1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu Đối chiếu hành vi chúc mừng và hồi Đáp chúc mừng trong tiếng việt và tiếng anh

249 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đối chiếu hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng trong tiếng việt và tiếng anh
Tác giả Lê Đỗ Thanh Hiền
Người hướng dẫn PGS. TS. Trương Viên
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2025
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 6,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt chiến lược, nghiên cứu xác định các chiến lược chúc mừng trực tiếp như Sử dụng từ nhấn mạnh lực tại lời và Biểu đạt niềm hạnh phúc cá nhân, cùng với các chiến lược gián tiếp như C

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

Lê Đỗ Thanh Hiền

Huế, năm 2025

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ

Lê Đỗ Thanh Hiền

Mã số: 9222024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI

CHIẾU

Người hướng dẫn:

PGS TS Trương Viên

Huế, năm 2025

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Thừa Thiên Huế, ngày 14 tháng 02 năm 2025

Tác giả

Lê Đỗ Thanh Hiền

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trương Viên, người

đã dành thời gian cùng tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn thành luận án trong suốt thời gian qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cấp lãnh đạo, Ban chủ nhiệm và các giảng viên Khoa Việt Nam học, và Phòng Đào tạo Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Khoa Ngoại ngữ, trường Đại học Cần Thơ – nơi tôi công tác, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin cảm ơn Ban biên tập các tạp chí Khoa học xã hội và nhân văn Đại học Huế và tạp chí khoa học trường Đại học Đà Lạt đã tạo điều kiện cho tôi công bố những kết quả nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, và đồng nghiệp của tôi đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tác giả luận án

Trang 5

iii

TÓM TẮT

Luận án này nghiên cứu đối chiếu hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng của người Việt và người Mỹ, nhằm làm rõ đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của hai hành vi này dưới góc nhìn ngữ dụng, từ đó chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt trong bối cảnh văn hóa khác nhau Ngữ liệu được thu thập từ 67 phim Việt Nam, 118 phim Mỹ và 156 phiếu Hoàn thiện diễn ngôn, phân tích theo cách tiếp cận định tính làm trung tâm, kết hợp định lượng hỗ trợ Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, bên cạnh những khác biệt về mức độ trực tiếp, phương thức biểu hiện và hình thức chiến lược kết hợp thì cũng tồn tại nhiều điểm tương đồng trong cách thực hiện hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng, đặc biệt là trong các tình huống có yếu tố nghi thức cao hoặc mối quan hệ thân thiết

Về mặt chiến lược, nghiên cứu xác định các chiến lược chúc mừng trực tiếp

như Sử dụng từ nhấn mạnh lực tại lời và Biểu đạt niềm hạnh phúc cá nhân, cùng với các chiến lược gián tiếp như Cho lời chúc; Đề nghị tổ chức tiệc; Bày tỏ cảm xúc tích cực; Yêu cầu thông tin; Biểu đạt sự xác tín; Dự đoán về tương lai; Khen; Nói đùa, hoặc nói một cách tiêu cực; Động viên, khích lệ và Phi ngôn từ Trong hồi đáp chúc mừng, các chiến lược Chấp nhận lời chúc mừng gồm Biểu thị sự tri ân; Đồng ý với lời chúc mừng; Phản hồi vọng lại; Chuyển đổi; Chấp nhận có bình luận; Giải thích thêm; Nâng mức độ lời khen; Bày tỏ cảm xúc; Hỏi xác nhận; Hứa hẹn/ Cam kết; Đề nghị; Bày tỏ lời chúc, niềm hi vọng; Nói đùa; và Phi ngôn từ, trong khi chiến lược Không chấp nhận lời chúc mừng bao gồm Phủ nhận lời chúc mừng; Nói giảm; Lảng tránh và Tỏ ý nghi ngờ - Hỏi vặn Đặc biệt, quyền lực và

khoảng cách xã hội có ảnh hưởng nhất định đến việc lựa chọn chiến lược trong cả hai ngôn ngữ, thể hiện rõ qua các mối quan hệ cấp trên – cấp dưới, bạn bè, hoặc người lạ

Luận án không chỉ làm rõ sự vận hành của hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng trong bối cảnh giao văn hóa, mà còn đóng góp vào lý luận ngữ dụng học so sánh đối chiếu, đồng thời mang ý nghĩa thực tiễn trong giảng dạy ngoại ngữ, dịch thuật và nâng cao năng lực tương tác đa văn hóa trong thời đại toàn cầu hóa

Trang 6

iv

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa của đề tài 3

5 Bố cục của luận án 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý thuyết 5

1.1.1 Ngữ dụng học 5

1.1.2 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ 7

1.1.3 Hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng 10

1.1.4 Lý thuyết Hành vi ngữ dụng 13

1.1.5 Lý thuyết hội thoại và các khái niệm liên quan 14

1.1.6 Một số vấn đề ngôn ngữ và văn hóa liên quan đến hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng 26

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 32

1.2.1 Thực trạng nghiên cứu hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng ở nước ngoài 32

1.2.2 Thực trạng nghiên cứu hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng ở trong nước 38

Tiểu kết chương 1 41

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.1 Mô thức nghiên cứu 42

2.1.1 Tổng quan về các mô thức nghiên cứu 42

2.1.2 Quan điểm triết học của nhà nghiên cứu 43

2.2 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 44

2.2.1 Cách tiếp cận định tính 44

2.2.2 Cách tiếp cận định lượng 44

2.3 Phương pháp thu thập và xử lý ngữ liệu 45

2.3.1 Ngữ liệu và thông tin nghiệm viên 45

2.3.2 Tiến trình thu thập và phân loại ngữ liệu 50

2.4 Phương pháp phân tích ngữ liệu 52

2.4.1Mã hóa ngữ liệu 52

2.4.2 Phân tích ngữ liệu 54

Tiểu kết chương 2 55

CHƯƠNG 3 ĐỐI CHIẾU HÀNH VI CHÚC MỪNG VÀ HỒI ĐÁP CHÚC MỪNG TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT Ở GÓC ĐỘ SỬ DỤNG CHIẾN LƯỢC 56

3.1 Đối chiếu chiến lược chúc mừng trong tiếng Anh và tiếng Việt 56

3.1.1 Chiến lược chúc mừng trực tiếp 56

Trang 7

v

3.1.2 Chiến lược chúc mừng gián tiếp 67

3.1.3 Chiến lược chúc mừng kết hợp 85

3.1.4 Những điểm tương đồng và khác biệt về chiến lược chúc mừng trong tiếng Anh và tiếng Việt 89

3.2 Đối chiếu các chiến lược hồi đáp chúc mừng trong tiếng Anh và tiếng Việt 97

3.2.1 Chiến lược Chấp nhận lời chúc mừng 97

3.2.2 Chiến lược Không chấp nhận lời chúc mừng 111

3.2.3 Chiến lược hồi đáp chúc mừng kết hợp 114

3.2.4 Những điểm tương đồng và khác biệt về chiến lược hồi đáp chúc mừng trong tiếng Anh và tiếng Việt 118

Tiểu kết chương 3 124

CHƯƠNG 4 ĐỐI CHIẾU HÀNH VI CHÚC MỪNG VÀ HỒI ĐÁP CHÚC MỪNG TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT Ở GÓC ĐỘ TƯƠNG TÁC NGÔN NGỮ - XÃ HỘI 126

4.1 Các chiến lược chúc mừng và hồi đáp chúc mừng trong tiếng Anh và tiếng Việt từ góc độ quyền lực và khoảng cách xã hội 126

4.1.1 Trường hợp chúc mừng người có quyền lực cao hơn 126

4.1.2 Trường hợp chúc mừng người có quyền lực ngang nhau 136

4.1.3 Trường hợp chúc mừng người có quyền lực thấp hơn 142

4.2 Những điểm tương đồng và khác biệt về các chiến lược chúc mừng và hồi đáp chúc mừng trong tiếng Anh và tiếng Việt từ góc độ quyền lực và khoảng cách xã hội 148

4.2.1 Những điểm tương đồng 148

4.2.2 Những điểm khác biệt 150

Tiểu kết chương 4 155

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 156

TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 170 PHỤ LỤC

Trang 8

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng Phân Loại HVNN của Searle 8

Bảng 1.2 Bảng Phân Loại CLCM của Elwood (2004) 20

Bảng 1.3 Bảng Phân Loại CLCM trong Luận Án 22

Bảng 1.4 Bảng Phân Loại CLHĐCM trong Luận Án 25

Bảng 2.1 Các Cấp Độ của Yếu Tố Quyền Lực và Khoảng Cách Xã Hội 49

Bảng 2.2 Phân Bố của Yếu Tố Quyền Lực và Khoảng Cách Xã Hội trong các TH 50

Bảng 3.1 Tần Suất Sử Dụng các CLCM Kết Hợp trong Tiếng Anh 86

Bảng 3.2 Tần Suất Sử Dụng các CLCM Kết Hợp trong Tiếng Việt 88

Bảng 3.3 Tần Suất Sử Dụng Động Từ/ Danh Từ/ Cụm Từ Biểu Thị Chúc Mừng trong Tiếng Anh và Tiếng Việt 94

Bảng 3.4 Tần Suất Sử Dụng các CLHĐCM Kết Hợp của trong Tiếng Anh 115

Bảng 3.5 Tần Suất Sử Dụng các CLHĐCM Kết Hợp trong Tiếng Việt 117

Bảng 4.1 Tần Suất Sử Dụng các CLCM trong Tiếng Anh và Tiếng Việt trong 9 TH .127

Bảng 4.2 Tần Suất Sử Dụng các CLHĐCM trong Tiếng Anh và Tiếng Việt trong 9 TH 139

Bảng 4.3 Ba CLCM Phổ Biến được Sử Dụng Bởi các Nhóm trong Từng TH 149

Trang 9

vii

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 So sánh tỉ lệ sử dụng ĐTNV và danh từ trong BTNV chúc mừng

trực tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt 94

Hình 3.2 So sánh tần suất sử dụng các CLCM kết hợp trong tiếng Anh và tiếng

Việt 97

Hình 3.3 So sánh tần suất sử dụng các CLHĐCM kết hợp trong tiếng Anh và tiếng

Việt 121

Trang 10

viii

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Trong tiếng Việt

Phiếu hoàn thiện diễn ngôn

DCTV Phiếu hoàn thiện diễn ngôn Việt

IFID (Illocutionary force

indicating device) Sử dụng từ nhấn mạnh lực tại lời

Int (Intensifier) Từ ngữ nhấn mạnh

NP (Noun phrase) Cụm danh từ

SD (Social distance) Khoảng cách xã hội

Sp1 (Speaker 1) Người nói (Người gửi lời chúc mừng) Sp2 (Speaker 2) Người nghe (Người nhận lời chúc mừng)

Trang 11

tố môi trường giao tiếp như thời gian, địa điểm, lý do và ý đồ giao tiếp

Chúc mừng là một trong những mục đích của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ (hoặc giao tiếp bằng một số phương thức khác) trong bất kỳ xã hội, dân tộc nào cũng có Chúc mừng không chỉ được sử dụng trong giao tiếp thường nhật nhằm thừa nhận thành công của ai đó và bày tỏ niềm vui, niềm ngưỡng mộ của người nói với người đạt được thành công mà còn được sử dụng trong những dịp đặc biệt như

lễ hội hay lễ kỷ niệm (Can, 2011) Ở giai đoạn sơ khởi, lời chúc mừng (LCM) có

lẽ theo thói quen, theo tập quán, tập tục của từng dân tộc Cùng với sự phát triển của lý thuyết ngôn ngữ học và những nghiên cứu về phép lịch sự trong giao tiếp, dần dần chúc mừng được xét đến như là một trong những hoạt động ngôn từ gắn với phép lịch sự trong giao tiếp hàng ngày (Brown và Levinson, 1987) Theo phân loại của Searle (1969), chúc mừng nằm trong nhóm Biểu cảm và là HVNN cần thiết trong giao tiếp của nhân loại nhằm duy trì hoặc tăng cường mối quan hệ của người phát ngôn và người nhận phát ngôn Mỗi một ngôn ngữ, mỗi một văn hóa lại

có những cách thức thể hiện hành vi chúc mừng (HVCM) và hồi đáp chúc mừng (HĐCM) khác nhau Việc bày tỏ LCM và hồi đáp lại LCM một cách phù hợp có thể giúp cải thiện mối quan hệ giữa người nói và người nghe, giúp các mối quan hệ trở nên gắn kết hơn Có thể nói, ai cũng có thể sử dụng LCM hay hồi đáp lại như một thói quen trong giao tiếp, ứng xử nhưng bày tỏ sao cho hiệu quả, phù hợp và cần lưu ý gì khi sử dụng LCM và lời hồi đáp lại là câu hỏi không dễ trả lời Thiết nghĩ, nghiên cứu về HVCM và HĐCM là vấn đề cần được đặt ra

Trong văn hóa Việt và văn hóa phương Tây, đặc biệt là giữa người Việt và người Mỹ, sự khác biệt trong cách thức thực hiện HVCM và HĐCM là không thể tránh khỏi Do đó, việc phân tích các chiến lược dùng để hiện thực hóa hai hành vi này là thật sự cần thiết Nghiên cứu theo hướng đối chiếu các HVNN giữa người Việt và người bản ngữ tiếng Anh đã được thực hiện trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu cấp độ tiến sĩ nào tiến hành đối chiếu một cách toàn diện cách người Việt và người Mỹ thực hiện HVCM và HĐCM, nhằm khái quát hóa các mô hình, CLCM và hồi đáp, cũng như chỉ ra sự chi phối của các yếu tố như quyền lực và khoảng cách xã hội đến việc lựa chọn chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp

Trang 12

2

Xuất phát từ những lý do trên, luận án với đề tài “Nghiên cứu đối chiếu hành

vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng của trong tiếng Việt và tiếng Anh” được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Thông qua việc nghiên cứu các HVCM và HĐCM trong tiếng Anh của người

Mỹ và tiếng Việt, luận án tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng ở góc độ sử dụng chiến lược và tương tác ngôn ngữ-xã hội để góp phần vào nghiên cứu HVNN và đối chiếu Anh – Việt

2.3 Câu hỏi nghiên cứu

1 Có những điểm tương đồng và khác biệt nào trong HVCM và HĐCM trong tiếng Anh và tiếng Việt ở góc độ sử dụng chiến lược?

2 Có những điểm tương đồng và khác biệt nào trong HVCM và HĐCM trong tiếng Anh và tiếng Việt ở góc độ tương tác ngôn ngữ - xã hội?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là HVCM và HĐCM trong tiếng Anh Mỹ

và tiếng Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này được giới hạn ở những phát ngôn có chứa HVCM và HĐCM trong các đoạn thoại tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt thu được từ phim điện ảnh và truyền hình Mỹ và Việt Nam, từ các phiếu Hoàn thiện diễn ngôn (DCT) được biểu hiện bằng ngôn từ và phi ngôn từ Nghiên cứu này ngoài hướng tập trung vào các tương tác bằng lời và bối cảnh diễn ra sự tương tác, mà còn mở rộng đến các tương tác phi ngôn từ, vì chúng đóng vai trò như một tiểu chiến lược (TCL) trong các HVCM và HĐCM, miễn là các tương tác này đảm bảo chức năng hội thoại Tuy nhiên, phạm vi của tương tác phi ngôn từ trong nghiên cứu này giới hạn ở các biểu hiện cơ thể như cử chỉ khuôn mặt (chẳng hạn như nụ cười), hay các động tác cơ thể (như gật đầu, bắt tay, ôm) và sự im lặng

Để hiểu rõ hơn về cách thức thực hiện HVCM và HĐCM, nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của hai yếu tố quyền lực và khoảng cách xã hội đến việc lựa chọn

Trang 13

3

chiến lược biểu đạt giữa các cá nhân tham gia giao tiếp Trong khuôn khổ nghiên cứu, khoảng cách xã hội được xem như một cấu phần của quyền lực xã hội, không phải một thực thể tồn tại song song với quyền lực xã hội

Về ngữ cảnh, luận án bao gồm các TH xuất hiện những niềm vui, sự kiện đáng mừng trong đời sống như sinh con, thi đậu, tốt nghiệp, thăng chức, cầu hôn, v.v.; các sự kiện kỷ niệm như đám cưới, sinh nhật, kỷ niệm ngày cưới, v.v.; và các dịp lễ hội như Năm mới, Giáng sinh, v.v

Ngoài ra, do giới hạn của luận án nên hành vi tiền chúc mừng và hậu chúc mừng nằm ngoài khuôn khổ nghiên cứu của luận án

4 Ý nghĩa của đề tài

• Xác định các chiến lược ngôn ngữ đặc thù của HVCM và HĐCM: Nghiên cứu hệ thống hóa các CLCM và HĐCM trong tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt, cho thấy

sự giao thoa giữa các phương thức trực tiếp và gián tiếp, góp phần vào lý thuyết về chiến lược giao tiếp

• Làm rõ vai trò chi phối của nhân tố văn hóa trong giao tiếp ngôn ngữ: Kết quả đối chiếu cho thấy rằng giao tiếp không chỉ chịu ảnh hưởng bởi hệ thống ngôn ngữ mà còn bị chi phối bởi bối cảnh văn hóa Người Việt có xu hướng thể hiện sự tinh tế, linh hoạt trong HVCM và hồi đáp nhằm duy trì sự hài hòa tế nhị trong giao tiếp, trong khi người Mỹ lại đề cao tính trực tiếp và cá nhân hóa nhằm khẳng định bản sắc cá nhân và sự chân thành

Trang 14

Chương này trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên

cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này trình bày cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, bao gồm: Khái quát hóa các lý thuyết về HVNN, HVCM và HĐCM, lý thuyết hội thoại, một số vấn đề ngôn ngữ và văn hóa liên quan đến HVCM và HĐCM, lý thuyết hành vi ngữ dụng, v.v ; đồng thời trình bày một cách ngắn gọn tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến HVCM và HĐCM trên thế giới và tại Việt Nam

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày mô thức nghiên cứu, hướng tiếp cận nghiên cứu, các phương pháp thu thập, mã hóa và phân tích ngữ liệu

Chương 3: Đối chiếu HVCM và HĐCM trong tiếng Anh và tiếng Việt ở góc

độ sử dụng chiến lược

Chương này mô tả và phân tích các CLCM và HĐCM của người Việt người

Mỹ, tìm hiểu phương thức biểu đạt trong các chiến lược và thống kê các chiến lược kết hợp; từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong HVCM và HĐCM trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 4: Đối chiếu HVCM và HĐCM trong tiếng Anh và tiếng Việt ở góc

độ tương tác ngôn ngữ - xã hội

Chương này mô tả, thống kê và phân tích các kết quả khảo sát phiếu DCT, từ

đó so sánh đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt trong HVCM và HĐCM trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới tác động của nhân tố quyền lực và khoảng cách

xã hội

Kết luận và đề xuất

Chương này trình bày tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu, đóng góp, ứng dụng và hạn chế của nghiên cứu Đồng thời đưa ra đề xuất cho các nghiên cứu liên quan trong tương lai

Trang 15

Leech trong tác phẩm Các nguyên lý ngữ dụng học (Principles of Pragmatics)

của mình năm 1983 đã nhận xét rằng trước 1983 ngữ dụng học hầu như không được các nhà ngôn ngữ học nhắc đến, nếu có được nhắc đến thì cũng chỉ với tư cách là một thứ sọt giấy loại chuyên thu lượm những cái gì còn thừa ra của ngữ nghĩa học giống như trước đó một thập kỷ, ngữ nghĩa học được giao nhiệm vụ giải thích tất

cả những cái gì mà ngữ pháp tạo sinh không xử lý nổi Tuy nhiên, từ năm 1983 trở

đi, ngữ dụng học đã phát triển mạnh mẽ cả về lý thuyết, cả về nghiên cứu cụ thể Mặc dù phạm vi của ngữ dụng không dễ xác định, nhưng nói một cách đại khái, lĩnh vực này liên quan đến ngôn ngữ được sử dụng và ngữ cảnh mà nó được sử dụng (Brown và Yule, 1985) Hai tác giả còn nói thêm rằng ngữ dụng có thể được cho là nghiên cứu về ý nghĩa của người nói, về việc người ta có thể thông báo nhiều hơn điều được nói ra như thế nào, nghiên cứu những biểu hiện của những khoảng cách tương đối Quan điểm này cũng được Levinson (1983) nêu ra trước đây khi dựa vào sự phân biệt nghĩa tự nhiên và nghĩa không tự nhiên của Grice (1975) Hai tác giả cho rằng ngữ dụng học chỉ nghiên cứu các nghĩa không tự nhiên, tức là các nghĩa nằm trong ý định thông báo của người nói

Đồng thuận với quan điểm ngữ dụng học là ngành học nghiên cứu ngôn ngữ

từ phía người sử dụng, Kasper (1992) cho rằng ngữ dụng học đặc biệt nghiên cứu những sự lựa chọn mà họ thực hiện, những bó buộc mà họ gặp phải khi sử dụng ngôn ngữ trong tương tác xã hội và nghiên cứu tác động của cách sử dụng ngôn ngữ lên người đối thoại của mình trong hoạt động giao tiếp Nói cách khác, ngữ dụng học nghiên cứu hoạt động giao tiếp trong hoàn cảnh xã hội Hoạt động giao tiếp bao gồm không chỉ HVNN mà còn bao gồm cả sự tham gia vào những kiểu hội thoại khác nhau và sự tiếp nhận tương tác trong những sự kiện lời nói phức hợp

Nghiên cứu về ngữ dụng nói chung được chia thành ba lĩnh vực, đó là dụng học đại cương, liên quan đến các điều kiện sử dụng ngôn ngữ giao tiếp; dụng học

xã hội, liên quan đến tác động của điều kiện xã hội ở một nền văn hóa đối với việc

sử dụng ngôn ngữ; và cuối cùng là ngôn ngữ học dụng học liên quan đến các

phương tiện ngôn ngữ để chuyển tải những hành động giao tiếp và ý nghĩa liên nhân (Leech, 1983) Trong đó, khía cạnh ngữ dụng học xã hội và ngôn ngữ học dụng học có liên quan đến nghiên cứu hiện tại sẽ được phân tích sâu hơn

1.1.1.1 Dụng học giao văn hóa

Thuật ngữ “giao văn hóa” theo nghĩa đen đề cập đến sự tương tác giữa các

nền văn hóa khác nhau Trong bối cảnh nghiên cứu, giao văn hóa liên quan đến quá trình đàm phán ý nghĩa giữa các nền văn hóa khác nhau (Stadler, 2013)

Trang 16

6

Dụng học giao văn hóa nghiên cứu HVNN và các chuẩn mực giao tiếp trong các nền văn hóa khác nhau, đặc biệt tập trung vào cách ý nghĩa được suy diễn từ bối cảnh giao tiếp (Stadler, 2013) Dụng học giao văn hóa nghiên cứu những HVNN bởi người sử dụng ngôn ngữ từ những nền văn hóa khác nhau (Roever, 2015)

Mặc dù các thuật ngữ giao văn hóa (cross-cultural) và liên văn hóa (intercultural) đôi khi có thể được sử dụng thay thế cho nhau, nhưng thường có sự phân biệt giữa hai khái niệm này (Stadler, 2013) Thuật ngữ đầu tiên được dùng

khi “các nền văn hóa được so sánh nhưng không có sự tiếp xúc trực tiếp”, trong khi thuật ngữ thứ hai “xảy ra khi các nền văn hóa có sự tiếp xúc” (Warren, 2012,

tr 481) Giao tiếp giao thoa văn hóa nghiên cứu diễn ngôn của người bản ngữ trong các nền văn hóa khác nhau, trong khi giao tiếp liên văn hóa xem xét diễn ngôn của những người thuộc các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau, giao tiếp với nhau bằng một lingua franca (ngôn ngữ chung) hoặc bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của một trong các bên tham gia (Cheng, 2012; Stadler, 2013)

Do đó, có sự phân biệt giữa hai thuật ngữ này, và “nghiên cứu so sánh giao tiếp trong một nền văn hóa với giao tiếp trong một nền văn hóa khác” có thể được

coi là mang tính giao thoa văn hóa (Corbett, 2011, tr 307) Trong nghiên cứu này, thuật ngữ giao văn hóa được sử dụng theo định nghĩa do Warren và Corbett đưa ra Một trong những chỉ trích mà dụng học giao văn hóa nhận được là nó bị cho

là dễ dàng suy diễn từ ngôn ngữ sang tư duy, tức là, nhiều khi sự xuất hiện của một loại phát ngôn nhất định được xem như một dấu hiệu cho cách chúng ta suy nghĩ (Kristiansen và Geeraerts, 2007) Tuy nhiên, điều quan trọng là phải xem xét rằng mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy có thể không phải lúc nào cũng đơn giản như vậy (Kristiansen và Geeraerts, 2007)

Dụng học giao văn hóa ngoài việc nghiên cứu những nguyên tắc ngữ dụng, còn tập trung nghiên cứu các vấn đề như lỗi về mặt ngữ dụng, giao tiếp ngữ dụng không thành công Vì thế, mà có hai thuật ngữ liên quan đến các vấn đề giao tiếp này, đó là dụng học xã hội và ngôn ngữ học dụng học (Leech, 1983; Thomas, 1983)

1.1.1.2 Dụng học xã hội và ngôn ngữ học dụng học

Định nghĩa đầu tiên về dụng học xã hội được đưa ra bởi Leech (1983, tr.10),

người mô tả nó là "giao diện xã hội học của ngữ dụng", đề cập đến nhận thức xã

hội thông qua việc lý giải và thực hiện hành động giao tiếp của những người tham gia Nó đề cập đến việc nghiên cứu cách các nguyên tắc ngữ dụng vận hành trong các nền văn hóa khác nhau, trong các TH khác nhau, giữa các tầng lớp xã hội khác nhau, v.v., bao gồm các hiểu biết về mức độ quyền lực, khoảng cách xã hội và mức

độ áp đặt

Theo Crystal (1985), dụng học xã hội giải thích cho các đặc điểm xã hội và tâm lý được giải thích theo bối cảnh TH của chúng Ví dụ khi một người thực hiện một HVNN, bối cảnh xã hội của cuộc trò chuyện đóng một vai trò nào đó trong việc chuyển tải hành động đó đến người nghe (Trosborg, 1994) Phân tích ngữ dụng học xã hội liên quan nhiều đến việc nghiên cứu văn hóa hơn so với phân tích trước

Trang 17

7

đây bởi vì hầu hết các diễn giải ngữ dụng được xác định bởi các điều kiện văn hóa như trong tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ, chuẩn mực lịch sự và tôn trọng, v.v Hơn nữa, dụng học xã hội quan tâm đến phép lịch sự, các nguyên tắc hợp tác

và hàm ý hội thoại như được thể hiện trong các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau, trong khi ngôn ngữ học dụng học nghiên cứu các khía cạnh ngôn ngữ như trực chỉ,

sở chỉ, tỉnh lược, v.v., hay các khía cạnh khác có liên quan đến nguyên tắc lịch sự

Sự khác biệt giữa dụng học xã hội và ngôn ngữ học dụng học nằm ở trọng tâm phương pháp luận của hai cách tiếp cận trong phân tích ngữ dụng (Marmaridou, 2011) Ngôn ngữ học dụng học chủ yếu đề cập đến các phương tiện ngôn ngữ cụ thể được sử dụng để truyền tải ý nghĩa ngữ dụng, bao gồm ý định của người nói và các quan hệ liên nhân (Marmaridou, 2011) Nói cách khác, ngôn ngữ học dụng học nghiên cứu cách thức một ý nghĩa ngữ dụng cụ thể được thể hiện trong một bối cảnh nhất định (Spencer-Oatey, 2008)

Các nghiên cứu về dụng học giao văn hóa đã tập trung vào việc xác định các chuẩn mực ngữ dụng ngôn ngữ trong việc thực hiện các HVNN khác nhau giữa các ngôn ngữ hoặc nhóm văn hóa khác nhau (Spencer-Oatey, 2008) Cả hai cách tiếp cận này đều có liên quan mật thiết đến nghiên cứu hiện tại, đặc biệt là trong bối cảnh ngữ liệu được thu thập từ diễn ngôn phim và các phiếu DCT, vốn được thiết

kế nhằm yêu cầu người tham gia chú ý đến cả các biến số xã hội – bao gồm quyền lực và khoảng cách xã hội – cũng như cách thức biểu đạt của HVCM và HĐCM

1.1.2 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ

1.1.2.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ

Vào đầu những năm 1960, cùng với sự xuất hiện của lý thuyết Hành vi ngôn

ngữ do Austin và Searle khởi xướng, ngữ dụng học bắt đầu bước vào thời kì phát triển mạnh mẽ, giải đáp và khám phá rất nhiều những địa hạt mới mẻ của ngôn ngữ học Từ đây, ngôn ngữ học đã được mở rộng phạm vi quan tâm, bao quát đến từng lời nói cụ thể, từng giao tiếp cụ thể của con người

Lý thuyết HVNN do Austin (1962) khởi xướng và được rất nhiều học giả

khác như Searle (1969), Bach và Harnish (1979) và Yule (1996) phát triển Tất cả các học giả này đều chia sẻ quan điểm với Austin rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả sự tình mà nó còn được dùng để làm gì đó Lý thuyết HVNN quan niệm rằng nói cũng chính là làm, hay nói cách khác, nói năng cũng là một loại hành vi đặc biệt, hành vi bằng lời nói

Trong công trình đầu tiên “How to do things with words” Austin (1962) quan

niệm rằng, con người khi giao tiếp, trong quá trình chuyển tải một ý nghĩa nào đó, không chỉ thực hiện một phát ngôn đáp ứng được quy luật ngữ pháp và từ vựng để

nó có một nghĩa đầy đủ mà còn cùng một lúc thực hiện ba hành vi thông qua phát ngôn ấy Đó là hành vi tạo lời (locutionary act), hành vi ở lời (illocutionary act) và hành vi mượn lời (perlocutionary act)

Trong ba hành vi trên, hành vi ở lời chính là nội dung của phát ngôn, là HVNN, đối tượng quan tâm của ngữ dụng học Hành vi ở lời, theo Đỗ Hữu Châu

(2012, tr.89) là “hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng

là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn

Trang 18

8

ngữ tương ứng ở người nhận” Các HVCM và HĐCM mà luận án nghiên cứu chính

là các hành vi ở lời Đây chính là loại HVNN liên quan đến việc triển khai đề tài nghiên cứu

1.1.2.2 Phân loại các hành vi ngôn ngữ

Austin (1962) chia HVNN thành năm loại: Phán nghị (verdictives) (ví dụ: đánh giá, v.v.), Hành xử (exercitives) (ví dụ: bổ nhiệm, bầu cử, ra lệnh, đôn đốc,

tư vấn, cảnh báo, v.v.), Cam kết (commissives) (ví dụ: hứa hẹn, đề nghị, v.v.), Ứng

xử (behabitives) (ví dụ: xin lỗi, chúc mừng, khen ngợi, an ủi, nguyền rủa, thách thức, v.v.) và Bày tỏ (expositives) (ví dụ: thừa nhận, giả định, v.v.)

Theo cách phân loại này, HVCM được Austin xếp vào nhóm phạm trù Ứng

xử (behabitives) Thực chất, Austin đã phân loại theo hướng từ vựng, tức là phân

loại các động từ ngôn trung

Không đồng tình với hướng phân loại mà Austin đề xướng, Searle (1969) cho rằng trước hết phải phân loại các hành vi ở lời chứ không phải phân loại các động từ gọi tên chúng Việc phân loại này muốn thành công được thì trước hết phải định ra được bộ tiêu chí Searle đã đề xuất 12 điểm khác biệt giữa các HVNN và

sử dụng 4 điểm như là các tiêu chí để phân loại Đó là:

1 Đích ngôn trung (illocutionary point)

2 Hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời đề cập đến (direction of fit)

3 Trạng thái tâm lý được thể hiện (expressed psychological state)

4 Nội dung mệnh đề (propositional content)

Từ 4 tiêu chí này, tác giả đã phân loại thành 5 phạm trù theo bảng phân loại sau:

Bảng 1.1

Bảng Phân Loại HVNN của Searle

1 Tái hiện (representatives)

2 Điều khiển (directives)

3 Cam kết (commissives)

4 Biểu cảm (expressives)

5 Tuyên bố (declarations)

Miêu tả, khẳng định, tường thuật, kết luận

Ra lệnh, yêu cầu, hỏi, xin phép Hứa hẹn, tặng, biếu

Chúc mừng, chào, cám ơn, xin lỗi, chia buồn Tuyên bố, buộc tội

Như vậy, hành vi ở lời chúc mừng, theo cách phân loại của Searle, thuộc

phạm trù “Biểu cảm” (expressives)

Luận án này sẽ lựa chọn hướng phân loại của Searle làm điểm tựa để phân loại HVCM từ đó tiến hành nhận diện HVCM

1.1.2.3 Biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi

Trong hội thoại, khi các chủ thể giao tiếp với nhau cũng là lúc các phát ngôn

được tạo lập để thực hiện một hành vi nào đó Các phát ngôn ngữ vi là sản phẩm

và là phương tiện của các hành vi ở lời khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực

Biểu thức ngữ vi (BTNV) “là những thể thức nói năng đặc trưng cho hành vi

ở lời, là dấu hiệu ngữ pháp, ngữ nghĩa của các hành vi ở lời.” (Đỗ Hữu Châu,

Trang 19

9

2012, tr 92) Nhờ các BTNV chúng ta nhận biết được các hành vi ở lời Để phân biệt được các BTNV cần phải có các phương tiện chỉ dẫn Các dấu hiệu chỉ dẫn

này được Searle (1969) gọi là những phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời

(Illocutionary Force Indicating Devices – IFIDs) Các phương tiện chỉ dẫn là các

mô hình đặc trưng tương ứng với hành vi ở lời, các từ ngữ chuyên dùng để tạo các

mô hình, các động từ ngữ vi và là các dấu hiệu để người nghe biết được hành vi nào đang được thực hiện, ví dụ:

(1) Sp1 nói với Sp2: Congratulations on the birth of your baby [PhM38] Trong phát ngôn này người nghe hiểu rằng thông tin mệnh đề ở đây Sp1 vừa

mới thực hiện một HVCM đối với Sp2 Và Sp2 nhận thức HVCM mà Sp1 vừa thực hiện Như vậy, phát ngôn trên có kết cấu đặc trưng cho BTNV của HVCM

Trong cấu trúc của một BTNV, động từ ngữ vi (ĐTNV) là một thành tố quan trọng, nó có thể được thể hiện trong chức năng ngữ vi, chức năng ở lời “ĐTNV là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với BTNV (có khi không cần BTNV

đi kèm) là người nói thực hiện luôn hành vi ở lời.” (Đỗ Hữu Châu, 2012, tr 97)

Có thể kể đến các ĐTNV sau: chúc mừng, khuyên, hỏi, cảm ơn, thề, tuyên bố, trách, cấm, mời, chia buồn, hứa, hẹn, cam kết, cầu xin, chào, xin lỗi, đoán, v.v

Không phải bao giờ một ĐTNV cũng được dùng trong chức năng ngữ vi mà

nó có thể được dùng với chức năng miêu tả, hay vừa dùng trong chức năng ngữ vi vừa dùng trong chức năng miêu tả Austin cho rằng, ĐTNV chỉ được dùng trong chức năng ngữ vi (có hiệu lực ngữ vi) khi chủ thể nói phải ở ngôi thứ nhất (người nói Sp1), bổ ngữ của động từ phải ở ngôi thứ hai, được dùng ở thời hiện tại (hiện tại phát ngôn), thể (voice) chủ động và không có các động từ chỉ các tình thái khác

nhau của động từ như đã, sẽ, đang, mới, rồi, chưa, chuẩn bị, v.v (Đỗ Hữu Châu,

2012)

Ở ví dụ trên, động từ “chúc mừng” là ĐTNV, động từ này được dùng đúng

chức năng ngữ vi: ở thời hiện tại, không có các phụ từ chỉ thời gian, chủ ngữ - người nói LCM (con) được dùng ở ngôi thứ nhất Nếu không hội đủ các điều kiện trên thì ĐTNV vẫn được dùng như các động từ miêu tả thông thường

(3) Thầy Lập đã chúc mừng em vì em vừa xin được học bổng từ trường RMIT.

[Ghi chép]

Động từ “chúc mừng” ở câu trên được dùng như động từ miêu tả vì nó có từ

“đã” xuất hiện trong câu và chủ thể nói không phải ở ngôi thứ nhất

1.1.2.4 Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp

HVNN xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và hình thức diễn đạt

có thể chia thành hai loại là HVNN trực tiếp (direct speech acts) và HVNN gián tiếp (indirect speech acts)

HVNN trực tiếp là “HVNN được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng và là hành vi được thực hiện đúng với đích ở lời và điều kiện sử dụng” (Yule, 1996, tr 54) Ví dụ, một câu trần thuật

được dùng để nhận định hay khuyên một ai đó nên làm một việc gì đó, chẳng hạn:

Trang 20

10

“Tôi khuyên anh nên gọi điện lại cho cô ấy” Đây là hành vi khuyên trực tiếp Như

vậy, HVNN trực tiếp là sự nói thẳng vào vấn đề, không chứa hàm ý hay ẩn ý gì Không phải một phát ngôn chỉ có duy nhất một lực ở lời Trong giao tiếp thực

tế, người nghe có thể thuyết giải không chuẩn xác ý định của người nói dẫn đến hiểu lầm Cho nên đại bộ phận các phát ngôn được xem như là đồng thời có thể

tiềm tàng thực hiện một số hành vi Do đó, HVNN gián tiếp là “HVNN có quan hệ gián tiếp giữa một chức năng và một cấu trúc.” (Yule, 1996, tr 55) hay Searle (1969) cho rằng “một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua sự thực hiện một hành vi ở lời khác gọi là hành vi gián tiếp” (tr 72) Nói khác đi, đó là vấn đề

của điều nói ra (what is said) và điều hàm nghĩa (what is meant) Vì vậy, khi người nói sử dụng một HVNN gián tiếp thì người nghe phải dựa vào cả những hiểu biết

về ngôn ngữ, văn hóa, bối cảnh xung quanh hoặc ít nhất là trong quan hệ với lời hồi đáp để suy ra hiệu lực ở lời của HVNN ấy

(4) Một thành viên nữ trong hội văn nghệ phường nói với bà Hiền- người vừa được bầu làm hội trưởng hội văn nghệ:

- Từ hôm nay là chị có số có má rồi Nhất định hôm nay chị phải khao bọn

em một bữa nhá [PhV62]

Ở ví dụ (4), Sp1 đã dùng hành vi đề nghị để đề xuất Sp2 đãi ăn uống Nhưng thông qua ngữ cảnh, có thể thấy Sp2 vừa đạt được một thành tích rất tốt Do đó, Sp1 đã gián tiếp chúc mừng Sp2 qua lời đề nghị khao tiệc nhằm chia sẻ niềm vui

và thể hiện sự tán dương của mình đối với Sp1

(1) Phấn chấn, vui sướng trong lòng

(2) Bày tỏ tình cảm trước niềm vui của người khác, thường có quà cáp gửi tặng

Chúc mừng có nghĩa : Chúc nhân dịp vui nào đó

Ví dụ: (5) Chúc mừng cô dâu chú rể

(6) Chúc mừng năm mới (tr 182)

Theo Nguyễn Thị Kim Trung (2003), chúc mừng là nghi thức lời nói thiên về

giải bày tình cảm, sự quan tâm, tôn vinh niềm vui, mong muốn sự tốt lành đối với người đối thoại một cách thành ý LCM được sử dụng nhằm bày tỏ ý nghĩa chia vui với người khác về một thành tựu nào đó hay trong các sự kiện trọng đại, những dịp vui lớn như lễ hội

Theo từ điển tiếng Anh Merriam-Webster Collegiate (2003, tr 262), khái

niệm chúc mừng được mô tả theo các cách khác nhau Định nghĩa đầu tiên là "bày

tỏ niềm vui với (một người) nhân dịp thành công hoặc gặp may mắn"; định nghĩa

Trang 21

11

thứ hai là "cảm thấy hoặc bày tỏ sự hài lòng trong (một sự kiện) có liên quan đến (một người)"; và định nghĩa thứ ba là "bày tỏ lời chào mừng hoặc chào hỏi" Chúc mừng theo định nghĩa của Bach và Harnish (1979, tr 51) là “bày tỏ sự hài lòng dành cho những gì người nghe đã làm hay nhận được rất đáng ghi nhớ”

Tương tự, định nghĩa của Searle và Vanderveken (1985, tr 212) nhấn mạnh đến

các TH may mắn “bày tỏ sự vui mừng đối với vận may của người khác”

Cụ thể hơn, Oraiby (2011) đã chia chúc mừng ra làm hai loại Loại đầu tiên

là chúc mừng cho một hành động Loại chúc mừng này liên quan đến việc chúc mừng người khác khi làm việc gì đó

Ví dụ: (7) I congratulate you for winning the election (Tôi chúc mừng bạn

đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử.) (tr.44)

Hay để bày tỏ thái độ quan tâm, hài lòng về một kết quả tốt đẹp liên quan đến người nhận

Ví dụ: (8) Congratulations on your exam result (Chúc mừng con đạt được kết quả cao trong kì thi.) (tr.46)

Loại chúc mừng này nhằm tạo lập sự khích lệ cho người đối thoại và động viên họ đạt được nhiều thành công hay thành tựu hơn

Loại thứ hai được gọi là chúc mừng theo nghi lễ liên quan đến những sự kiện mang tính kỷ niệm hay lễ hội Người ta có thể gửi lời chúc hay chúc mừng chân thành đến người nào đó trong dịp sinh nhật, lễ đính hôn, lễ cưới, những dịp lễ hay

lễ hội như Giáng Sinh hay Năm Mới

Ví dụ: (9) Happy Christmas! (Chúc Giáng Sinh vui vẻ!) (tr.44)

Loại chúc mừngnày nhằm xây dựng và củng cố các mối quan hệ xã hội, tạo

sự gắn kết với nhau giữa cá nhân với nhau và giữa cá nhân với tập thể Vì vậy, HVCM, tương tự như hành vi khen ngợi và đánh giá cao đều có thể giúp phát triển những mối quan hệ tốt đẹp này (Can, 2011)

b Điều kiện thực hiện hành vi chúc mừng

Hành vi ở lời cũng như mọi hành vi vật lý hay sinh lý khác, không phải được thực hiện một cách tùy tiện mà cần phải có điều kiện nhất định, đó là điều kiện phải đáp ứng để hành vi ở lời này có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó Luận án này xây dựng hệ điều kiện cho HVCM dựa theo hệ điều kiện

mà Searle (1969) đưa ra đồng thời nhận diện hành vi này

i Điều kiện nội dung mệnh đề: Hành vi người nói đưa ra đề cập đến sự

việc đã xảy ra hoặc sẽ xảy ra mà cả hai đều mong đợi

ii Điều kiện chuẩn bị: Là sự kiện có lợi cho người nghe và người nói tin rằng

sự kiện này có lợi cho người nghe

iii Điều kiện chân thành: Người nói thật sự hài lòng vì sự kiện này đã xảy ra

iv Điều kiện căn bản: Người nói thực hiện hành vi nhằm mong muốn người nghe hiểu được sự hài lòng của mình đối với sự kiện đó

Từ những cơ sở lý thuyết trên, luận án sử dụng định nghĩa sau làm định nghĩa

cốt lõi về HVCM: “Chúc mừng là hành vi biểu lộ sự vui mừng, sự hài lòng hoặc

sự tán dương đối với người khác nhân dịp họ đạt được thành công, may mắn; hoặc

Trang 22

12

thể hiện niềm mong muốn những điều tốt đẹp sẽ đến với người khác trong một sự kiện kỷ niệm hay các dịp lễ.”

c Hành vi chúc mừng trực tiếp và hành vi chúc mừng gián tiếp

Dựa trên các định nghĩa về HVNN trực tiếp và gián tiếp được đề cập ở phần trên, HVCM trực tiếp và gián tiếp được nhận diện như sau:

Hành vi chúc mừng trực tiếp: Là HVCM có sự phù hợp giữa hiệu lực ở lời

với hình thức câu chữ dùng để biểu thị hành vi đó Do vậy, để nhận diện được hành

vi này chúng ta cần dựa vào phương tiện từ vựng: ĐTNV “congratulate” (chúc mừng/ mừng) giữ vai trò hạt nhân có chức năng là vị ngữ trung tâm của câu, “I congratulate you.”, có chủ ngữ ngôi thứ nhất “I/We” và tân ngữ ngôi thứ hai “you” Bên cạnh dạng động từ “congratulate” (chúc mừng/ mừng), còn có những danh

từ, tính từ có nghĩa chúc mừng, tâm trạng vui mừng Đó là những dấu hiệu chỉ báo

ở lời để chúc mừng một cách trực tiếp như:

Congrats!

Congratulations!

Happy/ glad/ thrilled/ overjoyed

(gửi) lời chúc mừng Mừng/ Vui

Theo phân tích ở phần trên, lời chúc/ LCM trong các dịp lễ hội hay sự kiện kỷ niệm với các biểu thức mang tính khuôn mẫu cũng được xếp vào dạng chúc mừng trực tiếp

(10) - Merry Christmas! [PhM23]

(12) - Chúc mừng năm mới ! [PhV66] (13) - Đám cưới vui vẻ! [PhV62]

Những lời chúc là những thành ngữ, tục ngữ, phần lớn thường được sử dụng trong các ngày vui trọng đại, trong không khí trang trọng như kết hôn, khai trương, trong những dịp lễ lớn như năm mới, Giáng sinh, v.v

Hành vi chúc mừng gián tiếp: HVCM gián tiếp được thực hiện thông qua

một HVNN khác, vì vậy, phải dựa vào các mô hình đặc trưng tương ứng với HVNN, các từ ngữ chuyên dùng, đôi khi dựa vào lời hồi đáp để nhận diện được HVCM gián tiếp Đặc biệt, theo Đỗ Hữu Châu (2012) Dựa vào quan hệ giữa các câu với ngữ cảnh có thể phân biệt các hành vi với nhau hoặc người nghe có thể suy

ý để hiểu được ý đồ gián tiếp mà người nói muốn hướng đến

(14) Khách đến dự tiệc cưới của Quân và Dung

Chúc mừng cô dâu chú rể Đẹp đôi ghê chưa [PhV14]

(15) Hoàng vừa được bổ nhiệm anh làm giám đốc Quỹ đầu tư mạo hiểm Thịnh Trị Capital

Nhân viên nữ: Đúng rồi đó sếp Chuyến này là phải khao thật lớn nha anh.

[PhV62] Trong ví dụ (14), về hình thức đây là một lời khen, nhưng trong ngữ cảnh là

hôn lễ, kết hợp với LCM trực tiếp “Chúc mừng cô dâu chú rể” thì lời khen này

không chỉ đơn thuần là một lời khen mà còn là cách thức để vị khách bày tỏ niềm

Trang 23

13

vui và sự tán dương trong ngày vui của Huy và Lan qua tính từ “đẹp đôi” Đây là

HVCM được Sp2 thực hiện một cách gián tiếp thông qua hành vi khen Tương tự, trong ví dụ (15), nhân viên nữ thực hiện hành vi đề nghị Theo phân tích của Martínez (2013) và bảng phân loại của Elwood (2004), đây là một biểu thức chúc mừng gián tiếp vì không sử dụng từ nhấn mạnh lực tại lời của HVCM Đây là một HVCM gián tiếp vì từ ngữ cảnh, có thể thấy được hàm ý thể hiện sự vui mừng của người chúc dành cho người nhận LCM qua lời đề nghị khao tiệc Cũng qua phân loại của Elwood và phân tích của Martínez, một số HVCM gián tiếp như chúc, động viên, bày tỏ niềm tự hào, nói đùa, v.v cũng được xác định

Như vậy, để nhận diện được HVCM gián tiếp phải dựa vào ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, các mô hình đặc trưng tương ứng với HVNN, các từ ngữ chuyên dùng, đôi khi dựa vào lời hồi đáp để nhận diện được HVCM gián tiếp

1.1.3.2 Hành vi hồi đáp chúc mừng

a Khái niệm hành vi hồi đáp chúc mừng

Hồi đáp chúc mừng, hiểu một cách đơn giản là hành vi phản ứng lại đối với

HVCM của một người nào đó trong quá trình giao tiếp “Đáp lại lời chúc mừng có thể bằng lời hoặc chỉ bằng cử chỉ, điệu bộ, v.v.” (Holmes, 1988, tr 445) Nhìn từ

góc độ hội thoại, chúc mừng và HĐCM được coi là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên Như cách diễn đạt HVCM, hành vi HĐCM trong những nền văn hóa khác nhau chuyển tải những ý nghĩa, những giá trị về ngôn ngữ và văn hóa khác nhau Tùy theo ngữ cảnh, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống, cá tính, thói quen trong giao tiếp ứng xử, tuổi tác, giới tính, mối quan

hệ giữa người nói và người nghe, mức độ thân sơ, nội dung và cách thức chúc mừng, v.v mà người tiếp nhận LCM có những hình thức hồi đáp khác nhau

b Điều kiện thực hiện hành vi hồi đáp chúc mừng

i Điều kiện nội dung mệnh đề: bị ràng buộc bởi nội dung mệnh đề của

HVCM

ii Điều kiện chuẩn bị: Người nghe có quan hệ thân cận, hoặc quan hệ xã hội

nào đó (thân tộc, bạn bè, thầy cô,…) trong một khoảng không gian - thời gian vừa phải để có thể thực hiện hành vi HĐCM

iii Điều kiện chân thành: Sp2 chân thành hồi đáp lại LCM của Sp1

iv Điều kiện căn bản: Sau khi nhận được LCM

c Vị trí: là hành vi đi sau, hay về mặt ngữ nghĩa có liên quan đến HVCM của

người phát ngôn

1.1.4 Lý thuyết Hành vi ngữ dụng

Bên cạnh Lý thuyết HVNN kinh điển của Austin (1962) và Searle (1969), nghiên cứu này vận dụng thêm Lý thuyết Hành vi ngữ dụng do Mey (2001) đề xuất nhằm tiếp cận ngôn ngữ trong mối tương quan chặt chẽ với bối cảnh và tương tác

xã hội

Theo Mey, HVNN không thể được hiểu chỉ qua cấu trúc ngôn ngữ hoặc loại hành vi ở lời, mà phải được xem như một hành vi ngữ dụng - kết quả của sự tương tác giữa Sp1, Sp2 và các yếu tố ngữ cảnh Đơn vị phân tích trung tâm của lý thuyết

Trang 24

14

này là “pragmeme”, một dạng hành vi ngữ dụng gắn liền với kiểu sự kiện giao tiếp

cụ thể Pragmeme được thể hiện qua hành vi thực hiện (pract), bao gồm cả yếu tố ngôn từ (verbal realization) và phi ngôn từ (non-verbal behaviors) như cử chỉ, ánh mắt, nét mặt Khác với cách tiếp cận tuyến tính từ Sp1 đến Sp2 của Searle (1969), Mey nhấn mạnh tính hội thoại và tính bối cảnh hóa Theo đó, HVCM và HĐCM không thể được phân tích như những phát ngôn riêng lẻ, mà cần được đặt trong chuỗi tương tác liên nhân, chịu ảnh hưởng của các yếu tố như quyền lực, khoảng cách xã hội, thời gian, không gian, và vai giao tiếp Những LCM trong dịp lễ hội hay khi đạt thành tựu cá nhân là ví dụ điển hình về các pragmeme chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa và bối cảnh xã hội

Việc vận dụng Lý thuyết Hành vi ngữ dụng cho phép luận án tiếp cận HVCM

và HĐCM như những hành vi ngữ dụng diễn ra trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, thay vì các đơn vị ngôn ngữ rời rạc Cách tiếp cận này cũng mở rộng phạm vi phân tích sang yếu tố phi ngôn từ - một phần thiết yếu trong HVCM và hồi đáp - bao gồm sự im lặng, cử chỉ, biểu cảm khuôn mặt, và chuyển động cơ thể Đồng thời, lý thuyết này tạo điều kiện khám phá sâu sắc hơn ảnh hưởng của quyền lực và khoảng cách xã hội đến hình thức và chiến lược biểu đạt HVCM và HĐCM trong các ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Đây là khía cạnh thiết yếu nhằm hiểu rõ hơn sự khác biệt văn hóa giữa các cộng đồng ngôn ngữ Từ đó, lý thuyết Hành vi ngữ dụng trở thành một khung phân tích hữu ích, hỗ trợ hiệu quả trong việc phân tích HVCM và hồi đáp để khám phá các phương thức biểu đạt và cách lựa chọn các CLCM và hồi đáp trong nghiên cứu giao văn hóa, phù hợp với mục tiêu và định hướng của luận án

1.1.5 Lý thuyết hội thoại và các khái niệm liên quan

Luận án này tập trung nghiên cứu đối chiếu HVCM và HĐCM trong tiếng Anh và tiếng Việt trong bối cảnh hội thoại Vì vậy, nghiên cứu được đặt trong cấu trúc hội thoại; nơi có sự tham gia của hai nhân vật: người nói (Sp1) thực hiện HVCM và người nghe (Sp2) đưa ra HĐCM Theo Brown và Yule (1983), hội thoại

là một hình thức sử dụng ngôn ngữ phục vụ đồng thời hai chức năng chính: chức năng giao dịch và chức năng tương tác Chức năng giao dịch liên quan đến việc truyền tải thông tin và nội dung cụ thể, trong khi chức năng tương tác có mục tiêu thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội, thể hiện thái độ cá nhân và cảm xúc giữa các bên tham gia Mặc dù hai chức năng này được phân biệt để phục vụ mục đích phân tích, trong thực tế, hầu hết các cuộc hội thoại tự nhiên đều bao gồm cả hai chức năng với mức độ nổi bật khác nhau tùy theo ngữ cảnh và mục đích giao tiếp Nhìn từ góc độ này, hội thoại là một cấu trúc động và đa chức năng, không chỉ phục vụ việc trao đổi thông tin mà còn thể hiện sự tương tác cũng như quan hệ liên nhân giữa các bên tham gia Trong khuôn khổ luận án, chỉ những khía cạnh lý thuyết hội thoại liên quan trực tiếp đến việc triển khai đề tài mới được trình bày

1.1.5.1 Cặp thoại trong tương tác hội thoại

a Khái niệm về cặp thoại

Trong giao tiếp, sự hồi đáp có thể bằng các HVNN tương thích với hành vi dẫn nhập lập thành các cặp thoại như: Hành vi hỏi - trả lời, hành vi chào - chào,

Trang 25

15

hành vi cầu khiến - nhận lời hoặc từ chối, hành vi cảm ơn - hồi đáp, HVCM - hồi đáp, hành vi đề nghị - đáp ứng, hoặc cũng có thể được thực hiện bằng các hành vi bất kỳ, không tương thích với hành vi dẫn nhập

Trường phái hội thoại của Mỹ và Anh đã đưa ra hai đơn vị có khả năng phản

ánh mối quan hệ tương tác giữa người nói và người nghe, đó là adjacency pair và exchange Adjacency pairs được các nhà nghiên cứu Việt Nam dịch là cặp kế cận

(Cao Xuân Hạo và Hoàng Dũng, 2005; Diệp Quang Ban, 2010; Đỗ Hữu Châu,

2012) và cặp thoại (Nguyễn Đức Dân, 1998) còn exchange được dịch là cặp trao

đáp, cặp thoại (Đỗ Hữu Châu), và sự trao đáp (Nguyễn Thiện Giáp, 2008)

b Cách tiếp cận của luận án

Cặp kế cận được xem là khái niệm trung tâm trong trường phái phân tích hội thoại Mỹ, đóng vai trò cốt lõi trong lý thuyết phân tích hội thoại (Đỗ Hữu Châu, 2012) Từ nền tảng này, trường phái phân tích diễn ngôn Anh và trường phái phân tích hội thoại Pháp - Thụy Sĩ đã phát triển thêm, cùng thừa nhận rằng đơn vị cơ sở

của hội thoại là exchange - tương đương với khái niệm cặp thoại hay cặp trao đáp trong tiếng Việt Tuy nhiên, vẫn còn tranh luận về việc đơn vị cấu thành cặp này là

lượt lời, tham thoại hay bước thoại

Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2003), cặp là “tập hợp gồm hai vật, hai

cá thể cùng loại đi đôi với nhau tạo thành một thể thống nhất Ví dụ: cặp môi, cặp mắt, cặp vợ chồng” (tr 119) Xuất phát từ khái niệm này và từ mối quan hệ tương

tác giữa hai nhân vật giao tiếp, phần lớn các nhà nghiên cứu đồng thuận rằng cặp thoại là một đơn vị cơ bản của hội thoại, dù định nghĩa chi tiết có khác nhau Trong phân tích hội thoại Mỹ, lượt lời là đơn vị cơ bản – tức là một phát ngôn hoặc một chuỗi phát ngôn từ khi người nói bắt đầu đến khi dừng lại Theo Sacks, Schegloff và Jefferson (1978), các lượt lời được tạo nên từ HVNN và có liên kết với phát ngôn của người đối thoại Trường phái Pháp-Thụy Sĩ, tiêu biểu là

Orecchioni (1986), sử dụng khái niệm intervention để mô tả các tham thoại trong

cặp thoại, nhấn mạnh vai trò của hành vi chủ hướng và hành vi phụ thuộc Hành vi phụ thuộc có thể đi trước hoặc sau hành vi chủ hướng, và có thể hỗ trợ, giải thích hoặc hồi đáp Trong thực tế giao tiếp, nếu hành vi chủ hướng không được hồi đáp phù hợp, có thể cần thêm các tham thoại khác Từ đó hình thành các loại cặp thoại như: cặp thoại một tham thoại, hai tham thoại và ba tham thoại, và thậm chí nhiều hơn với cấu trúc phức tạp Điều này cho thấy lượt lời và tham thoại không hoàn toàn đồng nhất: một lượt lời có thể chứa nhiều tham thoại hoặc ngược lại Như vậy,

khái niệm cặp không chỉ dừng ở hai yếu tố mà mang tính linh hoạt hơn tùy vào ngữ

Trang 26

16

một tham thoại - gồm một tham thoại chủ hướng và một tham thoại sử dụng hành

vi phi ngôn từ; và (b) cặp thoại hai tham thoại - gồm một tham thoại chủ hướng và một tham thoại hồi đáp bằng lời Việc đưa hành vi phi ngôn từ vào phạm vi phân tích là cần thiết vì trong hội thoại sự tương tác không chỉ diễn ra bằng lời mà còn qua các hình thức phi ngôn từ như im lặng, tiếng cười, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, v.v (Schegloff, 2007a; Sacks và cộng sự, 1978) Theo Knapp (1980, tr.20), các

phương tiện phi ngôn từ là “một thuật ngữ để miêu tả tất cả các sự kiện giao tiếp vượt lên trên ngôn từ khẩu ngữ và bút ngữ” Tuy nhiên, việc phân tích các hành vi

phi ngôn từ cần đặt trong bối cảnh cụ thể, tránh diễn giải đơn lẻ thiếu liên hệ với

sự của người nói và được thể hiện thông qua hồi đáp LCM là phản ứng sau LCM của người nhận lời chúc Theo lý thuyết hội thoại, hành vi HĐCM được nhận diện

là hành vi đi sau, hay về mặt ngữ nghĩa có liên quan đến hành vi của người nói (16) Trong buổi tiệc mừng Bình vừa lên chức trưởng Khoa

Lam Anh: Chúc mừng anh

(17) Nick báo với Jack về việc đã mời thành công DJ Sock Puppet biểu diễn trong đêm tiệc Giáng Sinh

-Nick: Dude, I just booked DJ Sock Puppet

(Anh bạn, tớ vừa thuê được DJ Puppet)

-Jack: What? No! That is crazy Congrats! That is sick!

(Không! Thật điên rồ CM Tuyệt quá!)

-Nick: Yeah, things are, uh really great right now Thanks

(Ừ, mọi thứ hiện giờ đang rất suôn sẻ Cảm ơn!) [PhM6] Cặp thoại chúc mừng và HĐCM bao gồm hai lượt lời khác nhau Ở ví dụ (16), Sp1 thực hiện HVCM qua một tham thoại chủ hướng chúc mừng và Sp2 đáp lại bằng một tham thoại có hành vi chủ hướng hồi đáp Đây được xem là một cặp thoại

lý tưởng đối với HVCM và HĐCM là chúc mừng - cảm ơn Tuy nhiên, việc xác định thành phần lượt lời và tham thoại trong cặp thoại chúc mừng không hoàn toàn đơn giản Lượt lời trong HVCM và HĐCM có thể bao gồm nhiều tham thoại trước hoặc sau hành vi chính chúc mừng hay HĐCM, như ví dụ (17), ngoài hành vi chủ hướng chúc mừng thì hành vi phụ thuộc cảm thán trước và sau đã làm tăng mức độ

hào hứng thích thú của Sp1 Hay khi Sp2 thực hiện hành vi hồi đáp “Cám ơn” thì

cũng có cả hành vi phụ thuộc xác nhận phía trước với mục đích đồng thuận với sự

Trang 27

17

hào hứng có thật của Sp1 Như vậy, tuy cặp thoại có hai lượt lời, mỗi lượt có thể bao gồm nhiều tham thoại, làm cho cấu trúc linh hoạt hơn Ở ví dụ (16), lời hồi đáp đứng ngay sau LCM Tuy nhiên lượt lời hồi đáp ở ví dụ (17) có tới hai tham thoại,

đó là:

a Ừ, mọi thứ hiện giờ đang rất suôn sẻ

b Cảm ơn

Trong hai tham thoại trên thì tham thoại (b) là tương thích trực tiếp với hành

vi dẫn nhập là HVCM Vì vậy, luận án sẽ tập trung vào những lời hồi đáp có sự tương thích với hành vi dẫn nhập, hành vi đích

Ngoài ra, trong một đoạn thoại chúc mừng và HĐCM, có nhiều lượt lời được nói giữa Sp1 và Sp2 Có thể qua nhiều lượt lời khác nhau thì HVCM và HĐCM mới xuất hiện Xét ví dụ sau:

(18) Lana: Well, it’s not what I expected It’s better Congratulations This

shows me you’re ready to be unleashed From now on, feel free to write about anything

(Chà, ko như tôi dự kiến Tốt hơn nhiều Chúc mừng cô Thứ này cho thấy

cô đã sẵn sàng tung tăng rồi Từ giờ, cứ viết gì cũng được.)

Annie: Anything?

(Bất cứ điều gì?)

Lana: Wherever the wind blows you

(Mọi thứ gió thổi cô tới.)

Annie: Even politics?

(Thậm chí về chính trị?)

Lana: The wind’s not going to blow you there

(Không, không thổi tới đó đâu.)

Annie: What about religion, poverty, economics ?

(Vậy còn tôn giáo, nghèo đói, kinh tế thì sao?)

Lana: This wind is really more of a light breeze

(Cơn gió này là gió nhẹ thôi.)

Annie: What can I write about, Lana?

(Vậy tôi có thể viết về điều gì, Lana?)

Lana: Whatever you want- shoes, laser therapy, dressing for your body type Use your imagination The sky is the limit

(Gì cũng được Giày, trị liệu laser, ăn mặc theo thể hình bạn Hãy tưởng tượng

đi Bầu trời là giới hạn.)

Annie: Thank you for this opportunity, Lana

(Cám ơn vì cơ hội này, Lana.) [PhM5]

Ở ví dụ (18), đoạn thoại của Sp1 và Sp2 được thực hiện qua rất nhiều tham thoại Khi Sp1 chúc mừng Sp2, Sp2 không nói lời cảm ơn ngay sau đó mà hỏi han

và tìm hiểu thêm Qua chín lượt lời giữa Sp2 và Sp1 thì hành vi HĐCM mới xuất hiện để tạo thành một cặp thoại chúc mừng và HĐCM Có thể thấy rằng đây là những cặp chêm xen góp phần làm rõ chức năng thật sự của LCM Tuy nhiên, trong

Trang 28

18

khuôn khổ luận án này, chúng tôi chỉ lựa chọn các cặp thoại có lượt lời chúc mừng

và HĐCM liền kề nhau

1.1.5.3 Các quy tắc trong hội thoại

Để một cuộc hội thoại diễn ra bình thường, các đối ngôn trong cuộc thoại phải tuân theo những quy tắc nhất định Orecchioni (1997) chia quy tắc hội thoại ra thành ba nhóm: (1) Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời; (2) Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại; (3) Quy tắc chi phối quan hệ liên nhân - Phép lịch sự

a Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời

Theo Schegloff và Sacks (1973), các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời bao gồm như sau: (1) Vai nói thường xuyên phải trao đổi nhau (luân phiên) trong một cuộc thoại; (2) Mỗi lần chỉ có một người nói; (3) Lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài, do đó, cần có những biện pháp để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt; (4) Vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng không bao giờ kéo dài; (5) Thông thường lượt lời của đối tác này chuyển tiếp cho đối tác kia không bị ngắt quãng hay giẫm đạp lên nhau (trừ chiến thuật im lặng); (6) Trật tự nói trước nói sau của người nói không cố định, trái lại luôn luôn thay đổi, việc chỉ định và phân phối lượt lời chỉ đặt ra ở những cuộc thoại đa thoại

b Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại – Quy tắc cộng tác

Quy tắc cộng tác của nhà ngôn ngữ học Grice, được trình bày trong tác phẩm

Logic and Conversation (1975), là nền tảng quan trọng của ngữ dụng học hiện đại

Nội dung chính của quy tắc là đảm bảo đóng góp của người nói phù hợp với mục đích và hoàn cảnh cuộc thoại, dựa trên bốn phạm trù: lượng, chất, quan hệ, và cách thức

Phạm trù lượng: Cung cấp thông tin đúng mức, không thừa hay thiếu

Phạm trù chất: Đảm bảo tính chân thực, không nói điều thiếu chứng cứ

Phạm trù quan hệ: Giữ nội dung liên quan, tránh lạc đề

Phạm trù cách thức: Diễn đạt rõ ràng, tránh mơ hồ và sắp xếp hợp lý Trên thực tế, các phạm trù này không phải lúc nào cũng được tuân thủ tuyệt đối Việc cố ý vi phạm có thể tạo ra hàm ý, tùy thuộc vào ngữ cảnh và quan hệ giữa các bên đối thoại Do đó, nghiên cứu HVCM và hồi đáp cần đặt trong bối cảnh tương tác cụ thể Việc áp dụng quy tắc cộng tác của Grice giúp phân tích sâu hơn những hành vi này và nâng cao hiệu quả giao tiếp

c Quy tắc chi phối quan hệ liên nhân

Trong tương tác hội thoại, quan hệ cá nhân giữa những người tham hội thoại rất quan trọng, đó là mối quan hệ ngang (quan hệ thân – sơ), quan hệ dọc (quan hệ

vị thế xã hội)

Quan hệ ngang: là mối quan hệ gần gũi, thân cận hay xa cách giữa những

người tham gia trong giao tiếp Bằng cách sử dụng những từ xưng hô: tôi/ tao/ mình/ mày/ bạn/ anh/ chị, đã thể hiện mối quan hệ thân – sơ, trọng – khinh giữa

những người tham gia giao tiếp

Quan hệ dọc: là quan hệ tôn ti trong xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới được thể hiện qua yếu tố quyền lực, cương vị xã hội, giới, độ tuổi, v.v

Trang 29

19

Trong hội thoại, mỗi phát ngôn thường gắn liền với phát ngôn trước hoặc định hướng cho phát ngôn sau Một hành vi ngôn ngữ A thường kéo theo phản hồi

từ hành vi ngôn ngữ B, trong đó lượt lời đầu tiên tạo tiền đề cho lượt lời thứ hai

Hiện tượng này được gọi là cặp thoại, phản ánh tính liên kết và tương tác trong quá

trình giao tiếp

1.1.5.4 Ngữ cảnh

Trong giao tiếp, mỗi phát ngôn đều được tạo ra trong một bối cảnh cụ thể Để hiểu đầy đủ và chính xác nội dung của phát ngôn, cần đặt nó trong ngữ cảnh mà nó xuất hiện Ngữ cảnh không chỉ hỗ trợ việc sử dụng và tổ chức từ ngữ mà còn là nền tảng để tiếp nhận và giải mã ý nghĩa Đặc biệt, trong việc nhận diện và phân tích các HVNN gián tiếp - như HVCM hay HĐCM dưới hình thức gián tiếp - vai trò của ngữ cảnh càng trở nên quan trọng

Theo Đỗ Hữu Châu (2012), ngữ cảnh bao gồm ba yếu tố chính:

Đối tượng giao tiếp: Gồm Sp1 và Sp2, với các vị thế khác nhau như cao

hơn, bằng hoặc thấp hơn Các vị thế này ảnh hưởng đến phong cách giao tiếp: thân mật, gần gũi hay trang trọng, lịch sự

Hoàn cảnh giao tiếp: Gồm hoàn cảnh rộng (các yếu tố xã hội, địa lý, chính

trị, kinh tế, văn hóa, phong tục, v.v.) và hoàn cảnh hẹp (thời gian, địa điểm và các

sự kiện, hiện tượng xung quanh thời điểm phát ngôn) Những yếu tố này cấu thành nền tảng văn hóa cho ngôn ngữ và quy định cách thức phát ngôn được tạo lập

Ngữ huống: Là các biến đổi xảy ra trong quá trình giao tiếp như thay đổi

về đối tượng, trạng thái tâm lý, mức độ hiểu biết, ý định hay chủ đề trao đổi

Để phát ngôn có hiệu lực, Sp1 cần lựa chọn ngôn từ phù hợp với ngữ nghĩa, ngữ pháp, và đặc biệt là phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp Từ ngữ phản ánh đúng mối quan hệ giữa Sp1 và Sp2 cũng như điều kiện, phương thức và bối cảnh cụ thể của cuộc giao tiếp Ngữ cảnh vì thế là môi trường sinh ra phát ngôn và định hình

cả nội dung lẫn hình thức biểu đạt

Như cùng một nội dung là chúc mừng một người vừa được thăng chức, nếu đối tượng giao tiếp với người nói là bạn bè, có vị thế bình đẳng, ngang

hàng, quan hệ thân mật thì Sp1 có thể nói: “Chúc mừng bạn/ cậu/ mày nhé.” thậm chí có thể nói trống không: “Chúc mừng.”; nhưng nếu người giao tiếp với Sp1 là

người bề trên (trên về tuổi tác hoặc địa vị, v.v.) thì Sp1 lại phải thể hiện sự lễ phép,

tôn trọng của mình: "Em (Cháu) chúc mừng anh/chị (bác/cô).” hay có thể sử dụng

thêm những lời nói chêm xen, rào đón làm cho cuộc giao tiếp tự nhiên hơn

Để hiểu đúng và sâu sắc một phát ngôn, Sp2 phải dựa vào ngữ cảnh Phát ngôn chỉ thực sự có nghĩa khi được đặt trong TH cụ thể, gắn với diễn biến thực tế,

từ đó giúp phân tích và lý giải đầy đủ cả cả nội dung lẫn hình thức Chẳng hạn, câu

nói: (19)“Mình là mình ganh tị với Tiên lắm đó nha.” có thể mang nhiều hàm ý:

một sự ghen tị thật sự với cảm xúc khó chịu; một lời chỉ trích hoặc mỉa mai thành công của Tiên; hoặc cũng có thể là một LCM gián tiếp

Vì vậy, chính ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta hiểu được hàm ý của câu nói, tức là ý nghĩa thực sự mà người nói muốn truyền đạt

Trang 30

20

Tương tự, HVCM và HĐCM cũng cần được đặt trong bối cảnh cụ thể để có thể nhận diện và lý giải một cách chính xác

1.1.5.5 Chiến lược chúc mừng và hồi đáp chúc mừng

Theo từ điển tiếng Anh Collins trực tuyến, chiến lược là một kế hoạch được

thực hiện nhằm đạt được một mục đích cụ thể

Theo Schneider (2005), mỗi HVNN có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau trong bất kỳ ngôn ngữ nào, được gọi là các chiến lược Các chiến lược được thực hiện bao gồm các mô hình cấu trúc và các phương tiện từ vựng, ngữ nghĩa sẵn có mà người nói có thể lựa chọn để thực hiện một HVNN cụ thể

Như vậy, CLCM được hiểu là cách thức thực hiện HVCM thông qua các phương tiện ngôn ngữ khác nhau Đối với HVCM, một số chiến lược đã được đề xuất nhằm phân tích nó như một hành vi lời nói mang tính ngữ dụng Những chiến lược này đóng vai trò như những tiêu chí linh hoạt để khảo sát HVCM như một hiện tượng ngữ dụng xã hội trong các ngôn ngữ khác nhau Ví dụ, trong nghiên cứu

so sánh giao văn hóa giữa người Nhật và người Mỹ, Elwood đã sử dụng DCT để thu thập ngữ liệu và xác định danh sách các chiến lược thường dùng trong HVCM Đây được xem là công trình đầu tiên khám phá các CLCM và đưa ra bảng phân loại chi tiết Luận án này phân tích các biểu thức chúc mừng dựa trên bảng phân loại của Elwood (2004, tr 361-380) (Bảng 1.2) Một số ví dụ được trích từ nghiên cứu của Elwood; tuy nhiên, một số chiến lược không có ví dụ minh họa do thiếu ngữ liệu trong nghiên cứu gốc

a Biểu đạt niềm hạnh phúc cá nhân

b Đánh giá tình huống tích cực a I’m happy for you! b That’s great!

3 Yêu cầu thông tin

a Câu hỏi cụ thể

b Yêu cầu thông tin chung

a Who’s the lucky guy/ girl?

b So tell me about it

4 Biểu đạt sự xác tín

a Phát ngôn chứng thực tình huống

b Ca ngợi

c Phát ngôn xác nhận dự đoán trước đó

a You really deserved the position

b Great job!/You’ve done a good job

c I knew that you would get it

5 Bình luận liên hệ bản thân

a Bày tỏ sự ghen tị, niềm khát khao

b Bày tỏ sự nỗ lực trong tương lai

c Cầu mong thành công của bản thân

a Hopefully I’ll be next

b I’ll do my best

c The next promotion is my turn

7 Các loại khác:

a Dự đoán về tương lai

b Xin lời khuyên

c Cho lời chúc may mắn

a I think you’ll do an excellent job

b Any advice for a slacker like me?

c Good luck

Trang 31

j Yêu cầu duy trì tình bạn

k Yêu cầu cải thiện công ty

l Cho lời chúc tốt đẹp/ lời động viên

d I think promotion in three years is really fast

e Let’s go out for drinks/have a party

l Good wishes for the couple’s happiness

Mặc dù một số nghiên cứu trước đây đã áp dụng mô hình phân loại của Elwood (Avazpour, 2020; Azam và Saleem, 2018; Alameen, 2017; Mahzari, 2017; Jahangard và cộng sự, 2016; Bataineh, 2013; Dastjerdi và Nasri, 2012), cần lưu ý rằng các CLCM có thể thay đổi tùy theo ngữ cảnh cụ thể Elwood cho rằng các loại

sự kiện khơi nguồn cho HVCM cũng như cách thức hiện thực hóa hành vi này có thể khác nhau trong các bối cảnh giao văn hóa (2004) Do đó, có thể dự đoán rằng

sẽ có một số biến đổi về mặt chiến lược trong nghiên cứu này, đặc biệt khi một trong hai ngôn ngữ được khảo sát là tiếng Việt - ngôn ngữ chưa được đề cập trong nghiên cứu gốc của Elwood Nghiên cứu này sẽ xem xét liệu có những chiến lược chưa được Elwood xác định, hoặc có những chiến lược đã được nêu nhưng không được người tham gia sử dụng, đồng thời phân tích các nguyên nhân tiềm ẩn cho sự khác biệt này

Ngoài ra, một số chiến lược trong bảng phân loại của Elwood dường như có

sự chồng chéo Ví dụ, chiến lược số 6 (Bày tỏ sự cảm thán/ngạc nhiên) và 7F (Bày

tỏ sự ngạc nhiên) có nội dung khá tương đồng Tương tự, chiến lược 7C (Cho lời chúc may mắn) và 7L (Cho lời chúc tốt đẹp) cũng có thể trùng lặp, vì lời chúc may mắn thường được xem như một hình thức của lời chúc tốt đẹp Trong khi đó, Gửi lời động viên lại được tách riêng như một chiến lược độc lập Các chiến lược như Bày tỏ niềm tự hào, Bày tỏ sự cảm thán, ngạc nhiên có thể được gộp thành một nhóm chung là Bày tỏ cảm xúc tích cực, đồng thời có thể mở rộng thêm với các TCL như Bày tỏ sự ngưỡng mộ, niềm mong đợi và Bày tỏ tình cảm, dựa trên ngữ

liệu thu thập được

Hơn nữa, trong một số TH , người tham gia lựa chọn chúc mừng bằng cách

đề cập trực tiếp đến sự kiện hoặc lý do, trong khi những người khác chỉ sử dụng

IFIDs như “congrats” hoặc “congratulations” Các LCM mang tính khuôn mẫu

trong dịp lễ hội hay kỷ niệm cũng thể hiện chức năng tương tự Do đó, chiến lược IFID trong nghiên cứu này sẽ được phân tách thành các TCL cụ thể: sử dụng ĐTNV

ở dạng đầy đủ, dạng viết tắt, đề cập đến sự kiện/ lý do và biểu thức theo khuôn mẫu, nhằm phân tích sâu hơn các hình thức biểu đạt

Một số CLCM phổ biến không nằm trong bảng phân loại của Elwood Chẳng hạn, trong một số TH, người tham gia cho biết họ sẽ giữ im lặng - một lựa chọn không xuất hiện trong bảng phân loại của Elwood nhưng đã được bổ sung trong

Trang 32

22

nghiên cứu hiện tại dưới dạng chiến lược Phi ngôn từ Ngoài ra, một số chiến lược trong mô hình của Elwood (như Đề nghị giúp đỡ, Bình luận liên quan đến bản thân, Yêu cầu duy trì tình bạn, v.v.) đã được lược bỏ vì không thể hiện rõ chức năng chúc

mừng Đáng chú ý, Elwood chỉ liệt kê các CLCM xuất hiện mà không phân tích sâu các BTNV chúc mừng trực tiếp và gián tiếp Do đó, luận án tham khảo thêm phân tích của Jakubowska (1999) và phân tích của Martínez (2013) nhằm phân loại các HVCM theo hai nhóm lớn là HVCM trực tiếp và HVCM gián tiếp

Theo Jakubowska (1999), các biểu thức chúc mừng có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức, từ trực tiếp đến gián tiếp, tùy thuộc vào bối cảnh và mức độ trang trọng của giao tiếp Chúc mừng trực tiếp thường được sử dụng trong các TH trang

trọng và bao gồm các biểu thức như “I must/ Let me congratulate you (on) ,”,

“Congratulations (on) ”, “Please, accept my (Adv modifier) congratulations” (tr

88) Những hình thức này thể hiện rõ sự công nhận của Sp1 đối với thành tựu hoặc

sự kiện quan trọng của Sp2 Ngược lại, trong các bối cảnh thân mật, hình thức gián tiếp thường được dùng thông qua lời khen hoặc sự công nhận ngầm, với các biểu

thức như “Fantastic/ Terrific!”, “Well done!” hoặc “It was great to hear ” (tr 89) Tuy nhiên, các biểu thức chúc mừng trực tiếp và gián tiếp chưa thật sự đa dạng

Martínez (2013) nhận định rằng HVCM chủ yếu được thực hiện qua câu trần thuật do khả năng truyền tải thông điệp một cách rõ ràng và chân thành Các cấu

trúc như "Congratulations To XNP On YNP", hay “I Congratulate You On XNP” (tr 213-214) cho thấy tính trực tiếp của hành vi Việc sử dụng ĐTNV congratulate hoặc danh từ congratulations trong các câu trần thuật, nghi vấn hoặc mệnh lệnh đều thể hiện rõ ràng ý định chúc mừng Ví dụ, câu "I congratulate you on your punctuality" minh họa tính minh bạch và và mục đích biểu cảm rõ nét (tr 214) Ngoài ra, còn có các động từ như compliment, commend hay praise để thể hiện sự

đánh giá cao năng lực hoặc thành tựu của người nhận Tương tự, cấu trúc biểu lộ

cảm xúc như "I Am Happy For You (XP)" thể hiện rõ ràng về mặt từ vựng, giúp

người nghe dễ dàng nhận diện mục đích ngôn hành của phát ngôn (tr 217)

Mặc dù câu trần thuật chiếm ưu thế, các biểu đạt gián tiếp cũng đóng vai trò không nhỏ trong HVCM Chúng thường dựa trên lời khen, lời ca ngợi qua các biểu

thức như "You Did Well (XPREP)", “You Did A Good Job (XPREP)” hoặc "Well done (XPREP)" nhằm truyền tải sự công nhận và niềm vui gián tiếp Biểu thức “I Am Proud Of You (XPREP)” thể hiện cảm xúc tích cực của Sp1 đối với thành quả của

Sp2, kích hoạt mô hình nhận thức về HVCM mà không cần tuyên bố trực tiếp

HVCM, phù hợp với bối cảnh thân mật hoặc ít yêu cầu biểu lộ cảm xúc mạnh

Nghiên cứu này đã áp dụng một phiên bản điều chỉnh của hệ thống phân loại CLCM của Elwood (Bảng 1.3), các biểu thức của Jakubowska (1999) và Martínez (2013) làm cơ sở lý thuyết cho việc nhận diện HVCM và phân loại CLCM trong luận án

Bảng 1.3

Bảng Phân Loại CLCM trong Luận Án

1 Dùng từ nhấn mạnh lực tại lời (IFID) 1 Yêu cầu thông tin

Trang 33

b Phát ngôn xác nhận dự đoán trước đó

3 Dự đoán về tương lai

a Cho lời chúc phổ biến

b Cho lời chúc rượu

“không gian ngữ dụng đa chiều” (tr 68), nơi các HVNN có thể tương tác và thay

Trang 34

lý giải khác - được sử dụng rộng rãi (Dehkordi và Chaak, 2015) Do vậy, luận án này lựa chọn hệ thống của Herbert (1986) làm cơ sở phân loại chiến lược HĐCM Phần tiếp theo sẽ trình bày một số khung phân loại các hình thức hồi đáp khen của Pomerantz (1978), Herbert (1986) và Holmes (1986) làm tiền đề cho việc lựa chọn một khung phân loại phù hợp cho hành vi HĐCM trong luận án này

Pomerantz (1978) có thể được coi là người đầu tiên quan tâm đến các biểu hiện của hành vi tiếp nhận lời khen bằng việc đưa ra nguyên lý của hành vi hồi đáp khen là: đồng ý với người nói và tránh tự khen mình Theo đó, người hồi đáp thường

tổ chức ngôn từ theo cách tán thành hạ giảm hoặc khen lại Ví dụ:

– [Khen]: Oh she’s a beautiful girl! (Chao ôi, cô ấy là một cô gái đẹp!) ; [Hồi đáp]: Yes, I think she’s a pretty girl (Ừ, mình cũng nghĩ cô ta là cô gái dễ

– [Khen]: Good shot! (Một cú đánh hay); [Hồi đáp]: Not very solid though

(Cũng vừa phải thôi/ không hay lắm đâu) (tr 99)

Tuy nhiên, Holmes (1986) cho rằng, các nghiên cứu của Pomerantz chưa định lượng được cụ thể vì Pomerantz không đưa ra được các con số phần trăm chính xác cho mỗi loại hình tiếp nhận lời khen dù tác giả đã cung cấp nhiều ví dụ của những loại trên

Ủng hộ hướng nghiên cứu của Pomerantz, Herbert (1986, tr 78) sau khi khảo sát hành vi hồi đáp khen trong tiếng Anh Mỹ và đã công bố 12 chiến lược hồi đáp khen được xếp thành ba nhóm Cụ thể:

1 Chấp nhận lời khen

Trong nhóm này bao gồm các TCL:

a Biểu thị sự tri ân

b Đồng tình với lời khen

c Nâng mức độ lời khen

d Giải thích thêm

e Chuyển đổi tình thế

f Khen lại

2 Không chấp nhận lời khen

Trong nhóm này bao gồm các TCL:

a Nói giảm mức độ xuống

b Hỏi lại

c Không đồng tình

d Đề cập đến chất lượng

e Tỏ ra không hiểu/ Im lặng

Trang 35

25

3 Ứng xử khác: Yêu cầu giải thích

Trong ba nhóm này, theo Herbert, hồi đáp chấp nhận lời khen chỉ chiếm 36%, còn lại 64% là hồi đáp không chấp nhận và hồi đáp khác Kết quả nghiên cứu trên rõ ràng đã khẳng định rằng, những điều người ta thật sự muốn nói có lẽ sẽ khác với những gì mà ngôn ngữ được dùng để biểu đạt Cũng tìm thấy kết quả nghiên

cứu tương tự, Holmes tin rằng, “Một lời khen không chỉ là một lời khẳng định tích cực mà nó còn làm cho người được khen cảm thấy sự khẳng định tích cực ấy có liên quan đến mình” (1986, tr 496) Dựa trên giả thuyết này, tác giả đã đưa ra ba

loại phản hồi lời khen dưới đây:

a Chấp nhận, gồm: (1) Biểu thị sự tri ân (2) Đồng tình với lời khen (3) Nói

giảm mức độ hoặc chất lượng xuống (4) Khen lại

b Phản đối, gồm: (1) Không đồng tình (2) Xác định lại tính chính xác (3)

Nghi ngờ sự chân thành

c Lảng tránh, gồm: (1) Chuyển ngược lại lời khen (2) Nhận xét các thông

tin trong lời khen (3) Lờ đi (4) Né tránh lời khen (5) Yêu cầu lặp lại lời khen

Nhìn chung, cách phân loại của Holmes không khác nhiều so với Herbert, tuy nhiên có sự khác nhau cách sắp xếp các TCL trong từng nhóm Trong hai nghiên cứu về lời HĐCM của Bataineh (2013) và Khalil (2015), các phản hồi chủ yếu

nghiêng về dạng đồng tình, đặc biệt là chiến lược Biểu thị sự tri ân và Chúc mừng lại bằng lời chúc và bằng lời cầu khấn Cả hai tác giả đều nhấn mạnh xu hướng kết hợp nhiều chiến lược trong cùng một lượt lời Tuy nhiên, hai dạng Không chấp nhận và Ứng xử khác không xuất hiện trong kết quả nghiên cứu của họ

Luận án này lấy bảng phân loại lời hồi đáp khen của Herbert (1986) làm cơ

sở lý thuyết cho việc phân loại CLHĐCM Mặc dù bảng phân loại của Herbert có nền tảng vững chắc và được sử dụng rộng rãi, nhưng không hoàn toàn phù hợp để giải thích mọi trường hợp trong ngữ liệu cụ thể của nghiên cứu này Do đó, cần phát triển một khuôn khổ phân loại CLHĐCM phù hợp hơn với đặc điểm ngữ liệu Hơn nữa, trong số các nghiên cứu về CLHĐCM thuộc lĩnh vực ngữ dụng học, chưa

có công trình nào đề xuất một khuôn khổ phân loại chi tiết dành riêng cho đối tượng người Mỹ và người Việt Vì vậy, nghiên cứu này đề xuất một hệ thống phân loại

sơ bộ cho CLHĐCM trong tiếng Anh Mỹ và tiếng Việt Khuôn khổ này được điều

chỉnh từ hệ thống của Hebert (Bảng 1.4) Cụ thể, nhóm Ứng xử khác được lược bỏ; đồng thời bổ sung các chiến lược mới như TCL Đề nghị; Hứa hẹn; Bày tỏ lời chúc, niềm hi vọng; v.v Ngoài ra, chiến lược Phi ngôn từ được được đưa vào nhóm Chấp nhận LCM để phản ánh những trường hợp người nói dùng tín hiệu phi ngôn từ thể

Trang 36

1.1.6.1 Chức năng ngữ dụng của lời chúc mừng trong xã hội

Xuất phát từ nhu cầu chia sẻ niềm vui trong đời sống cộng đồng, LCM trong tâm lý người Việt được xem như một thói quen giao tiếp mang tính văn hóa sâu sắc (Phạm Thị Kim Trung, 2003) LCM không chỉ mang lại niềm vui, sự thoải mái về tinh thần cho cả Sp1 và Sp2 mà còn có thể rút ngắn khoảng cách giữa các cá nhân Tuy nhiên, một LCM không phù hợp về ngữ cảnh hoặc thời điểm có thể gây tổn hại đến mối quan hệ xã hội Trong bối cảnh hội nhập và giao thoa văn hóa, đặc biệt dưới ảnh hưởng của phương Tây, nghi thức chúc mừng của người Việt ngày càng

mở rộng phạm vi và tần suất sử dụng Nếu trước đây LCM chỉ phổ biến trong các dịp lễ lớn của đất nước, dịp vui lớn của gia đình dòng tộc như mừng sinh con, mừng thọ, khai trương hay kết hôn, thì nay chúng xuất hiện cả trong những dịp thường nhật như sinh nhật, thi đỗ, bình phục, v.v (Phạm Thị Kim Trung, 2003) Do đó, việc phân loại các chức năng ngữ dụng của HVCM là cần thiết để khảo sát mục đích sử dụng trong các ngữ cảnh khác nhau

i/ Chúc mừng vì thành tựu, may mắn

Đây là dịp chúc mừng ai đó đạt được thành tích hay thành công hay bày tỏ niềm vui khi ai đó gặp điều may mắn hay vận may trong cuộc sống

(20) - Congratulations on the birth of your baby [PhM38]

(21) - Em yêu, chúc mừng em đã có một buổi diễn thành công [PhV14]

HVCM được sử dụng nhằm duy trì sự hợp tác và củng cố các mối quan hệ xã hội (Can, 2011) Hành vi này tạo ra những TH tích cực, thúc đẩy tinh thần cộng tác

và góp phần xây dựng sự hài hòa trong tập thể Trong văn hóa Việt Nam - một nền văn hóa có mức độ chú trọng ngữ cảnh cao - lối sống tình nghĩa "tắt lửa tối đèn có nhau" được đề cao Người Việt thường cùng nhau chia sẻ cả niềm vui lẫn nỗi buồn Chính từ cách sống đề cao tình cảm ấy, các hình thức chúc mừng đã hình thành, phát triển và dần trở thành một hoạt động tinh thần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng Theo thời gian, chúc mừng ngày càng hoàn thiện, trở thành một nghi thức lời nói phổ biến, dùng để thể hiện sự quan tâm, công nhận thành tựu hay chúc phúc cho người khác (Phạm Thị Kim Trung, 2003) Nguyễn Quang (2014) cũng

Trang 37

27

khẳng định rằng việc gửi gắm mong muốn tốt đẹp không chỉ đơn thuần là hành vi

xã giao mà còn phản ánh truyền thống văn hóa sâu sắc, thể hiện sự quan tâm chân thành và gắn kết cộng đồng

Trái lại, văn hóa Mỹ - theo phân loại của Hall (1976) - là nền văn hóa có mức

độ chú trọng ngữ cảnh thấp Người Mỹ đề cao cá nhân, giao tiếp thẳng thắn và ít

bị ảnh hưởng bởi quyền lực trong xã hội (Ting-Toomey, 1999) Có thể nói đây là nền văn hóa đề cao tính bình đẳng, và các TH trong xã hội được xử lý dựa trên lý

lẽ thay vì tình cảm cá nhân Theo Hall (1976), người Mỹ xem thành công là điều đáng tự hào và xứng đáng được công nhận Họ thường lạc quan, không ngần ngại bày tỏ sự ngưỡng mộ, ca ngợi thành tích và thể hiện cảm xúc tích cực khi chúc mừng người khác Do đó, HVCM ở Mỹ được thực hiện rộng rãi, bất kể hoàn cảnh hay đối tượng giao tiếp

(22) - Congratulations on winning State [PhM12]

(23) - Hey, captain of our fairy band, you were the best part of the show

ii/ Chúc mừng bắt buộc hay mỉa mai

Như đã đề cập, đôi khi người ta bày tỏ LCM dù trong lòng không thật sự vui

vẻ (Austin, 1962) Theo quan điểm của Bach và Harnish (1979), một khi Sp1 nhận thức rằng sự kiện xảy ra đòi hỏi LCM, thì dù thiếu chân thành, họ vẫn cần thực hiện hành vi này để tuân thủ chuẩn mực lịch sự xã hội, và nâng cao thể diện dương tính của Sp2 (Brown và Levinson, 1987) Chẳng hạn, một vận động viên thua cuộc vẫn chúc mừng đối thủ chiến thắng, hay một ứng viên tổng thống thất cử phải chúc mừng đối thủ đắc cử Nếu không bày tỏ LCM trong trong những TH này, Sp1 có thể bị xem là đố kỵ hoặc thiếu lịch sự Trong trường hợp này, HVCM được xem là bắt buộc - Sp1 không mong muốn sự kiện xảy ra và không thật sự hài lòng với kết quả, nhưng vẫn thực hiện hành vi nhằm thể hiện sự tôn trọng và thái độ lịch thiệp đối với Sp2 Sp2, trong hoàn cảnh đó, cũng nhận thức được bối cảnh và hiểu rằng LCM là một biểu hiện của phép xã giao và tinh thần lịch sự, hơn là sự vui mừng thực tâm

iii/ Chúc mừng trong các dịp kỷ niệm và lễ hội

Trong cuộc sống có vô vàn những dịp vui mà người ta có thể chúc mừng, nhưng người Việt vốn mới chỉ chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong khoảng trên dưới 100 năm nay nên những dịp chúc mừng trong các ngày lễ theo dương lịch như ngày lễ Tình nhân, Giáng Sinh, Ngày của Mẹ, Ngày 8-3, Ngày Quốc Khánh, v.v gần đây mới xuất hiện Những LCM trong các dịp này thường

mang dạng thức cố định mà Tannen và Oztek (1977, tr 38) gọi là “dạng thức bắt buộc theo tình huống”

Người Việt Nam, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền văn hóa nông nghiệp gắn với nông lịch và tư tưởng nhân sinh mang đậm dấu ấn Nho giáo, thường trao nhau LCM vào các dịp lễ tiết truyền thống và sự kiện quan trọng trong đời sống cá nhân như thi đậu, sức khỏe hồi phục, sinh con trai, khai trương cửa hàng, mừng thọ,

Trang 38

28

mừng nhà/ xe mới, mừng được thăng chức, v.v (Phạm Thị Kim Trung, 2003) Những điều này thể hiện đặc trưng văn hóa Á Đông của Việt Nam - đề cao tình cảm, quan tâm lẫn nhau trong cả niềm vui lẫn nỗi buồn, và đậm tính cộng đồng làng xã (Trần Quốc Vượng và cộng sự, 2006)

(26) - Chúc mừng con gái của mẹ lên chức nhé [PhV49]

thần chia sẻ niềm vui với người khác Trong các lễ hội hay sự kiện kỷ niệm, việc

dùng rượu để chúc mừng cũng là hình thức trang trọng phổ biến Câu nói "Vô tửu bất thành lễ", phản ánh vai trò biểu tượng của rượu trong đời sống lễ nghi – không

chỉ là thức uống mà còn là phương tiện truyền đạt lời chúc và gắn kết cộng đồng

(Thái Lương, 2004; Phạm Minh Thảo, 2015; Lê Minh Quốc, 2016)

Ngược lại, nước Mỹ - một quốc gia đa chủng tộc, đa văn hóa, và đa tôn giáo

- sở hữu hệ thống lễ hội phong phú từ văn hóa chung đến truyền thống riêng của từng sắc tộc Các dịp lễ lớn như Năm mới, Giáng Sinh, Lễ Tạ ơn, Lễ Phục sinh, Lễ Tình nhân, Quốc khánh, v.v đều là cơ hội để người Mỹ gửi lời chúc tốt đẹp Cụm

từ "Merry Christmas" trong dịp Giáng sinh không chỉ là LCM, mà còn mang giá

trị lễ nghi (Shearer, 2008) Bên cạnh đó, các dịp cá nhân như sinh nhật, đính hôn, kết hôn cũng luôn kèm theo những lời chúc tụng Người Mỹ sử dụng đa dạng ngôn ngữ chúc mừng nhằm tăng cường sự gắn kết, thấu hiểu lẫn nhau trong giao tiếp hằng ngày, phản ánh vai trò xã hội thiết yếu của LCM trong văn hóa phương Tây (Avazpour, 2020)

1.1.6.2 Lịch sự trong hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng

Chúc mừng là hành vi bày tỏ niềm vui, hạnh phúc, và thái độ tích cực trước thành quả hoặc vận may mà người khác, hoặc để đánh dấu một sự kiện đặc biệt Đây là hành vi cần được thể hiện một cách lịch sự nhằm tạo cảm giác tích cực cho người nhận Trong bối cảnh này, chúc mừng không chỉ đơn thuần là một hình thức

xã giao, mà còn là hành vi giao tiếp mang tính biểu tượng, thể hiện sự kính trọng, tình cảm thân thiện và mong muốn thiết lập hoặc củng cố mối quan hệ giữa các bên Điều này tương ứng với quy tắc thứ ba trong ba quy tắc lịch sự của Lakoff (1973), nơi chúc mừng được xem là hành vi mang tính lịch sự cao

Theo Leech (1983), HVCM có bản chất lịch sự vì chúng mang lại lợi ích tinh thần cho người nghe và góp phần duy trì bầu không khí tích cực trong giao tiếp Hành vi này thỏa mãn nhiều phương châm lịch sự, đặc biệt là phương châm tán đồng và cảm thông Ngoài ra, chúc mừng còn được coi là hành vi tôn vinh thể diện - nó không chỉ nâng cao hình ảnh người nhận mà còn khẳng định thiện chí của người nói Vì vậy, có thể xem đây là một chiến lược lịch sự dương tính, được sử dụng để tăng cường tính thân mật và thúc đẩy các mối quan hệ xã hội, đặc biệt trong trường hợp người nói muốn bày tỏ mong muốn gắn kết (Brown và Levinson, 1987) Các học giả Việt Nam như Trần Ngọc Thêm (1996), Nguyễn Thiện Giáp

Trang 39

29

(2000), và Nguyễn Quang (2002) cũng nhấn mạnh rằng lịch sự là một chuẩn mực

xã hội mà người tham gia giao tiếp cần tuân thủ bằng việc sử dụng các chiến lược phù hợp Trong HVCM, người nói không cần giảm nhẹ nội dung mà nên thể hiện

rõ sự chân thành thông qua các cấu trúc tăng cường nhằm nâng cao tính lịch thiệp Tuy nhiên, trong một số bối cảnh văn hóa và TH cụ thể, LCM có thể bị xem

là hành vi đe dọa thể diện âm tính của người nhận, bởi nó làm giảm quyền tự do hành động hoặc khiến người nhận cảm thấy bắt buộc phải hồi đáp sao cho phù hợp (Brown và Levinson, 1987) Trong trường hợp LCM được đưa ra trước đám đông, người nhận có thể thấy bối rối hoặc không xứng đáng, dẫn đến ảnh hưởng thể diện dương tính của họ Đồng thời, LCM đôi khi cũng có thể đe dọa thể diện dương tính của người nói - nhất là khi Sp1 có vị thế xã hội thấp hơn hoặc cảm thấy bị so sánh bất lợi với người được chúc mừng Trong một số trường hợp, lời chúc có thể ẩn chứa sự đố kị, làm giảm tính chân thành, dù hình thức bên ngoài vẫn thể hiện sự khéo léo (Holtgraves, 2013) Vì vậy, Sp1 cần cân nhắc kỹ lưỡng để tránh làm tổn hại thể diện của người khác, đồng thời bảo toàn thể diện của chính mình Trong HVCM, lịch sự và thể diện là hai yếu tố ngữ dụng trung tâm cần được xem xét và điều chỉnh một cách tinh tế

Về phía người nhận, phương châm tán đồng yêu cầu họ không từ chối lời chúc Tuy nhiên, hành vi chấp nhận LCM có thể vi phạm phương châm khiêm tốn, nhất là trong những nền văn hóa đề cao sự nhún nhường như Việt Nam Nếu không khéo léo, người nhận có thể rơi vào tình trạng khó xử - lời đáp lại quá khiêm tốn

dễ khiến họ bị đánh giá là không biết đón nhận thiện chí, còn lời đáp quá tự tin lại

có thể bị xem là kiêu ngạo Do đó, một lời hồi đáp lịch sự là lời đáp không chỉ bảo toàn mà còn nâng cao thể diện cho cả hai bên, đồng thời giảm thiểu thiệt hại về mặt tinh thần Để đạt được điều này, các bên tham gia giao tiếp cần sử dụng các chiến lược lịch sự dương tính khi bày tỏ và đáp lại LCM, nhằm làm dịu đi những nguy

cơ đe dọa thể diện và tạo cảm giác đoàn kết Bên cạnh đó, yếu tố phù hợp văn hóa cũng đóng vai trò quan trọng Trong khi người Mỹ thường trực tiếp và minh bạch trong cách thể hiện lời chúc - phản ánh văn hóa đề cao tính cá nhân và sự rõ ràng - thì người Việt lại có xu hướng sử dụng ngôn ngữ gián tiếp hoặc hàm ý, cho thấy sự tinh tế trong văn hóa giao tiếp (Nguyễn Quang, 2002) Sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi HĐCM trong các tương tác giao văn hóa

Cuối cùng, tính chân thực của hành vi hồi đáp là yếu tố không thể bỏ qua Lịch sự không chỉ là hình thức bên ngoài mà còn là biểu hiện của thái độ và ý định thực sự Nếu lời khen hoặc LCM vượt quá mức độ cho phép, nó có thể chuyển

thành hành vi đe dọa thể diện Ví dụ, câu nói "Cảm ơn nhe!" nếu được nói với

giọng điệu mỉa mai có thể mang hàm ý tiêu cực, dù hình thức là lời cảm ơn Do đó, mục đích phát ngôn và thái độ chân thành là những yếu tố then chốt để duy trì sự lịch sự trong giao tiếp thực tế

Từ những lý thuyết và quan điểm đã được trình bày, có thể khẳng định rằng HVCM và HĐCM không chỉ mang ý nghĩa ngữ dụng trong giao tiếp mà còn phản ánh các nguyên tắc lịch sự và thể diện trong các nền văn hóa Các lý thuyết của Lakoff (1973), Leech (1983), Brown và Levinson (1987), Holtgraves (2013) cũng

Trang 40

30

như các nhà nghiên cứu Việt Nam như Trần Ngọc Thêm (1996), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Nguyễn Quang (2002) cung cấp nền tảng vững chắc để phân tích HVCM và HĐCM trong bối cảnh giao tiếp lịch sự Những lý thuyết này không chỉ giúp giải thích động cơ đằng sau các HVCM và HĐCM mà còn hướng dẫn việc sử dụng các chiến lược lịch sự nhằm bảo vệ thể diện và xây dựng mối quan hệ xã hội hiệu quả.Lý thuyết cơ bản của Brown và Levinson cùng với nguyên tắc lịch sự của Leech nằm trong khung lý thuyết chủ đạo của luận án

1.1.6.3 Các nhân tố chi phối việc thực hiện hành vi chúc mừng và hồi đáp chúc mừng

Ngữ dụng học xã hội nghiên cứu cách các yếu tố như quyền lực, khoảng cách

xã hội, giới tính, tuổi tác, v.v ảnh hưởng đến việc lựa chọn các chiến lược lịch sự trong các nền văn hóa khác nhau Những yếu tố này được xem là tác nhân xã hội quan trọng chi phối HVNN (Perez-Sabater và Montero-Fleta, 2014) Nói cách khác, các yếu tố xã hội là biến độc lập ảnh hưởng đến lựa chọn biến thể ngôn ngữ phù hợp trong từng ngữ cảnh cụ thể - trong đó, HVCM là biến phụ thuộc, còn quyền lực và khoảng cách xã hội là hai biến độc lập

Một số nghiên cứu thực nghiệm (Spencer-Oatey, 2008) và lý thuyết của Brown và Levinson (1987) đã nhấn mạnh vai trò then chốt của các yếu tố ngữ cảnh này đối với mức độ thể hiện lịch sự trong hội thoại Quyền lực và khoảng cách xã hội ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược tôn vinh hay giảm nhẹ thể diện dương tính hoặc âm tính của người tham gia giao tiếp Do đó, trong nghiên cứu này, việc xem xét ảnh hưởng của quyền lực và khoảng cách xã hội trong HVCM là điều cần thiết Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các biến số này không tồn tại dưới dạng nhị phân tuyệt đối mà nằm trên một phổ liên tục: quyền lực dao động từ thấp đến cao, trong khi khoảng cách xã hội dao động từ gần đến xa (Roever, 2015)

a/ Quyền lực

Việc xác định biến số quyền lực không phải lúc nào cũng đơn giản, vì khái niệm này có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Bên cạnh sự đa dạng trong định nghĩa, quyền lực còn xuất hiện dưới nhiều tên gọi như quyền lực xã hội, địa vị, sự thống trị hay thẩm quyền (Spencer-Oatey, 2008) Theo Hofstede (2001), quyền lực được hiểu là mức độ mà những cá nhân có ít quyền lực trong một tổ chức hay thể chế (gia đình, trường học, cộng đồng) kỳ vọng và chấp nhận sự phân bố quyền lực không đồng đều Khái niệm khoảng cách quyền lực được ông sử dụng

để đo lường mức độ chấp nhận sự phân cấp trong xã hội

Trong mô hình sáu chiều văn hóa của Hofstede, các xã hội có chỉ số khoảng cách quyền lực cao thường đề cao trật tự và vai vế, với những người ở vị trí thấp hơn (con cái, học trò, nhân viên) có xu hướng phục tùng và thể hiện sự kính trọng với người có địa vị cao hơn (cha mẹ, thầy cô, lãnh đạo) Chỉ số khoảng cách quyền lực của Việt Nam được Hofstede đo ở mức 70/100, cao hơn đáng kể so với chỉ số 40/100 của Mỹ Mặc dù Việt Nam không phải là trọng tâm nghiên cứu của Hofstede, dựa trên hệ tiêu chí của ông, có thể thấy rằng văn hóa Việt mang tính tôn

ti và phân cấp rõ rệt hơn văn hóa Mỹ Điều này cũng được đề cập trong nhiều nghiên cứu văn hóa giao tiếp của người Việt Trần Ngọc Thêm (1996, tr 159) cho

Ngày đăng: 30/06/2025, 11:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1  So sánh tỉ lệ sử dụng ĐTNV  và danh từ trong BTNV chúc mừng  trực tiếp trong Tiếng Anh và Tiếng Việt - Nghiên cứu Đối chiếu hành vi chúc mừng và hồi Đáp chúc mừng trong tiếng việt và tiếng anh
Hình 3.1 So sánh tỉ lệ sử dụng ĐTNV và danh từ trong BTNV chúc mừng trực tiếp trong Tiếng Anh và Tiếng Việt (Trang 103)
Hình 3.2 So sánh tần suất sử dụng các CLCM kết hợp trong Tiếng Anh và Tiếng - Nghiên cứu Đối chiếu hành vi chúc mừng và hồi Đáp chúc mừng trong tiếng việt và tiếng anh
Hình 3.2 So sánh tần suất sử dụng các CLCM kết hợp trong Tiếng Anh và Tiếng (Trang 106)
Hình 3.3 So sánh tần suất sử dụng các CLHĐCM kết hợp trong tiếng Anh và - Nghiên cứu Đối chiếu hành vi chúc mừng và hồi Đáp chúc mừng trong tiếng việt và tiếng anh
Hình 3.3 So sánh tần suất sử dụng các CLHĐCM kết hợp trong tiếng Anh và (Trang 131)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w