Lý thuyết về hành vi hợp lý được sử dụng rộng rãi để kiểm tra dự đoán các hành vi và là trung tâm của các cuộc tranh luận tâm lý học xã hội liên quan đến mối quan hệ giữa thái độ và hành
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
TÂM LÝ HỌC SỨC KHỎE
Nhóm 7: Lý thuyết hành vi hợp lý
Hà Nội, 2022
Trang 2Thành viên:
Lê Thị Thúy Lan – 20030196 Phạm Thị Thắm – 20031836
Quàng Diệu Linh – 20031805 Nguyễn Ngọc Mai – 20031811 Đặng Thị Nga – 20031817
Nguyễn Thảo Linh – 20030200
Tạ Bình An – 20030182
Lương Linh Chi – 20031775
Đào Thị Phương Mai – 20031810
Trang 3Mở đầu
Vào năm 1967, lý thuyết về hành vi hợp lý (Theory of reasoned action – TRA) đã
được phát triển bởi hai nhà tâm lý học Martin Fishbein và Icek Ajzen Học thuyết này bắt
nguồn từ những nghiên cứu trước đây về tâm lý học xã hội, các mô hình về sự thuyết
phục và các lý thuyết về thái độ Lý thuyết về hành vi hợp lý được sử dụng rộng rãi để
kiểm tra dự đoán các hành vi và là trung tâm của các cuộc tranh luận tâm lý học xã hội
liên quan đến mối quan hệ giữa thái độ và hành vi TRA là một mô hình quan trọng vì nó
đặt cá nhân trong bối cảnh xã hội và ngoài ra thêm một vai trò của các giá trị, cái mà trái
ngược với cách tiếp cận hợp lý hơn là truyền thống của hành vi Lý thuyết về hành vi dự
định (Theory of planned behaviors – TPB) đã được Ajzen và các đồng nghiệp phát triển
(Ajzen 1985; Ajzen và Madden 1986; Ajzen 1988) và đại diện cho một sự tiến triển từ
TRA
Chương I - Mô hình hành vi hợp lí
Sơ đồ 1.1 Những khái niệm cơ bản của lý thuyết hành vi hợp lí
Sơ đồ 1.2 Những lý thuyết cơ bản của hành vi dự định
1 Các thành phần của TPB
- Niềm tin vào kết quả
- Đánh giá về kết quả
- Niềm tin về thái độ quan
trọng khác đối với hành vi
- Động lực thực hiện đối
với những thứ quan trọng
Thái độ đối với hành vi
Chuẩn mực quan trọng
Chuẩn mực chủ quan
Hành vi dự định Hành vi thực tế
- Niềm tin vào kết quả
- Đánh giá kết quả Thái độ đối với hành vi
- Niềm tin về thái độ quan
trọng khác đối với hành vi
- Động lực thực hiện đối
với những thứ quan trọng
Chuẩn mực chủ quan
- Yếu tố kiểm soát bên trong
- Yếu tố kiểm soát Kiểm soát hành vi
Hành vi dự định Hành vi thực tế
Trang 4Các TPB nhấn mạnh đến ý định thực hiện hành vi là kết quả của sự kết hợp của một
số niềm tin Các lý thuyết chỉ ra rằng ý định được coi là "kế hoạch hành động trong việc theo đuổi các mục tiêu của hành vi” (Ajzen và Madden 1986) và là kết quả của niềm tin sau đây:
Thái độ đối với một hành vi, trong đó gồm cả đánh giá tích cực hay tiêu cực của một hành vi cụ thể và niềm tin về kết quả của hành vi Ví dụ: “Tập thể dục
là niềm vui và sẽ cải thiện sức khỏe của tôi”
Tiêu chuẩn chủ quan, trong đó gồm có sự nhận thức về những chuẩn mực xã hội, áp lực để thực hiện một hành vi và đánh giá của mỗi cá nhân là động lực
để thực hiện theo áp lực này Ví dụ: “Những người quan trọng với tôi sẽ chấp thuận nếu tôi giảm cân và tôi muốn sự tán thành của họ”
Yếu tố kiểm soát hành vi nhận thức, trong đó gồm có niềm tin rằng các cá nhân
có thể thực hiện một hành vi cụ thể dựa trên việc xem xét các nhân tố kiểm soát
bên trong (ví dụ như kỹ năng, khả năng, thông tin) và các yếu tố kiểm soát bên
ngoài (ví dụ như những trở ngại, cơ hội), cả hai đều liên quan đến các hành vi trong quá khứ
2 Cách sử dụng TPB
Khi uống rượu TPB sẽ đưa ra những dự đoán như sau: nếu một cá nhân tin rằng việc giảm uống rượu của họ sẽ làm cho cuộc sống của họ hiệu quả hơn, có lợi ích đến sức khỏe của mình (thái độ đối với hành vi), và họ tin rằng những người quan trọng trong cuộc sống của họ muốn họ phải giảm lượng rượu xuống (quy tắc chủ quan), thêm vào đó,
họ tin rằng họ có khả năng uống rượu ít hơn dựa trên hành vi trong quá khứ của họ và đánh giá các yếu tố kiểm soát bên trong bản thân và bên ngoài (kiểm soát hành vi cao), thì điều này sẽ dự đoán khuynh hướng cao họ giảm lượng rượu xuống (ý định thực hiện hành vi) Mô hình này cũng dự đoán rằng kiểm soát hành vi có thể dự đoán hành vi mà không chịu ảnh hưởng của ý định Ví dụ, nếu kiểm soát hành vi nhận thức mang lại sự kiểm soát thực tế, niềm tin rằng cá nhân không thể tập thể dục vì thể chất của họ không cho phép sẽ là một yếu tố dự báo tốt về hành vi tập thể dục hơn là ý định mạnh mẽ rằng
họ tập thể dục
3 Hỗ trợ cho TPB
Lý thuyết về hành vi dự định đã được sử dụng để đánh giá một loạt hành vi liên quan đến sức khỏe Ví dụ, Brubaker và Wickersham (1990) đã khảo sát vai trò các thành phần khác nhau của lý thuyết trong việc dự đoán việc tự kiểm tra tinh hoàn và báo cáo rằng
Trang 5thái độ dẫn đến hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và tính kiểm soát hành vi (được đo tương tự như tính tự chủ) có tương quan với ý định thực hiện hành vi
Một nghiên cứu sâu hơn đã đánh giá TPB trong vấn đề giảm cân (Schifter và Ajzen, 1985) Kết quả cho thấy rằng giảm cân đã được dự đoán bởi các thành phần của mô hình; đặc biệt, đạt được mục tiêu (giảm cân) có liên quan đến kiểm soát hành vi cảm nhận
4 Những phê bình về TPB
Schwarzer (1992) đã chỉ trích TPB về sự thiếu sót của yếu tố thời gian và lập luận rằng TPB không mô tả hoặc đưa ra thứ tự của các niềm tin khác nhau hoặc bất kỳ phương diện nào của quan hệ nhân quả Tuy nhiên, trái ngược với HBM (mô hình niềm tin sức khỏe) và PMT (lý thuyết về động cơ phòng vệ), mô hình cố gắng giải quyết vấn đề về yếu tố xã hội và môi trường (theo hình thức niềm tin chuẩn mực)
Thêm vào đó, TPB bao gồm cả vai trò của hành vi quá khứ trong các biện pháp kiểm soát hành vi nhận thức
5 Hành vi dự định: khám phá khoảng cách giữa ý định – hành vi
Sutton (1998s) lập luận rằng, mặc dù mô hình cấu trúc không hiệu quả ở việc dự đoán hành vi, nó thậm chí còn kém hiệu quả ở việc dự đoán hành vi thực tế Thực tế, ông cho rằng, các nghiên cứu sử dụng mô hình này chỉ dự đoán được 19-38% sự biến động trong hành vi Một số thất bại trong dự đoán hành vi có thể do chịu tác động từ những hành vi nằm ngoài sự kiểm soát của các cá nhân liên quan Ví dụ, “Tôi có ý định học tại trường đại học”, không thể suy ra “Tôi đang theo học tại trường đại học” do yếu tố kinh
tế, giáo dục Thêm nữa, “Tôi có ý định ăn uống lành mạnh” không thể suy ra “Tôi ăn uống lành mạnh” do sự vắng mặt của thực phẩm lành mạnh Trong trường hợp như vậy,
sự tương quan giữa ý định và hành vi sẽ là 0 Tuy nhiên, hầu hết những hành vi có sự tương quan giữa ý định và hành vi không phải là 0, chỉ là nhỏ cũng cho thấy rằng cá nhân
đó có khả năng kiểm soát được một số hành vi
Tâm lý học đã giải quyết các vấn đề về dự đoán hành vi thực tế bằng 3 cách:
1 Khái niệm về khuynh hướng hành vi đã được mở rộng;
2 Hành vi trước đây đã được sử dụng như một yếu tố dự báo trực tiếp của hành vi;
3 Các biến gây ra khoảng cách giữa ý định và hành vi đã được nghiên cứu
6 Phát triển ý định hành vi
Gần đây, các nhà nghiên cứu đã bổ sung thêm các biến khác để mở rộng và hoàn thiện hơn lý thuyết về ý định hành vi, đó là “Tự dự đoán”, “Hành vi tự nguyện”, “Nhận thức được nhu cầu”
Trang 6 Thứ nhất, tự dự đoán là yếu tố quan trọng để đánh giá sự dự đoán của một cá nhân rằng những ý định của họ có khả năng thực hiện được hay không Sheppard và cộng sự (1988) cho rằng sự tự dự đoán có nhiều khả năng phản ánh thái độ của cá nhân về những yếu tố có thể giúp đỡ hoặc cản trở hành vi của chính họ Tuy nhiên, có một cố nghiên cứu cho rằng mối tương quan giữ ý định với sự tự dự đoán là quá cao để bổ sung vào mô hình hành vi sức khỏe
Thứ hai, hành vi tình nguyện là khi cá nhân không chỉ có ý định (trong suy nghĩ) thực hiện một hành vi mà họ còn tự nguyện thực hiện hành vi đó (thực hiện thành hành động) Chẳng hạn là khi một cá nhân có ý định dừng ăn đồ cay nóng để bảo vệ dạ dày và họ đã nguyện ý dừng việc ăn đồ cay
Thứ ba, nhận thức được nhu cầu là khi một cá nhân nhận thức được họ cần phải thay đổi hành vi của bản thân và cho rằng việc thay đổi này rất quan trọng Chẳng hạn, một ý định “Tôi có ý định ngừng việc ăn đồ cay nóng” có thể sẽ ít ảnh hưởng hơn so với nhận thức cần phải ngừng việc ăn cay “Tôi cần phải dừng việc ăn đồ cay nóng”
Vì vậy, bằng cách mở rộng mục đích của hành vi bao gồm: tự dự đoán, hành vi tự nguyện, nhận thức được nhu cầu thì có ý kiến cho rằng các mô hình hành vi sức khỏe sẽ thực hiện việc dự đoán hành vi thực tế tốt hơn
7 Vai trò của các hành vi trong quá khứ.
Hầu hết các nghiên cứu đều đưa ra giả định là nhận thức dự đoán khuynh hướng hành vi và từ đó sẽ dự đoán hành vi Vì vậy, hành vi này được dự đoán bởi hành vi mà không phải bởi nhận thức Điều đó có nghĩa là, cá nhân có nhiều khả năng sẽ ăn uống lành mạnh vào ngày mai nếu họ ăn uống lành mạnh vào hôm nay
Như vậy, có thể thấy được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trong quá khứ tới sức khỏe hiện tại của mỗi cá nhân Nếu cá nhân có hành vi tập thể dục điều độ, sinh hoạt lành mạnh thì sức khỏe của họ sẽ được đảm bảo hơn và ngược lại
Tuy nhiên, những hành vi diễn ra trong quá khứ và kéo dài tới hiện tại có thể khó thay đổi nếu cá nhân chưa tự nguyện thay đổi hành vi vì chưa ý thức được nhu cầu cần thiết Ví dụ như hành vi bỏ ăn của một cá nhân khó có thể thay đổi được nếu họ không ý thức được sức khỏe của bản thân suy giảm từ hành vi của của mình Điều này đòi hỏi mỗi
cá nhân cần phải có ý chí và sự kiên trì trong việc sửa đổi những hành vi và thói quen của chính mình
