1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng Được mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức trong nhận thức và hoạt Động thực tiễn

15 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Được Mối Quan Hệ Biện Chứng Giữa Nội Dung Và Hình Thức Trong Nhận Thức Và Hoạt Động Thực Tiễn
Tác giả Trần Nhật Minh
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Triết học - Mác Lênin
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Buôn Ma Thuột
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được nhận thức” Triết học Mác-Lê nin cho rằng nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người: “ Tri giác và biểu

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM

MÔN:

TRIẾT HỌC- MÁC LÊNIN

VẬN DỤNG ĐƯỢC MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC TRONG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC

TIỄN

HỌ TÊN : TRẦN NHẬT MINH

BUÔN MA THUỘT – 2022

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

NỘI DUNG 3

I Lý luận nhận thức duy vật biện chứng 4

1.1 Nguồn gốc, bản chất của nhận thức 4

1.2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức 5

Phạm trù thực tiễn 5

1.3 các giai đoạn của quá trình nhận thức 7

II Mối quan hện biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức 8

2.1 Tác động của nhật thức đến thực tiễn 8

2.2 Tác động của thực tiễn đén nhận thức 10

MỞ ĐẦU Triết học đóng vài trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan, hệ thống giá trị văn hóa nhân văn cho sinh viên , nó như “ la bàn bàn” giúp cho ta định hướng tích cực xã hội và chính trị trong quá trình học tập tại môi trường đại học

ĐẶT VẤN ĐỀ Khái niệm nhận thức: là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình như là tri thức, sự chú ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lý luận, tính toán, việc giải quyết vấn đề , việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ

Khái niệm về nội dung và hình thức: là một cặp phạm trù trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lenin và là một trong những nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa Nội dung tức phạm trù chỉ tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật và Hình thức là phạm trù chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của sự vật đó

Theo chủ nghĩa Mac-Lenin thì bất cứ sự vật nào cũng có hình thức bề ngoài của nó nhưng phép biện chứng duy vật chú ý chủ yếu đến hình thức bên

Trang 3

trong của sự vật, nghĩa là cơ cấu bên trong của nội dung Trong cặp phạm trù này, phép biện chứng duy vật chủ yếu muốn nói đến hình thức bên trong gắn liền với nội dung, là cơ cấu của nội dung chứ không chỉ nói đến hình thức bề ngoài của sự vật Nội dung về cặp phạm trù này đã được đưa vào chương trình giảng dạy của một số khối trường Đại học ở Việt Nam theo Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Khái niệm thực tiễn : là hoạt động có mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và

xã hội để phục vụ con người Nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao của con người, khác hẳn với hoạt động chỉ dựa vào bản năng, thụ động của động vật

NỘI DUNG

I Lý luận nhận thức duy vật biện chứng

1.1 Nguồn gốc, bản chất của nhận thức

Triết học Mác- Leenin thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới và cho rằng thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức Không phải ý thức của con người sản sinh ra thế giới mà thế giới vật chất tồn tại độc lập với con người, đó là nguồn gốc duy nhất và cuối cùng của nhận thúc Triết học

Mác-Lê nin khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người Vl Mác-Lê nin đã chỉ ra cchuahỉ có những cái mà con người chưa biết chứ không có gì không thể biết: “ Dứt khoát là không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiện tượng và vật tự nó Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưa được nhận thức”

Triết học Mác-Lê nin cho rằng nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người: “ Tri giác và biểu tượng của chúng ta là hình ảnh của các sự vật đó” “Cảm giác của chúng ta, ý thức của chúng ta chỉ là hình ảnh của thế giới bên ngoài và dĩ nhiên là nến không có cái bị phản ánh thì không có thể có cái phản ánh, nhưng cái bị phản ánh tồn tại độc lập với cái phản ánh” Điều này thể hiện quan niệm duy vật về nhận thức, chống lại quan niệm duy tâm về nhận thức Nhưng bản chất của nhận thức là sự phản ánh tích cực, sáng tạo thế giơi vật chất vào bộ óc người Đây là một quá trình phức tạp, quá trình này sinh và giải quyết mâu thuẫn chứ không phải quá trình máy móc đơn giản, thụ động nhất thời: “ Nhận thức là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư duy đến khách thể Phản ánh của thế giới tự nhiên trong

tư tưởng con người phải được hiểu không phải một cách “ chết cứng, trừu

Trang 4

tượng”, không phải không vận động, không mâu thuẫn, mà trong quá trình vĩnh viễn của vận động, của sự nảy sinh mâu thuẫn và sự giải quyết những mâu thuẫn đó”

