Thực tiễn vấn đề tiền lương và các chính sách về cải cách tiền lương ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước nhằm đáp ứng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ VÀ NHÂN VĂN
==========
TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG, CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện: Bùi Thu Thảo
Mã SV: 2414610454
Lớp: Anh 02 – Luật KDQT (BLA.H) – K63 Lớp tín chỉ: TRIH115(2425-2).1.1.C – K63 Giảng viên hướng dẫn: ThS Đinh Thị Quỳnh Hà
Trang 2Hà Nội – 04/2025
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN 1 LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
1.1 Khái niệm về sức lao động 2
1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 2
1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động 3
PHẦN 2 LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG
2.1 Khái niệm về tiền lương 5
2.2 Bản chất về tiền lương 5
2.3 Các hình thức cơ bản của tiền lương 6
PHẦN 3 THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG VÀ CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG
3.1 Thực trạng quá trình cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay 7
3.2 Đánh giá quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam 8
3.2.1 Những thành tựu đạt được qua quá trình cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam thời điểm hiện tại 8
3.2.2 Những hạn chế trong quá trình cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay 9
PHẦN 4 ĐỀ XUẤT ĐỂ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1 Đối với Nhà nước 11
4.2 Đối với các cơ quan Bộ, Ngành liên quan 12
4.3 Đối với doanh nghiệp 13
KẾT LUẬN
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua các thời đại, nguồn lao động luôn được nhận định là “một loại tài nguyên đặc biệt”, là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia bởi nó có những tác động trực tiếp tới quá trình phát triển của xã hội Quan tâm đến nguồn lao động cũng có nghĩa là quan tâm đến nhiều mặt của người lao động, thể hiện bản chất và sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa
Thực tiễn vấn đề tiền lương và các chính sách về cải cách tiền lương ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện
sự quan tâm của Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu của xã hội để phù hợp với nền kinh tế Tuy nhiên, ngoài những thành tựu, chính sách về tiền lương ở Việt Nam vẫn còn những điểm hạn chế Chính từ đây đã đặt ra vấn
đề cần có một cuộc cải cách về chính sách tiền lương toàn diện, đồng bộ, phục vụ cho nhu cầu thực tế của người lao động, các tổ chức, doanh nghiệp
và nền kinh tế để tạo nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững và tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam
Chính vì những nguyên do ấy, em đã lựa chọn thực hiện đề tài “Hàng hóa sức lao động và vấn đề tiền lương, cải cách tiền lương ở Việt Nam hiện nay” để làm rõ những quy luật Bài tiểu luận gồm có 4 phần chính:
- Phần I: Lý luận về hàng hóa sức lao động
- Phần II: Lý luận về tiền lương
- Phần III: Thực trạng về chính sách tiền lương và cải cách tiền lương
- Phần IV: Đề xuất để hoàn thiện chính sách cải cách tiền lương ở
Việt Nam hiện nay
Do còn thiếu kinh nghiệm trong việc tìm hiểu và viết tiểu luận nên em mong muốn sẽ nhận được những nhận xét và góp ý của ThS Đinh Thị Quỳnh Hà để bài tiểu luận được toàn diện và hoàn thiện hơn ạ Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4PHẦN 1 LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA SỨC LAO ĐỘNG
1.1 Khái niệm về sức lao động
Theo quan điểm của Karl Max, một nhà triết học người Đức, sức lao động (hay còn gọi là năng lực lao động) là “toàn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”
Xét trên góc độ của người lao động, sức lao động là tổng hợp của thể lực và trí lực tồn tại trong một cơ thể sống mà con người có thể tận dụng trong quá trình sản xuất Hiệu quả lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố vật chất khác, song yếu tố mang tính quyết định là sức lao động Thể lực và trí tuệ của người lao động lại phụ thuộc vào mức sống, vào chất lượng của cuộc sống, mà chính những yếu tố đó sau cùng lại phụ thuộc vào thu nhập của người lao động, mà phần cơ bản trong thu nhập đó là tiền lương
