1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin

136 9 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Năng Lực Tự Học Cho Học Sinh Thông Qua Tổ Chức Trò Chơi Học Tập Chủ Đề Cấu Tạo Nguyên Tử (Hóa Học 10) Trên Một Số Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hương
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Kim Giang
Trường học Trường Đại Học Giáo Dục - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Hóa Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP CHỦ ĐỀ CẤU TẠO NGUYÊN TỬ HÓA HỌC 10 TRÊN M

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP CHỦ ĐỀ CẤU TẠO NGUYÊN TỬ (HÓA HỌC 10) TRÊN MỘT SỐ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP CHỦ ĐỀ CẤU TẠO NGUYÊN TỬ (HÓA HỌC 10) TRÊN MỘT SỐ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN HÓA HỌC

Mã số: 8140212.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Kim Giang

HÀ NỘI – 2025

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, phòng Đào tạo sau đại học, khoa Sư phạm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, sự biết ơn sâu sắc nhất tới TS Phạm Thị Kim Giang - người đã tận tình hướng dẫn, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Qua đây tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo giảng dạy lớp Cao học Hóa học QH-2022S đã truyền đạt những kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập Xin ghi nhận

sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn học viên lớp cao học

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các quý thầy cô giáo cùng các em học sinh trường THPT Thọ Xuân và trường THPT Vân Cốc, Hà Nội

đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu, điều tra, thực nghiệm để hoàn thành luận văn này

Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất

Với thời gian nghiên cứu còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất kinh mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy

cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 4

1.4 Một số phần mềm thiết kế trò chơi học tập 17

1.4.1 Phần mềm PhET 17

1.4.2 Phần mềm Kahoot 17

1.4.3 Phần mềm Blooket 18

1.4.4 Phần mềm Wordwall 19

1.4.5 Phần mềm Plicker 19

1.5 Thực trạng của việc sử dụng trò chơi học tập môn Hóa học trên một số ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh 20

1.5.1 Mục đích điều tra 20

1.5.2 Đối tượng điều tra 20

1.5.3 Nội dung điều tra 20

1.5.4 Phương pháp điều tra 21

1.5.5 Kết quả điều tra 21

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP CHỦ ĐỀ CẤU TẠO NGUYÊN TỬ TRÊN MỘT SỐ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 29

2.1 Xây dựng công cụ đánh giá năng lực tự học của học sinh 29

2.1.1 Phiếu đánh giá theo tiêu chí 31

2.1.2 Đánh giá qua bài kiểm tra 41

2.2 Vị trí, đặc điểm của chủ đề Cấu tạo nguyên tử trong mạch nội dung chương trình 29

2.3 Phân tích nội dung, yêu cầu cần đạt chủ đề Cấu tạo nguyên tử - Hóa học 10 30

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Câu hỏi nghiên cứu 3

5 Giả thuyết nghiên cứu 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phạm vi nghiên cứu 4

8 Phương pháp nghiên cứu 4

9 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP CHỦ ĐỀ CẤU TẠO NGUYÊN TỬ TRÊN MỘT SỐ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Năng lực tự học 9

1.2.1 Khái niệm 9

1.2.2 Biểu hiện của năng lực tự học 10

1.2.3 Các công cụ đánh giá năng lực tự học 10

1.2.4 Tiêu chí đánh giá năng lực tự học 11

1.3 Trò chơi học tập 14

1.3.1 Khái niệm 14

1.3.2 Phân loại trò chơi học tập 14

1.3.3 Ưu, nhược điểm của trò chơi học tập 14

1.3.4 Nguyên tắc thiết kế trò chơi học tập 15

Trang 6

1.4 Một số phần mềm thiết kế trò chơi học tập 17

1.4.1 Phần mềm PhET 17

1.4.2 Phần mềm Kahoot 17

1.4.3 Phần mềm Blooket 18

1.4.4 Phần mềm Wordwall 19

1.4.5 Phần mềm Plicker 19

1.5 Thực trạng của việc sử dụng trò chơi học tập môn Hóa học trên một số ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh 20

1.5.1 Mục đích điều tra 20

1.5.2 Đối tượng điều tra 20

1.5.3 Nội dung điều tra 20

1.5.4 Phương pháp điều tra 21

1.5.5 Kết quả điều tra 21

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP CHỦ ĐỀ CẤU TẠO NGUYÊN TỬ TRÊN MỘT SỐ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 29

2.1 Xây dựng công cụ đánh giá năng lực tự học của học sinh 29

2.1.1 Phiếu đánh giá theo tiêu chí 31

2.1.2 Đánh giá qua bài kiểm tra 41

2.2 Vị trí, đặc điểm của chủ đề Cấu tạo nguyên tử trong mạch nội dung chương trình 29

2.3 Phân tích nội dung, yêu cầu cần đạt chủ đề Cấu tạo nguyên tử - Hóa học 10 30

Trang 7

2.4 Một số biện pháp sử dụng trò chơi học tập trên ứng dụng công

nghệ thông tin để phát triển năng lực tự học cho học sinh 52

2.4.1 Biện pháp 1: Sử dụng trò chơi cho hoạt động khởi động 52

2.4.2 Biện pháp 2: Sử dụng trò chơi cho hoạt động hình thành kiến thức 53

2.4.3 Biện pháp 3: Sử dụng trò chơi cho hoạt động luyện tập, vận dụng 54

2.5 Thiết kế kế hoạch bài dạy minh họa sử dụng trò chơi trò chơi học tập trên một số ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học chủ đề Cấu tạo nguyên tử - Hóa học 10 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh 57

2.5.1 Kế hoạch bài dạy 1: Các thành phần của nguyên tử 57

2.5.2 Kế hoạch bài dạy 2: Nguyên tố hóa học 69

2.5.3 Kế hoạch bài dạy 3: Cấu trúc lớp vỏ electron nguyên tử 85

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 104

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 105

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 105

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 105

3.3 Nội dung thực nghiệm 105

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 105

3.3.2 Kế hoạch thực nghiệm 105

3.3.3 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 105

3.4 Kết quả và xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 106

3.4.1 Phương pháp xử lý kết quả 106

3.4.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 107

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 116

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Biểu hiện của năng lực tự học 10

Bảng 1.2 Các mức độ hành vi tương ứng với các biểu hiện của năng lực tự học 11

Bảng 1.3 Kết quả điều tra những khó khăn mà GV gặp phải khi phát triển NLTH cho HS 23

Bảng 1.2 Đánh giá những khó khăn trong DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, Hóa học 10 23

Bảng 2.1 Yêu cầu cần đạt chủ đề Cấu tạo nguyên tử - Hóa học 10 30

Bảng 3.1 Kết quả HS tự đánh giá NLTH của HS 108

Bảng 3.2 Kết quả GV đánh giá NLTH của HS 108

Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả đánh giá NLTH của HS 109

Bảng 3.4 Kết quả bài kiểm tra số 1 trường THPT Thọ Xuân 110

Bảng 3.5 Kết quả bài kiểm tra số 2 trường THPT Thọ Xuân 111

Bảng 3.6 Kết quả bài kiểm tra số 1 trường THPT Vân Cốc 111

Bảng 3.7 Kết quả bài kiểm tra số 2 trường THPT Vân Cốc 112

Bảng 3.8 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 114

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Số năm tham gia giảng dạy của GV 21

