1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC - ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI - BAO TRỌN ĐIỂM A

38 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề cương Ôn tập Môn Giáo dục Học - Đại Học Sư Phạm Hà Nội - Bao Trọn Điểm A
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Đề cương ôn tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 570 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cẩm nang ôn thi sư phạm cực kỳ dễ hiểu Tài liệu tổng hợp đầy đủ các vấn đề nền tảng của giáo dục học hiện đại. Dành riêng cho sinh viên ngành giáo dục với hệ thống câu hỏi – trả lời mẫu và đề cương ôn thi chi tiết. Đã được kiểm chứng qua nhiều kỳ thi!

Trang 1

+ Mỗi thời kỳ khác nhau → tiêu chí, mục tiêu về giáo dục sẽ khác nhau → lý thuyết về giáo dục học khác nhau → nhân cách (phẩn chất và năng lực) của mỗi thời kỳ khác nhau

Ví dụ:- Phong kiến: người con trai (con của quan lại, tăng lữ), thuyết trình truyền thụ là chính, nội dung: tề gia trị quốc, bình thiên hạ

- Hiện nay: toàn xã hội, nhiều phương pháp truyền thống + hiện đại, hình thành kiến thức, kỹ năng và thái độ

+ Giáo dục theo nghĩa rộng bao gồm:

• Quá trình dạy học: phát triển trí tuệ, hình thành năng lực (hình thành những tri thức khoa học và kỹ năng nghề nghiệp

• QTGD (nghĩa hẹp): hình thành phẩm chất đạo đức

- Giáo dục (nghĩa hẹp): Là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động

cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu

Ví dụ:

- Lý tưởng của Tố Hữu là: Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời châm lý chói qua tim

- Lý tưởng của thanh niên, tuổi trẻ, hội nhập

→ thời chiến và thời bình (Lý tưởng là những hình ảnh đẹp, hoàn hảo, trọn vẹn, thúc đẩy bản thân đạt được điều đó)

- Là giáo viên: lý tưởng là những năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức

- Những động cơ có thể là động cơ học tập, động cơ để luôn phấn đấu rèn luyện nhân cách

- Dạy học: là quá trình tác động (tương tác) qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp người học lĩnh hội các tri thức khoa học (khoa học về ngành nghề), phát triển năng lực tư duy và năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích giáo dục

Ví dụ: - Các kĩ năng ở đây có thể là kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, quan sát, nhận xét,

xử lí tình huống

Phân biệt các khái niệm trên:

Trang 2

Các khái niệm trên gắn với các QTGD (theo nghĩa rộng), QTGD (theo nghĩa hẹp) và quá trình dạy học được phân biệt ở sự khác nhau về việc thực hiện chức năng trội của chúng

- Chức năng trội của giáo dục (theo nghĩa rộng): Phát triển nhân cách toàn diện ở người học sinh bao gồm cả năng lực và phẩm chất

- Chức năng trội của giáo dục (theo nghĩa hẹp): phát triển về mặt phẩm chất ở người học sinh

- Chức năng trội của dạy học phát triển về mặt năng lực ở người học sinh

Câu 2: Các chức năng xã hội của giáo dục

- Giáo dục thực hiện chức năng xã hội của mình thông qua việc: con người tiến hành truyền đạt kinh nghiệm lịch sử - xã hội từ thế hệ trước cho thế hệ sau → để tồn tại và phát triển, Kinh nghiệm này ngày càng phong phú, càng chứng tỏ vai trò to lớn của giáo dục đối với

sự phát triển xã hội

- Với tư cách là một hiện tượng xã hội, giáo dục (1) tác động vào từng cá nhân để trở thành những nhân cách theo yêu cầu phát triển của xã hội; (2) tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội; (3) tác động đến các quá trình xã hội mà con người là chủ thể

1 Chức năng kinh tế - sản xuất:

- Giáo dục tái tạo sản xuất sức lao động xã hội, tạo nên sức lao động mới có chất lượng cao hơn, thay thế sức lao động cũ đã lạc hậu, đã già cỗi hoặc đã mất đi bằng cách phát triển những năng lực chung và năng lực chuyên biệt của con người, nhờ đó tạo ra năng suất lao động cao, thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh thế - xã hội

- Chúng ta vẫn thường nói giáo dục là chìa khoá của sự phát triển, giáo dục đi trước đón đầu

- Các yêu cầu để giáo dục thực hiện tốt chức năng kinh tế- sản xuất:

+ Giáo dục luôn gắn kết với thực tiễn xã hội

Ví dụ:

Trang 3

+ Tiếp tục thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

+ Hệ thống giáo dục cần không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp, phương tiện (chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018 là một biểu hiện trong đổi mới giáo dục),… trong đó chú trọng phát triển các năng lực: năng lực cá thể, năng lực xã hội, năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp nhằm phát triển năng lực hành động cho người học, đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn nghề nghiệp

→ Kết luận sư phạm:

2 Chức năng chính trị - xã hội:

- Giáo dục tác động đến cấu trúc xã hội: tác động đến các bộ phận, các thành phần xã hội (các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm xã hội…) làm thay đổi tính chất mối quan hệ giữa các bộ phận, thành phần đó bằng cách nâng cao trình độ văn hoá chung cho toàn thể xã hội

Ví dụ: - Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng → ảnh hưởng, được giáo dục chung cho toàn xã hội thông qua: nội dung giáo dục (đạo đức, giáo dục công dân, hệ thống môn học tư tưởng lý luận: triết học, chủ nghĩa xã hội); những văn bản, quy phạm giáo dục; phương thức phổ cập giáo dục → xã hội hoá giáo dục;…

- Giáo dục là phương tiện (tích cực): công cụ để khai sáng nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, củng cố niềm tin, kích thích hành động của tất cả các lực lượng xã hội, nhằm duy trì, củng

cố thể chế chính trị - xã hội cho một quốc gia nào đó

Ví dụ: - Nâng cao nhận thức về các loại dịch bệnh và cách phòng chống

- Trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc, tình yêu quê hương đất nước

- Xét riêng ở nước ta:

+ Giáo dục xã hội chủ nghĩa góp phần làm cho cấu trúc xã hội trở nên thuần nhất, làm cho các giai cấp, các tầng lớp, các thành phần xã hội… ngày càng xích lại gần nhau thông qua việc thực hiện một chính sách giáo dục bình đằng, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn thể nhân dân lao động được học tập, được lựa chọn nghề nghiệp và thay đổi vị trí xã hội + Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước, đại diện cho quyền lực “của dân, do dân, vì dân” trên nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giáo dục là

sự nghiệp của Đảng, của nhà nước và của toàn dân Giáo dục phục vụ cho mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

→ Kết luận sư phạm:

- Người giáo viên luôn phải nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, pháp

luật của nhà nước

- Giúp học sinh hiểu, tin tưởng và làm theo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng,

Trang 4

3 Chức năng tư tưởng – văn hoá:

- Giáo dục tham gia vào việc xây dựng một hệ tư tưởng/ lối sống chi phối và phổ biến trong toàn xã hội bằng cách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng cao cho mọi tầng lớp xã hội

- Thông qua giáo dục, người được giáo dục sẽ:

+ Nhận thức, thấm nhuần và vận dụng những tư tưởng xã hội đương thời

+ Hình thành thế giới quan, giáo dục ý thức, hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội

+ Hình thành và phát triển ở con người những các giá trị văn hoá của nhân loại, của dân tộc, của cộng đồng được bảo tồn và phát triển, trở thành hệ thống giá trị của từng con người

- Tư tưởng hiện đại với vai trò của giáo dục:

+ Thế giới ngày nay coi giáo dục là con đường cơ bản nhất để giữ gìn và phát triển văn hoá, để khỏi tụt hậu – trình độ dân trí cao “Một dân tộc không được giáo dục –dân tộc đó

sẽ bị loài người đào thải, một cá nhân không được giáo dục – cá nhân đó sẽ bị xã hội loại bỏ” – Nhà giáo dục người Mỹ Toffle

+ Trình độ dân trí cao là một tiêu chí để đánh giá sự giàu mạnh của một quốc gia → tiếp thu, phát triển được các giá trị văn hoá tốt đẹp; đấu tranh ngăn ngừa xoá bỏ được những tư tưởng, hành vi tiêu cực ảnh hương đến tất cả những hoạt động cần thiết, hữu ích trong đời sống xã hội

Ví dụ: - Xoá bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín, di đoan, các tệ nạn xã hiện, thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình, an toàn giao thông…

- Chương trình chống nghèo đói tốt nhất là một nền giáo dục ở đẳng cấp thế giới

– Barack Obama

+ Giáo dục thoả mãn nhu cầu được học tập suốt đời của mỗi công dân, → giáo dục còn

là một phúc lợi cơ bản, một quyền sống tinh thần của mỗi thành viên trong xã hội (xã hội hoá giáo dục)

Ví dụ: - Việt Nam → giáo dục xã hội chủ nghĩa

- Để thực hiện chức năng này, giáo dục phải được quan tâm ngay từ bậc Mầm non cho đến đại học và sau đại học; phát triển hợp lí các loại hình giáo dục và các phương thức đào tạo

để mọi lứa tuổi được hưởng quyền lợi học tập, thoả mãn nhu cầu phát triển tài năng của mọi công dân, góp phần đắc lực vào sự nghiệp côn nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Ví dụ: - Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018:

Trang 5

- Trong ba chức năng xã hội của giáo dục, chức năng kinh tế- sản xuất là chức năng

quan trọng nhất, nó là cơ sở để thực hiện chức năng kinh tế - chính trị, chức năng tư tưởng

–văn hoá

- Giáo dục là trung tâm, là nòng cốt đối với sự phát triển xã hội, sự phát triển con người Giáo dục là chìa khóa mở cửa tương lai, là nghệ thuật biến con người thành có đạo đức Vì vậy, mục tiêu phát triển giáo dục gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Đầu tư cho

GD là đầu tư cho sự phát triển

- VN →

Trang 6

Câu 3: Tính chất của giáo dục

- Để tồn tại và phát triển loài người không ngừng tác động vào thế giới khách quan, nhận thức thế giới khách quan để tích lũy vốn kinh nghiệm, để tham gia vào cuộc sống lao động

và các hoạt động xã hội nhằm duy trì và phat triển xã hội loài người

- Giáo dục được hiểu như là quá trình thống nhất của sự hình thành tinh thần và thể chất của mỗi cá nhân trong xã hội, với cách hiểu này, giáo dục không thể tách rời cuộc sống của con người, của xã hội, nó là một hiện tượng xã hội

- Với tư cách là một hiện tượng xã hội đặc biệt, giáo dục có những tính chất sau:

+ Giáo dục là một hiện tượng xã hội có tính phổ biến và vĩnh hằng

+ Giáo dục chịu sự quy định của xã hội

+ Giáo dục mang tính lịch sử

+ Giáo dục mang tính giai cấp

1 Giáo dục là một hiện tượng xã hội có tính phổ biến và tính vĩnh hằng:

- Hiện tượng giáo dục xuất hiện từ khi xuất hiện xã hội loài người, ở đâu có con người sinh

sống ở đó có giáo dục Nói cách khác giáo dục sẽ chỉ mất đi khi xã hội không còn tồn tại

- Sự tồn taị và phát triển của xã hội luôn song hành với sự tồn tại và phát triển của giáo

dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội nảy sinh một cách tất yếu, là một phần không thể tách rời đời sống xã hội

- Vậy nên giáo dục có ở mọi thời đại, mọi thiết chế xã hội khác nhau Giáo dục là điều kiện

không thể thiếu được cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và xã hội loài người

Ví dụ: - Lịch sử phát triển của giáo dục từ thời kỳ con người mông muội (XH nguyên

thuỷ) → xã hội có nhà nước (phong kiến, hiện đại) → hiện nay

2 Giáo dục chịu sự quy định của xã hội:

- Sự quy định của xã hội đối với giáo dục được coi như là một quy luật tất yếu khách quan;

ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có nền giáo dục tương ứng

- Khi xã hội chuyển từ hình thái KTXH này sang hình thái KTXH khác thì toàn bộ hệ thống giáo dục tương ứng cũng biến đổi theo; nói cách khác: sự phát triển của giáo dục phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội, tiến trình phát triển của giáo dục gắn với tiến trình đi lên của

Trang 7

- Ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì giáo dục có những đặc trưng riêng về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, yêu cầu đối với nhà giáo, yêu cầu đối với người được giáo dục, về kết quả giáo dục, môi trường giáo dục

Ví dụ: - Giáo dục Nhật Bản → chú trọng giáo dục nhà trường, dạy về giá trị đạo đức, lòng tự tôn dân tộc và trách nhiệm đối với xã hội; tạo ra những thế hệ với những sáng chế, công nghệ đột phá đưa nước Nhật phát triển (sau chiến tranh thế giới thứ II)

- Giáo dục Hoa Kỳ → giáo dục mang tính tự do, dân chủ; tôn trọng tính chủ thể, chú trọng phát huy sự tích cực, chủ động của người học; có các trường đại học uy tín hàng đầu thế giới

- Thế giới → UNESCO khái quát 4 trụ cột chính của việc học tập thế kỷ XXI

- Mỗi quốc gia có lịch sử dân tộc riêng nên sự khác biệt về nền giáo dục giữa quốc gia này với quốc gia khác là một tất yếu

→ Không thể đem mô hình giáo dục của quốc gia này áp dụng rập khuôn cho một quốc gia khác; sự áp dụng đó là phản khoa học và tất nhiên không mang lại hiệu quả giáo dục

3 Giáo dục mang tính giai cấp:

- Thể hiện trong các chính sách giáo dục chính thống được xây dựng trên cơ sở tư tưởng của nhà nước cầm quyền → Khẳng định giáo dục không đứng ngoài chính sách và quan điểm của nhà nước, điều đó được toàn xã hội chấp nhận

Ví dụ:

- Giáo dục được sử dụng như một công cụ của giai cấp cầm quyền → duy trì lợi ích của giai cấp, những lợi ích này có thể phù hợp thiểu số người trong xã hội hoặc với đa số các tầng lớp trong xã hội hoặc với lợi ích chung của toàn xã hội

+ Xã hội có giai cấp đối kháng → GD là đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị + Xã hội không có giai cấp đối kháng → Giáo dục hướng tới sự công bằng

Ví dụ: - Tư bản → GD khoa học công nghệ cho con em tư bản; dạy kỹ năng nghề cho công nhân lao (lao động chân tay) → phục vụ cho giai cấp tư bản

- Phong kiến → dạy con em phong kiến, quan lại; đào tạo thi cử, làm quan, nặng

- Ở VN, mục đích của Nhà nước ta là hướng tới xoá bỏ áp bức bóc lột, từ đó hướng tới sự bình đẳng, công bằng cho giáo dục; đặc biệt là khi chuyển sang cơ chế thị trường, bên cạnh

Trang 8

Nhà nước ta đã cố gắng đưa ra những chính sách đảm bảo công bằng trong giáo dục nhằm: + Mọi công dân đều có quyền tiếp cận hệ thống giáo dục

+ Đảm bảo cho những học sinh, sinh viên có năng khiếu, tài năng tiếp tục được đào tạo lên cao bất kể điều kiện kinh tế, hoàn cảnh, giới tính, dân tộc, tôn giáo,…

+ Tiến hành xoá mù chữ, phổ cập giáo dục

+ Đa dạng, mềm dẻo các loại hình đào tạo, các loại hình trường lớp nhằm tạo cơ hội học tập cho mọi tầng lớp nhân dân

Ví dụ: - Cộng điểm ưu tiên cho dân tộc, khó khăn

- Học bổng khuyến khích tài năng

- Đa dạng hoá cách thức dạy học (đổi mới sáng tạo) như:

4 Kết luận sư phạm:

Trang 9

Câu 4: Vai trò của giáo dục với sự phát triển nhân cách

1 Khái quát chung:

- Con người, cá nhân và sự phát triển nhân cách:

+ Con người là một thực thể sinh vật – xã hội mang bản chất xã hội, là chủ thể của hoạt

động nhận thức và thực tiễn, của những quan hệ xã hội và giao tiếp

Ví dụ: - Trải qua ≠ trải nghiệm:

+ Trải qua là đi qua không để lại nhiều ấn tượng

+ Trải nghiệm là đem những kinh nghiệm, ý thức, kiến thức, cảm xúc → để lại dấu ấn ấn tượng → rút ra được những kinh nghiệm (tự giác)

+ Cá nhân là một thực thể sinh vật – xã hội – văn hoá với các đặc điểm về sinh lý, tâm

lý và xã hội trong sự liên hệ thống nhất với các chức năng xã hội chung của loài người

Ví dụ: - Trong một lớp học, mỗi HS là một cá nhân với các đặc trưng khác nhau

+ Sự phát triển nhân cách:

về phẩm chất và năng lực trong quá trình thực hiện các chức năng xã hội của mình, được

xã hội đánh giá và thừa nhận

• Phát triển cá nhân là khẳng định bản chất xã hội của con người, khẳng định trình

độ phát triển nhân cách của mỗi cá nhân Sự phát triển của mỗi cá nhân được biểu hiện qua những dấu hiệu sau:

− Sự phát triển về mặt tâm lý: Thể hiện sự biến đổ cơ bản trong đời sống tâm lý

cá nhân: trình độ nhận thức, khả năng tư duy, quan điểm, lập trường, tình cảm, tâm tư − Sự phát triển về mặt xã hội: thái độ, hành vi, tính tích cực,

− Sự phát triển về mặt thể chất: Thể hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, trọng lượng, cơ bắp, sự hoàn thiện chức năng các giác quan,

• Quá trình phát triển nhân cách là một quá trình diễn ra lâu dài, khó khăn và phức hợp với tác động của nhiều yếu tố: bẩm sinh di truyền, môi trường, giáo dục và hoạt động

cá nhân từ đơn giản đến phức tạp

- Giáo dục với sự phát triển của nhân cách cá nhân: Giáo dục là quá trình hoạt động

phối hợp thống nhất giữa chủ thể (nhà giáo dục) và đối tượng (người được giáo dục) nhằm hình thành và phát triển nhân cách theo những yêu cầu của xã hội

+ Là quá trình tác động tự giác có mục đích; có nội dung, phương pháp, phương tiện…được lựa chọn, tổ chức một cách khoa học → mọi cá nhân chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, những giá trị xã hội của nhân loại bằng con đường ngắn nhất

Trang 10

+ Ba lực lượng giáo dục cốt lõi là gia đình (môi trường nền tảng đầu tiên; ông bà, bố

mẹ, tự nhiên,…), nhà trường (vai trò và vị trí quan trọng, chủ đạo; khoa học) và các đoàn thể xã hội (góp phần định hướng và phát triển)

- Kết luận: Nghiên cứu về tính mật thiết của con người, cá nhân và sự phát triển nhân cách

với sự tác động hữu cơ của giáo dục trong sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân

→ vai trò chủ đạo của giáo dục

2 Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhân cách:

- Giáo dục vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách dựa trên tính chủ thể (năng lực chuyên môn, phẩm chất, giá trị,…); tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt cá nhân thực hiện quá trình đó đến kết quả mong muốn (nhiệm vụ của giáo dục và xã hội)

Ví dụ: - Nhà trường với những quy định, quy phạm, quy tắc, nội dung, cách thức và giáo viên tác động đến HS → hình thành phẩm chất và năng lực → ứng dụng vào cuộc sống

- Quan điểm: “Lấy người học làm trung tâm” – không đặt nặng về nội dung, bỏ dần giáo dục 1 chiều thầy nói – trò nghe, hiện nay tính chủ thể, tích cực, chủ động và sáng tạo của người học mới là điều đáng quan tâm Làm thế nào đó người học thông qua chuỗi tương tác với người thầy (hướng dẫn) và nội dung kiến thức → tự nghiên cứu, tìm tòi và chinh phục tri thức; hoàn thiện dần nhân cách của mình

- Giáo dục nhà trường kết hợp học tập trải nghiệm đang là xu thế, điển hình là STEM – sự kết hợp giữa khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học nhằm phát huy tối đa

sự sáng tạo và niềm say mê học tập, nghiên cứu Sân chơi, dự án trải nghiệm, mô hình học tập khám phá đang được xây dựng và hoàn thiện Đối với môn Địa lý trong nhà trường phổ thông, hiện nay một số trường tư thục đã tích hợp dạy học STEM: phân tích phẫu diện đất, quan sát mây, đo đạc các dữ liệu: nhiệt độ và lượng mưa,

- Giáo dục là những tác động tự giác có điều khiển, có thể mang lại những tiến bộ mà các yếu tố di truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể tạo ra được do tác động

tự phát

Ví dụ: - Khuyết tật thị giác → chữ nổi (bù đắp khả năng)

- Có năng khiếu + được giáo dục đào tạo bài bản → phát huy các yếu tố bẩm sinh

- Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký → viết bằng chân (nguồn cảm hứng)

- Giáo dục có sức mạnh cải biến những nét tính cách, phẩm chất lệch lạc không phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực của xã hội → giáo dục lại, cải tạo lại

Ví dụ: - Trại cải tạo người phạm tội, phạm pháp → dạy nghề, tiếp thu pháp luật

- Giáo dục lại trẻ em hư, chưa chuẩn mực trong phát triển nhân cách theo hướng tính cực

Trang 11

- Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tật, tai nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra Nhờ có sự can thiệp sớm, có phương pháp giáo dục, rèn luyện đặc biệt cùng với sự hỗ trợ của các phương tiện khoa học có thể giúp cho những người khuyết tật, thiểu năng hồi phục một phần chức năng đã mất hoặc phát triển các chức năng khác nhằm bù trừ những chức năng khác nhằm bù trừ những chức năng bị khiếm khuyết, giúp

họ hòa nhập vào cộng đồng

Ví dụ:

- Giáo dục có khả năng kìm hãm hoặc thúc đẩy các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách theo một gia tốc phù hợp mà di truyền và môi trường không thể thực hiện được

Ví dụ: Các cấp học sẽ có các mức khác nhau như giỏi, khá, trung bình, yếu Mỗi mức học sinh sẽ có những phương pháp giáo dục sao cho phù hợp (dạy học phân hoá)

+ Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS

+ Yêu cầu giáo dục mang tính vừa sức với HS

+ Tổ chức các hoạt động và giao lưu đa dạng, phong phú

+ Lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp và các phương pháp giáo dục khoa học

+ Xây dựng mối quan hệ tót đẹp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục

+ Khơi dậy tiềm năng ẩn, tố chất di truyền, tính tích cực trong hoạt động cá nhân của người học sinh nhằm mang lại hiệu quả cho QTGD

- Không nên coi “giáo dục là vạn năng” → ảo tưởng dùng giáo dục để thay đổi xã hội

- Liên hệ bản thân:

- Liên hệ VN:

Trang 12

Câu 5: Đặc điểm, bản chất của QTGD (theo nghĩa hẹp)

1 Khái quát chung:

- QTGD là một quá trình trong đó dưới vai trò chủ đạo (sự chỉ đạo, chỉ dẫn, định hướng) của nhà giáo dục, người được giáo dục (chủt thể được giáo dục) tự giác, tích cực, chủ động

tự giáo dục nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ và mục tiêu của giáo dục, hình thành nhân cách cho người học

Ví dụ: - GD lao động trong nhà trường → phẩm chất tôn trọng, tiết kiệm, yêu thương

- Ngoại khoá → hình thành các kỹ năng mềm

- QTGD là quá trình hoạt động có mục đích, tổ chức của giáo viên Học sinh hình thành những quan điểm, niềm tin, giá trị động cơ, thái độ, hành vi, thói quen phù hợp với những chuẩn mực chính trị, đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ, văn hóa → phát triển nhân cách học sinh theo mục đích giáo dục của nhà trường và xã hội

Ví dụ: - Khi nhắc về QTGD, John Dewey đã nói: “QTGD thực sự nên là quá trình học cách tư duy thông qua việc thực hành trên những vấn đề thực tế.”

- Quan điểm giáo dục của phương Tây (Mỹ) và phương Đông (TQ) về quyền thừa kế: không thừa kế, ý thức tự giác; thừa kế, ý thức dựa dẫm và chủ quan

- QTGD luôn chịu sự tác động, quy định của xã hội → luôn đổi mới, vận động và phát triển đáp ứng nhu cầu của XH (gắn liền với cuộc sống thực tiễn, sự phát triển của TG đương thời)

2 Đặc điểm của QTGD:

- QTGD diễn ra dưới những tác động phức hợp:

+ Sự phát triển nhân cách người được giáo dục chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố: khách quan-chủ quan; bên trong-bên ngoài; trực tiếp-gián tiếp; tích cực-tiêu cực, đan xen vào nhau tác động tới người được giáo dục; QTGD diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi con người → cũng luôn chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố đó

• Khách quan: những yếu tố môi trường kinh tế-xã hội, KHCN ảnh hưởng tới QTGD nhà trường, ảnh hưởng tới người được giáo dục

− Các điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, phong tục tập quán

Ví dụ: văn hoá vùng miền (thái độ, hành vi, hành động,… khác nhau) → giao tiếp khác nhau; chính trị: biểu tình tự do, dân chủ; kinh tế: nông dân → VSATTP (giá trị đạo đức, cám dỗ về kinh tế, )

− Các hoạt động văn hoá, giáo dục, xã hội ngoài nhà trường, các hoạt động thông tin tuyên truyền qua các phương tiện và các kênh thông tin khác nhau:

• Chủ quan: − Các thành tố của QTGD (mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, ), cách tổ chức được chủ thể và khách thể của QTGD tác động để nó vận hành và phát triển nhằm đem lại hiệu quả giáo dục

Trang 13

Ví dụ:

− Các yếu tố tâm lí, trình độ được giáo dục, điều kiện, hoàn cảnh gia đình,… của đối tượng giáo dục; các mối quan hệ sư phạm được tạo ra trong quá trình tác động qua lại giữa học sinh với giáo viên, giữa học sinh với các lực lượng giáo dục khác

+ QTGD luôn diễn ra dưới những tác động vừa phức tạp vừa hỗn hợp của rất nhiều các yếu tố ở mức độ khác nhau (thống nhất, thúc đẩy nhau; mâu thuẫn, hạn chế phát triển)

+ Kết luận sư phạm: Nhà giáo dục điều chỉnh, chủ động phối hợp thống nhất các tác

động giáo dục; linh hoạt vận dụng các yếu tố, phương pháp GD → nhằm phát huy những tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực tới người được giáo dục

- QTGD là một quá trình diễn ra lâu dài: (bản chất của việc hình thành nhân cách)

+ Mục tiêu → hình thành quan điểm, thế giới quan, niềm tin, lí tưởng, phẩm chất nhân cách ở người được giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội Tuy nhiên để thực hiện mục tiêu

đó đòi hỏi QTGD phải diễn ra lâu dài mới đạt được kết quả (giáo dục diễn ra suốt đời) + Tính chất lâu dài của QTGD được xem xét ở góc độ sau:

• Việc (1) hình thành thói quen, hành vi đúng đắn ở người được giáo dục đòi hỏi QTGD phải tác động đến nhận thức, tạo lập xúc cảm, tình cảm tích cực đối với hành vi đó; (2) đồng thời người được giáo dục phải trải qua một quá trình luyện tập, trải nghiệm để lặp

đi lặp lại hành vi đó trở thành thói quen bền vững gắn với nhu cầu của họ → QTGD đòi hỏi một thơì gian dài, liên tục mới có được kết quả

Ví dụ: - Việc hình thành phẩm chất đạo đức đã khó → giữ phẩm chất đạo đức còn khó hơn → câu chuyện về bức tranh “The last supper” (tạm dịch: Bữa ăn cuối cùng của chúa Jesus) của Leonardo Da Vinci:

Leonardo da Vinci vẽ bức "Bữa ăn chiều cuối cùng" (The last suphương pháper) mất bảy năm liền Đó là bức tranh vẽ Đức chúa trời và mười hai vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Chúa bị Judas phản bội

Leonardo tìm người mẫu rất công phu Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng trước chàng trai,

và hình ảnh Chúa Jesus được hiện trên bức vẽ

Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 12 vị tông đồ, chỉ còn có Judas, vị môn đồ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc

Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đứng người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình

Trang 14

Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy rằng chưa đủ để bộ lộ cái ác của Judas Một hôm, Vinci được thông báo rằng

có một kẻ mà ngoại hình có thể đáp ứng được yêu cầu của ông Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì giết người và phạm rất nhiều tội ác tày trời khác

Da Vinci lập tức lên đường đến Roma Trước mắt ông là một gã đàn ông nước da đen sậm với mái tóc dài bẩn thỉu phủ xoà xuống mặt, một khuôn mặt xấu xa, độc ác tự nó nói lên nhân cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá Đúng, đây là Judas!

Được sự cho phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan nơi bức tranh đang được vẽ dở Mỗi ngày, tên tù im lặng ngồi trước Da Vinci và hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công viêc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc

Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo lính gác "Các ngươi đem hắn đi đi " Lính canh túm lấy kẻ tử tù, nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quì xuống bên chân Da Vanci, khóc nấc lên:

"Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?"

Da Vinci quan sát kẻ mà suốt sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt Cuối cùng ông đáp: "Không, ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến cho ta từ hầm ngục ở Roma " Tên tử tù kêu lên "Ngài Vinci Hãy nhìn kỹ lại tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ông đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Trời "

Câu chuyện này có thật, như bức tranh "Bữa ăn chiều cuối cùng" là có thật Chàng trai

đã từng được chọn làm hình mẫu của Chúa Trời chỉ sau hơn hai ngàn ngày, đã tự biến mình thành hình tượng hoàn hảo của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử

→ Tương lai không hề được định trước Chính chúng ta là người quyết định số phận của chính mình

- Nguyên tắc 10000 giờ đối với sự thành công trong một lĩnh vực

- Vi phạm → phạt → thay đổi về nhận thức (niềm tin sửa đổi) và hành vi, thái độ

• Trong quá trình hình thành quan điểm, niềm tin, thói quen,… bản thân người giáo dục cũng luôn phải diễn ra cuộc đấu tranh động cơ giữa cái cũ (cái cũ lạc hậu thường tồn tại dai dảng khó thay đổi → những thói quen hành vi xấu) và cái mới cần phải hình thành Đòi hỏi phải quyết tâm thay đổi → cái cũ mất đi hoặc biến đổi, cái mới hình thành + Diễn ra trong suốt giai đoạn của cuộc đời

+ Hành vi, thói quen trở nên vững càng, ổn định phải trải qua QTGD lâu dài, đòi hỏi có

sự đấu tranh bản thân; có sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục (3), thành tố và nhân tố của QTGD (định hướng của nhà GD,…) + phối hợp nhuần nhuyễn các nguyên tắc, phương pháp, nội dung, hình thức GD

Ví dụ: - Khen thưởng, trách phạt trong nhà trường

- Khuyên bảo, dạy dỗ trong gia đình

Trang 15

- Tự phát → giáo dục ngoài xã hội (những vấp ngã, va chạm, kinh nghiệm,… của cá nhân)

+ Khó nhận thấy kết quả tác động giáo dục (tại sao?)

+ Kết luận sư phạm: Vì vậy QTGD muốn đạt được mục tiêu, kết quả cần đòi hỏi nhà

giáo dục không được nôn nóng, vội vàng, đốt cháy giai đoạn mà cần kiên trì, bền bỉ cùng với sự tự giác nỗ lực

- QTGD mang tính cá biệt cụ thể:

+ QTGD được thực hiện trong cuộc sống hoạt động và giao lưu của mỗi cá nhân con người Có sự khác nhau về tuổi tác, trình độ, tính cách, điều kiện hoàn cảnh,… → tuỳ phương thức xử lý khác nhau (công bằng, tích cực, nguyên tắc, phù hợp) trong những điều kiện môi trường giáo dục xác định, với những đối tượng giáo dục cụ thể

+ Tính cá biệt, cụ thể được thể hiện như sau:

• Nhà GD khi thực hiện tổ chức các hoạt động, đưa ra những quyết định cần tính đến đặc điểm của từng nhóm đối tượng, từng đối tượng GD (đặc điểm tâm sinh lý, trình độ được giáo dục, kinh nghiệm sống,…) khác nhau

Ví dụ: - Giáo dục về môi trường: trẻ em (nhận thức, hoạt động nghe-nhìn-thực hiện đơn giản), phổ thông (nghiên cứu, STEM, định hướng hành động)

- Giáo dục phổ thông: HS bình thường (GD bình thường); HS có vấn đề về tâm sinh lý bất ổn định (theo dõi, giám sát, trò chuyện, tham vấn phối hợp hoạt động QTDH thích hợp)

- Cách thức giáo dục: trẻ em (nghe, nhìn, vận động); phổ thông (tư duy, phối hợp, thực hiện, ); đại học (nghiên cứu, vận dụng)

• QTGD diễn ra trong thời gian, thời điểm, không gian với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể → QTGD phải trên cơ sở những điều kiện cụ thể để có những yêu cầu và tác động phù hợp đối với từng đối tượng

Ví dụ: - Mềm mỏng, cứng rắn, nghiệm khắc

• QTGD phải đặc biệt chú ý luyện tập và rèn luyện các thao tác, kĩ năng hành động

ở người được giáo dục thể hiện theo các yêu cầu, nội dung, chuẩn mực xã hội về nhiều mặt nhưng vẫn thể hiện được nét tính cách riêng của mỗi người (tính chuyên biệt, chủ thể)

Ví dụ: - Đặt câu hỏi theo nhiều cấp độ (biết, thông hiểu, vận dụng, đánh giá)

- Tính sáng tạo khi trả lời câu hỏi

• Kết quả giáo dục cũng mang tính cụ thể của một QTGD cho từng đối tượng, từng nhóm đối tượng giáo dục cụ thể, đối với từng mặt, từng yêu cầu cụ thể… trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định

Ví dụ: - Barem điểm theo hệ phân hoá: giỏi, khá, trung bình

Trang 16

+ Kết luận sư phạm: Nhà GD đan xen tác động chung - riêng phù hợp với từng đối

tượng giáo dục trong từng bối cảnh cụ thể; tránh cách giáo dục rập khuôn, máy móc; quan tâm đến từng HS, dùng nguyên tắc/ phương pháp để tác động phù hợp với từng chủ thể

Ví dụ: - Trách phạt đối với HS ương bướng, cá tính → phối hợp giữa tôn trọng, tình thương với sự cứng rắn, nghiêm khắc

- QTGD thống nhất biện chứng với QTDH:

+ QTDH và QTGD là hai quá trình bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể → có mối

quan hệ thống nhất biện chứng với nhau: (1)cùng hướng tới sự phát triển nhân cách toàn diện cho người học, đáp ứng các yêu cầu của xã hội; (2) mỗi quá trình có một chức năng, nhiệm vụ riêng có sự tác động qua lại, hỗ trợ, đan xen, bổ sung cho nhau cùng đem lại sự phát triển nhân cách cho người học

Ví dụ: - Tri thức/ nhận thức rộng bao nhiêu → giá trị đạo đức cao đẹp bấy nhiêu + Nhiệm vụ của QTDH hình thành tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ; phẩm chất nhân cách của người công dân, người lao động

Ví dụ: - Thông qua “dạy chữ” để “dạy người”

+ Giáo dục (rộng) → chức năng trội: QTGD (phẩm chất, đạo đức) và QTDH (kiến thức

+ Mục đích cuối cùng của giáo dục là phát triển con người có đủ tài và đức để đáp ứng yêu cầu của xã hội, đủ sức cạnh tranh và phát triển dựa trên tác động biện chứng của QTGD

và QTDH thành phần của GD nghĩa rộng

+ Chương trình GDPT tổng thể 2018:

Trang 17

3 Bản chất của QTGD:

3.1 Cơ sở xác định bản chất của QTGD:

- QTGD là quá trình hình thành một kiểu nhân cách trong xã hội:

+ Các Mác: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ” → sự phát triển nhân cách con người là kết quả của quá trình hoạt động và giao lưu của con người trong xã hội

+ Nhân cách con người được thể hiện qua lời nói, hành vi, thói quen hành vi trong cuộc sống → mục đích của QTGD → hình thành hành vi và thói quen hành vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội đã quy định (1)

+ Để hình thành (1), QTGD phải tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động và các quan hệ giao lưu của người được giáo dục; nhằm thu hút sự tham gia, đạt được mục tiêu giáo dục

Ví dụ:

- Mối quan hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục trong QTGD:

+ Quan hệ sư phạm → một loại quan hệ xã hội đặc thù (tại sao?) và chịu sự chi phối của các quan hệ: chính trị - xã hội, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, KHKT

Ví dụ:

+ Mối quan hệ thống nhất biện chứng: nhà giáo dục (vai trò chủ đạo) - người được giáo dục (vai trò tự giác, tích cực, chủ động) Tính hiệu quả: giúp người được giáo dục chuyển hoá những yêu cầu của chuẩn mực xã hội quy định thành hành vi, thói quen hành vi tương ứng trên cơ sở thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục

Ví dụ:

+ Kết luận: QTGD hiệu quả khi nó phát huy được vai trò tự giác, tích cực tự giáo dục

của người được giáo dục tham gia vào QTGD Trên cơ sở đó thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục (hợp tác từ cả hai, chủ động, sáng tạo, tích cực)

+ QTGD nhằm hình thành và phát triển cá nhân con người trở thành những thành viên

xã hội thỏa mãn được hai mặt:

• Phù hợp với các yêu cầu xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển

• Có khả năng tác động cải tạo, xây dựng xã hội làm cho nó tồn tại và phát triển

Trang 18

+ Những nét bản chất của cá nhân con người chính là do các MQH xã hội hợp thành (Các Mác)

Ví dụ: - Đứa trẻ mới sinh ra → ý thức, nhân cách chưa được hình thành + các chuẩn mực, các quy tắc của xã hội vốn tồn tại khách quan bên ngoài, độc lập với đứa trẻ Quá trình đứa trẻ lớn lên trong môi trường văn minh của xã hội loài người, thẩm thấu những

giá trị văn hóa của loài người để tạo ra nhân cách của chính mình - quá trình xã hội hóa

con người → giúp trẻ biến những yêu cầu khách quan của xã hội thành ý thức, niềm tin,

thái độ, thành những thuộc tính, phẩm chất nhân cách của cá nhân; loại bỏ khỏi bản thân những quan niệm, biểu hiện tiêu cực, lạc hậu không còn phù hợp với xã hội hiện đại

- QTGD là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho đối tượng giáo dục:

+ Triết học Marxist khẳng định: Bản chất xã hội của con người chỉ có được khi nó tham gia vào đời sống xã hội đích thực thông qua hoạt động và giao lưu ở một môi trường văn hóa (văn hóa tinh thần và vật chất)

+ QTGD là quá trình hình thành bản chất người – bản chất xã hội trong mỗi cá nhân một cách có ý thức, là quá trình tổ chức: hoạt động và giao lưu để mỗi cá nhân chiễm lĩnh được kinh nghiệm xã hội

• HĐ và GL là hai mặt cơ bản, thống nhất trong cuộc sống của con người và cũng

là điều kiện tất yếu cả sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân

Ví dụ: - Tâm lí học đã khẳng định: hoạt động và giao lưu là vừa là nguồn gốc, vừa

là động lực của sự hình thành và phát triển nhân cách

• Các thuyết hoạt động đã chứng tỏ con người muốn tồn tại và phát triển phải có hoạt động và giao lưu được tổ chức một cách khoa học với các điều kiện, phương tiện hoạt động tiên tiến, phong phú thì sẽ có rất nhiều cơ hội tốt cho sự phát triển

• QTGD vừa mang tính chất của hoạt động, vừa mang tính chất của giao lưu + Giáo dục là một quá trình tác động qua lại mang tính xã hội giữa nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, giữa các đôi tượng giáo dục với nhau và với các lực lượng, các quan hệ xã hội trong và ngoài nhà trường

Như vậy, bản chất của QTGD là quá trình tổ chức cuộc sống, tổ chức các hoạt động và giao lưu cho người được giáo dục tham gia một cách tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo nhằm chuyển hoá những yêu cầu của các chuẩn mực của xã hội quy định thành hành vi và thói quen hành vi tương ứng ở họ, trên cơ sở thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục

- Kết luận sư phạm:

Trang 19

Câu 6: Nội dung và phương pháp giáo dục (theo nghĩa hẹp)

1 Nội dung giáo dục:

1.1 Khái niệm về nội dung:

- Để thực hiện mục tiêu giáo dục, nhà GD tổ chức, hướng dẫn cho người học NDGD

cần chiếm lĩnh; được tiếp cận dưới quan điểm:

+ Xét về mặt lý luận, nội dung GD là một thành tố hệ thống giáo dục có tính toàn vẹn, có mối quan hệ biện chứng với các thành tố khác; nôi dung là sự cụ thể hoá của mục đích giáo dục và chịu sự chi phối của mục đích giáo dục

+ Xét về mặt thực tiễn, nội dung GD → toàn bộ các hoạt động GD trong nhà trường

- Nội dung GD là toàn bộ hệ thống kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người được các nhà sư phạm lựa chọn, chế biến để tổ chức cho đối tượng giáo dục chiếm lĩnh trên ba phương diện nhận thức: nhận thức – thái độ, tình cảm – hành vi, thói quen nhằm thực hiện các mục tiêu GD đặt ra

1.2 Nguyên tắc xây dựng nội dung:

- Đảm bảo tính phù hợp với mục tiêu giáo dục (mục tiêu, mục đích đinh hướng nội dung)

- Đảm bảo tính liên tục, hệ thống:

+ Từ bậc học dưới lên bậc học cao, không bị ngắt quãng về mặt nội dung

+ Những nội dung trước là cơ sở, tiền đề cho nội dung sau → nguyên lý phát triển,

kế thừa và phủ định tích cực

+ Nội dung được xây dựng từ gần-xa, đơn giản-phức tạp, dễ-khó → nắm bắt dễ dàng

và thực hiện được hệ thống các chuẩn mực xã hội

- Đảm bảo mối quan hệ giữa những giá trị truyền thống và hiện đại

+ Mối quan hệ giữa giá trị truyền thống và hiện đại (sàng lọc, hiện đại hoá, loại bỏ,

- Đảm bảo tính đồng tâm: lặp đi lặp lại (vòng xoáy trôn ốc)

1.3 Nội dung giáo dục: (GDPT)

Ngày đăng: 30/06/2025, 21:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thành  khái  niệm  chính  trị,  đạo  đức, pháp luật,  thượng  tôn  pháp luật. - ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC - ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI - BAO TRỌN ĐIỂM A
nh thành khái niệm chính trị, đạo đức, pháp luật, thượng tôn pháp luật (Trang 20)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w