Xét trên góc độ xã hội, sức lao động trong nền sản xuất xã hội là lực lượng lao động xã hội – một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế Chất lượng của lực lượng lao động phụ thuộc vào nhiều chính sách của nhà nước, có thể kể đến như chính sách phân phối, chính sách giáo dục đào tạo
và các chính sách kinh tế - xã hội khác, trong đó chính sách tiền lương giữ vai trò cần thiết
1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Trong mọi thời đại lịch sử, sức lao động luôn giữ vai trò là yếu tố cơ bản và thiết yếu của quá trình sản xuất Tuy nhiên, không phải trong bất kỳ hoàn cảnh xã hội nào, sức lao động cũng mang hình thái của một hàng hóa Chỉ khi hội tụ những điều kiện lịch sử nhất định, sức lao động mới có thể
Trang 5chuyển hóa thành hàng hóa – tức là một yếu tố có thể được mua bán trên thị trường Việc sức lao động trở thành hàng hóa là kết quả của một quá trình lao động được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định và gắn liền với những điều kiện xã hội – kinh tế cụ thể
Thứ nhất, người lao động phải có quyền tự do cá nhân về thân thể, tức là họ phải có quyền sở hữu và kiểm soát năng lực lao động của bản thân Trong quan hệ thị trường, sức lao động chỉ có thể xuất hiện như một hàng hóa khi
nó được chính người lao động đưa ra trao đổi Điều đó hàm ý rằng người sở hữu sức lao động cần có toàn quyền quyết định đối với năng lực đó Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, điều kiện này không được đáp ứng do người nô lệ
bị xem như một tài sản thuộc sở hữu của chủ nô, do đó bản thân họ không
có quyền bán sức lao động của mình Chính vì vậy, việc xóa bỏ các hình thái sở hữu như chế độ nô lệ và chế độ phong kiến là điều kiện tất yếu để sức lao động có thể trở thành hàng hóa
Thứ hai, người lao động phải bị tước đoạt toàn bộ tư liệu sản xuất cần thiết
để tiến hành lao động một cách độc lập, đồng thời không sở hữu bất kỳ tài sản vật chất nào khác có thể bảo đảm sự sinh tồn của họ Trong hoàn cảnh
đó, việc bán sức lao động trở thành phương thức duy nhất để người lao động có thể duy trì cuộc sống Trái lại, trong trường hợp của người thợ thủ công tự do – người tuy có quyền kiểm soát sức lao động nhưng vẫn sở hữu
tư liệu sản xuất – họ có thể tự tạo ra sản phẩm để sinh tồn mà không nhất thiết phải bán sức lao động Vì vậy, trong trường hợp này, sức lao động chưa đạt đủ điều kiện để trở thành hàng hóa
Chỉ khi đồng thời tồn tại cả hai điều kiện nêu trên – quyền tự do cá nhân và
sự tước đoạt tư liệu sản xuất – thì sức lao động mới thực sự mang hình thái hàng hóa trong nền sản xuất xã hội
Trang 61.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động
Giá trị của hàng hóa sức lao động
Giá trị của hàng hóa sức lao động được xác định bởi lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó Nói cách khác, giá trị này phản ánh giá trị của toàn bộ tư liệu sinh hoạt thiết yếu nhằm bảo đảm quá trình sản xuất và tái sản xuất sức lao động, qua đó duy trì đời sống của người lao động làm thuê và gia đình họ
Khác với các loại hàng hóa thông thường, giá trị của hàng hóa sức lao động bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng giai đoạn lịch sử cũng như trình độ phát triển văn minh của mỗi quốc gia
Giá trị hàng hóa sức lao động được cấu thành từ ba yếu tố cơ bản sau:
Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết về vật chất và tinh thần để tái
sản xuất ra sức lao động, duy trì nòi giống người lao động;
Hai là, phí tổn đào tạo người lao động;
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt (vật chất và tinh thần) cần thiết để nuôi con cái của người lao động
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Tương tự như các loại hàng hóa khác, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động nằm ở khả năng thỏa mãn một nhu cầu nhất định của người mua – trong trường hợp này là nhu cầu tổ chức sản xuất
Tuy nhiên, điểm đặc thù của hàng hóa sức lao động là giá trị sử dụng của
nó chỉ biểu hiện trong quá trình tiêu dùng – tức là khi người công nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất Chính trong quá trình này, người lao