8 Thu hẹp khoảng cách giữa ý định – hành vi.
Phương pháp thứ ba để giải quyết hạn chế trong nghiên cứu dự đoán về hành vi là đưa ra các biến số có thể thu hẹp khoảng cách giữa ý định thực hiện hành vi và hành vi thực tế Đặc biệt, một số nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của kế hoạch trong hành động,
Trang 7cam kết về mục tiêu y tế và cố gắng như một phương tiện để khai thác các loại nhận thức
có thể chịu trách nhiệm với sự chuyển đổi của những ý định thành hành vi
Có một số nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng việc khuyến khích, cổ vũ cá nhân thực hiện hành vi có thể làm tăng sự tương quan giữa ý định và hành vi Cách tiếp cận này được hỗ trợ bởi các phương pháp tiếp cận mục tiêu thiết lập của liệu pháp nhận thức hành vi
Như vậy, bằng cách khai thác các biến số như dự định thực hiện được lập luận rằng các mô hình có thể trở thành yếu tố dự báo tốt hơn về hành vi thực tế
Chương II - Bệnh viêm loét dạ dày, bối cảnh của bệnh
1 Viêm loét dạ dày là gì?
Viêm loét dạ dày là tổn thương gây viêm và loét trên niêm mạc dạ dày Những tổn thương này xảy ra khi lớp niêm mạc bảo vệ cuối cùng của dạ dày bị bào mòn làm cho lớp
mô bên dưới bị lộ ra Bệnh viêm loét dạ dày có thể gây ra tình trạng xuất huyết tiêu hóa nếu ổ loét lớn, chảy máu Nếu bệnh nhân không được phát hiện biến chứng xuất huyết tiêu hóa để điều trị kịp thời thì người bệnh có thể tử vong do mất máu
Viêm loét dạ dày gặp ở mọi lứa tuổi đặc biệt ở người già và chiếm 60% trong tổng số các trường hợp
2 Lý do lựa chọn bệnh
Viêm loét dạ dày là một trong những bệnh lý đường tiêu hóa phổ biến nhất Viêm loét dạ dày có nguy cơ ngày một gia tăng và trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm ngày nay
Bệnh viêm loét dạ dày đang là vấn đề thời sự trong y học trên toàn thế giới bởi tính phổ biến và những hậu quả nó gây ra Tần suất và tỷ lệ bệnh viêm loét dạ dày ngày càng gia tăng Con số người bị bệnh viêm loét dạ dày tăng lên cùng với sự đô thị hóa và sự thay đổi lối sống cũng như những yếu tố về xã hội khác Bệnh này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bệnh nhân, nếu không phát hiện và điều trị triệt để thì có thể tiến triển thành ung thư dạ dày
→ Chính vì vậy, nhóm chúng tôi chọn bệnh viêm loét dạ dày để phân tích
3 Biểu hiện
Đau bụng vùng thượng vị (vùng trên rốn): triệu chứng gần như luôn luôn xuất hiện ở bệnh loét dạ dày tá tràng Đau có thể từ mức độ khó chịu, âm ỉ, đến dữ dội Tùy thuộc vào vị trí ổ loét, tính chất đau có thể ít nhiều khác biệt
Trang 8 Loét dạ dày: tùy vị trí ổ loét mà vị trí và tính chất lan của tính chất đau có thể khác nhau Thường đau sau ăn khoảng vài chục phút đến vài giờ Đáp ứng với bữa ăn và thuốc trung hòa acid kém hơn so với loét hành tá tràng
Loét hành tá tràng: thường xuất hiện lúc đói hoặc sau bữa ăn 2-3 giờ, đau tăng lên về đêm, ăn vào hoặc sử dụng các thuốc trung hòa acid thì đỡ đau nhanh
Đau âm ỉ kéo dài, thành từng cơn nhưng có tính chu kì và thành từng đợt
Có thể có các triệu chứng: buồn nôn, nôn, chán ăn, cảm giác nóng rát, đầy trướng bụng, ợ chua
Trong đợt loét có thể sụt cân nhẹ, sau đợt loét sẽ trở lại bình thường
4 Các mức độ tiến triển của bệnh
Viêm loét dạ dày cấp tính:
Điểm đặc trưng của viêm loét dạ dày cấp tính là các triệu chứng thường xuất hiện đột ngột, biểu hiện rõ nét và diễn tiến trong thời gian ngắn Ở giai đoạn này, nếu được phát hiện và điều trị đúng cách, bệnh hoàn toàn có thể chữa khỏi triệt để Tuy nhiên, đa số người bệnh thường bỏ qua các triệu chứng, chủ quan không đi khám, khiến bệnh tình trở nên phức tạp hơn
Mức độ nặng: viêm loét dạ dày mãn tính
Viêm loét dạ dày cấp tính khi không được điều trị sẽ khiến tình trạng viêm sưng kéo dài, sau một thời gian có thể chuyển sang dạng mãn tính Ở giai đoạn mãn tính, các tổn thương lan rộng, bệnh khó điều trị hơn, thậm chí có thể dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như viêm teo, chuyển sản ruột, hẹp môn vị, xuất huyết, thủng, ung thư dạ dày, viêm nhiễm các cơ quan lân cận…
5 Những trở ngại của người bệnh khi mắc phải bệnh
Ở cấp độ bệnh cấp tính, người bệnh gặp phải một số triệu chứng như sau:
- Đau bụng vùng thượng vị: Đây là dấu hiệu chính của bệnh, cơn đau thường kéo dài
âm ỉ hoặc kéo dài từng cơn đi kèm cảm giác bỏng rát Cơn đau xuất hiện vào lúc đói hoặc vào ban đêm có thể kéo dài từ vài phút đến vài giờ
- Ợ hơi, ợ chua, ợ rát, buồn nôn, cảm giác khó chịu ở dạ dày
- Mất ngủ, ngủ chập chờn, gián đoạn, chủ yếu do nguyên nhân viêm loét dạ dày gây đau
- Rối loạn tiêu hóa: ỉa chảy, táo bón do việc tiêu hóa không ổn định
Ở cấp độ bệnh cấp tính, người bệnh gặp phải một số triệu chứng như sau:
Trang 9Căn bệnh này có thể dẫn đến các biến chứng có ảnh hưởng đến sức khỏe nghiêm trọng như:
- Thủng dạ dày-tá tràng: dấu hiệu của thủng là hiện tượng đau bụng dữ dội đột ngột
- Xuất huyết tiêu hóa trên: chảy máu ở vết viêm loét có thể dẫn đến tình trạng mất nhiều máu, nguy hiểm đến tính mạng Dấu hiệu của một vết loét chảy máu bao gồm các triệu chứng như chóng mặt, choáng váng, nôn ra máu đỏ hay phân có màu đen
- Hẹp môn vị: đây là dạng mô viêm xơ phát triển trên ổ loét ở môn vị-tá tràng, gây hẹp lòng ruột ngay dưới dạ dày, làm cho thức ăn khó có thể đi qua đường tiêu hóa Các dấu hiệu của hẹp môn vị như là nôn mửa, bụng óc ách thức ăn cũ và sút cân nhanh
Ngoài ra, người bị viêm loét dạ dày cũng gặp những trở ngại sau:
- Xuất hiện các cơn đau thường xuyên và dai dẳng hơn do lượng axit tiết ra quá nhiều
- Người bệnh có cảm giác buồn nôn hoặc bị nôn do dịch vị dạ dày dư thừa Khi người bệnh nôn nhiều khả năng co bóp của dạ dày bị suy giảm dẫn đến hiện tượng bị trào ngược dạ dày
- Sụt cân một cách bất thường là một trong những dấu hiệu của loét dạ dày Nguyên nhân có thể do hệ tiêu hóa hoạt động không ổn định, khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng kém Từ đó dẫn đến tình trạng mệt mỏi, sức đề kháng kém kèm theo nhiều bệnh lý khác
- Đại tiện ra máu do vết loét của dạ dày ảnh hưởng làm tổn thương nặng đến lớp niêm mạc gây xuất huyết dạ dày
6 Nguyên nhân gây bệnh
- Di truyền: loét dạ dày có tính chất di truyền, tần suất cao ở một số gia đình và đồng thời xảy ra ở cả 2 anh (chị) em sinh đôi cùng trứng hơn là khác trứng
- Vi khuẩn HP (Helicobacter pylori): Đây là vi khuẩn sau khi xâm nhập sẽ sinh sống và phát triển tại lớp nhầy niêm mạc dạ dày người Chúng tiết ra độc tố làm mất khả năng chống lại acid của niêm mạc Chúng là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm dạ dày mãn tính tiến triển thành loét hoặc ung thư dạ dày
- Thường xuyên sử dụng các thuốc giảm đau và kháng viêm: Các loại thuốc giảm đau và kháng viêm khi sử dụng lâu có tác dụng ức chế các chất bảo vệ niêm mạc dạ dày gây đau và viêm loét dạ dày
- Thường xuyên hút thuốc lá và uống bia rượu (hoặc các loại nước uống có cồn khác) Bạn có biết rằng, trong khói thuốc lá có chứa hơn 200 loại chất gây hại cho sức
Trang 10khỏe của con người, trong đó đặc biệt là chất nicotine Chất nicotine sẽ gây kích thích cơ chế để tiết ra nhiều cortisol – đây là tác nhân chính làm tăng nguy cơ viêm loét dạ dày Thuốc lá còn làm chậm sự lành sẹo và gây đề kháng với điều trị
- Căng thẳng thần kinh (stress): Những người hay bị căng thẳng, lo lắng sẽ có nguy
cơ mắc bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng, bởi các căng thẳng kéo dài có ảnh hưởng lớn đến quá trình bài tiết axit trong dạ dày Căng thẳng thần kinh, sang chấn tâm lý, tình cảm cũng ảnh hưởng đến kết quả điều trị loét dạ dày tá tràng
- Liên quan đến thói quen, tập tục ăn uống vùng miền: Ví dụ, người Bắc Ấn ăn nhiều lúa mì nên ít bị loét dạ dày-tá tràng hơn người miền Nam ăn toàn gạo
- Thói quen ăn uống, sinh hoạt không điều độ: Việc sinh hoạt cá nhân không điều
độ như thức khuya, bỏ bữa ăn sáng hay là việc ăn uống không đúng giờ giấc, thói quen ăn khuya, lười vận động, không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe mà còn là yếu tố thuận lợi dẫn đến bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng Ngoài ra thích ăn các món chua, cay, nóng, lạnh, cứng, khó tiêu… cũng là nguyên nhân dẫn đến viêm loét dạ dày
7 Dự phòng bệnh viêm loét dạ dày
Loét dạ dày tá tràng nếu không tuân thủ điều trị sẽ dẫn đến những biến chứng vô cùng nguy hiểm (đã nêu ở phần biến chứng của loét dạ dày tá tràng) Vì vậy, nên thay đổi thói quen sinh hoạt, thói quen ăn uống, tránh các yếu tố có hại cho dạ dày để phòng bệnh
và điều trị bệnh tốt hơn, cải thiện triệu chứng và tránh các biến chứng có hại Dưới đây là một số điều cần lưu ý để dự phòng bệnh loét dạ dày tá tràng:
Nên tập thói quen ăn uống lành mạnh, khoa học: ăn chậm, nhai kỹ, ăn uống đúng giờ, tránh bỏ bữa, nhất là bữa sáng, không nên ăn khuya (không ăn trễ hơn 8 giờ tối), không để quá đói hoặc ăn quá no, tránh ăn các thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng, quá lạnh, quá ngọt, quá khô, hạn chế thức ăn nhanh, đồ hộp, nhiều dầu mỡ,
…
Cần bổ sung vitamin A, D, K, B12, acid folic, canxi, Fe, Zn, trứng, sữa giúp trung hòa acid dạ dày tốt hơn
Tránh các chất kích thích: rượu, bia, thuốc lá, trà, cà phê,…
Hạn chế dùng các thuốc kháng sinh, kháng viêm, các thuốc giảm đau, khi dùng cần tham khảo ý kiến bác sĩ để được sử dụng các thuốc thích hợp ít ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày hoặc thêm các loại thuốc hỗ trợ dạ dày…
Tái khám đúng hẹn, khi đi khám cần mang theo sổ khám bệnh và các loại thuốc hiện đang dùng
Vận động phù hợp, tập thể dục đều đặn và hợp lý, khoảng 30 phút/ngày, 5 lần/tuần
để có sức khỏe tốt, tâm trạng thoải mái
Nghỉ ngơi hợp lý, ngủ đủ
Để tâm trạng thoải mái, thư giãn, tránh căng thẳng, stress…