Nhận thức là một quá trình biện chứng có vận động và phát triển, là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều hơn, từ biết chưa đầy đủ đến biết đầy đủ hơn Đây là một quá trình, không phải nhận thức một lần là xong mà có phát triển, có bổ sung và hoàn thiện: “ Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất

di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biêt như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào “ Trong quá trình nhận thức của con người luôn luôn nảy sinh quan hệ biện chứng giữa nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận; nhận thức thông thường và nhận thức khoa học Nhận thức kinh nghiệm là nhận thúc dựa trên sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng hay các thí nghiệm, thực nghiệm khoa học Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm thông thường hoặc tri thức thực nghiệm khoa học Nhận thức lý luận là nhận thức sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp dựa trên các hình thức tư duy trừu tượng như khái niệm, phán đoán, suy luận để khái quát tính bản chất, quy luật, tính tất yếu của các sự vật hiện tượng Nhận thức thông thường là nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp trong hoạt động hàng ngày của con người Nhận thức khoa học là nhận thức được hình thành chủ động, tự giác của chủ thể nhằm phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật đối tượng nghiên cứu

Nhận thức là quá trình tác động biện chứng giũa chủ thể và khách thể thông qua hoạt động thực tiễn của con người Chủ thẻ nhận thức chính là con người Nhưng đó là con người hiện thực đang sống đang hoạt động thực tiễn

và đang nhận thức trong điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể nhất định tức là con người đó phải thuộc về một giai cấp, một dân tộc nhất định , có ý thức, lợi ích nhu cầu, cá tính, tình cảm, vv…Con người là chủ thể nhận thức cũng bị giới +hạn bởi điều kiện lịch sử có tính chất lịch sử xã hội Chủ thể nhận thức trả lời câu hỏi : ai nhận thức, còn khách thể nhận thức trả lời câu hỏi: cái gì được nhận thức? Theo triết học Mác- Leenin, khách thể nhận thức không đồng nhất với toàn bộ hiện thực khách quan, nằm trong miền hoạt nhận thức

Trang 5

và trở thành đối tượng nhận thức của chủ thể nhận thức Vì thế khách thể nhận thức không chỉ là thế giới vật chất mà có thể còn là tư duy, tâm lý, tư tưởng tinh thần, tình cảm Khách thể nhận thức cũng có tính lịch sử - xã hội, cũng bị chế ước bởi điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể Khách thể nhận thức rộng hơn đối tượng nhận thức

Hoạt động thực tiễn của con người là cơ sở, động lực, mục đích, của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý: “ Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới tính chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn” Từ trên chúng ta có thể nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách tích cựu, chủ động, sáng tạo bởi con người trên cơ sở thực tiễn mang tính lịch sử cụ thể

1.2 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Phạm trù thực tiễn

Thực tiễn, theo tiếng Hy Lạp cổ là “ Practica”, có nghĩa là hoạt động tích cực Các nhà triết học duy tâm cho hoạt động nhận thức, hoạt động của ý thức, hoạt dộng của tinh thần nói chung là hoạt động thực tiễn Các nhà triêt học tôn giáo thì cho hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của thượng đế là hoạt động thực tiễn Các nhà triết học triết học duy vật trước triết học duy vật biện chứng có nhiều đóng góp cho quan điểm duy vật về nhận thức, nhưng chưa một đại biểu nào hiểu rõ được đúng được bản chất của thực tiễn cũng như vai trò của thực tiễn đối vơi nhận thức

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thực tiễn gồm những đặc trưng sau:

Thứ nhất, thực tiễn không phải toàn bộ hoạt động vật chất – cảm tính, như lời của Mác, đó là những hoạt động vật chất của con người cảm giác được Nghĩa là con người có thể quan sát trực quan được các hoạt động vật chất này Hoạt động vật chất – cảm tính là những hoạt động mà con người phải sử dụng lực lượng vật chất, công cụ vật chất tác động vào các đối tượng vật chất

để làm biến đổi chúng Trên cơ sở đó, con người mới làm biến đổi được thế giới khách quan phục vụ cho mình

Thứ hai, hoạt động thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con người Nghĩa là, thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội,

Trang 6

với sự tham gia đông đảo của người trong xã hội Trong hoạt động thực tiễn con người truyền lại cho nhau những kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác Cũng vì vậy, hoạt động thực tiễn luôn bị giới hạn bởi những điều kiện lịch sử - xã hội củ thể Đồng thời thực tiễn có trải qua các giai đoạn lịch sử phát triển cụ thể của nó

Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ con người khác với hoạt động có tính bản năng, tự phát của động vật nhằm giải thích nghi thụ động với thế giới, con người bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, chủ động tác động cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới Như vậy nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao của con người, khác với hoạt động bản năng thụ động thích nghi của động vật

Ba hình thức thực tiễn này có quan hệ biện chứng tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Trong đó, sản xuất vật chất đóng vai trò qua trọng, quyết định hai hình thức thực tiễn kia là hoạt động chính trị xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất

Như vậy thực tiễn là cầu nối con người với tự nhiên, xã hội, nhưng thực tiễn cũng tách con người khỏi thế giới tự nhiên, để làm chủ tự nhiên Hay nói cách khác , thực tiễn tách con người khỏi tự nhiên là để khẳng định con người, nhưng muốn tách con người ra khỏi tự nhiên trước hết phải nối con người vào với tự nhiên đã Cầu nối này chính là hoạt động thực tiễn

1.3 các giai đoạn của quá trình nhận thức

Theo quan điểm tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người sẽ tuân theo chu trình sau sau đây: nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) – nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) – thực tiễn Chu trình này được thực hiện qua các bước từ đơn giản cho đến phức tạp:

Giai đoạn nhận thức cảm tính

Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, phản ánh các thuộc tính bên ngoài thông qua tri giác và cảm giác Trong giai đoạn này, chúng ta sẽ sử dụng các giác quan để tác động vào sự việc, sự vật và nắm bắt nó

Nhận thức cảm tính gồm có các hình thức như sau:

Cảm giác: Hình thức nhận thức này sẽ phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật khi chúng tác động trực tiếp đến các giác quan của

Trang 7

chúng ta Thông qua cảm giác, những năng lượng kích thích bên ngoài

sẽ được chuyển hóa thành ý thức

Tri giác: Tri giác giúp phản ánh tương đối toàn vẹn sự vật khi nó tác động trực tiếp vào giác quan của con người Tri giác bao gồm những thuộc tính đặc trưng và cả không đặc trưng có tính trực quan của sự vật Thế nhưng, nhận thực đòi hỏi con người cần phải phân biệt được đâu là thuộc tính đặc trưng, đâu không phải Thậm chí, chúng ta cần phải nhận thức được sự vật ngay cả khi nó không tác động lên chúng

ta Vì vậy, nhận thức không chỉ dừng lại ở tri thức mà cần phải vươn

Biểu tượng: giúp phản ánh tương đối hoàn chỉnh về sự vật do chúng ta có thể hình dung lại sự vật khi nó không tác động vào giác quan của ta Hình thức cảm nhận này được hình bởi sự phối hợp và bổ sung lẫn nhau giữa các giác quan và có sự tham gia của các yếu tố tổng hợp, phân tích Vì vậy, biểu tượng phản ánh được những thuộc tính đặc trưng của sự vật

Nhìn chung, nhận thức cảm tính sẽ phản ánh trực tiếp đối tượng thông qua các giác quan của con người, bao gồm vẻ bề ngoài, cái tất nhiên, ngẫu nhiên, cái bản chất và tất yếu bên trong của sự vật

Nhận thức cảm tính hầu hết có trong tâm lý động vật Tuy nhiên, con người là động vật cấp cao hơn nên nhận thức không chỉ dừng lại ở đó mà còn phải vươn cao hơn nữa Giai đoạn đó được gọi là giai đoạn nhận thức lý tính

Giai đoạn nhận thức lý tính

Nhận thức lý tính còn được gọi là tư duy trừu tượng, phản ánh bản chất của sự việc Gồm có:

Khái niệm: Đây là kết quả của sự khái quát, tổng hợp các thuộc tính, đặc điểm của sự vật Khái niệm sẽ phản ánh những đặc tính về bản chất của sự vật, vừa có tính khách quan lại có tính chủ quan Khái niệm thường xuyên vận động và phát triển, là cơ sở để hình thành nên các phán đoán và tư duy khoa học

Phán đoán: Thông qua các khái niệm, phán đoán sẽ được hình thành

để khẳng định hoặc phủ định về một đặc điểm nào đó của đối tượng Phán đoán được chia thành 3 loại sau: phán đoán đơn nhất (bạc có khả năng dẫn điện), phán đoán đặc thù (bạc là kim loại) và phán đoán phổ biến (kim loại có khả năng dẫn điện) Trong đó, phán đoán phổ biến được xem là cách thức phản ánh sự vật một cách bao quát và rộng lớn nhất

Trang 8

Tuy nhiên, phán đoán chỉ giúp con người nhận thức được mối liên quan giữa cái đơn giản với phổ biến nhưng không thể biết được mối liên hệ giữa cái đơn giản nhất trong các phán đoán khác nhau,… Điều này chưa đáp ứng đủ yêu cầu nhận thức của con người Ví dụ: Trong ví dụ trên, chúng ta có thể biết được giữa bạc

và các kim loại khác có khả năng dẫn điện Nhưng liệu giữa chúng còn có thuộc tính nào giống nhau hay không thì điều đó chưa được chắc chắn

Suy luận: Suy luận được hình thành thông qua việc liên kết các phán đoán lại với nhau để đưa ra kết luận và tìm ra tri thức mới Tùy theo các kết hợp cách phán đoán theo trật từ nào thì chúng ta sẽ có hình thức suy luận khác nhau, phổ biến nhất vẫn là suy luận diễn dịch và suy luận quy nạp Ngoài suy luận, trực giác lý tính cũng giúp con người phát hiện ra tri thức mới đúng đắn và nhanh chóng

Nhận thức lý tính là quá trình nhận thức gián tiếp đối với sự vật và đi sâu vào tìm hiểu bản chất của sự vật Nhận thức lý tính và cảm tính có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhau Cảm tính là cơ sở cung cấp dữ liệu cho lý tính Thông qua những thông tin mà nhận thức cảm tính truyền đạt, lý tính sẽ phán đoán, suy luận và đưa ra kết luận Ngược lại, nhờ có lý tính chi phối mà nhận thức cảm nhận sẽ nhạy bén và tinh vi hơn

Giai đo n nh n th c tr vềề th c tiềễnạ ậ ứ ở ự

Đây là giai đoạn kiểm nghiệm xem tri thức đó là đúng hay sai Vì vậy, thực tiễn được coi là mục tiêu, là động lực của nhận thức Mục đích của nhận thức không chỉ giải thích mà còn có chức năng định hướng thực tiễn

Ví d vềề nh n th cụ ậ ứ

Quá trình quang hợp của cây xanh giúp tạo ra khí oxy cần thiết cho con người và các sinh vật khác trên trái đất Nhận thức được điều đó, chúng ta đã trồng nhiều cây xanh hơn, phủ xanh đất trống đồi trọc Tiền là một phương tiện dùng để phục vụ cho hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ Khi đã nhận thức được vai trò của tiền, chúng

ta phải chăm chỉ học tập, nỗ lực để có thể kiếm được nhiều tiền hơn Thậm chí có những người còn vì lợi ích của đồng tiền mà làm ăn phi pháp

Pháp Luật là một công cụ giúp Nhà Nước quản lý xã hội Nhờ đó, người dân nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật và sẽ bị phạt nếu như vi phạm Do vậy, người dân sẽ sống và tuân thủ theo đúng pháp luật

Trang 9

II Mối quan hện biện chứng giữa thực tiễn và nhận thức

2.1 Tác động của nhật thức đến thực tiễn

Điểm xuất phát đầu tiên của nhận thức là thực tiễn Mỗi con người đều

có có nhu cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới nên con người tác động vào các sự vật hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài cliệu cho nhận thức, giúp cho nhận thức nắm được bản chất các quy luật vận động và phát triển của thế giới Từ đó ta thấy nhận thức đóng vai trò trong giải thích, phân tích, tư duy,tổng hợp cho những hoạt động thực tiễn trongthế giới khác quan

Nếu nhận thức không có được những tri thức đúng đắn và sâu sắc về thế giới thì chứng tỏ thực tiễn sai lệch Nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn mà không có nhận thức thì sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa.-Thực tiễn mà không có lý luận khoa học, tư duy của nhận thức, cách mạng khoa học soi sang thì nhất định sẽ biến thành mù quáng.-Khi đã có những nhận thức đúng đắn từ thực tiễn ta đã đạt được những tiêu chuẩn của chân lý.-Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, trên cơ sở thực tiễn Nhận thức là nơi tổng kết, đúc kết thực tiễn ban đầu Nhưng đó chưa phải là điểm cuối cùng của quá trình nhận thức mà nhận thức tiếp tục phải tiến tới thực tiễn Để

đi đến thực tiễn phải trải qua các giai đoạn của nhận thức Đó là quá trình bắt đầu từ nhận thức cảm tính tiến đến nhận thức lý tính Cho thấy nhận thức là con đường dẫn đến thực tiễn

Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính với thực tiễn:

Trang 10

Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những nấc hai yếu tố quan trọng hợp thành chu kỳ nhận thức Trên thực tế, chúng thường diễn ra đan xen vào nhau trong một quá trình nhận thức, song chúng có những chức năng nhiệm vụ khác nhau Nếu nhận thức cảm tính gắn liền với thực tiễn, với sự tác động của khách thể cảm tính, thì nhận thức lý tính nhờ có tính khái quát cao, lại có thểhiểu biết được bản chất, quy luật vận động và phát triển sinh động của sự vật, giúp nhận thức cảm tính có được sự định hướng đúng đắn

và trở nên sâusắc hơn

Quy luật chung, có tính chu kỳ lặp đi lặp lại của quá trình vận động, phát triểncủa nhận thức là : Từ thực tiễn đến nhận thức – từ nhận thức trở về với thực tiễn trở nên tuần hoàn và đan xen lẫn nhau đã tạo nên

thực tiễn…quá trình này lặp đi lặp lại không có điểm dừng cuối cùng, trình độ nhận thức và thực tiễn ở chu kỳ sau thường cao hơn chu kỳ trước, nhờ đó mà quá trình nhận thức đạt dần tới những tri thức ngày càng đúng đắn hơn và sâu sắc hơn về thực tại khách quan

Hoạt động thực tiễn chỉ có thể thành công và có hiệu quả một khi con người vận dụng được những tri thức đúng đắn về thực tế khách quan trong chính hoạt động thực tiễn của mình Thực tiễn phát triển nhờ sử dụng những nhận thức đúng đắn đạt được trong hoạt động thực tiễn.- Thực tiễn phát triển

là nhờ những vận dụng đúng đắn những nhận thức chân lý mà con người đã đạt được trong quá trình thực tiễn của mình

2.2 Tác động của thực tiễn đén nhận thức

Hoạt động thực tiễn là cơ sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý,kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức.Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức;nó đề ra nhu cầu,nhiệm vụ,cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận thức

: Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức

Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan, bắt các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và quy luật của chúng Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy

Ngày đăng: 29/06/2025, 20:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm