Bắc Thái Như vậy là từ cuối năm 1991, Hà Nội có 5 huyện ngoại thành là Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, Đông Anh và Sóc Sơn.

Trong thời gian từ 1991 đến trước 1-8-2008, có một số điều chỉnh địa giới hành chính, liên quan chủ yêu đến việc hình thành các quận mới, mở rộng nội thành: Quận Tây Hồ, Quận Thanh Xuân, Quận Cầu Giấy, Quận Long Biên, Quận Hoàng Mai.

Hà Nội mở rộng từ 1-8-2009:

Ngày đăng: 03/07/2025, 14:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w