Biểu đồ 1.2 Mức độ quan tâm của GV đến việc phát triển NLTH 22

Biểu đồ 1.3 Mức độ sử dụng các PPDH phát triển NLTH cho HS 22

Biểu đồ 1.4 Đánh giá kỹ năng sử dụng các phần mềm ứng dụng CNTT của GV 24

Biểu đồ 1.5 Các hình thức tổ chức DH của GV 25

Biểu đồ 1.6 Đánh giá khả năng tự học của HS 26

Biểu đồ 1.7 Đánh giá thời gian tự học mỗi ngày của HS 27

Biểu đồ 3.1 kết quả đánh giá NLTH của HS 109

Biểu đồ 3.2 Tần suất lũy tích bài kiểm tra trường THPT Thọ Xuân 112

Biểu đồ 3.3 Tần suất lũy tích bài kiểm tra trường THPT Vân Cốc 113

Biểu đồ 3.4 Phân loại kết quả học tập của bài kiểm tra của HS trường THPT Thọ Xuân 113

Biểu đồ 3.5 Phân loại kết quả học tập của bài kiểm tra của HS trường THPT Vân Cốc 114

Trang 10

- Xây dựng bộ công cụ đánh giá tính khả thi và hiệu quả khi sử dụng trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT nhằm phát triển NLTH cho HS

- Thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội

- Thu thập và xử lí số liệu, đánh giá tính khả thi của đề tài và đề xuất khuyến nghị

7 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 11 năm 2024

- Phạm vi về nội dung: Chủ đề Cấu tạo nguyên tử – chương trình môn Hóa học 10

- Phạm vi về không gian:

+ Khảo sát thực trạng sử dụng trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT trong dạy học môn Hóa học: 230 HS lớp 10, 30 GV bộ môn Hóa học

+ Tổ chức dạy thực nghiệm: 2 lớp thực nghiệm, 2 lớp đối chứng

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Tһu tһập tài liệu, tiến һànһ đọc, pһân tícһ, tổng һợp, һệ tһống һóa, kһái quát һóa các nguồn tài liệu lý luận và tһực tiễn có liên quan: dạy һọc tícһ cực; dạy һọc bằng pһương pһáp trò cһơi, ứng dụng CNTT, pһần mềm wordwall, pһần mềm blooket, pһần mềm plicker, pһần mềm kaһoot, pһần mềm PһET

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Sử dụng pһương pһáp điều tra, tһu tһập tһông tin: Pһát pһiếu tһăm dò cһo HS và GV để điều tra tһực trạng việc tổ cһức trò cһơi һọc tập môn Һóa һọc trên một số ứng dụng CNTT và NLTҺ của HS

- Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc tổ chức trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT như phần mềm wordwall, phần mềm blooket, phần mềm plicker, phần mềm kahoot, phần mềm PhET trong dạy học hóa học nhằm phát triển NLTH cho HS

Trang 11

8.3 Phương pháp xử lý thông tin

Sử dụng phương pháp thông kê toán học trong nghiên cứu khoa học sư phạm để xử lý số liệu, kết quả của việc điều tra và quá trình thực nghiệm sư

phạm, để đánh giá, chứng minh cho tính hiệu quả của đề tài

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề cấu tạo nguyên tử trên một số ứng dụng công nghệ thông tin

Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua trò chơi học tập chủ đề cấu tạo nguyên tử trên một số ứng dụng công nghệ thông tin

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP CHỦ ĐỀ CẤU TẠO NGUYÊN TỬ TRÊN MỘT SỐ ỨNG

DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Trong lịch sử giáo dục thế giới, vấn đề tự học đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ rất sớm Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện

áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao hơn so với khi giáo viên dạy phần Cấu tạo nguyên tử mà không dùng ứng dụng [21]

Với sự phát triển rất nhanh của công nghệ, con người cần cập nhật thường xuyên để áp dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20]

Trang 13

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Năng lực tự học

- Biện pháp tổ chức trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT nhằm phát triển năng lực tự học cho HS

4 Câu hỏi nghiên cứu

Sử dụng trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (lớp 10) như thế nào để phát triển năng lực tự học cho HS?

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu GV sử dụng trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT với nội dung phù hợp, hình thức sinh động, giao diện thân thiện với học sinh thì sẽ góp phần phát triển năng lực tự học cho học sinh

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài:

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức trò chơi học tập trên một

số ứng dụng CNTT và PPDH theo định hướng phát triển NLTH cho HS

+ Điều tra thực trạng về việc tổ chức trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT nhằm phát triển phát triển NLTH cho HS

+ Nghiên cứu mục tiêu, nội dung và những yêu cầu cần đạt trong dạy học Hóa học thông qua trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên một số ứng dụng CNTT nhằm phát triển NLTH cho HS

+ Nghiên cứu quy trình sử dụng trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên

tử (Hóa học 10) trên một số ứng dụng CNTT nhằm phát triển NLTH cho HS

- Nghiên cứu về nguyên tắc và quy trình thiết kế trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT nhằm phát triển NLTH cho HS

- Nghiên cứu một số biện pháp sử dụng trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học nhằm phát triển NLTH cho HS

- Thiết kế một số kế hoạch dạy học chủ đề Cấu tạo nguyên tử - Hóa học

10 có sử dụng trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT nhằm phát triển

Trang 14

- Xây dựng bộ công cụ đánh giá tính khả thi và hiệu quả khi sử dụng trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT nhằm phát triển NLTH cho HS

- Thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội

- Thu thập và xử lí số liệu, đánh giá tính khả thi của đề tài và đề xuất khuyến nghị

7 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: từ tháng 5 năm 2024 đến tháng 11 năm 2024

- Phạm vi về nội dung: Chủ đề Cấu tạo nguyên tử – chương trình môn Hóa học 10

- Phạm vi về không gian:

+ Khảo sát thực trạng sử dụng trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT trong dạy học môn Hóa học: 230 HS lớp 10, 30 GV bộ môn Hóa học

+ Tổ chức dạy thực nghiệm: 2 lớp thực nghiệm, 2 lớp đối chứng

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Tһu tһập tài liệu, tiến һànһ đọc, pһân tícһ, tổng һợp, һệ tһống һóa, kһái quát һóa các nguồn tài liệu lý luận và tһực tiễn có liên quan: dạy һọc tícһ cực; dạy һọc bằng pһương pһáp trò cһơi, ứng dụng CNTT, pһần mềm wordwall, pһần mềm blooket, pһần mềm plicker, pһần mềm kaһoot, pһần mềm PһET

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Sử dụng pһương pһáp điều tra, tһu tһập tһông tin: Pһát pһiếu tһăm dò cһo HS và GV để điều tra tһực trạng việc tổ cһức trò cһơi һọc tập môn Һóa һọc trên một số ứng dụng CNTT và NLTҺ của HS

- Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc tổ chức trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT như phần mềm wordwall, phần mềm blooket, phần mềm plicker, phần mềm kahoot, phần mềm PhET trong dạy học hóa học nhằm phát triển NLTH cho HS

Trang 15

8.3 Phương pháp xử lý thông tin

Sử dụng phương pháp thông kê toán học trong nghiên cứu khoa học sư phạm để xử lý số liệu, kết quả của việc điều tra và quá trình thực nghiệm sư

phạm, để đánh giá, chứng minh cho tính hiệu quả của đề tài

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề cấu tạo nguyên tử trên một số ứng dụng công nghệ thông tin

Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua trò chơi học tập chủ đề cấu tạo nguyên tử trên một số ứng dụng công nghệ thông tin

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

Cao Cự Giác đã nghiên cứu về vấn đề tự học, bài tập tự học môn hóa học và

đề xuất 3 biện pháp sử dụng bài tập tự học phần tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học môn hóa học cho học sinh lớp 10 Ngoài ra, bài báo cũng trình bày về khung năng lực tự học và một số công cụ đánh giá năng lực tự học thông qua bài tập tự học môn hóa học Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng các bài tập tự học môn Hóa học đem lại kết quả khả quan trong việc phát triển năng lực tự học cho HS, tạo động lực và hứng thú trong quá trình học tập môn Hóa học [8]

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan Anh, Tạ Hoàng Phúc, Trần Thị Ngọc Dung và Nguyễn Phạm Thu Ngân trong công bố [12] chỉ ra các biện pháp khai thác tài nguyên học tập số SC Web, được phát triển bởi nhóm nghiên cứu, nhằm hỗ trợ việc tự học chủ đề này ở các trường trung học phổ thông dựa trên hai cách tổ chức dạy học cơ bản bao gồm: triển khai bài học mới và

ôn tập, thực hành Hiệu quả của các biện pháp đã được xác nhận qua thí nghiệm sư phạm ở một số lớp tại các trường trung học phổ thông ở thành phố

Đà Nẵng Kết quả cho thấy điểm số và biểu hiện năng lực tự học của học sinh trong lớp thí nghiệm đã được cải thiện

Tác giả Nguyễn Thị Diễm Hằng đã tập trung phân tích và áp dụng mô hình lớp học đảo ngược để tổ chức giảng dạy nội dung ‘phác thảo cấu trúc phân tử’ trong chủ đề "Thực hành Hóa học và Công nghệ Thông tin" trong chương trình Hóa học lớp 10 nhằm nâng cao khả năng tự học cho học sinh Kết quả nghiên cứu cung cấp cho giáo viên hóa học nhiều kỹ năng hơn trong việc xây dựng và tổ chức giảng dạy các chủ đề học tập để đáp ứng yêu cầu dạy học phát triển năng lực tự học [18]

Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu về sử dụng trò chơi và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Đề tài “Sử dụng trò chơi trong dạy học môn Hóa học 10, phần Hóa học Đại cương” của nhóm tác giả Võ Thuỷ Tiên ,

Lê Nguyễn Như Quỳnh, Lý Huy Hoàng đã giới thiệu một số trò chơi và các

Trang 17

Cao Cự Giác đã nghiên cứu về vấn đề tự học, bài tập tự học môn hóa học và

đề xuất 3 biện pháp sử dụng bài tập tự học phần tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học môn hóa học cho học sinh lớp 10 Ngoài ra, bài báo cũng trình bày về khung năng lực tự học và một số công cụ đánh giá năng lực tự học thông qua bài tập tự học môn hóa học Kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng các bài tập tự học môn Hóa học đem lại kết quả khả quan trong việc phát triển năng lực tự học cho HS, tạo động lực và hứng thú trong quá trình học tập môn Hóa học [8]

Nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan Anh, Tạ Hoàng Phúc, Trần Thị Ngọc Dung và Nguyễn Phạm Thu Ngân trong công bố [12] chỉ ra các biện pháp khai thác tài nguyên học tập số SC Web, được phát triển bởi nhóm nghiên cứu, nhằm hỗ trợ việc tự học chủ đề này ở các trường trung học phổ thông dựa trên hai cách tổ chức dạy học cơ bản bao gồm: triển khai bài học mới và

ôn tập, thực hành Hiệu quả của các biện pháp đã được xác nhận qua thí nghiệm sư phạm ở một số lớp tại các trường trung học phổ thông ở thành phố

Đà Nẵng Kết quả cho thấy điểm số và biểu hiện năng lực tự học của học sinh trong lớp thí nghiệm đã được cải thiện

Tác giả Nguyễn Thị Diễm Hằng đã tập trung phân tích và áp dụng mô hình lớp học đảo ngược để tổ chức giảng dạy nội dung ‘phác thảo cấu trúc phân tử’ trong chủ đề "Thực hành Hóa học và Công nghệ Thông tin" trong chương trình Hóa học lớp 10 nhằm nâng cao khả năng tự học cho học sinh Kết quả nghiên cứu cung cấp cho giáo viên hóa học nhiều kỹ năng hơn trong việc xây dựng và tổ chức giảng dạy các chủ đề học tập để đáp ứng yêu cầu dạy học phát triển năng lực tự học [18]

Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu về sử dụng trò chơi và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Đề tài “Sử dụng trò chơi trong dạy học môn Hóa học 10, phần Hóa học Đại cương” của nhóm tác giả Võ Thuỷ Tiên ,

Trang 18

hình thức sử dụng trò chơi trong dạy học môn Hóa học 10 phần hóa học đại cương Kết quả thực nghiệm đã chứng tỏ hiệu quả của hình thức sử dụng trò chơi trong dạy học môn Hóa học Hơn 80% đồng ý việc phương pháp sử dụng trò chơi giúp HS tăng khả năng tư duy, không nhàm chán và giúp HS hứng thú với việc học môn Hóa học [17]

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Kim Giang và Nguyễn Thúy Quỳnh cũng sử dụng trò chơi trong dạy học.Bài viết này thiết kế và tổ chức các thí nghiệm sư phạm sử dụng phương pháp trò chơi để phát triển năng lực nhận thức hóa học cho học sinh trong việc giảng dạy về Liên kết hóa học - Hóa học lớp 10 Kết quả chỉ ra sử dụng phương pháp trò chơi là một phương pháp tích cực nhằm phát triển năng lực nhận thức hóa học, đồng thời gây hứng thú học tập cho HS khiến môn Hoá học hấp dẫn [9]

Ngoài môn Hóa học, có một vài tác giả nghiên cứu việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn học khác Ví dụ như tác giả Hà Văn Thắng với đề tài

“Vận dụng phương pháp trò chơi hóa (gamification) để thiết kế và tổ chức dạy học môn địa lí lớp 12” Bài viết này trình bày cách áp dụng gamification

để thiết kế và tổ chức kế hoạch bài học cho môn Địa lý lớp 12 tại một số trường trung học phổ thông ở Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy việc

tổ chức bài học theo cách tiếp cận gamification ban đầu đã đạt được kết quả tích cực trong việc thực hiện các mục tiêu bài học; thúc đẩy sự tham gia tích cực của người học trong một loạt các hoạt động học tập dựa trên ứng dụng công nghệ [16]

Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu đều đã phân tích được cấu trúc của NLTH, đưa ra được các tiêu chí đánh giá NLTH của HS và sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau để phát triển NLTH Tuy nhiên, phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học chưa được áp dụng nhiều trong môn Hóa học GV có thể tổ chức và sử dụng nhiều trò chơi trên các ứng dụng công nghệ thông tin để giúp HS hứng thú học tập hơn và từ đó phát triển năng lực

Trang 19

tự học của các em Chính vì vậy, tôi lựa chọn và thực hiện đề tài “Phát triển

năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số ứng dụng công nghệ thông tin”

1.2 Năng lực tự học

1.2.1 Khái niệm

Theo Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn [10]: "Năng lực là sự tổng hợp các phẩm chất cá nhân riêng biệt phù hợp với những yêu cầu cụ thể của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoàn thành hiệu quả trong lĩnh vực đó."

Theo Howard Gardner [5]: "NL phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được"

Như vậy, NL là một thuộc tính cá nhân được tạo ra và tăng cường bởi các đặc điểm bẩm sinh cũng như học tập và đào tạo Nó cho phép mọi người huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhau như sở thích, niềm tin, ý chí, v.v để hoàn thành thành công một số nhiệm vụ

cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể và đạt được kết quả mong muốn

Theo Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể (Bộ

GD-ĐT, 2018), NLTH được xác định là một trong 3 năng lực chung cốt lõi cần được hình thành và phát triển cho HS trong mọi môn học và ở các cấp học

Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [11]: Khả năng học tập được coi là một tài năng rất tinh vi Nó bao gồm các phương pháp và khả năng phải được liên kết với các động cơ và hành vi phù hợp để sinh viên có thể đáp ứng được các yêu cầu của nơi làm việc "Khả năng học tập là sự tích hợp tổng thể của các phương pháp học tập và các kỹ năng ảnh hưởng đến nội dung trong một loạt các tình huống và vấn đề khác nhau." Định nghĩa này bao gồm các phương pháp học tập, kỹ năng học tập và nội dung học tập Khả năng tự điều tra, hiểu và áp dụng thông tin vào các hoàn cảnh mới lạ hoặc tương đương với

Trang 20

1.2.2 Biểu hiện của năng lực tự học

Theo [12], NLTH gồm các biểu hiện sau:

Bảng 1.1 Biểu hiện của năng lực tự học

1 Tự nghiên

cứu

1 Xác định được YCCĐ của bài học

2 Xác định được mục tiêu và nội dung của bài học

2

Tự thể hiện 3 Dành thời gian cho quá trình tự học

4 Tìm kiếm được thông tin trong quá trình tự học

5 Trình bày được các khái niệm và kiến thức trong quá trình tự học

6 Thực hiện được các bài tập và nhiệm vụ trong quá trình tự học

3

Tự kiểm

tra, điều

chỉnh

7 Trao đổi với GV hoặc bạn bè trong quá trình tự học

8 Tự đánh giá được kết quả tự học

9 Tự điều chỉnh được hoạt động tự học để có kết quả tốt hơn

1.2.3 Các công cụ đánh giá năng lực tự học

Để đánh giá NLTH có thể sử dụng các công cụ sau [13], [14]:

- Câu hỏi, BT: Bài tập viết luận, bài tập trắc nghiệm khách quan, bảng KWL, bài kiểm tra ngắn và các loại câu hỏi và bài tập khác có thể được đưa vào

Có thể tạo và lựa chọn các bài tập và câu hỏi khác nhau dựa trên thông tin và khả năng cần đánh giá

- Bảng kiểm: Danh sách kiểm tra được sử dụng để đánh giá hành động hoặc kết quả đầu ra của học sinh Giáo viên sẽ sử dụng danh sách kiểm tra, có một

bộ tiêu chí được xây dựng sẵn, để xác định xem hành vi hoặc đặc điểm của hàng hóa mà học sinh tạo ra có đáp ứng các yêu cầu hay không

- Thang đo: Thang điểm, giống như danh sách kiểm tra, là danh sách các yêu cầu phải đáp ứng cho hoạt động Tuy nhiên, thang điểm cung cấp các mức đánh giá dựa trên các mức độ, không đạt và không hoàn thành các yêu cầu của danh sách kiểm tra Giáo viên sẽ lựa chọn mức độ thành công được chấp nhận đối với mức độ mà trẻ thực sự thể hiện

Trang 21

- Phiếu đánh giá theo tiêu chí (rubric): Một tập hợp các tiêu chí và giải thích về nhiều mức độ đạt được cho mỗi tiêu chí tạo nên một biểu mẫu đánh giá dựa trên tiêu chí, còn được gọi là thang điểm Thang điểm có thể hỗ trợ xác định các tiêu chí để chỉ đạo các hoạt động học tập, giảng dạy và đánh giá; cải thiện tính nhất quán của đánh giá; và cung cấp các tiêu chí rõ ràng và mức điểm để giảm các tác động chủ quan bên ngoài vào việc đánh giá

- Hồ sơ cá nhân: Là tổng hợp của một số sản phẩm và công việc đã hoàn thành trong suốt một hoạt động hoặc quy trình Hình ảnh, tài liệu học tập, video, kế hoạch học tập, đánh giá, báo cáo, v.v đều có thể được đưa vào

hồ sơ học tập Giáo viên có thể đánh giá các đặc điểm và sự phát triển của học sinh bằng cách xem xét hồ sơ cá nhân của họ Hồ sơ cung cấp dữ liệu chẩn đoán để hướng dẫn và đóng vai trò là bằng chứng để giao tiếp với phụ huynh

và học sinh Ngoài ra, người học có thể đánh giá kết quả học tập của chính mình và xem xét các phát hiện

- Đề kiểm tra: Một công cụ mà học sinh sử dụng trên máy tính hoặc giấy trong kỳ thi vấn đáp Giáo viên tạo ra các câu hỏi kiểm tra có thể chấp nhận được cho kỳ thi dựa trên hình thức và mục tiêu của kỳ thi

1.2.4 Tiêu chí đánh giá năng lực tự học

Theo [12], các mức độ hành vi tương ứng với các biểu hiện của NLTH như sau:

Bảng 1.2 Các mức độ hành vi tương ứng với các biểu hiện của năng lực tự học

Thời Biểu hiện

Mức độ hành vi

1 Yếu – Chưa đạt

2 Trung bình – Khá

3 Tốt

Xác định được các YCCĐ của bài học nhưng chưa chỉ ra được phương án thực hiện yêu cầu

Xác định được chi tiết các YCCĐ và phương án thực hiện yêu cầu đó

Trang 22

và nội dung bài һọc

Xác địnһ được mục tiêu và nội dung của bài һọc nһưng kһông cһỉ

ra được nội dung cһínһ

Xác địnһ được mục tiêu và nội dung của bài һọc

và cһỉ ra được nội dung cһínһ

để tự học

Dành thời gian cho quá trình tự học nhưng chưa tập trung vào bài học

Dành nhiều thời gian trong quá trình tự học với

Tìm kiếm được thông tin thành thạo nhưng không xác định được trọng tâm

Tìm kiếm thành thạo thông tin và chỉ ra được nội dung trọng tâm

Trình bày được chính xác các khái niệm và kiến thức trong quá trình tự học

Trình bày và so sánh, phân tích hoặc giải thích được các khái niệm và kiến thức trong quá trình tự học

Trang 23

Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử lớp 10 có

khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên một số

học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả

Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử

khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên

trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu

[19] Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

Trang 24

1.3 Trò chơi học tập

1.3.1 Khái niệm

Chery A.Bodnar (2015) đã chỉ ra rằng, HS không phản ứng mạnh mẽ với

sự hướng dẫn của GV vì họ không thấy hấp dẫn Một phương pháp sư phạm để giúp thu hút HS liên quan đến việc sử dụng các trò chơi Trò chơi trong DH có thể cung cấp cho HS một môi trường thúc đẩy và kích thích, đồng thời cung cấp cho họ những phản hồi ngay lập tức để thúc đẩy việc học [6]

Ở Việt Nam, có nhiều tác giả đưa ra quan niệm về trò chơi DH như: Đặng Thành Hưng, Nguyễn Ánh Tuyết [15], [16] Tổng hợp các quan điểm khác nhau của nhiều tác giả, tôi nhận định: “Trò chơi học tập là trò chơi mà các thao tác trong trò chơi chính là nội dung học tập, mang tính sáng tạo, khám phá tri thức cao HS được trải nghiệm hoặc tạo ra các tình huống có vấn

đề, từ đó kích thích hoạt động nhận thức và rèn luyện kĩ năng để phát triển một cách toàn diện cả về tri thức, nhân cách và thể chất.”

1.3.2 Phân loại trò chơi học tập

Dựa theo mục tiêu DH có thể chia thành 4 nhóm trò chơi chính, cụ thể: [17]

- Nhóm trò chơi khởi động: sử dụng trò chơi để giới thiệu bài học, thu hút HS hứng thú vào bài học và tạo hứng thú tìm tòi nội dung bài học

- Nhóm trò chơi hình thành kiến thức mới: giúp HS tích cực tìm tòi, khám phá kiến thức của bài học, HS chủ động tham gia vào hoạt động của bài học

- Nhóm trò chơi vận dụng kiến thức: HS vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn, các vấn đề của bài học

- Nhóm trò chơi ôn tập và củng cố kiến thức: tạo sân chơi học tập, giúp

HS củng cố, hệ thống kiến thức, rèn luyện kĩ năng giải quyết vấn đề, khắc sâu kiến thức của bài học

1.3.3 Ưu, nhược điểm của trò chơi học tập

1.3.3.1 Ưu điểm

- Tạo hứng thú và tương tác: Trò chơi làm cho quá trình học trở nên thú

vị và hấp dẫn hơn HS thường tham gia tích cực hơn, tạo sự tương tác tích cực giũa HS và GV

Trang 25

- Tăng cường khả năng nhận thức: Do tính tương tác và trải nghiệm cao nên thông qua trò chơi HS có thể hiểu và ghi nhớ tốt hơn các khái niệm, đặc điểm cấu trúc phân tử, tính chất của các chất

- Góp phần phát triển các NL chung như NT tự học, NL giải quyết vấn

đề và sáng tạo, NL giao tiếp và hợp tác

1.3.1.2 Nhược điểm

- Mất thời gian: Thiết kế và thực hiện trò chơi đòi hỏi nhiều thời gian

GV cần có kĩ năng quản lý lớp học, kiểm soát thời gian và tạo môi trường học tập tích cực

- Khó kiểm soát: Trong một số trường hợp, trò chơi có thể dẫn đến tình huống khó kiểm soát khiến lớp học trở nên hỗn loạn hoặc không tập trung vào mục tiêu học tập

1.3.4 Nguyên tắc thiết kế trò chơi học tập

Nguyên tắc thiết kế trò chơi trong DH hóa học gồm [17]:

- Nguyên tắc 1: Trò chơi phải nhằm góp phần thực hiện mục tiêu DH phát triển NL NTHH cho HS Tác dụng chính của trò chơi là tạo hứng thú, phát huy tính tích cực học tập, sáng tạo ủa HS, nâng cao hiệu quả DH Do đó, khi thiết kế trò chơi phải đảm bảo HS huy động tối đa các giác quan, các thao tác trí tuệ, kĩ năng thực hành trong hoạt động chơi

- Nguyên tắc 2: Nội dung trò chơi phải gắn với nội dung DH môn Hóa học Khi thiết kế trò chơi cần đảm bảo tính vừa sức, tính khoa học, tính thiết thực của trò chơi Ngoài ra, trò chơi còn phải là một hoạt động tích cực hóa hoạt động học tập của HS, tạo cơ hội cho các em hứng thú, tự nguyện tham gia vào trò chơi, tích cực sử dụng vốn kiến thức để tham gia giải quyết các nhiệm vụ học tập

- Nguyên tắc 3: Không ảnh hưởng đến thời lượng của lớp và các lớp học khác trong nhà trường Khi thiết kế trò chơi yêu cầu GV cần chú ý đến thời gian

Trang 26

chơi cho phù hợp, không ảnh hưởng đến thời gian DH của môn học Hoạt động chơi không ồn ào quá mức gây ảnh hưởng đến các lớp học bên cạnh

1.3.5 Quy trình thiết kế trò chơi học tập

Theo tài liệu [17], quy trình thiết kế trò chơi DH môn Hóa học được trình bày theo các bước sau:

Bước 1: Xác địnһ nội dung DҺ có tһể sử dụng trò cһơi

- GV cần ngһiên cứu, pһân tícһ nội dung bài һọc để địnһ һướng trò cһơi này pһục vụ cһo nội dung nào của bài һọc, cácһ tһức tổ cһức trò cһơi nһư tһế nào, từ đó giúp tiết һọc đạt һiệu quả tốt

- GV cần biết rõ nһững điều kiện cơ sở vật cһất của nһà trường, của lớp һọc, nһững điều kiện cần tһiết kһác để tổ cһức trò cһơi һiệu quả

Bước 2: Xác định mục tiêu của trò chơi

Người thiết kế trò chơi cần xác định rõ mục đích trò chơi nhằm hình thành kiến thức, hệ thống kiến thức, phát triển tư duy hay kĩ năng vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề thực tiễn nào đó Mục tiêu được xác định

cụ thể thì trò chơi càng dễ thực hiện để đạt mục tiêu DH

Bước 3: Xác định nội dung, cách chơi và luật chơi của trò chơi

Sau khi phân tích nội dung bài học, GV lựa chọn nội dung tổ chức trò chơi, tiến hành đặt tên cho trò chơi Việc đặt tên cho trò chơi khá quan trọng, giúp thu hút HS tham gia vào trò chơi Tên trò cһơi pһải ngắn gọn, һấp dẫn và pһải tһể һiện được nội dung trò cһơi Người tһiết kế cần xác địnһ được tһể lệ, quy địnһ của trò cһơi và cácһ tổ cһức trò cһơi Sau khi hoàn thành các công việc, tiến hành biên soạn nội dung của trò chơi

Bước 4: Chuẩn bị các đồ dùng phục vụ cho trò chơi

GV (người thiết kế) cần chuẩn bị các thiết bị, dụng cụ phù hợp với nội dung để tổ chức tốt trò chơi

Trang 27

Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử lớp 10 có

khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên một số

học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả

Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử

khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên

trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu

[19] Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

Địa chỉ truy cập đến PhET link tiếng việt: https://phet.colorado.edu/vi

Hình 1.1 Phần mềm PhET Người sử dụng có thể thay đổi thông số và quan sát được thí nghiệm ảo

ở dạng động (video) của các thí nghiệm trong kho tài nguyên Phần mềm PhET không cần cài đặt về máy tính, không tốn dung lượng bộ nhớ máy tính (nếu sử dụng online) hoặc tải từng video về lưu trên máy sử dụng

1.4.2 Phần mềm Kahoot

Kahoot là công cụ hỗ trợ dạy học miễn phí dựa trên nền tảng trò chơi

và được sử dụng như một hệ thống lớp học tương tác

Kahoot hỗ trợ người dùng tạo trò chơi (bài kiểm tra trắc nghiệm) với nhiều lựa chọn cùng tính năng có thể tích hợp hình ảnh và video một cách dễ dàng và nhanh chóng

Có thể dùng bất kỳ trình duyệt web nào, không cần phải cài đặt Dễ dàng tìm hiểu và sử dụng thêm các câu đố khác nhờ kho câu đố hay đã được

Trang 28

Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử lớp 10 có

khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên một số

học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả

Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử

khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên

trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu

[19] Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

Hình 1.3 Phần mềm Blooket

Trang 29

Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử lớp 10 có

khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên một số

học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả

Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử

khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên

trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu

[19] Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

Hình 1.4 Phần mềm Wordwall

1.4.5 Phần mềm Plicker

GV soạn câu hỏi theo hình thức trắc nghiệm

Có bảng thống kê theo từng học sinh xem câu nào trả lời đúng, câu nào sai và tính số % điểm đạt được của mỗi học sinh Bên cạnh đó còn có bảng thống kê theo câu hỏi, ở mỗi câu hỏi có thống kê tỉ lệ bao nhiêu % học sinh trả lời đúng

Trang 30

Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về không đủ linh hoạt để đáp ứng nhu cầu đa dạng của học sinh và khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự hướng phát triển năng lực và tăng cường hiệu quả của quá trình dạy học 2 Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu các biện pháp tổ chức trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy nhật thường xuyên để áp dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử mới PPDH theo hướng phát triển NL cho HS, trong đó có NLTH Gần đây có một số công trình nghiên cứu về NLTH, chẳng hạn là nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn học còn nặng, hay do sĩ số lớp đông, hoặc do GV mất nhiều thời gian để xây dựng các hoạt động dạy học phát triển NLTH Và có 50% GV chưa nắm được rõ nội dung phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều khó khăn nhất vì kiến thức khó, trừu tượng và khó thiết kế công cụ đánh giá, tổng hợp kết quả từ các công cụ đánh mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo học tương tự để có thể tiếp thu kiến thức nhanh chóng, đúng đắn và hiệu quả Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy nhẫn từ phía học sinh Tuy nhiên, môi trường học tập truyền thống thường không đủ linh hoạt để đáp ứng nhu cầu đa dạng của học sinh và khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ ứng dụng công nghệ thông tin” giúp đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực và tăng cường hiệu quả của quá trình dạy học 2 Mục đích nghiên cứu Nghiên học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao hơn so với khi giáo viên dạy phần Cấu tạo cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử

Hình 1.5 Phần mềm Plicker 1.5 Thực trạng của việc sử dụng trò chơi học tập môn Hóa học trên một

số ứng dụng công nghệ thông tin nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh

1.5.1 Mục đích điều tra

Điều tra mức độ tiếp cận và triển khai về DH phát triển NLTH cho HS tại một số trường THPT ở Hà Nội

1.5.2 Đối tượng điều tra

- 30 GV dạy môn Hóa học tại các trường THPT huyện Đan Phượng, huyện Phúc Thọ, Hà Nội

- 320 HS lớp 10 của 2 trường THPT Thọ Xuân, THPT Vân Cốc, Hà Nội

1.5.3 Nội dung điều tra

- Phiếu điều tra GV: Đánh giá các vấn đề sau đây:

+ Mức độ GV quan tâm, tiếp cận và triển khai DH phát triển NLTH cho HS

+ Những khó khăn GV gặp phải khi triển khai DH phát triển NLTH cho HS

- Phiếu điều tra HS: Đánh giá các vấn đề sau đây:

+ Mức độ được tham gia các hoạt động nhằm phát triển NLTH

+ Mức độ hiệu quả khi được học một số PPDH tích cực từ GV

Trang 31

Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử lớp 10 có

khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên một số

học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả

Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử

khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên

trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu

[19] Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả

Biểu đồ 1.2 Mức độ quan tâm của GV đến việc phát triển NLTH

Biểu đồ 1.3 Mức độ sử dụng các PPDH phát triển NLTH cho HS

Kết quả biểu đồ 1.2 cho thấy, tất cả 30 GV (100%) đều quan tâm đến việc phát triển NLTH của HS Mức độ thường xuyên quan tâm là lớn hơn (18

PP dạy học

dự án

PP dạy học giải quyết vấn đề

PP dạy học trực quan

PP dạy học

sử dụng trò chơi

PP dạy học theo nhóm

PP dạy học

sử dụng bài tập

Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Chưa bao giờ

Trang 32

Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử lớp 10 có

khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên một số

học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả

Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử

khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên

trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu

[19] Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả

Biểu đồ 1.2 Mức độ quan tâm của GV đến việc phát triển NLTH

Biểu đồ 1.3 Mức độ sử dụng các PPDH phát triển NLTH cho HS

Kết quả biểu đồ 1.2 cho thấy, tất cả 30 GV (100%) đều quan tâm đến việc phát triển NLTH của HS Mức độ thường xuyên quan tâm là lớn hơn (18 GV), 12 GV thỉnh thoảng quan tâm đến việc phát triển NLTH của HS Điều

PP dạy học

dự án

PP dạy học giải quyết vấn đề

PP dạy học trực quan

PP dạy học

sử dụng trò chơi

PP dạy học theo nhóm

PP dạy học

sử dụng bài tập

Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Chưa bao giờ

Trang 33

này chứng tỏ NLTH là NL rất cần thiết đối với HS và GV luôn muốn giúp các

em phát triển được NLTH GV thường xuyên sử dụng những PPDH như đàm thoại, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học trực quan, dạy học theo nhóm, dạy học sử dụng bài tập PPDH giải quyết vấn dề và dạy học trực quan được GV quan tâm sử dụng thường xuyên lớn hơn 80% Tuy nhiên PPDH dự án và PPDH sử dụng trò chơi chưa dành được nhiều sự quan tâm của GV, hơn 50%

GV hiếm khi và chưa bao giờ sử dụng

Câu hỏi tiếp theo là về những khó khăn mà GV gặp khi phát triển NLTH cho HS Kết quả thu được như bảng sau:

Bảng 1.3 Kết quả điều tra những khó khăn mà GV gặp phải khi phát triển

4 Khó thiết kế công cụ đánh giá và tổng

hợp kết quả từ các công cụ đánh giá 25 83

Trang 34

Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử lớp 10 có

khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên một số

học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả

Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử

khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên

trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu

[19] Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

từ các công cụ đánh giá Điều khó khăn tiếp theo nữa là do GV chưa thành thục các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực

Kết quả điều tra còn cho thấy hầu hết các GV không biết dùng phần mềm nào để thiết kế trò chơi trong DH Vậy việc tìm ra các phần mềm thiết

kế trò chơi thân thiện, dễ thiết kế và sử dụng là việc quan trọng vô cùng Kết quả đánh giá kỹ năng sử dụng các phần mềm ứng dụng CNTT của GV được thể hiện như sau:

Biểu đồ 1.4 Đánh giá kỹ năng sử dụng các phần mềm ứng dụng CNTT của GV

Hoàn toàn không biết Cơ bản Thành thạo

Trang 35

Kết quả của biểu đồ 1.4 cho thấy hầu hết GV thành thạo các phần mềm như Powerpoint, Word, Kahoot, Quizizz Còn các phần mềm như PhET, Plicker, Blooket, Wordwall phần lớn GV không biết và chưa sử dụng bao giờ Đây đều là các phần mềm mới được thiết kế gần đây, chưa phổ biến nên phần lớn GV chưa được biết đến và có cơ hôi sử dụng

1.5.5.2 Phân tích kết quả điều tra với phiếu khảo sát ý kiến của HS

Kết quả điều tra 320 HS đạt được như sau:

Biểu đồ 1.5 Các hình thức tổ chức DH của GV

Từ số liệu của bảng 1.5 cho thấy, GV thường sử dụng các hoạt động

GV giảng bài – HS ghi chép (ứng với PP thuyết trình), GV hỏi – HS trả lời (ứng với phương pháp đàm thoại), GV cho HS quan sát mô hình, hình ảnh, video thí nghiệm – HS trả lời (ứng với phương pháp dạy học trực quan), GV giao BT – HS giải BT (ứng với phương pháp sử dụng BT) diễn ra thường xuyên Các hình thức học tập ứng với các học tập tích cực khác chỉ thực hiện

ở mức độ “thỉnh thoảng” hoặc “hiếm khi” Thậm chí hình thức học tập qua trò chơi được trên 50% HS đánh giá là hiếm khi và chưa bao giờ được thực hiện

GV đặt ra các tình huống có vấn

đề (mâu thuẫn) – HS giải đáp

GV cho HS quan sát mô hình, hình ảnh, video thí nghiệm và đặt câu hỏi –

HS trả lời

GV tổ chức trò chơi học tập – HS tham gia

GV đưa ra nhiệm vụ học tập – HS hoạt động nhóm

GV giao bài tập – HS giải bài tập

Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Chưa bao giờ

Trang 36

Điều này phù hợp với kết quả khảo sát về mức độ sử dụng các PPDH trên đối tượng GV

Khi được hỏi về hiệu quả của việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn Hóa, phần lớn HS (85%) cho rằng rất hiệu quả và hiệu quả Bên cạnh đó là câu hỏi đánh giá về khả năng tự học của HS, kết quả thu được như sau:

Biểu đồ 1.6 Đánh giá khả năng tự học của HS

Đa số HS được hỏi cho biết HS thường xuyên học bài theo trọng tâm

và luôn trao đổi, thảo luận cùng bạn bè Thỉnh thoảng HS sẽ học qua tài liệu trên Internet Tuy nhiên rất nhiều HS hiếm khi đọc sách trước khi đi học, thậm chí chưa bao giờ nghiên cứu bài trong sách giáo khoa và tham khảo các tài liệu trước khi đi học

Đi kèm với khả năng tự học của HS, tôi điều tra cả về thời gian tự học mỗi ngày của HS là bao nhiêu, kết quả như sau:

Học bài theo trọng tâm

Trao đổi, thảo luận cùng bạn bè

Học qua tài liệu trên Internet

Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Chưa bao giờ

Trang 37

Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử lớp 10 có

khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên một số

học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu Tác giả

Mohd Mokhzani Ibrahim cùng cộng sự đã sử dụng phương pháp dạy học kết hợp, xây dựng kế hoạch dạy học tích hợp cả học trực tiếp với trực tuyến giúp nâng cao kỹ năng tự học của HS trong môn Hóa học [19]

Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập cao

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả Hiện nay, đa số HS cho rằng Hóa học là môn học trừu tượng, đòi hỏi người học phải có khả năng tư duy cao để lĩnh hội được các kiến thức trong bài giảng Hóa học Việc tìm hiểu về chủ đề Cấu tạo nguyên tử

khuyến khích sự tương tác sâu sắc với chủ đề này Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) trên

trò chơi học tập trên một số ứng dụng CNTT chủ đề Cấu tạo nguyên tử (Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học cho HS Cho đến hiện nay, vấn đề tự học là đề tài được các nhà giáo dục đang tiếp tục nghiên cứu

[19] Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi trong dạy học luôn được các nước trên thế giới quan tâm và nghiên cứu hằng năm Tác giả Sa'diyah đã thực hiện áp dụng phần mềm PhET để dạy học và mang lại kết quả học tập

dạy, giúp cho việc học trở nên gần gũi, sinh động hơn Trong nghiên cứu, tác giả đã phân tích tác động của việc sử dụng Go-Chemist đối với động lực của học sinh về chủ đề Cấu tạo nguyên tử [20] trước đến nay, ở

nhóm tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên, Nguyễn Xuân Trường Kết quả bảng 1.1 cho thấy mỗi GV lại có những khó khăn khác nhau về việc phát triển NLTH cho HS Lí do xuất phát từ nhiều hướng khác nhau như do

cứu về NLTH là điều rất cần thiết đối với GV, giúp xác định các biểu hiện của NLTH, từ đó GV có thể xây dựng các hoạt động phù hợp để phát triển NLTH cho HS Khi DH chủ đề Cấu tạo nguyên tử, GV gặp nhiều

nhiều thời gian và HS không hiểu rõ bản chất của vấn đề Khi gặp câu hỏi ở mức độ thông hiểu hoặc vận dụng, HS sẽ lúng túng, không trả lời được và kiến thức sẽ bị lãng quên chỉ trong một thời gian ngắn

Mặt khác, để hoàn thành được câu hỏi mức độ vận dụng trong Hóa học thì HS không những cần nắm vững kiến thức mà còn phải hiểu rõ bản chất vấn đề Do đó, khi dạy trên lớp, giáo viên cần khéo léo lồng ghép kiến

hiệu quả

Biểu đồ 1.7 Đánh giá thời gian tự học mỗi ngày của HS

Từ biểu đồ có thể thấy rằng phần lớn HS tự học dưới 1 giờ mỗi ngày (61%), 20% HS tự học từ 1 giờ đến gần 2 giờ mỗi ngày và chỉ có 1% HS học

từ 4 giờ trở lên mỗi ngày Kết quả này cho thấy các em chưa dành quá nhiều thời gian cho việc tự học, GV cần thay đổi phương pháp dạy học để giúp HS thay đổi tình trạng này

Trang 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Chương 1 của luận văn đã trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của

đề tài, bao gồm các nội dung chính như sau:

- Tổng quan về vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài: đã tìm hiểu các tài liệu, công trình có cùng hướng nghiên cứu với đề tài

- Đã làm rõ được một số vấn đề về cơ sở lý luận của đề tài: khái niệm

về NL; khái niệm, biểu hiện của NLTH; công cụ đánh giá, tiêu chí đánh giá NLTH của HS Ngoài ra, đã liệt kê một số phần mềm giúp thiết kế trò chơi dạy học

- Đã điều tra, khảo sát thực trạng DH phát triển NLTH cho HS: Kết quả điều tra trên 320 HS và 30 GV tại một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội

đã chỉ ra rằng: Hầu hết GV chưa thành thục các PPDH tích cực GV đã bắt đầu chú ý đến DH phát triển NL nói chung và DH nhằm phát triển NLTH nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Còn nhiều GV hiếm khi hoặc chưa bao giờ sử dụng các phần mềm dùng để thiết kế trò chơi trong DH Bên cạnh đó, phần lớn HS chưa phát triển được NLTH

Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất các biện pháp nhằm phát triển NLTH của HS phần Cấu tạo nguyên tử – Hóa học 10 Các đề xuất này được trình bày ở chương 2 của luận văn

Trang 39

CHƯƠNG 2

BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA TRÒ CHƠI HỌC TẬP CHỦ ĐỀ CẤU TẠO NGUYÊN

TỬ TRÊN MỘT SỐ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

2.1 Vị trí, đặc điểm và yêu cầu cần đạt của chủ đề Cấu tạo nguyên tử

2.1.1 Vị trí, đặc điểm của chủ đề Cấu tạo nguyên tử trong mạch nội dung chương trình

Chủ đề Cấu tạo nguyên tử được đặt ở ngay đầu của Chương trình môn Hóa học lớp 10, được tiếp nối từ chủ đề Nguyên tử, Nguyên tố hóa học ở môn Khoa học tự nhiên 7 Chủ đề Cấu tạo nguyên tử là một trong những nội dung cốt lõi của kiến thức cơ sở hóa học chung, đóng vai trò là lý thuyết chủ đạo của Chương trình môn Hóa học, nhằm trang bị kiến thức nền tảng để HS tiếp cận có bản chất, có quy luật đến những vấn đề thuộc chương trình hóa học vô

cơ và hóa học hữu cơ sau này

Chủ đề gồm ba nội dung:

Chủ đề Cấu tạo nguyên tử có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển tính quy luật trong hóa học của HS cũng như về lịch sử phát triển các mô hình nguyên tử

- Tính quy luật: Mọi chất đều được tạo nên từ các nguyên tử, khi biết được cấu tạo của nguyên tử thì sẽ dự đoán được đặc điểm của các chất

- Tính lịch sử: Từ sự mâu thuẫn không giải thích được bằng mô hình này

CẤU TẠO

NGUYÊN TỬ

Các thành phần của nguyên tửNguyên tố hóa học

Cấu trúc lớp vỏ electron nguyên tử

Trang 40

2.1.2 Phân tích nội dung, yêu cầu cần đạt chủ đề Cấu tạo nguyên tử - Hóa học 10

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông

môn Hóa học: [3]

Bảng 2.1 Yêu cầu cần đạt chủ đề Cấu tạo nguyên tử - Hóa học 10

và điện tích của từng loại hạt

- So sánh kích thước của hạt nhân với kích thước của nguyên tử

và khối lượng của electron với khối lượng của proton và neutron Nguyên tố

hoá học

– Trình bày được khái niệm về nɡuyên tố hoá học, số hiệu nɡuyên tử và kí hiệu nɡuyên tử

– Phát biểu được khái niệm đồnɡ vị, nɡuyên tử khối

– Tính được nɡuyên tử khối trunɡ bình (theo amu) dựa vào khối lượnɡ nɡuyên tử và phần trăm số nɡuyên tử của các đồnɡ vị theo phổ khối lượnɡ được cunɡ cấp

- Giải thích ý tưởng về lớp electron, lớp con và mối liên hệ giữa

số lượng lớp con của một lớp Kết nối số AO trong một lớp với

số lượng lớp con

- Khi bạn có số nguyên tử Z của 20 nguyên tố đầu tiên trong bảng

Ngày đăng: 01/07/2025, 10:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nɡuyễn Thị Lan Anh, Tạ Hoànɡ Phúc, Trần Thị Nɡọc Dunɡ, Nɡuyễn Phạm Thu Nɡân. (2023). Sử dụng học liệu số “SC Web” phần Hoá học hữu cơ lớp 11 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh. Tạp chí ɡiáo dục, 18-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SC Web” phần Hoá học hữu cơ lớp 11 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh. "Tạp chí ɡiáo dục
Tác giả: Nɡuyễn Thị Lan Anh, Tạ Hoànɡ Phúc, Trần Thị Nɡọc Dunɡ, Nɡuyễn Phạm Thu Nɡân
Năm: 2023
16. Đỗ Thị Phương Thảo, Phạm Minh Khánh và Trần Thị Lan Hương (2021), “Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Vật lí 11”, Tạp chí giáo dục, (Số đặc biệt kì 2 tháng 5/2020), tr 124-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng trò chơi trong dạy học Vật lí 11
Tác giả: Đỗ Thị Phương Thảo, Phạm Minh Khánh và Trần Thị Lan Hương
Năm: 2021
17. Võ Thủy Tiên, Lê Nguyễn Như Quỳnh và Lý Huy Hoàng (2022), “Sử dụng trò chơi trong dạy học môn Hóa học 10, phần Hóa học Đại cương”, Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, (Tập 11, số 6, 2022), tr 12-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng trò chơi trong dạy học môn Hóa học 10, phần Hóa học Đại cương
Tác giả: Võ Thủy Tiên, Lê Nguyễn Như Quỳnh và Lý Huy Hoàng
Năm: 2022
18. Nguyễn Thị Diễm Hằng (2022). Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược tổ chức dạy học nội dung “Vẽ cấu trúc phân tử” (Chuyên đề học tập Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh. Tạp chí Giáo dục, 22(22), 7-13.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vẽ cấu trúc phân tử” (Chuyên đề học tập Hóa học 10) nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh. "Tạp chí Giáo dục, 22
Tác giả: Nguyễn Thị Diễm Hằng
Năm: 2022
19. Ibrahim, Mohd Mokhzani, et al. "Enhancing Self-Directed Learning Skills via Blended Problem-based Learning in Chemistry Learning." Central Asia & the Caucasus (14046091) 23.1 (2022) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enhancing Self-Directed Learning Skills via Blended Problem-based Learning in Chemistry Learning
20. Irwanto, Irwanto, et al. "The Impact of Using the―Go-Chemist!‖ App on Students ‘Motivation to Learn Atomic Structure in Chemistry." International Journal of Information and Education Technology 13.9 (2023): 1500-1505 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Impact of Using the―Go-Chemist!‖ App on Students ‘Motivation to Learn Atomic Structure in Chemistry
Tác giả: Irwanto, Irwanto, et al. "The Impact of Using the―Go-Chemist!‖ App on Students ‘Motivation to Learn Atomic Structure in Chemistry." International Journal of Information and Education Technology 13.9
Năm: 2023
21. Sa'diyah, A., & Lutfi, A. (2023). Atomic structure teaching module with PhET simulation to increase student motivation and learning outcomes. Hydrogen: Jurnal Kependidikan Kimia, 11(4), 459-468 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hydrogen: Jurnal Kependidikan Kimia, 11
Tác giả: Sa'diyah, A., & Lutfi, A
Năm: 2023
10. Trần Trọnɡ Thủy, Nɡuyễn Quanɡ Uẩn (1998). Tâm lí học đại cươnɡ, NXB ɡiáo dục Khác
11. Nɡuyễn Cảnh Toàn (Chủ biên), Nɡuyễn Kì, Lê khánh Bằnɡ, Vũ Văn Tảo (2004), Học và dạy cách học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Khác
13. Bộ giáo dục và Đào tạo (2020), Tài liệu tập huấn Module 03 gVPT: Môn Hóa học THPT Khác
14. Sái Cônɡ Hồnɡ, Lê Thái Hưnɡ, Lê Thị Hoànɡ Hà, Lê Nɡọc Đức (2020), ɡiáo trình kiểm tra đánh ɡiá tronɡ dạy học, Nxb Đại học Quốc ɡia Hà Nội Khác
15. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại – Lí luận, biện pháp, kĩ thuật, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Các mức độ hành vi tương ứng với các biểu hiện của năng lực tự học - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Bảng 1.2. Các mức độ hành vi tương ứng với các biểu hiện của năng lực tự học (Trang 21)
Hình 1.1. Phần mềm PhET  Người sử dụng có thể thay đổi thông số và quan sát được thí nghiệm ảo - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Hình 1.1. Phần mềm PhET Người sử dụng có thể thay đổi thông số và quan sát được thí nghiệm ảo (Trang 27)
Hình 1.2. Phần mềm Kahoot - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Hình 1.2. Phần mềm Kahoot (Trang 28)
Hình 1.3. Phần mềm Blooket - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Hình 1.3. Phần mềm Blooket (Trang 28)
Hình 1.4. Phần mềm Wordwall - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Hình 1.4. Phần mềm Wordwall (Trang 29)
Hình 1.5. Phần mềm Plicker  1.5. Thực trạng của việc sử dụng trò chơi học tập môn Hóa học trên một - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Hình 1.5. Phần mềm Plicker 1.5. Thực trạng của việc sử dụng trò chơi học tập môn Hóa học trên một (Trang 30)
Bảng 1.3. Kết quả điều tra những khó khăn mà GV gặp phải khi phát triển - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Bảng 1.3. Kết quả điều tra những khó khăn mà GV gặp phải khi phát triển (Trang 33)
Bảng tuần һoàn. - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Bảng tu ần һoàn (Trang 56)
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
o ạt động 2: Hình thành kiến thức (Trang 69)
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
o ạt động 2: Hình thành kiến thức (Trang 98)
1. Hình dạng orbital nguyên tử - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
1. Hình dạng orbital nguyên tử (Trang 100)
Bảng 3.1. Kết quả HS tự đánh giá NLTH của HS - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Bảng 3.1. Kết quả HS tự đánh giá NLTH của HS (Trang 118)
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả đánh giá NLTH của HS - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả đánh giá NLTH của HS (Trang 119)
Bảng 3.5. Kết quả bài kiểm tra số 2 trường THPT Thọ Xuân - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
Bảng 3.5. Kết quả bài kiểm tra số 2 trường THPT Thọ Xuân (Trang 121)
Hình  ảnh,  video  thí  nghiệm  và - Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua tổ chức trò chơi học tập chủ Đề cấu tạo nguyên tử (hóa học 10) trên một số Ứng dụng công nghệ thông tin
nh ảnh, video thí nghiệm và (Trang 135)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w