Trang 7động không chỉ tạo ra một lượng hàng hóa mới mà còn sản sinh ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động mà nhà tư bản đã chi trả Phần chênh lệch đó chính là giá trị thặng dư – yếu tố cốt lõi mà nhà tư bản chiếm đoạt trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa
Do đó, hàng hóa sức lao động mang đặc điểm riêng biệt là nguồn gốc sinh
ra giá trị, điều này khiến nó trở thành một loại hàng hóa đặc biệt Chính đặc tính này đã làm cho hàng hóa sức lao động trở thành chìa khóa để giải mã mâu thuẫn trong công thức chung của chủ nghĩa tư bản (T–H–T’)
PHẦN 2 LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG
2.1 Khái niệm về tiền lương
Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập mà có thể biểu hiện bằng tiền
và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm
2.2 Bản chất về tiền lương
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tiền lương được hiểu là một
bộ phận của thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà người lao động nhận được nhằm bù đắp cho lượng lao động đã hao phí, căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động mà họ đã thực hiện Như vậy, tiền lương chính là một phần của giá trị mới được tạo ra trong quá trình sản xuất, được phân phối cho người lao động để đảm bảo tái sản xuất sức lao động của họ Trong quá trình lao động, người công nhân phải tiêu hao một lượng sức lực nhất định, do đó, việc bù đắp lại thông qua các tư liệu tiêu dùng là điều tất yếu để duy trì khả năng lao động
Trang 8Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tiền lương được xem là một bộ phận của thu nhập quốc dân do Nhà nước phân phối cho người lao động, vì vậy nó chịu
sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau như: trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng trong từng thời kỳ
cụ thể, cũng như các chính sách kinh tế – chính trị của Nhà nước trong giai đoạn đó Do đó, mức tiền lương của người lao động còn phụ thuộc sâu sắc vào bối cảnh kinh tế – xã hội của đất nước
Trong điều kiện một nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, phương tiện sản xuất chưa hiện đại, trình độ lao động còn thấp và hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, thì mức tiền lương tất yếu sẽ không thể ở mức cao
Như đã biết, thu nhập quốc dân phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố: (1) số lượng lao động hoạt động trong khu vực sản xuất vật chất và (2) năng suất lao động bình quân của khu vực này Vì vậy, tiền lương chỉ có thể được nâng cao một cách bền vững khi có sự gia tăng về số lượng lao động trong lĩnh vực sản xuất vật chất, đồng thời nâng cao năng suất lao động trong khu vực này
2.3 Các hình thức cơ bản của tiền lương
Tiền lương có hai hình thức cơ bản là tiền lương tính theo thời gian và tiền lương tính theo sản phẩm
Tiền lương tính theo thời gian là tiền lương thanh toán cho người công nhân căn cứ vào trình độ kỹ thuật và thời gian công tác của họ Tiền lương theo thời gian có thể được tính theo thời gian lao động của công nhân (giờ, ngày, tháng) dài hay ngắn Tuy nhiên tiền công ngày và tiền công tuần chưa
nói rõ được mức tiền công đó cao hay là thấp, vì nó còn tùy theo ngày lao động dài hay ngắn và phải căn cứ vào độ dài của ngày lao động và cường
độ lao động Giá cả của một giờ lao động là thước đo chính xác cho mức
Trang 9tiền công tính theo thời gian Tiền lương tính theo sản phẩm là hình thức tiền lương mà số lượng của nó phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay số lượng những bộ phận của sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng công việc đã hoàn thành
Mỗi sản phẩm được trả công theo một đơn giá nhất định Đơn giá tiền công được xác định bằng thương số giữa tiền công trung bình của công nhân trong một ngày với số lượng sản phẩm trung bình mà một công nhân sản xuất ra trong một ngày, do đó về thực chất, đơn giá tiền công là tiền công trả cho thời gian cần thiết sản xuất ra một sản phẩm Vì thế, tiền công tính theo sản phẩm là hình thức chuyển hóa của tiền công tính theo thời gian
PHẦN 3 THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG VÀ CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG
3.1 Thực trạng quá trình cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam hiện nay
Hiện nay, chính sách về tiền lương là một vấn đề được rất nhiều người dân quan tâm, nhất là người lao động Bởi vì, nó đóng vai trò to lớn, là nguồn thu nhập để duy trì cuộc sống của người lao động Đặc biệt, nó còn liên quan trực tiếp đến các cân đối lớn của nền kinh tế, thị trường lao động và đời sống người hưởng lương, góp phần xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiểu quả, phòng, chống tham nhũng, lãng phí
Trong quá trình hình thành và phát triển, nước ta đã trải qua 04 lần cải cách chính sách tiền lương vào các năm 1960, năm 1985, năm 1993 và năm
2003
Ngoài ra, từ năm 2011 đến nay, Bộ Nội vụ cũng đã tham mưu và trình Ban Cán sự đảng Chính phủ báo cáo về việc xây dựng đề án cải cách chính sách
Trang 10tiền lương theo từng giai đoạn phát triển của đất nước tại các Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (kết luận số 23-KL/TW ngày 29/05/2012), Hội nghị Trung ương 7 khóa XI (Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/3/2013), đặc biệt là Ban Cán sự đảng Chính phủ báo cáo Bộ Chính trị trình Hội nghị Trung ương 7 khóa XII thông qua Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21 tháng 5 năm
2018 về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp
Theo đó, Bộ Nội vụ đã tham mưu trình Chính phủ từng bước điều chỉnh mức lương cơ sở đối với khu vực công phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và khả năng ngân sách nhà nước từ 730.000đ/tháng (năm 2010) lên 1.490.000đ/tháng (năm 2019), vì vậy tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang đã từng bước được cải thiện nhằm góp phần nâng cao đời sống của người hưởng lương
3.2 Đánh giá quá trình cải cách tiền lương ở Việt Nam
3.2.1 Những thành tựu đạt được qua quá trình cải cách chính sách tiền lương ở Việt Nam thời điểm hiện tại
Trải qua quá trình cải cách tiền lương, với sự quyết liệt trong việc thực thi các chính sách của Đảng và Chính phủ, nước ta đã thu lại được những thành quả vô cùng to lớn góp phần cải thiện đời sống của mọi người dân
Trước hết, trong khu vực công, tiền lương đang từng bước cải thiện, góp phần nâng cao đời sống của người hưởng lương Quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của Đảng từ năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa.Thật vậy, từ năm 2003 đến nay đã 11 lần điều chỉnh tăng mức lương tói thiểu chung từ 210.000 đồng lên 1,3 triệu đồng/ tháng (tăng thêm 519%, cao hơn mức tăng chỉ số giá tiêu dùng cùng kỳ là 208,58%), thu gọn hệ
Trang 11thống bảng lương, rút bớt số bậc và mở rộng khoảng cách giữa các bậc lương
Đặc biệt, chính sách tiền lương đã thể hiện sự ưu đãi của nhà nước đối với điều kiện lao động, lĩnh vực và ngành nghề làm việc Đã có nhiều chế độ phụ cấp, từ phụ cấp thâm niên đến phụ cấp theo điều kiện lao động, phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp khu vực, phụ cấp theo địa bàn công tác Đã từng bước đổi mới và tách rời chế độ quản lý tiền lương và thu nhập của cơ quan hành chính và khu vực sự nghiệp công lập để tăng thêm thu nhập cho công chức, viên chức, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước và chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công
Không chỉ vậy, tiền lương khu vực doanh nghiệp đã từng bước thực hiện theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Mức lương tối thiểu được “luật hóa” tại Bộ Luật Lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận tại Hội đồng Tiền lương quốc gia với thành phần cân đối của ba bên
là đại diện của người lao động, đại diện của doanh nghiệp, và đại diện của Nhà nước thay vì Nhà nước tự quyết định, phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế
Ngoài ra, đã có những thay đổi tích cực trong việc tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành chính nhà nước (HCNN) và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ cấp xã hôi Đó là bước tiến hết sức quan trọng về cải cách tiền lương trong tình hình mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa